Ngày
9/7, hàng nghìn người biểu tình tràn ra các con phố ở thủ đô Sri Lanka, xông
vào phủ tổng thống, đốt phá dinh thủ tướng nhằm bày tỏ sự giận dữ trước các
biện pháp ứng phó khủng hoảng kinh tế của chính phủ. Trước sự phản đối mạnh mẽ
của đám đông người biểu tình, Tổng thống Gotabaya Rajapaksa và Thủ tướng Ranil
Wickremesinghe của Sri Lanka đã quyết định từ chức.
“Xếp
hàng dài chờ đội mỗi ngày”
Sri
Lanka đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong 7 thập
kỷ qua, sau khi dự trữ ngoại hối của nước này giảm xuống mức thấp kỷ lục. Sự
cạn kiệt đồng USD khiến Sri Lanka không có đủ nguồn lực để trả cho các mặt hàng
nhập khẩu thiết yếu như thực phẩm, thuốc men và nhiên liệu. Thời gian gần đây,
chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt để ứng phó với cuộc khủng
hoảng, trong đó có biện pháp cho phép công nhân tại khu vực công làm việc 4
ngày một tuần để họ có thời gian trồng trọt, làm nông nghiệp. Tuy nhiên, những
biện pháp này đạt rất ít hiệu quả trong việc giảm bớt những khó khăn mà nhiều
người đang phải đối mặt.
Tại
một số thành phố lớn, trong đó có thủ đô Colombo, hàng trăm người phải xếp hàng
dài dưới tiết trời nắng nóng để mua nhiên liệu. Cảnh sát và quân đội đã được
triển khai đến những khu vực này để đảm bảo an ninh trật tự. Nhiều cửa hàng
phải đóng cửa vì không có nhiên liệu chạy tủ lạnh, điều hòa không khí hoặc
quạt. Các chuyến tàu giảm tần suất hoạt động, khiến du khách phải chen chúc
trong các toa tàu. Một số người thậm chí phải leo lên nóc tàu. Bệnh nhân không
thể đến bệnh viện do thiếu nhiên liệu và giá thực phẩm tăng cao. Gạo, một mặt
hàng chủ lực ở quốc gia Nam Á, đã dần vắng bóng trên các kệ hàng ở nhiều cửa
hàng và siêu thị.
Thủ
tướng Wickremesinghe đã đổ lỗi cho chính phủ tiền nhiệm về những vấn đề mà đất
nước đang phải đối mặt trong một bài phát biểu vào tháng vừa qua: “Không
dễ để vực dậy một quốc gia có nền kinh tế sụp đổ hoàn toàn, đặc biệt là một
quốc gia có dự trữ ngoại hối thấp một cách nguy hiểm. Nếu chính phủ tiền nhiệm
thực hiện một số bước đi ngay từ đầu để làm chậm lại sự sụp đổ của nền kinh tế
thì chúng tôi sẽ không phải đối mặt với tình huống khó khăn này ngày hôm nay”.
Sri
Lanka phụ thuộc chủ yếu vào nước láng giềng Ấn Độ để duy trì hoạt động. Quốc
gia này đã nhận 4 tỷ USD hỗ trợ tài chính từ New Delhi, nhưng ông
Wickremesinghe cho rằng số tiền này là không đủ và trong thời gian tới, Sri
Lanka phải nỗ lực đạt được một thỏa thuận với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). “Đây
là lựa chọn duy nhất của chúng tôi. Mục đích của chúng tôi là tổ chức các cuộc
thảo luận với IMF để nhận được khoản hỗ trợ tín dụng bổ sung”.
Theo
nhiều chuyên gia, cuộc biểu tình ngày 9/7 đánh dấu sự bùng nổ của một cơn thịnh
nộ đã nhen nhóm trong lòng Sri Lanka suốt nhiều tháng qua. Lệnh giới nhiêm do
cảnh sát áp dụng trước đó đã được dỡ bỏ. Một số chính trị gia và Hiệp hội Hiệp
hội Luật sư ở Sri Lanka gọi lệnh giới nghiêm là "bất hợp pháp", nói
rằng không có căn cứ để áp đặt lệnh này.
Trong
thời gian qua, việc phải xếp hàng chờ đợi dường như đã trở thành một thông lệ
mới trong cuộc sống của người dân Sri Lanka. Họ phải chờ hàng giờ đồng hồ chỉ
để mua được những hàng hóa cơ bản nhất. “Cuộc sống hàng ngày của chúng tôi giờ
dừng ở việc xếp hàng chờ đợi. Nếu muốn mua sữa bột, chúng tôi phải xếp hàng.
Nếu muốn mua thuốc, chúng tôi cũng phải xếp hàng”, bà Malkanthi Silva, 53 tuổi
cho biết. Theo giới phân tích, tình hình hiện nay tại Sri Lanka là hậu quả của
cuộc khủng hoảng kéo dài suốt nhiều năm qua. “30% là không may mắn, 70% là quản
lý yếu kém”, Chủ tịch Murtaza Jafferjee của Viện tư vấn chính sách Advocata
(trụ sở tại Sri Lanka) nhận định.
Sai
lầm nối tiếp sai lầm
Ông
Jafferjee lưu ý, trong một thập kỷ qua, chính phủ Sri Lanka đã vay những khoản
tiền khổng lồ từ các tổ chức cho vay nước ngoài và mở rộng dịch vụ công. Trong
bối cảnh các khoản vay của chính phủ gia tăng, thì nền kinh tế liên tiếp phải
hứng chịu tác động của thời tiết khắc nghiệt làm giảm sản lượng nông nghiệp
trong năm 2016, 2017, tiếp theo là cuộc khủng hoảng hiến pháp năm 2018 và vụ
đánh bom đẫm máu trong lễ Phục sinh vào năm 2019.
Năm
2019, Tổng thống Rajapaksa đã cắt giảm thuế trong nỗ lực kích thích nền kinh tế.
"Họ đã chẩn đoán sai vấn đề và cảm thấy rằng họ phải đưa ra một biện pháp
kích thích tài chính thông qua việc cắt giảm thuế”, nhà phân tích Jafferjee
nhấn mạnh.
Vào
năm 2020, đại dịch Covid-19 bùng phát, khiến nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào
du lịch của Sri Lanka phải ngừng hoạt động khi quốc gia này đóng cửa biên giới
và áp đặt các lệnh phong tỏa và giới nghiêm. Ảnh hưởng của đại dịch, chi tiêu
chính phủ ở mức cao cùng quyết định cắt giảm thuế đã khiến ngân sách chính phủ
bị thâm hụt nghiêm trọng.
Ông
Shanta Devarajan, Giáo sư nghiên cứu về phát triển quốc tế tại Đại học
Georgetown và là cựu chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới cho rằng,
việc cắt giảm thuế và tình hình kinh tế bất ổn ở Sri Lanka đã ảnh hưởng đến
nguồn thu ngân sách của nước này, khiến các cơ quan xếp hạng phải hạ xếp hạng
tín nhiệm của Sri Lanka. Điều đó đồng nghĩa với việc Sri Lanka mất quyền tiếp
cận với các thị trường nước ngoài.
Sri
Lanka đã phải sử dụng một lượng lớn ngoại hối dự trữ để trả nợ công, dẫn tới
giảm dự trữ ngoại tệ từ 6,9 tỷ USD năm 2018 xuống còn 2,2 tỷ USD trong năm nay,
theo báo cáo của IMF. Cuộc khủng hoảng tiền tệ đã ảnh hưởng đến quá trình nhập
khẩu nhiên liệu và các nhu yếu phẩm khác. Vào tháng 2/2022, Sri Lanka đã áp
dụng các biện pháp cắt giảm điện năng để đối phó với cuộc khủng hoảng nhiên
liệu khiến giá cả tăng vọt, ngay cả trước khi xung đột Nga-Ukraine nổ ra. Chính
phủ nước này cũng thả nổi đồng nội tệ, khiến đồng rupee của Sri Lanka lao dốc
thảm hại so với đồng USD. Ông Jafferjee đã mô tả các động thái của chính phủ
Sri Lanka là một "chuỗi sai lầm nối tiếp sai lầm”.
Lạm
phát tại Sri Lanka đã tăng vọt lên mức kỷ lục 54,6% vào tháng 6 và dự kiến sẽ
tăng lên đến 70% trong những tháng tới, khiến khó khăn với người dân nước này
ngày càng thêm chất chồng. Khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến cuộc khủng hoảng
chính trị nghiêm trọng.
Nhà
phân tích chính trị Kusal Perera nhận định “Đây là một tình huống nguy hiểm.
Nếu quá trình chuyển tiếp trong chính phủ không được thực hiện thì việc tổng
thống và thủ tướng từ chức sẽ tạo ra khoảng trống quyền lực có thể nguy hiểm.
Chủ tịch quốc hội có thể chỉ định một chính phủ đa đảng mới nhưng liệu những
người biểu tình có chấp nhận chính phủ này hay không”.
Chưa
kể, bất ổn chính trị có thể làm suy yếu các cuộc đàm phán của Sri Lanka với Quỹ
Tiền tệ Quốc tế khi nước này tìm kiếm khoản cứu trợ 3 tỷ USD, tái cơ cấu một số
khoản nợ nước ngoài và huy động vốn từ các nguồn đa phương và song phương để
giảm bớt tình trạng cạn kiệt dự trữ đồng USD.
vov.vn
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠOH ĐỨC HỒ CHÍ
MINH: ĐẨY MẠNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ
Trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí là một nội
dung quan trọng được các ngành, các địa phương đặc biệt coi trọng trong quá
trình thực hiện.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử
dụng hợp lý, có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động nhằm tích lũy
thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của
người dân. Tiết kiệm phải từ cái nhỏ đến cái to, không xa xỉ, hoang phí, phô
trương, hình thức. Để thực hành tiết kiệm có hiệu quả thì phải ra sức chống
lãng phí, coi đây là việc làm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cá
nhân.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ
lãng phí là một căn bệnh phải được khắc phục triệt để. Những năm qua, hệ thống
chính trị từ trung ương đến cơ sở luôn xác định thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí là nhiệm vụ cấp bách. Nhiều quy định cụ thể về vấn đề này đã
được thể hiện rõ trong Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hầu hết các cơ
quan, đơn vị đã xây dựng chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của
mình và có nhiều giải pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này.
Nhờ vậy, hàng năm, các địa phương, các ngành đã cắt giảm đáng kể kinh phí thực hiện
các nhiệm vụ chưa cần thiết, tiết kiệm nguồn kinh phí không nhỏ, thêm nguồn lực
cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế việc lãng phí vẫn còn
xảy ra ở nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị. Nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, từ
nhận thức đến thực hiện, đến việc xử lý sai phạm chưa nghiêm. Trong bối cảnh
hiện nay, đại dịch COVID-19 vẫn có diễn biến khó lường, việc thích ứng linh
hoạt đòi hỏi phải có nguồn lực cần thiết để phát triển. Thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí chính là một giải pháp thiết thực góp phần giải bài toán về
nguồn vốn cho phát triển.
Để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thực
chất và đạt hiệu quả rất cần chú trọng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội để
việc này trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tập thể, mỗi cá nhân. Đẩy
nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền không giấy
tờ, tạo giải pháp hữu hiệu để chống lãng phí. Đồng thời xử lý nghiêm các trường
hợp cố tình để xảy ra tình trạng lãng phí, không có ý thức thực hành tiết kiệm.
VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG
"BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã
nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên
kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự
hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn
không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ
xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay,
đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã
không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong
cộng đồng quốc tế.
Những liên minh quân sự có thể làm gia tăng
sức mạnh quân sự, quốc phòng của các nước thành viên; tạo sự chuyển hóa về thế
trận và lực lượng quân sự trên chiến trường; tạo thêm uy tín, vị thế và sức
mạnh cho quốc gia tham gia liên minh trong những thời điểm nhất định. Tuy
nhiên, trong suốt thời kỳ tồn tại các liên minh quân sự trên, tình hình khu
vực, thế giới luôn căng thẳng, bởi các liên minh này đối đầu nhau, nhất là khi
giữa họ có những mâu thuẫn về lợi ích. Họ công khai hoặc ngầm chạy đua vũ trang,
tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hoạt động khiêu khích, lôi kéo các
quốc gia, khu vực đến gần hiểm họa chiến tranh. Mà Việt Nam chúng ta cũng là
nạn nhân của cuộc chiến tranh nóng đó vào những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.
Trong chính sách quốc phòng Việt Nam, chúng
ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia,
dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh
quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước
ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng
của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.
Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể
hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì
vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể
ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự
với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là
bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường,
dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết
hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của
bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường
quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích
quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt
mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự,
không liên kết nước này để chống nước kia.
Chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam
không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển
cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm
soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh.
Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch
định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất
rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể,
chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết
với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ
sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại
quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80
quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất
cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có
vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay.
Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng
quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi
nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của
đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm,
công cuộc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Chính sách quốc phòng "bốn
không" được đúc kết từ truyền thống giữ nước đó và ngày càng chứng minh sự
đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.
KHÔNG THỂ VÔ ƠN. HÃY TỰ HÀO VỀ NHỮNG TRANG
VÀNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC.
- 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã tham
chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam.
- 849.018 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ bảo vệ tổ quốc vĩnh viễn nằm lại ở 10.000 nghĩa trang liệt sĩ trên khắp cả
nước, Lào và Campuchia. Nhiều Liệt sỹ hy sinh đến nay vẫn chưa xác định được
tên tuổi, quê quán, vẫn chưa tìm thấy mộ.
- 15,4 triệu tấn bom đạn Mỹ và đồng minh đã dội xuống Việt Nam gấp 6 lần
tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2;
tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản
năm 1945. Việt Nam là quốc gia bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới.
- 839 tỷ USD mà Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt
Nam.
- 75.000.000 lít chất độc hoá học chủ yếu là chất độc da cam mà Mỹ đã huỷ
diệt môi trường sống của Việt Nam khiến 5 triệu người Việt Nam và hàng trăm
ngàn người Mỹ đến nay vẫn quằn quại vì chất độc hoá học này.
- 05 năm là khoảng thời gian Việt Nam đàm phán với Mỹ để ký Hiệp định PARI
để chấm dứt chiến tranh, một hiệp định có thời gian đàm phán dài nhất thế giới.
- Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời
kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập
kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ
thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả
xuống Nhật Bản năm 1945.
- Để có được chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam đã chiến đấu quả cảm trong cuộc
chiến 10.000 ngày. Lần đầu tiên trên thế giới, một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại
Đế quốc Mỹ một tên đầu sỏ hiếu chiến và hùng mạnh nhất thế giới.
47 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự
hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên
lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã
đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không
thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam
đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc
yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác
trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc
lập, tự do./.
LẬT TẨY CHIÊU BÀI “YÊU NƯỚC”.
Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch là xuyên tạc, bóp méo các sự kiện
chính trị, lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các sự kiện chính trị quan
trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển
Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão
lụt, công tác phòng chống COVID-19. Chúng tung tin thất thiệt trên các trang
mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân,
sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Một trong những thủ đoạn của
chúng là sử dụng chiêu bài “Yêu nước” để xúi dục lôi kéo những phần tử chống
đối, manh động, những quần chúng thiếu tỉnh táo nhằm phục vụ cho mục đích phá
hoại của chúng.
Trên mặt trận Chính trị ngoại giao:
Quan điểm đường lối của Đảng rõ ràng, đối tượng, đối tác chiến lược của ta
công khai minh bạch. Vị thế đất nước ta ngày càng được đánh giá cao trên trường
quốc tế, vì sao các thế lực chống đối sao không sử dụng các phương tiện thông
tin và mạng lưới của họ để tuyên tuyền chủ trương đường lối của Đảng đến với
bạn bè quốc tế mà lại thường xuyên, xuyên tạc bóp méo sự thật, phá hoại đường
lối ngoại giao đúng đắn của đảng và nhà nước, hành động đó là “Yêu nước” hay
“Phá hoại đất nước”?.
Về vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông:
Chủ trương đường lối của Đảng về độc lập dân tộc, về Quốc phòng an ninh rất
đầy đủ và nhất quán. Kết quả cho thấy độc lập dân tộc được khẳng định và giữ
vững, thông qua đối thoại hòa bình và công ước quốc tế về luật biển năm 1982
chúng ta kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những hành động xâm phạm
quyền tài phán, và an ninh quốc gia trên biển, vùng đặc quyền kinh tế, các điểm
đảo chúng ta đang quản lý đều được bảo vệ toàn vẹn. Trong khi đó các thế lực
thù địch lại lợi dụng những hình ảnh về vũ khí trang bị hiện đại trên mạng, để
phóng đại tiềm lực quân sự Việt Nam, dùng những lời lẽ kích động, những tuyên
bố trái với chủ trương hòa bình, xúi dục giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Nếu
một cuộc chiến tranh bằng vũ lực nổ ra, những ai là người chịu sự tác động nặng
nề nhất do chiến tranh mang lại? Đối tượng vẫn rêu rao là “Yêu nước” lúc này ở
đâu?. Và sẽ làm gì để kết thúc chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh
thổ?. Xúi dục, mong muốn cho đất nước có chiến tranh phải chăng là “Yêu nước”?.
Thời gian qua và hiện tại toàn đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị của
ta đang vào cuộc thực hiện công tác phòng chống COVID-19; Trong khi đó chúng
đứng ngoài công kích phá hoại; chúng lợi dụng những khó khăn trước mắt của
những người dân vùng dịch, những sai sót không đáng có của một số ít cán bộ làm
nhiệm vụ chống dịch để đả phá chủ trương biện pháp chống dịch của nhà nước, xúi
dục nhân dân vùng dịch bất tuân chính sách …. Chúng bỏ ra một chút ít vật chất
gọi là “hỗ trợ đồng bào khó khăn” nhằm tranh thủ lôi kéo sự ủng hộ, mở mang lực
lượng; Thử hỏi với số tiền ủng hộ cỏn con ấy liệu có giúp ích gì cho công cuộc
chống dịch như chống giặc của nhân dân ta?. Xúi dục chống phá đường lối, kích
động gây mất ổn địch phải chăng là “Yêu nước”?. Giả sử có bạo động biểu tình nổ
ra, lợi ích sẽ thuộc về nhân dân lao động, về đồng bào Việt Nam trong và ngoài
nước hay thuộc về những kẻ ném đá giấu tay, những kẻ đi ngược lại quyền và lợi
ích chính đáng của dân tộc?.
Qua một số minh chứng rõ ràng trên, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, đấu tranh
không khoan nhượng và cảnh giác với ngôn từ “Yêu nước”? của kẻ thù, tránh sập
bẫy, mắc mưu tiếp tay cho chúng để phá hoại đất nước./.
MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ
KỶ XX...
* Lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam trong cả cuộc chiến là 7,85 triệu tấn, gấp
gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới
thứ II và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống
Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.
* Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg
bom của Mỹ.
* Nếu tính cả bom, đạn dùng trên mặt đất (lựu đạn, mìn, đạn pháo, chất
nổ...) thì Mỹ đã dùng tổng cộng trên 15,35 triệu tấn bom đạn ở Việt Nam. Kết
cấu hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt
Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên
thế giới. Gần 800.000 tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất vẫn
tiếp tục gây tai nạn, làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975
đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm gần 18% diện tích Việt Nam),
khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu
quả bom mìn.
* Chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một chiến tranh ác liệt
với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên, hậu quả tàn khốc
của vũ khí chiến tranh được xuất hiện trên sóng TV trực tiếp của các nước tiên
tiến.
* Chỉ tính riêng trong 81 ngày đêm ngắn ngủi giao tranh xảy ra ở Quảng Trị,
báo chí nước ngoài đã thống kê, Thành cổ Quảng Trị đã hứng chịu 328.000 tấn bom
đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống
Hirosima và Nagasaki hồi Chiến tranh thế giới thứ II.
* Đế quốc Mỹ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời điểm đó (chỉ
trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội
khác nhau hoạt động trong Chiến tranh ở Việt Nam, bao gồm quân đội của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam); tất cả các đơn vị của
quân đội Mỹ; các đồng minh của mỹ là Quân lực ng.ụy Sài Gòn, Hàn Quốc,
Australia, New Zealand, Thái Lan và Philippines...
* Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh
sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại bậc
nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng
quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời
điểm cuối năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho quân ng.ụy
Sài Gòn mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội
Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng
chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại
nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các
tướng lĩnh quân sự sau này.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở Việt Nam của Đế quốc Mỹ, khả năng tác
chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời
kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt
Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như
MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là
những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị
ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng
không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ
đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam,
cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách
áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo
để đáp trả”.
* Tổng cộng trong 20 năm, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu
lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao
nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng
số lục quân của cả năm nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm
70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến
nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng
với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy
bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải
quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương
hạm, 3.000 xe tăng - xe thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm.
Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực ng.ụy Sai Gòn với trang bị 1.800
máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các
loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu.
* Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất
thường xuyên trong chiến tranh và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất
nhẹ, và đặc biệt Mỹ đã đem loại văn hóa hưởng thụ và trụy lạc thừa thải vào
Việt Nam, tiếp tục phát triển cái gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông"
giả tạo và lớp phụ nữ trẻ theo chế độ tay sai làm gái điếm lên tới hơn
nửa triệu người, điều trơ trẽn, đáng xấu hổ nhất là phụ nữ theo chế độ ng.ụy
Sài Gòn lúc ấy rất tự hào "Làm mẹ thế giới" với sản phẩm cho ra là
gần 150.000 con lai !
Hiện nay có hơn hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam. Một nửa
diện tích rừng của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260
tấn (khoảng 80 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra
lớn đến mức đã khai sinh một từ tiếng Anh mới "Ecocide" - Thuốc hủy
diệt sinh thái.
* Quân lực ng.ụy Sài Gòn là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí
hoạt động gần 3 tỷ USD Mỹ mỗi năm. Nền kinh kế ng.ụy Sài Gòn không thể cáng
đáng được kinh phí này, nên ng.ụy Sài Gòn đã gần như phải dựa hoàn toàn vào
viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm
viện trợ xuống còn 1,1 tỷ USD vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng với
lạm phát ở mức 200%, Quân lực ng.ụy không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng
thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động.
Nguồn: Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing,
tr. 80).
VIỆT
NAM LUÔN ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn
giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức
sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16
tôn giáo.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của
mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ
pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ
thể:
Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay
không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi
công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.
Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần
thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn
giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng,
tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín
ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son
cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể
hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý
nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách
thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích
của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng
khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm
trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc
của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo.
KỶ NIỆM 76 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN (12/7/1946-12/7/2022)
Ngày 12/7/1946, lực lượng An ninh nhân dân đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc, khám phá, tiêu diệt tổ chức phản cách mạng ở số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội), bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Với mốc lịch sử quan trọng này, ngày 12/7 đã được chọn là Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân.
76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng An ninh nhân dân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thầm lặng chiến đấu, hy sinh, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, với lý tưởng cao đẹp “Chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, “Vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân”.
Ở mỗi giai đoạn cách mạng, lực lượng An ninh nhân dân luôn một lòng một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; không quản ngại khó khăn gian khổ, luôn nêu cao tinh thần tận tụy, sẵn sàng xả thân vì nước, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Có thể khẳng định, mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đều có sự đóng góp to lớn về trí tuệ, sức lực và xương máu của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng An ninh nhân dân.
Ghi nhận, đánh giá cao những công lao, cống hiến của lực lượng An ninh nhân dân, Đảng, Nhà nước đã trao tặng lực lượng nhiều phần thưởng cao quý: 3 Huân chương Sao Vàng, 39 tập thể được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, phong tặng Danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; hàng nghìn lượt tập thể và cá nhân được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các hạng và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Trong công cuộc phát triển đất nước, Việt Nam đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Hiện nay, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đang được triển khai tích cực trong bối cảnh mới của thế giới có nhiều biến động.
Từ quá trình nhận thức về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế”…
Trước Đại hội IX năm 2001, văn kiện của Đảng chỉ nói đến “quốc tế hóa”, chưa đề cập tới “toàn cầu hóa”. Từ Đại hội IX của Đảng, Việt Nam đề cập đến “toàn cầu hóa kinh tế”. Khi đó, Báo cáo chính trị Đại hội IX nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”(1). Qua hai nhiệm kỳ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh tới “toàn cầu hóa kinh tế”. Đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Việt Nam chuyển từ nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” sang nhận thức về “toàn cầu hóa”. Báo cáo chính trị Đại hội XI nhận định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”(2). Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục khẳng định: “Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh”(3). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc...”(4).
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự phiên thảo luận thứ hai Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) với chủ đề: “Xây dựng tương lai bền vững, bao trùm và có sức chống chịu” bằng hình thức trực tuyến, ngày 22-11-2020_Ảnh: TTXVN)
Cùng với nhận thức về toàn cầu hóa, Việt Nam từng bước tiến hành hội nhập quốc tế. Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(5). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiến thêm một bước trong nhận thức và hành động hội nhập quốc tế; đề ra chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(6). Đến Đại hội XI của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh đến hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”(7).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8 phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó phương hướng thứ năm là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(8). Cương lĩnh đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(9). Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về hội nhập quốc tế”. Một trong những nhiệm vụ tổng quát mà Đại hội XII của Đảng đề ra là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(10). Đại hội XII đề ra chủ trương: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”(11). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng lớn bao quát những vấn đề phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn 10 năm tới, trong đó “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(12).
Như vậy, từ Đại hội IX của Đảng đến nay, quan điểm của Đảng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Từ nhận thức về “quốc tế hóa” đã phát triển thành nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” và đi đến nhận thức về “toàn cầu hóa”. Trên cơ sở thực tiễn về “toàn cầu hóa”, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và ngày nay là chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”, “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân gửi thông điệp tới phiên họp cấp cao kỷ niệm 25 năm Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ IV với chủ đề: “Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái”(trong khuôn khổ Tuần lễ cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 75), ngày 10-1-2020_Ảnh: TTXVN
… đến bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” hiện nay
Những năm gần đây, ở Việt Nam, cũng như trên thế giới, có ý kiến cho rằng, “toàn cầu hóa” đang chững lại; thậm chí có ý kiến đề cập đến “phi toàn cầu hóa”. Luồng ý kiến này nhấn mạnh đến xu hướng gia tăng hoạt động bảo hộ ở nhiều nước trên thế giới, đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và những tranh chấp về thương mại giữa các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, đến việc Mỹ đe dọa rút và đã rút khỏi một vài định chế quốc tế... Do vậy, câu hỏi đặt ra hiện nay là phải chăng toàn cầu hóa đang chững lại? Việc trả lời câu hỏi này là một trong những cơ sở căn bản để Đại hội XIII của Đảng hoạch định đường lối phát triển đất nước trong những năm tiếp theo.
Xét về bản chất, “toàn cầu hóa” là quá trình hình thành nên “cái toàn cầu”, phân biệt với “cái khu vực” (chỉ liên quan đến những khu vực địa - kinh tế - chính trị nhất định trên thế giới), “cái phe, khối” (chỉ liên quan đến các tập hợp lực lượng trên thế giới), “cái quốc gia - dân tộc” (chỉ liên quan đến từng đất nước). Xã hội loài người ngày nay, với nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại, cho thấy toàn cầu hóa đã tiến rất xa và sâu rộng; đồng thời, khẳng định “toàn cầu hóa” thực sự là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược. Điều rõ ràng là, dù còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết hay khuyết tật... trong cả ba hệ thống lớn nói trên, nhưng nhu cầu phát triển nội tại, tự thân của xã hội loài người chính là gốc rễ quy định xu thế toàn cầu hóa. Điều đáng chú ý là tiến trình toàn cầu hóa không diễn ra một cách tuyến tính, mà có những bước nhảy vọt, gắn với các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất xã hội loài người. Có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) bùng nổ, nhất định sẽ có bước nhảy vọt mới trong tiến trình toàn cầu hóa, toàn cầu hóa hoàn toàn không chững lại.
Sự gia tăng các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây không đồng nghĩa với việc chia cắt thị trường thế giới thành những thị trường quốc gia hay phe, khối biệt lập, không làm đứt đoạn các dòng đầu tư xuyên quốc gia, không làm mất đi các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thế giới mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tăng cường hợp tác và những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế. Có chăng, chủ nghĩa bảo hộ chỉ đặt ra những “trở ngại” mới về thuế quan và phi thuế quan cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mà những trở ngại này luôn tồn tại trong tiến trình toàn cầu hóa. Những số liệu thống kê của thế giới về thương mại và đầu tư cho thấy rất rõ rằng, bất chấp sự gia tăng của các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây, thương mại thế giới và đầu tư quốc tế vẫn tăng lên.
Việc hình thành “cái toàn cầu” trong quá trình toàn cầu hóa kéo theo việc ra đời các định chế toàn cầu, như Liên hợp quốc và các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Các định chế này không phải là “nhất thành, bất biến”, cơ chế hoạt động của chúng phải luôn cần đổi mới, cập nhật cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của “cái toàn cầu”. Đây là sự thích nghi, bảo đảm sức sống, nâng cao tính hiệu quả của các định chế quốc tế, chứ không phải và càng không thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa. Bước phát triển mới của toàn cầu hóa gắn với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tất yếu kéo theo những đổi mới, cải tổ, cải cách các định chế toàn cầu hiện có và có thể ra đời những định chế quản trị toàn cầu mới.
Yêu cầu đặt ra đối với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc chủ trì phiên thảo luận về quan hệ hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, tháng 1-2020_Nguồn: UN
Có thể hiểu quá trình hội nhập quốc tế của một đất nước (quốc gia) là sự tham gia vào hệ thống thế giới và trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới, trước hết là bộ phận cấu thành của “nền kinh tế thế giới”, “nền chính trị thế giới” và “nền văn minh nhân loại”. Sự tham gia ở đây là thông qua các hoạt động tương tác (hợp tác, cạnh tranh và đấu tranh...) với các bộ phận cấu thành khác nhau trong “hệ thống”, bao gồm cả việc gia nhập hay rút khỏi các “phân hệ” khác nhau trong hệ thống. Tất cả các hoạt động này đều là hoạt động có chủ đích, nhằm: 1- Phát triển quốc gia; 2- Khẳng định bản sắc quốc gia; 3- Giành vị thế xứng đáng cho quốc gia trong hệ thống; 4- Tham gia hoàn thiện và phát triển hệ thống...
Cần loại bỏ lối suy nghĩ giản đơn nhưng cũng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, rằng “hội nhập quốc tế” là hình thức phát triển cao của “hợp tác quốc tế”. Vấn đề là ở chỗ “hợp tác quốc tế” và “hội nhập quốc tế” là thuộc các lớp khái niệm khác nhau. Hợp tác quốc tế chỉ là một trong nhiều phương thức tương tác giữa các nước với nhau; bên cạnh hợp tác quốc tế còn có cạnh tranh, đấu tranh, liên minh, liên kết, đối đầu, chiến tranh... Điểm cơ bản là ở chỗ, khác với khái niệm “hội nhập quốc tế”, khái niệm “hợp tác quốc tế” không đề cập tới việc cấu thành hệ thống chỉnh thể thế giới.
Để đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế của một quốc gia, cần lấy phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của quốc gia đó trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế, trong các hệ thống thế giới làm tiêu chí:
Về chiều “rộng - hẹp”, có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập hẹp, khi quốc gia hội nhập chỉ tham gia một vài lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia phần lớn các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia tất cả các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế.
Về chiều “nông - sâu”, cũng có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập nông, khi quốc gia hội nhập hầu như không có vị trí, vai trò trong cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò nhất định trong cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò đáng kể trong cộng đồng quốc tế. Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết hệ thống, hội nhập sâu là trường hợp quốc gia hội nhập với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống, có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” (emergent) của cả hệ thống; còn hội nhập nông là trường hợp quốc gia hội nhập hầu như không có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” của cả hệ thống.
Với cách tiếp cận trên, có thể thấy, sau hai thập niên chủ động và tích cực hội nhập quốc tế từ Đại hội IX của Đảng đến nay, Việt Nam từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội quốc tế; trở thành thành viên có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng quốc tế, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội... Điều đó có nghĩa là Việt Nam tích cực hội nhập vào chỉnh thể thế giới. Do vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” và giai đoạn mới của “hội nhập quốc tế”, cần quan tâm một số vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, nhận thức đúng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” để làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, cần thấy rõ bước phát triển mới của toàn cầu hóa trong những năm tới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ; từ đó, tính toán sách lược, chiến lược trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam hiện tham gia các mặt đời sống chính trị - xã hội quốc tế, tức là đã hội nhập rộng vào chỉnh thể thế giới, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ hội nhập tương đối sâu với vị trí, vai trò nhất định trong một số lĩnh vực. Tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới. Tới đây, cần xác định việc giành lấy vị trí, vai trò ngày càng đáng kể trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại là nội dung chủ yếu của tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Về kinh tế, cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0. Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ. Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”.
Tỉnh An Giang tổ chức Lễ công bố xuất khẩu lô hàng gạo thơm của Tập đoàn Lộc Trời sang Châu Âu theo Hiệp định thương mại tự do EVFTA, ngày 22-9-2020 (Trong ảnh: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các đại biểu tham quan sản phẩm tại Nhà máy sản xuất gạo Lộc Trời)_Ảnh: TTXVN
Về chính trị, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN. Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực. Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Về văn hóa - xã hội, cần đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... có tầm ảnh hưởng quốc tế; tham gia xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng, hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại... Cần đặc biệt quan tâm việc nhân thêm và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, cạnh tranh về “sức mạnh mềm” trên trường quốc tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội... Phương tiện truyền thông xã hội trở thành một hiện tượng văn hóa, một kênh thông tin, một công cụ quản trị. Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các phương tiện truyền thông xã hội, một số nước chủ động sử dụng và phát huy vai trò kênh thông tin, công cụ quản trị của các phương tiện truyền thông này. Việt Nam cần có cách tiếp cận mới đối với các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ dừng ở chỗ coi chúng là đối tượng quản lý.
Thứ ba, khi triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đơn cử như, trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần luôn điều chỉnh, sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước, tuy nhiên, phải có lộ trình, bước đi cẩn trọng, để vừa củng cố độc lập, tự chủ, vừa hội nhập quốc tế thành công. Hay là vấn đề đối phó với nguy cơ lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị...; hoặc vấn đề phải đối phó với sự xâm lăng văn hóa, xử lý hiện tượng giao thoa văn hóa trong hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn trong xây dựng con người Việt Nam dưới tác động của trào lưu hình thành công dân toàn cầu, sự xâm nhập của các giá trị xã hội không phù hợp đối với nước ta...
Thứ tư, Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia vào việc đổi mới, cải tổ, cải cách hay thiết lập các định chế toàn cầu và khu vực; đóng góp nhiều hơn vào xây dựng “luật chơi”, coi đây là lợi ích quan trọng của quốc gia.
Thứ năm, trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp. Ngoài những cơ chế quốc tế phổ biến, thế giới còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính khu biệt, chuyên ngành mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do đó, vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập là nâng cao năng lực phòng, chống, xử lý, giải quyết những tranh chấp quốc tế, gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về các lĩnh vực này./.
------------------------
(1), (5) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 617, 664 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.28 (3), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 18, 79, 155-156 (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 112 (7), (8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 235-236, 72, 83-84 (4), (12) Nguyễn Phú Trọng: “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng”, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin về quyền con người vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam. Những giá trị về quyền con người trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn chỉ đạo về tư tưởng, đường lối và hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta.
Giá trị phổ quát mà các quốc gia trên thế giới hiện nay đều ghi nhận là mọi cá nhân đều có quyền con người, cần được tôn trọng và được đối xử bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử về giới tính, ngôn ngữ, chủng tộc, màu da, quốc tịch, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp, tình trạng khuyết tật, địa vị xã hội hay bất cứ tình trạng nào khác. Các quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thông qua các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các văn bản trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Khuôn khổ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã được hình thành, được các quốc gia thừa nhận, theo đó, đòi hỏi mọi thiết chế, tổ chức trong xã hội phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Quyền con người dưới xã hội xã hội chủ nghĩa bảo đảm tất cả các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; bảo đảm cả quyền cá nhân và quyền tập thể; bảo đảm tự do và công bằng, bình đẳng, quyền con người thống nhất với quyền công dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, thành phố Hà Nội (ngày 27-3-1956)_Nguồn: hochiminh.vn
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời, kế thừa tinh hoa tư tưởng quyền con người trên thế giới, đặc biệt là vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra những luận điểm mới, sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể ở Việt Nam. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thể hiện:
Một là, thực hiện quyền con người trên nền tảng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra một chân lý phổ biến là: Độc lập cho dân tộc là điều vô cùng quý giá, là tiền đề tiên quyết để giải phóng con người, bảo đảm quyền con người. Người cho rằng, giành được độc lập dân tộc rồi thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi chủ nghĩa xã hội không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, mà còn tạo cơ sở để hiện thực hóa quyền con người một cách toàn diện. Xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa chính là để cho nhân dân lao động có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hưởng công bằng; con người thực sự được giải phóng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(1) và “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2).
Hai là, tiếp cận vấn đề quyền con người trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quyền con người mang tính tự nhiên - xã hội của bản chất con người, thể hiện lý tưởng giải phóng - phát triển con người toàn diện và tự do. Về thực tiễn, Đảng và Nhà nước có vai trò quan trọng trong thực hiện quyền con người; đồng thời, bảo đảm quyền con người luôn có tính đặc thù về xã hội, như truyền thống văn hóa dân tộc, trình độ sản xuất vật chất - tinh thần của xã hội, các quyền con người có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói năm 1955, Người chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ ta có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(3). Ngay khi cách mạng thành công, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3-9-1945), Người đã chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ ban hành hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân và đề nghị tổ chức sớm nhất cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái đủ 18 tuổi trở lên đều được quyền ứng cử và bầu cử theo luật định không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo và giống nòi. Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta do Người trực tiếp làm trưởng ban soạn thảo đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946, trong đó xác định: “Bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 đã dành cả chương II nói về “quyền lợi và nghĩa vụ công dân” gồm 18 điều cụ thể quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội…
Ba là, để thực hiện quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là con đường giải phóng nhân loại khỏi bị áp bức, bóc lột và mang lại các quyền con người cơ bản cho đa số nhân dân lao động. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(4) và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”(5). Vì thế, Người chỉ rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(6). Đây chính là tư tưởng thể hiện sinh động và sâu sắc truyền thống đề cao vai trò nhân dân, quyền tự chủ của dân tộc Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người chỉ rõ: Nhà nước Việt Nam dân chủ kiểu mới là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cơ sở xã hội của nhà nước đó là toàn thể dân tộc Việt Nam, dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(7)
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm bảo đảm quyền con người, cần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân - nhà nước đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ngắn gọn, súc tích, giản dị, dễ hiểu:
Nhà nước của nhân dân: Là nhà nước trong đó nhân dân là chủ, là người có địa vị cao nhất, có quyền lực cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc, đất nước. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1946: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Nhà nước do nhân dân: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương xây dựng nhà nước do nhân dân, nghĩa là nhà nước đó do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, nhân dân làm chủ, nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước hoạt động và nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước.
Nhà nước vì nhân dân: Nhà nước đó luôn phục vụ cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Trong nhà nước đó, cán bộ là “công bộc” của dân. Nên việc gì có lợi cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ mấy cũng phải hết sức tránh. Cán bộ của nhà nước phải là những người biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, bảo vệ nhân dân và không được vi phạm đến các quyền con người và quyền công dân trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.
Xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ấy có nhiệm vụ xóa bỏ mọi sự nghèo khổ, bất công, bất bình đẳng và mang lại tự do cho nhân dân lao động.
Như vậy, có thể thấy, nội dung quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được phát triển rất phong phú cả về bề rộng và chiều sâu, tạo ra một hệ thống về quyền con người theo quan điểm khoa học và cách mạng.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Nhận thức vai trò của quyền con người đối với cách mạng Việt Nam, kế thừa tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định: “Tất cả vì con người, tất cả vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú và toàn diện cho mỗi người trong quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”(8). Tiếp tục khẳng định tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”(9). Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân”(10). Trên phương diện xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật để thực hiện quyền con người, “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống phát luật mới được ban hành và sửa đổi”(11).
Trẻ em trao đổi, thảo luận và trình bày nội dung vấn đề được giao tại tổ ở Diễn đàn Trẻ em quốc gia lần thứ 5 - năm 2017, với chủ đề “Trẻ em với vấn đề phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em”_Ảnh: TTXVN
Tại Đại hội XIII, Đảngta đề ra phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”(12).
Những quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Ðảng, Nhà nước về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã được cấp ủy đảng và chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc, tạo chuyển biến nhận thức một cách cơ bản, tích cực trong hệ thống chính trị. Để bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, ngày 20-7-2010, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW “Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”. Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người.
Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, công tác bảo đảm quyền con người đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam đã tích cực tham gia đầy đủ các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em…(13). Trên cơ sở đó, Việt Nam tiến hành luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về quyền con người.
Thành công trong việc phát huy quyền con người còn được thể hiện thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội không ngừng được hoàn thiện và mở rộng đối tượng thụ hưởng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân; “tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở được quan tâm; đã hoàn thành mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ”(14).
Thời gian tới, để phát huy và thực hiện tốt quyền con người, cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, quán triệt, nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về vị trí, vai trò của quyền con người trong từng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội. Từ đó, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, hướng đến mục tiêu phát triển vì con người.
Thứ hai, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người. Bảo đảm nguyên tắc quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ; đề cao vai trò chủ thể hưởng thụ quyền là nhân dân; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền con người./.
----------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175, 64 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 9, tr. 518 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 7, tr. 434 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 13, tr. 83 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 5, tr. 74 - 75 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 6,tr. 232 (8) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 10 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65 (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 169 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 166 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 177 (13) Đỗ Thị Tùng: “Không thể phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về quyền con người”, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/823406/khong-the-phu-nhan-thanh-tuu-cua-viet-nam-trong-xay-dung,-hoan-thien-va-thuc-thi-phap-luat-ve-quyen-con-nguoi.aspx#, ngày 20-6-2021 (14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 65 - 66
Sau 1,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, cuối giờ sáng 12-7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bế mạc phiên họp thứ 13.
Phát biểu bế mạc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, các nội dung tại phiên họp đã được xem xét kỹ lưỡng, đạt được sự thống nhất và đồng thuận cao.
Cụ thể, tại Phiên họp thứ 13, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét, quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng, đất rừng và đất trồng lúa từ hai vụ trở lên của Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025; xem xét báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 6-2022 (trong đó có công tác dân nguyện tháng 5-2022).
Cùng với đó là xem xét dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Công tác đại biểu.
Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng tổng kết kỳ họp thứ ba và cho ý kiến bước đầu về việc chuẩn bị kỳ họp thứ tư của Quốc hội; cho ý kiến về báo cáo kết quả khảo sát tiến độ xây dựng tuyến đường Trường Sơn Đông.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu bế mạc phiên họp. Ảnh: VPQH.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ yêu cầu, đối với các nghị quyết được Ủy ban Thường Quốc hội biểu quyết thông qua, các cơ quan hữu quan phối hợp chặt chẽ, sớm trình xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Chủ tịch Quốc hội ký ban hành càng sớm càng tốt.
Đặc biệt, đối với Nghị quyết về việc quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng, đất rừng và đất trồng lúa từ hai vụ trở lên của Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 trình Chủ tịch Quốc hội ký trong tuần này để Chính phủ, Thủ tướng có cơ sở pháp lý triển khai dự án hết sức quan trọng này.
Đối với Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Công tác đại biểu, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Ban Công tác đại biểu chủ động phối hợp với cơ quan hữu quan sớm chuẩn bị dự thảo nghị quyết trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến lần cuối trước khi trình Chủ tịch Quốc hội ký.
Về Nghị quyết hướng dẫn việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với chủ trương và nội dung chính của dự thảo nghị quyết này, đề nghị Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định tiếp tục chỉ đạo và giao Ủy ban Pháp luật của Quốc hội phối hợp với Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội hoàn thiện dự thảo nghị quyết để ban hành trong tháng 7-2022.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng đề nghị Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ động rà soát tất cả các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị kỳ họp thứ tư.
Dự kiến kỳ họp thứ tư sẽ có 7 dự án luật được thông qua, 6 dự án luật cho ý kiến lần đầu, trong đó có dự án Luật Đất đai (sửa đổi), do đó trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội rất nặng nề. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ động lấy ý kiến các cơ quan, báo cáo Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, nghiên cứu xây dựng chi tiết chương trình các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng 8, tháng 9, tháng 10; trong đó có thể bố trí các phiên họp chuyên đề, với tinh thần linh hoạt, không chờ đến mùng 10 hằng tháng mới tổ chức họp.
Nội dung liên quan đến đề án, nghị quyết do các cơ quan của Quốc hội chuẩn bị có thể bố trí họp sớm; các dự án luật chuẩn bị sớm có thể tổ chức phiên họp về công tác xây dựng pháp luật ngoài phiên họp thường kỳ, tránh tình trạng một phiên họp kéo dài và chia thành nhiều đợt.
Để kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV thành công, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị các đồng chí Phó chủ tịch Quốc hội, các đồng chí Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ động triển khai theo dự kiến nội dung chương trình kỳ họp thứ tư; có kế hoạch mời đại biểu tham gia dự thính phiên họp Quốc hội, chủ động lên kế hoạch về các buổi truyền hình trực tiếp phiên họp…