Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

Quản lý Nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan

 Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới

Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”. Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”.

Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”.

Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân.

Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Một số hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 

Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2023

 

TẠI SAO CHÂU ÂU VÀ MỸ
MUỐN TRANH GIÀNH UKRAINA VỚI NGA

 Ngoài việc nằm ở vị trí địa chiến lược, Ukraine còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên cực lớn tiềm ẩn nhiều lợi ích mà không ít nước muốn tranh thủ. Cụ thể: Ngoài các nguồn tài nguyên truyền thống như than, sắt, Ukraine còn được cho là sở hữu loại tài nguyên quan trọng cho ngành công nghiệp năng lượng sạch của tương lai. 

Theo tờ The New York Times, nằm sâu dưới lòng đất Ukraine, nước đang phải chống trả chiến dịch quân sự của Nga, là nguồn khoáng sản vô cùng lớn. Theo đó, các nhà nghiên cứu Ukraine ước tính khu vực miền Đông nước này có nguồn ô xít lithium có trữ lượng lên đến 500.000 tấn – Là nguyên liệu dùng để sản xuất các thiết bị điện tử và xe điện. Lithium không phải là nguồn tài nguyên đặc biệt quý hiếm, nhưng đây là chất gần như không thể thay thế trong pin. Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu đang đẩy mạnh những nỗ lực chống biến đổi khí hậu, các nền kinh tế lớn ngày càng chuyển sang sử dụng xe điện, qua đó thúc đẩy nhu cầu về lithium. Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) ước tính sự phát triển của ngành xe điện có thể đẩy nhu cầu lithium tăng hơn 40 lần tính đến năm 2030. Theo Reuters, nhu cầu lithium trên toàn cầu dự kiến chạm mốc 1 triệu tấn vào năm 2025 và 3 triệu tấn vào năm 2030. Các nhà sản xuất ô tô sẽ phải tranh giành để có thể đảm bảo đủ nguồn cung, qua đó đẩy giá lithium lên cao. Hiện nay, giá của kim loại này đã tăng tới 600% trong năm qua.

Nếu đánh giá sơ bộ của các nhà nghiên cứu chính xác, Ukraine sẽ là một trong những nước có nguồn dự trữ lithium lớn nhất thế giới. Nguồn lithium tại Ukraine chủ yếu tập trung tại tỉnh Kirovohrad ở miền trung và hai tỉnh Zaporizhzhia và Donetsk ở miền Đông. Nguồn tài nguyên này hầu như chưa bị đụng đến và đã thu hút sự chú ý của các công ty trên toàn cầu (các công ty của Mỹ và Châu Âu sẽ không khoanh tay đứng nhìn). Hai công ty European Lithium (Úc) và Chengxin Lithium (Trung Quốc) đang cạnh tranh quyết liệt để giành quyền khai thác tại các mỏ lithium ở Donetsk và Kirovohrad với tham vọng giành chỗ đứng trong ngành công nghiệp lithium tại châu Âu. Ngoài ra, nhiều công ty khác cũng đã tham gia đấu thầu cho các mỏ lithium này.

Nếu không tính Nga, Ukraine là nước có nguồn dự trữ khí đốt lớn thứ hai châu Âu với 1.090 tỉ m3, chỉ sau Na Uy (1.530 tỉ m3), theo chuyên trang BusinessToday.in. Ukraine còn sở hữu nhiều tài nguyên như titanium, sắt và các nguyên liệu thô phi kim. Đây cũng là nước xuất khẩu quặng sắt lớn thứ 5 trên thế giới trong năm 2019.

Ước tính có đến 20% nguồn dự trữ quặng titanium đã được xác minh trên thế giới nằm tại Ukraine. Đây còn là một trong số ít nước có quy trình sản xuất titanium khép kín. Loại kim loại này là thành phần quan trọng cho việc sản xuất máy bay.

Nhà khoa học Rod Schoonover, cựu giám đốc về môi trường và tài nguyên thiên nhiên của Hội đồng Tình báo quốc gia Mỹ, nhận định khoáng sản có thể không phải là động cơ cho chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine, nhưng là lý do vì sao Ukraine rất quan trọng đối với Nga.

Với vị trí chiến lược và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác, Ukraine rõ ràng là một điểm nóng cho sự tranh giành ảnh hưởng của các bên trong tương lai. Điều này càng có cơ sở khẳng định tại sao Mỹ và Châu Âu lại cạnh tranh quyết liệt như vậy? Tạo sao Mỹ lại tiếp tục chi hàng tỷ USD cho Ucraina???../

 

 

MỐI QUAN HỆ “ĐẶC BIỆT” GIỮA UKRAINA VÀ BA LAN

 Kể từ ngày 24 tháng 2 năm 2022, bắt đầu cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina đến nay, dưới cách nhìn tổng thể có thể khẳng định: Thế giới đã chịu tác động trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng…), ngày càng lan rộng ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, dân tộc trực tiếp hoặc gián tiếp. Biểu hiện rõ nhất là tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh tế, trực tiếp hiện hữu là an ninh năng lượng toàn cầu đang chịu sự thay đổi và tác động ảnh hưởng lớn nhất. Để góp phần cùng bạn đọc hiểu hơn về cuộc xung đột quân sự giữa hai nước đang diễn ra hiện nay mà chưa có hồi kết. Bài viết xin được cung cấp một số tài liệu liên quan đến đất nước Ukraina, trên cơ sở đó mỗi độc giả khi nghe, đọc, đánh giá, bình luận giữa các bên liên quan trong cuộc xung đột Nga – Ukraina hiện nay có cách nhìn đúng đắn, khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể:

Theo Hiệp ước Hoà bình Riga được ký kết giữa người Xô viết và Ba Lan, tây Ukraina chính thức bị sáp nhập vào Ba Lan đổi lại Ba Lan công nhận nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina vào tháng 3 năm 1919, sau này trở thành một thành viên sáng lập Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hay Liên xô tháng 12 năm 1922.

Sau cuộc cách mạng, chính phủ Xô viết phải đối đầu với sự tàn phá Ukraina. Hậu quả của chiến tranh là 1.5 triệu người chết và hàng trăm nghìn người mất nhà cửa. Xô viết Ukraina phải đối mặt với nạn đói năm 1921. Chứng kiến một xã hội đang kiệt quệ, chính phủ Xô viết trở nên rất mềm dẻo trong thập kỷ 1920. Vì thế, Văn hoá Ukraina và ngôn ngữ đã có sự phục hồi, bởi sự Ukraina hoá trở nên một phần địa phương của việc áp dụng chính sách Korenisation (nghĩa đen bản xứ hoá) trên khắp Liên xô. Người Bolshevik cũng cam kết thực hiện chăm sóc y tế phổ thông, cung cấp các lợi ích giáo dục và an sinh xã hội, cũng như quyền làm việc và có nhà ở. Các quyền của phụ nữ được tăng cường mạnh thông qua các bộ luật mới có mục đích loại bỏ những sự bất bình đẳng từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, cách chính sách kinh tế của Lenin đã bị đảo ngược hồi đầu thập niên 1930 sau khi Iosif Stalin dần củng cố quyền lực để trên thực tế trở thành người lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản và Liên bang Xô viết./.

 



 

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH DÂN SỐ VÀ XÃ HỘI CỦA UKRAINA

Theo Điều tra dân số Ukraina năm 2001, nước này khi đó có khoảng 48.5 triệu người nhưng đến 2019 chỉ còn 43.9 triệu, người Ukraina chiếm 77.8% dân số. Các nhóm sắc tộc lớn khác gồm người Nga (17.3%), người Belarus (0.6%), người Moldova (0.5%), người Tatar Crimea (0.5%), người Bulgari (0.4%), người Hungary (0.3%), người Romania (0.3%), người Ba Lan (0.3%), người Do Thái (0.2%), người Armenia (0.2%), người Hy Lạp (0.2%) và người Tatars (0.2%). Các vùng công nghiệp ở phía Đông và Đông Nam có dân số đông đúc nhất, và khoảng 67.2% dân số sống tại các vùng đô thị. Ukraina được coi là đang ở trong khủng hoảng nhân khẩu vì tỷ lệ tử cao và tỷ lệ sinh thấp. Tỷ lệ sinh hiện tại của Ukraina là 9.55 sinh/1,000 dân, và tỷ lệ tử là 15.93 tử/1,000 dân. Một yếu tố góp phần vào tỷ lệ tử cao là tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao trong nhóm nam ở độ tuổi làm việc từ các lý do có thể tránh được như nhiễm độc rượu và hút thuốc. Năm 2007, dân số nước này giảm ở tỷ lệ nhanh thứ tư thế giới.

Để giúp giải quyết tình trạng này, chính phủ tiếp tục tăng các khoản hộ trợ cho trẻ em. Chính phủ cung cấp khoản chi trả một lần 12,250 Hryvnia cho đứa trẻ thứ nhất, 25,000 Hryvnia cho đứa trẻ thứ hai và 50,000 Hryvnia cho đứa trẻ thứ ba và thứ tư, cùng với các khoản chi trả theo tháng là 154 Hryvnia cho mỗi đứa trẻ. Khuynh hướng nhân khẩu cho thấy các dấu hiệu cải thiện, bởi tỷ lệ sinh đã tăng vững chắc từ năm 2001. Tăng dân số thực trên chín tháng đầu tiên của năm 2007 được ghi nhận ở năm tỉnh (trong số 24 tỉnh), và sự hao hụt dân số cho thấy những dấu hiệu ổn định trên toàn quốc. Năm 2007 tỷ lệ sinh cao nhất thuộc các tỉnh phía tây.

Nhập cư lớn diễn ra ở những năm đầu tiên sau khi Ukraina độc lập. Hơn một triệu người đã tới Ukraina trong giai đoạn 1991–2000, chủ yếu từ các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ. Tổng cộng, trong giai đoạn 1991 và 2004, 2.2 triệu người đã nhập cư vào Ukraina (trong số đó 2 triệu người tới từ các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ) và 2.5 triệu người di cư khỏi Ukraina (trong số đó 1.9 triệu người tới các nước cộng hoà thuộc Liên xô cũ). Hiện tại, người nhập cư chiếm khoảng 14.7% tổng dân số, hay 6.9 triệu người; đây là con số lớn thứ tư thế giới. Năm 2006, có ước tính 1.2 triệu người Canada có tổ tiên là người Ukraina, khiến Canada là nước đứng thứ ba thế giới về số người Ukraina sau Ukraina và Nga. 

CHÚNG TA ĐI CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH MỘT CÁCH ĐỘC LẬP VÀ SÁNG TẠO

Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo bằng những phương pháp và những biện pháp riêng của mình trên đường lớn nhân loại.

Khép lại năm 2022 – năm “bản lề” của Đại hội XIII của Đảng, có thể khẳng định rằng, với sự đoàn kết và nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục đổi mới, chủ động vượt qua những thách thức to lớn, có mặt gay gắt, hiểm nghèo, trong cuộc tái thiết đất nước, sau Đại dịch Covid-19, chúng ta tiếp tục gặt hái những thành tựu quan trọng, có tính chất toàn diện và với tốc độ tăng trưởng rất đáng nâng niu. 

Thế và lực của Việt Nam không ngừng được tăng cường, vị thế và uy tín của Đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế không ngừng được khẳng định và tôn vinh. 

Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội đều đạt và vượt mức kế hoạch: Tốc độ tăng trưởng đạt mức cao trong một thập kỷ qua (hơn 8,0%); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những cân đối lớn, quan trọng được bảo đảm và giữ thế ổn định trên bình diện vĩ mô... Sự nghiệp phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hoá và xã hội đều tiến những bước quan trọng.

Theo quy mô, tốc độ và chiều sâu của công cuộc đổi mới, chúng ta chủ động và tích cực đổi mới, sắp xếp và kiện toàn bộ máy lãnh đạo, quản lý; tiếp tục đổi mới công tác hành chính và tư pháp; tăng cường mạnh mẽ hơn trong cuộc đấu tranh phòng, chống th.am nh.ũng, lãng phí, t.iêu cực và thực hành tiết kiệm; không ngừng giữ vững thế trận an ninh quốc phòng; chủ động đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu sắc và hiệu quả. 

Đó là thành quả của đổi mới, của tinh thần Đại đoàn kết toàn Dân tộc, của sự ủng hộ và hợp tác quốc tế… Tất cả dồn tụ, kết tinh thành sức mạnh, uy tín, địa vị của Đất nước!

Hiện nay, thời kỳ cạnh tranh và phát triển mới của thế giới, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong không gian phẳng và tốc độ toàn cầu hóa, đã và đang mở ra những cơ hội phát triển mới mẻ chưa từng có, với quy mô, tốc độ đột phá nhưng cũng đặt ra những thách thức t.ụt hậu nan giải đối với tất cả các quốc gia, dân tộc, trên quy mô toàn cầu trong một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh mới, gay gắt của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Chúng ta phải tiếp tục đổi mới không chỉ tầm nhìn, quyết sách mà còn chỉnh đốn, sửa sang về nền móng căn bản, kế sách lâu dài, cơ chế chiến lược phát triển phù hợp với Đất nước và thời đại: Đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh Đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và bền vững, với khát vọng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và nhân văn, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Việt Nam càng phải độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.

Đó là con đường phát triển duy nhất đúng, nếu muốn bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Càng không thể chờ đợi, cầu toàn theo kiểu “dàn hàng ngang” hoặc thái độ do dự, ngập ngừng và càng không thể chấp nhận hành động nửa vời, chắp vá. Lúc này, đất nước chỉ có hoặc tụt hậu hoặc phát triển; trong thế giới hiện nay, không thể đứng im, cũng bởi hơn hết bao giờ, đứng im, dù ở bất cứ phương diện nào, cũng chính là tụt hậu, trong thế giới biến động khôn lường ngày nay. 

Nếu không định vị chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì Đất nước nhất định sẽ càng khó tìm được chỗ đứng xứng đáng trên trường quốc tế, và càng khó có cơ hội góp phần mình cùng nhân loại xây dựng thế giới. Phải kiến tạo các trung tâm phát triển kinh tế xã hội quốc gia, các chuỗi giá trị quốc gia một cách độc đáo “Make in Vietnam” phù hợp với giá trị chung toàn cầu. Đó là gương mặt, là vận mệnh và là danh dự của dân tộc! 

Thể chế! Thể chế! Và, thể chế phải là mệnh lệnh Đổi mới, sáng tạo; là khâu đột phá ngang tầm để giải phóng nội lực và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng theo phương hướng đó.

Khi thế giới càng toàn cầu hóa thì vấn đề dân tộc đối với mỗi quốc gia càng nổi lên như một mệnh đề quan trọng và thiết yếu. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc vì sự phát triển toàn cầu và chủ động tiên lượng nắm lấy tổng thể sự vận động toàn cầu để giải quyết cụ thể, thiết thực những công việc của Dân tộc phải và đang trở thành mệnh lệnh hành động song trùng một cách tự nhiên và tất yếu. Không có chiến lược phát triển nào khác hơn là, trên đường văn hóa, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, phải trở thành động lực căn bản và to lớn trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay và tương lai. Đó là đích đến của kinh tế hay chính trị, của ngoại giao hay quốc phòng, của kinh tế với môi trường… thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo bằng những phương pháp và những biện pháp riêng của mình trên đường lớn nhân loại. Coi nhẹ văn hóa trong phát triển chúng ta sẽ trả giá bằng nhiều thế hệ. Buông lơi, hạ thấp văn hóa, chúng ta sẽ “đánh mất mình”, là cầm chắc sự thất bại từ nền móng và từ bản sắc và ưu thế. Rốt cục, sẽ không có bất cứ những gì bền vững cả!

Vì thế, trong tầm nhìn tới năm 2045, trước mắt năm 2030, với công cuộc đổi mới sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phải trở thành một nước công nghiệp, hiện đại phát triển, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với bản lĩnh Việt Nam; nơi hội tụ của niềm tin, tri thức và tấm lòng rất mực thủy chung, nhân ái, chan hòa với bạn bè quốc tế; thành viên của thế giới nhân văn, hòa bình và tiến bộ trong chỉnh thể hoàn cầu. 

Đó là sự lựa chọn mang tầm chiến lược, là lòng tin chính trị mang tầm quốc tế của Đất nước trong thế giới hiện nay.

Công cuộc đổi mới trong tầm nhìn năm 2045 đang thách thức, nếu không dũng cảm đổi mới sáng tạo, không phát huy tinh thần Đại đoàn kết, không nâng niu, phát triển Con người, vì Hạnh phúc của Nhân dân, nhất định không có sự đột phá giải phóng mọi tiềm năng và thực lực phát triển nào như mong muốn, càng rất khó có sự bứt tốc thành công nào như khát vọng. Theo đó, mọi sự cải cách, canh tân hay bất cứ một sự khát vọng phát triển nhảy vọt, bứt phá nào, dù tốt đẹp và chính đáng đến mấy, rốt cuộc cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi, nếu không Đại đoàn kết, không trọng dụng Nhân tài. Đó phẩm giá của Dân tộc ta!

Với tư cách là người lãnh đạo, cầm quyền, Đảng phải là tấm gương mẫu mực về tinh thần đoàn kết từ trong nội bộ, xứng đáng là hạt nhân Đại đoàn kết trong hệ thống chính trị, cố kết toàn Dân tộc và đoàn kết quốc tế. Không phòng, chống thành công th.am nh.ũng, l.ãng phí, t.iêu cực nhất định Việt Nam bị b.ạc nhược, sinh khí Dân tộc bị tổn hao và dứt khoát Đất nước không có bất cứ sự phát triển như mong muốn. 

Vững chãi bước vào năm 2023, với thế chủ động, trên nền móng những thành tựu quan trọng của năm 2022, với gia tốc phát triển mới của Đất nước sau hơn 36 năm đổi mới, Đất nước chủ động nắm bắt những cơ hội, hóa giải những thách thức, đoàn kết thống nhất, chuyển thời cơ và tiềm năng thành hiện thực to lớn hơn, với chất lượng cao hơn và phát triển mạnh mẽ, nhân văn và bền vững hơn.

Từ tầm nhìn năm 2045, chào năm mới 2023, với niềm tin tưởng sắt đá tiếp tục thành công, với hệ thống giải pháp khả thi đã hoạch định, toàn Dân tộc đồng lòng, cả nước gắng sức, dưới ngọn cờ của Đảng, nhất định thành công, vì danh dự và uy tín Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, công bằng, văn minh và hùng cường./. 




Báo VOV

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài, kiệt xuất của dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Người “là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại”(1). Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Học tập và làm theo Người là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không thể thiếu đối với tất cả các tổ chức đảng, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện, cống hiến và phụng sự đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, tiếp tục có những diễn biến vô cùng phức tạp, khó lường, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn trên toàn cầu, song vấn đề cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức, gay go hơn, quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thế, lực và sức mạnh tổng hợp của quốc gia ngày càng được nâng cao. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8). Tình hình quốc tế và trong nước với những thuận lợi, thời cơ đan xen những khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, cấp bách, nặng nề hơn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. “Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước... tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động.. Điều này đặt ra yêu cầu toàn Đảng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, đưa đất nước vững bước tiến lên. Trong đó, cần đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh hơn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta di sản vô cùng quý giá. Đó là thời đại Hồ Chí Minh; là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”(12). Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người mãi là biểu tượng cách mạng, ngọn hải đăng dẫn đường cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp các thế hệ người Việt Nam tiếp nối, noi theo. Không ngừng học tập, rèn luyện theo Người đã, đang và luôn là tiêu chí, thước đo, phương châm hành động và biện pháp công tác của các cán bộ, đảng viên, được coi là động lực, cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng nỗ lực vượt qua các khó khăn, thách thức, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới./.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng đảng vững mạnh

Từ thực tiễn lịch sử lãnh đạo và tổ chức của Đảng ta về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có thể thấy, Hồ Chí Minh là người xây đắp nên nền móng lý luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là một nội dung trọng tâm, vừa là một biện pháp rất quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thấy được sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với Tổ quốc, dân tộc, giai cấp công nhân, nhân dân lao động, trong cuộc đời, sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về mọi mặt. Để Đảng xứng đáng là đội tiên phong, bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, Người thường xuyên chăm lo đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Từ thực tiễn lịch sử lãnh đạo và tổ chức của Đảng ta về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có thể thấy, Hồ Chí Minh là người xây đắp nên nền móng lý luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là một nội dung trọng tâm, vừa là một biện pháp rất quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hơn 90 năm qua, Đảng ta đã nhiều lần tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam và những biểu hiện sai lầm, sự nguy hại dẫn đến nguy cơ đe dọa đến sự lãnh đạo của Đảng, mà Đảng ta đã tiến hành nhiều đợt chỉnh đốn và chỉnh huấn Đảng với những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau. Nhìn lại quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng thấy rõ, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, từ sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với dân tộc mà trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh về mọi mặt. Sự thành công nhiều hay ít của các đợt xây dựng, chỉnh đốn Đảng đều tùy thuộc vào sự thắng lợi nhiều hay ít của việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi như Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng thống nhất nhận định: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt. Chính vì vậy mà cuộc chỉnh huấn lần này của Đảng ta nhằm mục đích tẩy rửa chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản” Tiếp tục quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm và nghiêm chỉnh thực hiện triệt để các nhiệm vụ, giải pháp, cách thức xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Nghị quyết Trung ương 4 đã đề ra; quan tâm, chú trọng hơn nữa tới việc triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi thắng lợi của cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội nói chung đều không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Phải hết sức phòng ngừa, cảnh giác và đấu tranh với những biểu hiện coi thường, xem nhẹ, bỏ qua, hữu khuynh hoặc tả khuynh trong đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân. Phải chú ý đến biểu hiện những của người đứng đầu, người chủ trì hoặc cả một bộ phận cấp ủy viên khi triển khai và tổ chức tự phê bình và phê bình một cách qua loa, chiếu lệ, hình thức; bởi đó là một cách mà những người này đã “sa xuống cái hố cá nhân chủ nghĩa” nên họ rất sợ tự phê bình và phê bình một cách thiết thực như Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Trong tình hình mới hiện nay, để nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng có trọng tâm và có hiệu quả, một lần nữa cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm lời kết luận bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Trung ương thống nhất phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm; trong đó, cần thực hiện tốt nhóm: “ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, “lợi ích nhóm”.

 

TẠI SAO MỘT SỐ NƯỚC LÁNG GIỀNG NGA ỦNG HỘ VÀ CUNG CẤP VŨ KHÍ CHO UKRAINA CHỐNG LẠI NGA

 Kể từ ngày 24 tháng 2 năm 2022, bắt đầu cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina đến nay, dưới cách nhìn tổng thể có thể khẳng định: Thế giới đã chịu tác động trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng…), ngày càng lan rộng ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, dân tộc trực tiếp hoặc gián tiếp. Biểu hiện rõ nhất là tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh tế, trực tiếp hiện hữu là an ninh năng lượng toàn cầu đang chịu sự thay đổi và tác động ảnh hưởng lớn nhất. Để góp phần cùng bạn đọc hiểu hơn về cuộc xung đột quân sự giữa hai nước đang diễn ra hiện nay mà chưa có hồi kết. Bài viết xin được cung cấp một số tài liệu liên quan đến đất nước Ukraina, trên cơ sở đó mỗi độc giả khi nghe, đọc, đánh giá, bình luận giữa các bên liên quan trong cuộc xung đột Nga – Ukraina hiện nay có cách nhìn đúng đắn, khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể:

Ukraina bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất bên cạnh cả phe Liên minh, với đế quốc Áo-Hung, và phe Hiệp ước, với Nga. 3.5 triệu người Ukraina chiến đấu trong Quân đội Đế quốc Nga, trong khi 250,000 người chiến đấu cho Quân đội Áo-Hung. Trong cuộc chiến, chính quyền Áo-Hung thành lập Quân đoàn Ukraine để chiến đấu chống lại Đế quốc Nga. Quân đoàn này là nền tảng của Quân đội Galician Ukraina chiến đấu chống lại cả những người Bolshevik và Ba Lan trong giai đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất (1919–23). Những người bị nghi ngờ có các tình cảm thân với Nga tại Áo bị đối xử tàn nhẫn. Lên tới 5,000 người ủng hộ Đế quốc Nga thuộc Galicia bị giam giữ và đưa vào các trại tập trung Áo tại TalerhofStyria, và trong các khu rừng tại Terezín (hiện ở Cộng hoà Séc).

Với sự sụp đổ của Đế quốc Nga và Áo-Hung sau chiến tranh và cuộc Cách mạng Nga năm 1917, một phong trào quốc gia Ukraina đòi quyền tự quyết tái xuất hiện. Trong giai đoạn 1917–20, nhiều nhà nước Ukraine riêng biệt xuất hiện trong một giai đoạn ngắn: Cộng hòa Nhân dân UkrainaHetmanate, Tổng cục Ukraina và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina (hay Xô viết Ukraina, được đảng Bolshevik giúp đỡ) liên tiếp được thành lập trong các lãnh thổ cũ của Đế quốc Nga; đồng thời Cộng hoà Nhân dân Tây Ukraina xuất hiện một thời gian ngắn trong lãnh thổ của Áo-Hung cũ. Trong bối cảnh cuộc Nội chiến, một phong trào vô chính phủ được gọi là Hắc quân lãnh đạo bởi Nestor Makhno cũng phát triển ở miền Nam Ukraina. Tuy nhiên với sự thất bại của Tây Ukraine trong Chiến tranh Ba Lan-Ukraina tiếp theo là sự thua trận của cuộc tấn công của Ba Lan bị những người Bolshevik đẩy lùi. Theo Hiệp ước Hoà bình Riga được ký kết giữa người Xô viết và Ba Lan, tây Ukraina chính thức bị sáp nhập vào Ba Lan đổi lại Ba Lan công nhận nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina vào tháng 3 năm 1919, sau này trở thành một thành viên sáng lập Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hay Liên xô tháng 12 năm 1922.

 

Cơ chế kiểm soát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ

 Cơ chế kiểm soát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ

Những năm gần đây, khi bàn về kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tha hoá, biến chất của cán bộ lãnh đạo chủ chốt trước hết là người đứng đầu, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường nói: Phải kiểm soát quyền lực bằng cơ chế và phải nhốt quyền lực trong lồng cơ chế. Vậy cơ chế là gì? Làm sao nhận diện được và xây dựng nó bằng cách nào?
 
Thuật ngữ cơ chế (mechanism) có nguồn gốc từ tiếng La-tinh, nghĩa gốc chỉ nguyên lý cấu tạo và làm việc của máy móc. Thuật ngữ này về sau được sử dụng vào các ngành khoa học khác nhau. Theo cách hiểu hiện nay, cơ chế là cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành, biến hóa của một sự vật, hiện tượng. Trong kinh tế học, cơ chế được quan niệm là luật chơi, thiết kế cơ chế chính là quá trình xây dựng các luật chơi, nhằm bảo đảm các mục tiêu như trung thực, duy lý, cân bằng chi phí và lợi ích xã hội. Có thể nói, cơ chế là những cách thức, phương pháp nhằm điều phối mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận trong một hệ thống quản lý, giúp bộ máy vận hành và phát huy tác dụng. Cơ chế không phải là sự lắp ghép cơ học hay áp dụng tùy tiện các cách thức, phương pháp ngẫu hứng nhất thời mà thường là tập hợp các cách thức, phương pháp đã được thực tế kiểm nghiệm, có tính ổn định tương đối, không dễ bị thay đổi bởi cá nhân nắm quyền.
 
Cơ chế kiểm soát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ là tổng thể những cách thức, phương pháp mà chủ thể kiểm soát (cấp uỷ, người đứng đầu cấp trên) sử dụng nhằm điều phối mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức hoặc giữa các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, bảo đảm mọi quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ thẩm quyền, quy trình, nguyên tắc của Cương lĩnh, Điều lệ và quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, để quyền lực luôn vận hành đúng hướng, hiệu quả, ngăn ngừa, chống lạm quyền, lộng quyền, tha hoá quyền lực.
 
Người đứng đầu chính là người được bầu, bổ nhiệm, phê chuẩn hoặc chỉ định giữ chức vụ cấp trưởng trong các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ hiện nay chưa được quy định một cách rõ ràng, cụ thể đã dẫn đến sự lúng túng, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, thiếu toàn diện giữa các địa phương, đơn vị. Khảo sát, nghiên cứu cho thấy, chưa có quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đề xuất, giới thiệu bầu cử, tiến cử, đề nghị bổ nhiệm cán bộ không đúng, không đủ tiêu chuẩn, điều kiện; chưa phát huy tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người đứng đầu; chưa tạo được bước đột phá về công tác cán bộ. Không ít nơi đã có tình trạng vừa né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không chịu trách nhiệm cá nhân, dựa vào tập thể, vừa có tình trạng thiếu công tâm, khách quan, gia trưởng, độc đoán, lạm dụng quyền hạn, xen động cơ cá nhân để chi phối, làm sai lệch công tác cán bộ…; khi có thành tích thường nhận về mình, khi có khuyết điểm thì đổ cho tập thể.
 
Có thể thấy rõ những vi phạm chủ yếu của người đứng đầu trong thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm (hoặc cấp phó khi được uỷ quyền) tại tổ chức, cơ quan, đơn vị, theo thống kê những năm gần đây là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện độc đoán, chuyên quyền trong công tác cán bộ, áp đặt ý chí cá nhân, không tham khảo ý kiến tập thể hoặc thông qua quyết nghị của tập thể để hợp thức hoá ý chí chủ quan của mình; chỉ đạo, giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn; để xảy ra sai phạm của tập thể cấp uỷ do mình lãnh đạo; chịu trách nhiệm liên đới do cấp dưới vi phạm… Ví dụ: Khai trừ ra khỏi Đảng: Đinh La Thăng, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Trần Văn Minh, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương…; Cách chức Uỷ viên Trung ương Đảng (khoá XI), Bí thư Ban Cán sự đảng nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Nguyễn Bắc Son, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Cách chức Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Phó Bí thư Thường trực Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Tất Thành Cang; Cách chức Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam nhiệm kỳ 2010-2015 đối với ông Lê Phước Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam…
 
Những năm gần đây, trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế mạnh mẽ đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức lớn, khi mà các vi phạm pháp luật trong các tổ chức đảng và đảng viên ngày càng gia tăng, với những dấu hiệu ngày càng tinh vi, phức tạp và khó phát hiện. Thực tế cho thấy, đã và đang xuất hiện nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng, kéo dài mà đối tượng mắc sai phạm là những cán bộ, đảng viên, người có chức vụ, quyền hạn cao trong các cơ quan, tổ chức lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng triệt để các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại của cuộc cách mạng 4.0 như thành tựu về công nghệ thông tin, công nghệ sao chụp, làm giả các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc, nhân thân… để thực hiện hành vi vi phạm với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp và kín đáo để dễ dàng che đậy, trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan thanh tra, kiểm soát... Mặt khác, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và bảo mật thông tin còn nhiều yếu kém, quản lý an ninh mạng thiếu đồng bộ, nhất là việc kiểm soát, xử lý các thông tin trên mạng in-tơ-nét chưa chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả.
 
Thực tiễn cho thấy, từ nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ, có thể đi sâu nghiên cứu một số cách thức, phương pháp kiểm soát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ như: kiểm tra, giám sát; công khai, minh bạch; phát huy dân chủ; cạnh tranh lành mạnh; kiểm soát xung đột lợi ích; báo cáo, giải trình; truy cứu trách nhiệm và xử lý kỷ luật..., cụ thể như sau:
 
Một là, giám sát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ
 
Thực hiện nghiêm chế độ giám sát thường xuyên đối với công tác cán bộ theo quy định, chú trọng giám sát ngườị đứng đầu, tập thể, cá nhân làm công tác cán bộ. Hằng năm, cấp có thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức các đoàn giám sát chuyên đề, chuyên ngành về công tác cán bộ đối với cấp dưới.
 
Cơ quan làm công tác cán bộ và người được phân công phụ trách, theo dõi địa bàn, lĩnh vực thực hiện chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm đổi với nội dung báo cáo, nhận xét, đảnh giá của mình về công tác cán bộ.
 
Thực hiện nghiêm cơ chế giám sát, phản biện của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; giám sát, phản ánh của nhân dân đối với cán bộ và công tác cán bộ.
 
Trường hợp phát hiện đối tượng giám sát có dấu hiệu vi phạm thì tập thể, thành viên thực hiện việc giám sát phải báo cáo cấp có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xem xét, kết luận, xử lý theo quy định.
 
Hai là, kiểm tra, giám sát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ
 
Hằng năm, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp xây dựng kế hoạch và tiến hành tự kiểm tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất theo quy định. Chú trọng kiểm tra của cẩp trên với cấp dưới, kiểm tra chuyên ngành việc thực hiện các nội dung công tác cán bộ.
 
Cơ quan làm công tác cán bộ của cấp ủy cấp trên định kỳ kiểm tra việc tham mưu, đề xuất, thẩm định và quyết định trong thực hiện các nội dung công tác cán bộ của cấp dưới trực tiếp. Kịp thời thẩm tra, xác minh, kết luận những trường hợp có nhiều dư luận, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
 
Khi phát hiện có hành vi vi phạm trong công tác cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải kịp thời chỉ đạo kiểm tra, kết luận, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
 
Ba là, phát huy dân chủ kiểm soát quyền lực của người đứng đầu trong công tác cán bộ
 
Các chủ trương, chính sách lớn phải được tham khảo ý kiến, đánh giá tác động, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn, khách quan, khả thi và tạo sự đồng thuận khi triển khai, thực hiện. Thành viên tham dự hội nghị được quyền thể hiện hết chính kiến và chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung thông tin, ý kiến của mình; người chủ trì không được áp đặt ý kiến chủ quan của mình làm ảnh hưởng đến kết quả biểu quyết hội nghị.
 
Thực hiện bỏ phiếu kín đối với những nội dung cần biểu quyết; bảo đảm không gian, thời gian và tính độc lập cho người ghi phiếu biểu quyết. Thực hiện nghiêm túc, dân chủ, thực chất trong đánh giá tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
 
Bốn là, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ
 
Công khai, minh bạch thực hiện các quy định về công tác cán bộ. Chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, luân chuyển cản bộ; nâng ngạch, nâng bậc lương, xét thăng hạng hằng năm hoặc đột xuất phải được thông báo đến cán bộ, đảng viên tại hội nghị hoặc niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Chỉ tiêu, kế hoạch tuyển dụng phải được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
 
Công khai, minh bạch về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, cơ cấu, quy trình tuyển dụng, tiếp nhận, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu cán bộ ứng cử; bản nhận xét, đánh giá cán bộ của cấp có thẩm quyền phải được thông báo tại hội nghị thực hiện quy trình nhân sự của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
 
Trích ngang lý lịch, nhận xét, đánh giá của cấp có thẩm quyền và bản kê khai tài sản của nhân sự phải được cung cấp cho thành viên tham dự các hội nghị khi thực hiện quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu cán bộ ứng cử.
 
Không được lợi dụng, lạm dụng quy định bảo mật để hạn chế, ngăn cản việc tiếp cận thông tin hoặc lợi dụng, lạm dụng việc công khai, minh bạch để phát tán thông tin về cán bộ và công tác cán bộ với dụng ý xấu.
 
Năm là, kiểm soát quan hệ lợi ích trong thực hiện công tác cán bộ của người đứng đầu
 
Những người có quan hệ cha (mẹ), con (con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi); vợ, chồng; anh (chị), em ruột không được cùng đảm nhiệm chức danh bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra của cùng cấp ủy; chủ tịch UBND và người đứng đầu cơ quan nội vụ cùng một địa phương; là thành viên cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; là người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu của cùng cơ quan, đơn vị; là thành viên cùng hội đồng tuyển dụng, thi tuyển cán bộ, công chức, viên chức,
 
Người đứng đầu và người trực tiếp tham mưu về công tác cán bộ chịu trách nhiệm về việc nhận xét, đánh giá, thẩm định hồ sơ và đề xuất quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ thuộc thẩm quyền, nhất là người cổ quan hệ cha (mẹ), con (con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi); vợ, chồng; anh (chị), em ruột với mình.
 
Người được giao theo dõi, phụ trách về công tác cán bộ tại một địa bàn, lĩnh vực không quá 5 năm liên tiếp.
 
Cấp có thẩm quyền rà soát, thực hiện điều chuyển cán bộ sang vị trí, địa bàn công tác khác đối với các trường hợp nêu trên. Thực hiện nghiêm theo lộ trình bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và một số chức danh khác theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước không là người địa phương.
 
Sáu là, cạnh tranh lành mạnh trong thực hiện công tác cán bộ
 
Cơ bản thực hiện bầu cử có số dư, bổ nhiệm cán bộ có cạnh tranh, thông qua thi tuyển hoặc bảo vệ chương trình hành động.
 
Mọi đối tượng đủ điều kiện, tiêu chuẩn đều có cơ hội ngang nhau và được tạo môi trường bình đẳng trong tuyển dụng, tuyển chọn cán bộ.
 
Người thuộc đối tượng giới thiệu quy hoạch, ứng cử, dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại; đánh giá, xếp loại chất lượng, lấy phiếu tín nhiệm. Không được mua chuộc, gây sức ép để tranh thủ phiếu bầu, phiếu giới thiệu, phiếu tín nhiệm cho mình dưới mọi hình thức.
 
Bảy là, báo cáo, giải trình trong thực hiện công tác cán bộ của người đứng đầu
 
Khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền thì người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị làm công tác cán bộ và người trực tiếp tham mưu, đề xuất nhân sự có trách nhiệm giải trình đầy đủ, khách quan, trung thực.
 
Tuyển dụng, tiếp nhận, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu cán bộ ứng cử khi người đứng đầu có quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo chuyển công tác.
 
Bố trí, phân công ủy viên ban thường vụ cấp ủy khác với cơ cấu được quy định. Nhân sự không tham gia cấp ủy nhưng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo ở cơ quan, tổ chức có cơ cấu cấp ủy.
 
Tám là, truy cứu trách nhiệm và xử lý kỷ luật trong thực hiện công tác cán bộ của người đứng đầu
 
Tạm đình chỉ công tác, chức vụ để kiểm điểm, kiểm tra làm rõ trách nhiệm đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; cán bộ tham mưu về công tác cán bộ; cán bộ theo dõi địa bàn, lĩnh vực; thành viên đoàn kiểm tra, giám sát có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng trong công tác cán bộ.
 
Tạm dừng quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử; phong, thăng quân hàm; phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước đổi với cán bộ, đảng viên; thành viên của tập thể lãnh đạo đang trong quá trình bị thẩm tra, xác minh dấu hiệu vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của ngành.
 
Đình chỉ công tác, chức vụ; không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, kiểm tra, thanh tra, nội vụ; không phân công theo dõi địa bàn, lĩnh vực, tham gia đoàn kiểm tra, giám sát đối với người đã có kết luận vi phạm nghiêm trọng trong công tác cán bộ. Đưa ra khỏi quy hoạch, không luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử có thời hạn đối với cán bộ vi phạm trong công tác cán bộ.
 
Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định đã có kết luận vi phạm nghiêm trọng trong công tác cán bộ; đồng thời kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cá nhân có liên quan. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra sai phạm hoặc không chỉ đạo xử lý khi có dấu hiệu vi phạm trong công tác cán bộ ở cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc phạm vi trực tiếp lãnh đạo, quản lý.
 
Đưa ra khỏi danh sách quy hoạch đối với người có trên 1/2 số phiếu tín nhiệm thấp. Cho từ chức, thôi giữ chức vụ đối với người có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên hoặc có 2 năm trong nhiệm kỳ hoặc thời hạn giữ chức vụ bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.
 
Chủ động bố trí công tác khác đối với những người làm công tác cán bộ có nhiều phản ánh, dư luận đã được xác minh, kiểm chứng về lộng quyền, lạm quyền, tiêu cực trong công tác cán bộ.
 
Tập thể, cá nhân vi phạm trong công tác cán bộ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.
 
Trường hợp tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương bị xử lý kỷ luật hình thức nào thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương đó sẽ bị xử lý kỷ luật cá nhân tương ứng hoặc cao hơn hình thức xử lý kỷ luật tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương đó.
VTT (St)