Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân

 

Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân

TS. NGUYỄN HỮU TUẤN
Thượng tá, Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quân sự
11:41, ngày 13-06-2022

TCCS - Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, “thế trận lòng dân” là một yếu tố quan trọng, quyết định đến việc hình thành sức mạnh chính trị, quân sự, quốc phòng to lớn chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày nay, kế thừa truyền thống của ông cha, trong bối cảnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm và phát huy mạnh mẽ.

Một số quan điểm mới về xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân tại Đại hội XIII của Đảng

Một là, có sự bổ sung, phát triển về quá trình nhận thức của Đảng trong xây dựng “thế trận lòng dân”.

Trước Đại hội X của Đảng (năm 2006), trong các văn kiện chính thức, Đảng ta chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”, nhưng tư tưởng, quan điểm phát huy sức mạnh “lòng dân”, “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”, “đoàn kết toàn dân tộc” luôn nhất quán, xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng. Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” để nhấn mạnh nhiệm vụ “xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt” (1). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) chỉ rõ: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc” (2). Đại hội XII của Đảng (năm 2016) một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” (3) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) xác định: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” (4).

Bộ đội Biên phòng Đồn Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giúp nhân dân dựng nhà_Ảnh: TTXVN

Hai là, Đại hội XIII của Đảng khẳng định vai trò quan trọng của vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Về vị trí “thế trận lòng dân” được đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Đây không đơn thuần là sự sắp xếp cơ học mà đó là sự khẳng định, bổ sung, có sự phát triển mới về tư duy của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn: Thứ nhất, xuất phát từ truyền thống dân tộc, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dânTrong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải thường xuyên chống lại những kẻ thù to lớn, hung bạo. Nguyên nhân cơ bản giúp dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù mà tiềm lực quân sự lớn mạnh hơn rất nhiều lần là bởi chúng ta luôn ý thức rất rõ vai trò to lớn, yếu tố quyết định thắng lợi chính là sức mạnh của “lòng dân”. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chỉ rõ, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. V.I. Lê-nin khẳng định: “Cuộc cách mạng chỉ thực sự là một cuộc cách mạng khi nào hàng chục triệu người đồng lòng hăng hái nổi dậy” (5). Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Người luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, trong xã hội muốn thành công phải có đủ 3 điều kiện là: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ba điều kiện này đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất là “nhân hòa”, nghĩa là mọi người đều nhất trí, đồng lòng. Từ đó, Người khẳng định một chân lý: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc” (6)thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ giữa “thế trận lòng dân” với “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định: “Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sự đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, về chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh vô địch của nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (7). Như vậy, “thế trận lòng dân” là yếu tố nền tảng, quyết định “thế trận quốc phòng toàn dân” và “thế trận an ninh nhân dân”. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm 3 yếu tố: xây dựng tiềm lực, xây dựng lực lượng và xây dựng thế quốc phòng toàn dân, trong đó “thế trận lòng dân” là yếu tố quan trọng nhất trong xây dựng thế quốc phòng toàn dân. Đó là sự kế thừa tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ba là, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” mà còn bổ sung thêm vấn đề phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Việc khẳng định phải xây dựng, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân không chỉ phù hợp với vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân” mà còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. “Thế trận lòng dân” là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay. Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân phụ thuộc rất lớn vào “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” là nguồn mạch để động viên mọi lực lượng của đất nước đấu tranh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; là chỗ dựa vững chắc, là niềm tin cho mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng xả thân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có “thế trận lòng dân” vững chắc mới quy tụ được lòng người, quy tụ được lực lượng vật chất và tinh thần, tạo nên sức mạnh to lớn bảo đảm cho thắng lợi chung của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nếu không tạo được “thế trận” và để “lòng dân” ly tán thì đó chính là nguy cơ mất nước trước sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài.

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, nhất là thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân”, nhất là hiện thực hóa các nội dung xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Đặc biệt, những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước; những biểu hiện thiếu chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa, lối sống trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và giá trị con người Việt Nam… làm ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân, tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng “thế trận lòng dân”.

Thứ ba, xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước và mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học - công nghệ, bên cạnh những thuận lợi, như xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; nâng cao trình độ nguồn nhân lực,… cũng có không ít những thách thức đặt ra đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, như xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai, dịch bệnh, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch... Tình hình đó càng cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, niềm tin và khát vọng phát triển để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Giải pháp xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân.

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, quyết định đến việc xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân. Bởi lẽ, có nhận thức đúng đắn về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân mới nâng cao được nhận thức về trách nhiệm và có được hành động đúng đắn. Do đó, cần quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị và nhân dân về chủ trương xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ rộng rãi, tạo đồng thuận, nhất trí cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp nắm chắc nội dung, yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” của từng địa phương để có biện pháp giáo dục, quán triệt cho phù hợp. Chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước. Phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa để giáo dục, tuyên truyền. Đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”.

Thắm tình quân dân_Ảnh: TTXVN

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là quá trình phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc để huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Do đó, để phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, thì việc đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ có vai trò quan trọng, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh” xứng đáng với niềm tin của nhân dân, là bộ tham mưu chiến đấu và tiên phong của cách mạng, hạt nhân quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân. Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đẩy mạnh các giải pháp hiện thực hóa chủ trương xây dựng Chính phủ “đổi mới, liêm chính, kỷ cương, hành động, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ”; đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; khắc phục việc đề xuất, ban hành những chính sách kém hiệu quả, không hợp với lòng dân, gây bức xúc dư luận. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; củng cố vững chắc hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, để thực sự gần dân và hiểu dân; chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Duy trì nghiêm kỷ cương, pháp luật, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ba là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân.

Thực hiện hiệu quả chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội trong từng bước phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân…

Bốn là, tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm phá hoại “thế trận lòng dân”.

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh với âm mưu chống phá “thế trận lòng dân” của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, chính trị, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường “thế trận lòng dân” để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Năm là, phát huy vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong xây dựng “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” (8). Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân”, bảo vệ Tổ quốc, quân đội cần làm tốt công tác tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân; đẩy mạnh công tác dân vận; đi đầu tham gia giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống đại dịch COVID-19, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là ở địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh; giữ vững bản chất, truyền thống, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân…, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, vững mạnh về chính trị, xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đứng trước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải quán triệt sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của “thế trận lòng dân” và quan điểm của Đảng về xây dựng, phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”. Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” là sự phát triển tư tưởng lấy “dân là gốc”, phát huy sức mạnh của nhân dân, là “kế sách giữ nước” từ sớm, từ xa, là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt là nhân tố quyết định thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

----------------------

Một số giải pháp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay


Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. 

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng

 


Đấu tranh bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới.

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Thủ đoạn tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế, khiếm khuyết đó. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội “nhạy cảm”, việc bắt, xử lý số cán bộ cao cấp về tội tham nhũng; xét xử số đối tượng chống đối vi phạm pháp luật, để lôi kéo, kích động người dân tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, biểu tình, bạo loạn, lật đổ; tuyên truyền kích động các hoạt động ly khai, tự trị trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Móc nối, lôi kéo các đối tượng cơ hội chính trị có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ ....tăng cường chống Đảng.

Hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, đưa lên internet và mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, chưa rõ ràng để dẫn dắt, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển hóa dần sang tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động…

Việt Nam, với dân số khoảng 95 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với khoảng 60 triệu người dùng (xếp thứ 7 thế giới). Nhận thức được điều này, Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”. Đại hội IX của Đảng khẳng định phải “Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch”. Với tinh thần đó, Đại hội X của Đảng đã yêu cầu “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hòa bình,” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”.

Để thực hiện những chủ trương đó, Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Một trong những văn bản quan trọng là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa ở cả Trung ương, các ngành, các cấp”. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) đã nhận định: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Các phần tử cơ hội chính trị trong nước móc nối với thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài xuyên tạc, vu cáo, chống phá quyết liệt Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyết đã yêu cầu “triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở cả Trung ương và các cấp, các ngành. 

Nghị quyết Trung ương 9, khóa X, ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng” cũng đã nhấn mạnh: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển, hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”.

Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là rất gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng để chống phá.

Một số kinh nghiệm đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 Trong thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội sử dụng đó là triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền, nói xấu chế độ, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; kích động, lôi kéo các phần tử chống phá cách mạng; bôi nhọ nhân sự cấp cao và chia rẽ đoàn kết nội bộ nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy không ít những thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, Trước thực tế này, thời gian qua, lực lượng vũ trang các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng chuyên trách làm nòng cốt đã thiết lập các bloger cá nhân với hàng trăm tin, bài tham gia đấu tranh, hàng nghìn lượt bình luận, chia sẻ, đăng trạng thái. Cổng Thông tin điện tử được duy trì, hoạt động có hiệu quả. Công tác tuyên truyền trên mạng truyền thanh về kết quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, chống các quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng được tiến hành thường xuyên.

Những kết quả đó đã góp phần quan trọng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, của quân đội ta, thể hiện rõ vai trò là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên cần thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân nhận thức rõ “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu độc trên không gian mạng.
Trong tuyên truyền, giáo dục cần tập trung vạch trần, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, những vấn đề, sự kiện mới, nóng, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin sai trái đó đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

Hoạt động này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý, điều hành của chính trị viên và người chỉ huy các cấp, vai trò tham mưu của cơ quan chính trị. Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Quân sự tỉnh, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Chủ động, kịp thời xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, thành lập lực lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong lực lượng vũ trang tỉnh.

 Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhiều khi không lộ diện rõ. Đặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi quân nhân trong đơn vị được tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân .

Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.  Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động và những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; đồng thời tuyên truyền quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

 Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đó lực lượng vũ trang là chuyên trách làm nòng cốt, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay

TS. NGUYỄN MINH TRÍ
Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
14:18, ngày 09-07-2022

TCCS - Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin về quyền con người vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam. Những giá trị về quyền con người trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn chỉ đạo về tư tưởng, đường lối và hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta.

Giá trị phổ quát mà các quốc gia trên thế giới hiện nay đều ghi nhận là mọi cá nhân đều có quyền con người, cần được tôn trọng và được đối xử bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử về giới tính, ngôn ngữ, chủng tộc, màu da, quốc tịch, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp, tình trạng khuyết tật, địa vị xã hội hay bất cứ tình trạng nào khác. Các quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thông qua các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các văn bản trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Khuôn khổ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã được hình thành, được các quốc gia thừa nhận, theo đó, đòi hỏi mọi thiết chế, tổ chức trong xã hội phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Quyền con người dưới xã hội xã hội chủ nghĩa bảo đảm tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; bảo đảm cả quyền cá nhân và quyền tập thể; bảo đảm tự do và công bằng, bình đẳng, quyền con người thống nhất với quyền công dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, thành phố Hà Nội (ngày 27-3-1956)_Nguồn: hochiminh.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời, kế thừa tinh hoa tư tưởng quyền con người trên thế giới, đặc biệt là vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra những luận điểm mới, sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể ở Việt Nam. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thể hiện:

Một là, thực hiện quyền con người trên nền tảng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra một chân lý phổ biến là: Độc lập cho dân tộc là điều vô cùng quý giá, là tiền đề tiên quyết để giải phóng con người, bảo đảm quyền con người. Người cho rằng, giành được độc lập dân tộc rồi thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi chủ nghĩa xã hội không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, mà còn tạo cơ sở để hiện thực hóa quyền con người một cách toàn diện. Xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa chính là để cho nhân dân lao động có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hưởng công bằng; con người thực sự được giải phóng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(1) và “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2).

Hai là, tiếp cận vấn đề quyền con người trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quyền con người mang tính tự nhiên - xã hội của bản chất con người, thể hiện lý tưởng giải phóng - phát triển con người toàn diện và tự do. Về thực tiễn, Đảng và Nhà nước có vai trò quan trọng trong thực hiện quyền con người; đồng thời, bảo đảm quyền con người luôn có tính đặc thù về xã hội, như truyền thống văn hóa dân tộc, trình độ sản xuất vật chất - tinh thần của xã hội, các quyền con người có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói năm 1955, Người chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ ta có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(3). Ngay khi cách mạng thành công, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3-9-1945), Người đã chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân và đề nghị tổ chức sớm nhất cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái đủ 18 tuổi trở lên đều được quyền ứng cử và bầu cử theo luật định không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo và giống nòi. Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta do Người trực tiếp làm trưởng ban soạn thảo đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946, trong đó xác định: “Bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 đã dành cả chương II nói về “quyền lợi và nghĩa vụ công dân” gồm 18 điều cụ thể quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội…

Ba là, để thực hiện quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là con đường giải phóng nhân loại khỏi bị áp bức, bóc lột và mang lại các quyền con người cơ bản cho đa số nhân dân lao động. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(4) và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”(5). Vì thế, Người chỉ rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(6). Đây chính là tư tưởng thể hiện sinh động và sâu sắc truyền thống đề cao vai trò nhân dân, quyền tự chủ của dân tộc Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người chỉ rõ: Nhà nước Việt Nam dân chủ kiểu mới là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cơ sở xã hội của nhà nước đó là toàn thể dân tộc Việt Nam, dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(7)

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm bảo đảm quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - nhà nước đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ngắn gọn, súc tích, giản dị, dễ hiểu:

Nhà nước của nhân dân: Là nhà nước trong đó nhân dân là chủ, là người có địa vị cao nhất, có quyền lực cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc, đất nước. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1946: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Nhà nước do nhân dân: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương xây dựng nhà nước do nhân dân, nghĩa là nhà nước đó do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, nhân dân làm chủ, nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động và nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước.

Nhà nước vì nhân dân: Nhà nước đó luôn phục vụ cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Trong nhà nước đó, cán bộ là “công bộc” của dân. Nên việc gì có lợi cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức tránh. Cán bộ của nhà nước phải là những người biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, bảo vệ nhân dân và không được vi phạm đến các quyền con người và quyền công dân trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.

Xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ấy có nhiệm vụ xóa bỏ mọi sự nghèo khổ, bất công, bất bình đẳng và mang lại tự do cho nhân dân lao động.

Như vậy, có thể thấy, nội dung quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được phát triển rất phong phú cả về bề rộng và chiều sâu, tạo ra một hệ thống về quyền con người theo quan điểm khoa học và cách mạng. 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Nhận thức vai trò của quyền con người đối với cách mạng Việt Nam, kế thừa tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định: “Tất cả vì con người, tất cả vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú và toàn diện cho mỗi người trong quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”(8). Tiếp tục khẳng định tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”(9). Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”(10). Trên phương diện xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật để thực hiện quyền con người, “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống phát luật mới được ban hành và sửa đổi”(11).

Trẻ em trao đổi, thảo luận và trình bày nội dung vấn đề được giao tại tổ ở Diễn đàn Trẻ em quốc gia lần thứ 5 - năm 2017, với chủ đề “Trẻ em với vấn đề phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em”_Ảnh: TTXVN

Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”(12).

Những quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Ðảng, Nhà nước về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã được cấp ủy đảng và chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc, tạo chuyển biến nhận thức một cách cơ bản, tích cực trong hệ thống chính trị. Để bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, ngày 20-7-2010, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW “Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”. Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người.

Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, công tác bảo đảm quyền con người đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam đã tích cực tham gia đầy đủ các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em…(13). Trên cơ sở đó, Việt Nam tiến hành luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người.

Thành công trong việc phát huy quyền con người còn được thể hiện thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội không ngừng được hoàn thiện và mở rộng đối tượng thụ hưởng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân; “tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở được quan tâm; đã hoàn thành mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”(14).

Thời gian tới, để phát huy và thực hiện tốt quyền con người, cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, quán triệt, nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về vị trí, vai trò của quyền con người trong từng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội. Từ đó, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, hướng đến mục tiêu phát triển vì con người.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người.  Bảo đảm nguyên tắc quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ; đề cao vai trò chủ thể hưởng thụ quyền là nhân dân; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền con người./.

----------------------

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175, 64
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 434
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 83
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 74 - 75
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 232
(8) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 10
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,  Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 169
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 166
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 177
(13) Đỗ Thị Tùng: “Không thể phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về quyền con người”, Tạp chí Cộng sản điện tửhttps://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/823406/khong-the-phu-nhan-thanh-tuu-cua-viet-nam-trong-xay-dung,-hoan-thien-va-thuc-thi-phap-luat-ve-quyen-con-nguoi.aspx#, ngày 20-6-2021 
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 65 - 66

  •  
  •  
  •  
  •  

Chế độ dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu đều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Xây dựng giai cấp nông dân, đội ngũ tri thức, đội ngũ doanh nhân vững mạnh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 


Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn, tạo điều kiện để dân cư nông thôn trở thành dân cư đô thị mà không dẫn đến di cư quy mô lớn. Có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp. Huy động và phát huy mọi nguồn lực từ nông dân, nông thôn cùng với các nguồn lực khác để thực hiện thành công mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh.

Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của tri thức. Trọng dụng đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng. Thực sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức.

Phát triển đội nghũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi. Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nhân khởi nghiệp, sáng tạo, kinh doanh lành mạnh, cống hiến tài năng. Khuyến khích doanh nhân thực hiện trách nhiệm xã hội và tham gia phát triển xã hội. Tôn vinh, khen thưởng kịp thời những doanh nhân có nhiều đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tam tạng kinh và những thuyết giáo căn bản của Phật Giáo

 


 Kinh sách của Phật giáo rất nhiều, được chia làm 3 loại, sách Phật gọi là Tam tạng kinh điển, gồm: Kinh - Luật - Luận. Kinh tạng, là những sách ghi những lời Phật Thích Ca giảng về giáo lý, được đại đệ tử A Nan Đa tập hợp lại ngay từ lần kết tập đầu tiên. Luật tạng là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép cho việc sinh hoạt, tu học của đệ tử, nhất là đối với những người xuất gia tu hành. Luận tạng, là những sách được các vị Bồ-tát biên soạn sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, nhằm mục đích giới thiệu, luận giải giáo lý Phật giáo một cách có hệ thống, đồng thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái và chống lại những quan điểm đả kích xuyên tạc về giáo thuyết Phật giáo.

Giáo lý Phật giáo đề cập đến nhiều vấn đề của thế giới và nhân sinh. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh sách của Phật giáo rất phong phú - “Thiên kinh vạn quyển” nên có khi một vấn đề nhưng Phật giáo đề cập ở nhiều sách. Mặt khác, giáo lý Phật giáo rất trừu tượng, mang tính chất triết học sâu sắc. Vì vậy, để cho việc tiếp cận giáo lý Phật giáo được thuận lợi, xin khái quát một số giáo thuyết chủ yếu của Phật giáo như sau: Pháp: Đây được coi là lý thuyết đầu tiên của Phật giáo nhằm chỉ ra các dạng tồn tại của thế giới. Đó chính là các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất. Bản thể: Đây là một trong những lý thuyết quan trọng của Phật giáo, chỉ ra bản chất, thực tướng của thế giới, của mọi sự tồn tại. Lý thuyết về bản thể chủ yếu được sử dụng trong Phật giáo Đại thừa. Tâm: Cùng với lý thuyết về Bản thể, Tâm là lý thuyết nói về bản chất tồn tại của thế giới. Tuy nhiên, trong Phật giáo, Tâm còn có những nghĩa khác như thể hiện “tấm lòng”, “tình cảm”,... Vô thường: Đây là lý thuyết chỉ ra sự vận động biến đổi của thế giới. Theo lý thuyết này, Phật giáo cho rằng sự vật, hiện tượng (vạn Pháp) không ngừng vận động. Nhân duyên: Đây là lý thuyết nói về quy luật vận động của thế giới. Với lý thuyết này, Phật giáo quan niệm sinh - diệt là hai quá trình của tồn tại. Sắc không: Đây là lý thuyết làm rõ thêm hai dạng tồn tại của thế giới: có và không. Vô ngã: Đây là lý thuyết nói về thực chất sự tồn tại của con người. Con người do nhân duyên hội hợp mà thành nên con người tồn tại chỉ là giả tướng, tạm thời. Nhân quả: Đây là lý thuyết rất căn bản của Phật giáo nói về nguyên nhân và kết quả, để cùng với thuyết Luân hồi, Nghiệp và Nghiệp báo làm rõ sự sinh - diệt của vạn pháp; mặt khác cùng với lý thuyết về Nhân duyên nó còn làm rõ sự tồn tại của thế giới. Luân hồi: Đây cũng là lý thuyết rất quan trọng của Phật giáo nói về sự sinh, diệt của con người nhằm làm rõ con người sinh ra như thế nào, chết đi về đâu, mối quan hệ của con người khi sống với con người khi chết. Nghiệp và Nghiệp báo: Cùng với thuyết Nhân quả, Nghiệp và Nghiệp báo góp phần làm rõ thuyết Luôn hồi, nhất là mối quan hệ giữa con người khi sống với con người sau khi chết. Thập nhị nhân duyên: Đây là lý thuyết nói về 12 yếu tố vừa là nhân vừa là duyên trong cuộc đời của mỗi con người. Tứ diệu đế: Đây là lý thuyết rất quan trọng của Phật giáo để giải thích về cái khổ, nguyên nhân của cái khổ và con đường cứu khổ của con người. Giải thoát và Niết bàn: Đây là lý thuyết nói về kết quả của việc tu hành đúng chính pháp mà con người sẽ đạt đến.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu đều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 


Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, tập thể công nhân. Định hướng quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay.   

Mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế trong phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc

 


Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới; cách mạng Việt Nam chỉ thắng lợi một khi nó hòa chung vào làn gió thời đại, hòa chung vào dòng chảy tiến trình phát triển của nhân loại. Cách mạng Việt Nam phải có trách nhiệm vào bước phát triển chung của nhân loại. Muốn góp phần vào bước tiến của cách mạng thế giới, cách mạng mỗi nước nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải hoàn thành tốt những yêu cầu của cách mạng nước mình.Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế là một tất yếu khách quan đối với nước ta. Tuy nhiên, là nước đang phát triển, khi tham gia toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thì nguy cơ lệ thuộc vào nước ngoài rất lớn; mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, cần nhận thức và quán triệt sâu sắc quan điểm đã được Đại hội XIII xác định: “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”. Để thực hiện tốt quan điểm mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế hiện nay cần giải quyết tốt mấy vấn đề sau đây:

Một là, thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế, hướng các quan hệ quốc tế vào việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng. 

Hai là, giữ vững tính độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc và hội nhập quốc tế, nhằm bảo đảm “hội nhập mà không hoà tan”.

 Ba là, Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Thực hiện tốt công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.

Quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo

 


 Ngay sau khi ra đời, Phật giáo đã phát triển khá mạnh mẽ ở Ấn Độ và được truyền bá sang các quốc gia châu Á. Sau thế kỷ IX, Phật giáo ở Ấn Độ bắt đầu suy vi, đến thế kỷ XIII, Phật giáo bị diệt vong ngay trên quê hương của mình. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phật giáo được phục hồi và phát triển ở Ấn Độ. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Phật giáo phát triển khá mạnh mẽ ở các nước phương Tây như Đức, Pháp, Anh, Mỹ, v.v... Từ giữa thế kỷ XX đến nay, Phật giáo phát triển rộng khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với khoảng 500 triệu tín đồ, cùng với gần 1 tỷ người chịu ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau.

 Đặc điểm của quá trình truyền bá Phật giáo:

Một là, Phật giáo truyền bá bằng con đường “hòa bình”, kết hợp giữa hình thức truyền đạo trực tiếp qua các giáo đoàn với hình thức nhân dân một cách đa dạng, rộng rãi. Đến nay, hầu như không thấy việc Phật giáo truyền đạo gắn với chiến tranh hoặc bằng chiến tranh.

Hai là, với thái độ khoan dung nên quá trình truyền bá Phật giáo không gây ra xung đột về tôn giáo, văn hóa tư tưởng. Không những thế, Phật giáo còn chấp nhận chung sống với các tín ngưỡng, tôn giáo nơi nó truyền đến. Đặc biệt, với chủ trương “tùy duyên phương tiện”, “khế cơ, khế lý” của chúng sinh mà hành hóa, nên trong nhiều trường hợp, Phật giáo còn tiếp thu, dung nạp các phong tục tập quán tín ngưỡng, tôn giáo bản địa hình thành nên nhiều pháp môn tu hành mang tính chất địa phương.

Ba là, Trong quá trình phát triển, Phật giáo có vị trí quan trọng trong việc xây dựng bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần hình thành văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia ở châu Á.

Các thế lực thù địch luôn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị ở Việt Nam.

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta. Đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo là một bộ phận nằm trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta