Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

Cả nước chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu, đưa đất nước phát triển ngày càng cường thịnh

 Trước hết, tôi xin được thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư và với tình cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí tham dự Hội nghị ở trung tâm Hà Nội cũng như tại các điểm cầu trong cả nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp. Tôi được biết, các đồng chí đã chuẩn bị cho Hội nghị hôm nay rất nghiêm túc, công phu, chu đáo, sinh động. Chính phủ đã có báo cáo rất toàn diện, đầy đủ, rõ ràng. Một số ý kiến phát biểu của đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương rất cụ thể, phong phú, sinh động. Tôi chỉ xin nói thêm một số vấn đề có tính chất tổng quát, gợi mở, nhấn mạnh thêm để các đồng chí tham khảo, cùng suy nghĩ, trao đổi. I- VỀ NHÌN LẠI NĂM 2022 Tôi còn nhớ, năm ngoái, tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2021, cũng ở hội trường này, ngày 5 tháng 1 năm 2022, tôi có nêu mong muốn và chúc Chính phủ, chính quyền các cấp cố gắng, nỗ lực phấn đấu để năm 2022 phải đạt được nhiều thành tích và tiến bộ hơn năm 2021. Hội nghị đã vỗ tay tỏ ý đồng tình, ủng hộ rất mạnh mẽ, với quyết tâm và khí thế rất cao. Giờ đây, khi tổng kết đánh giá, nhìn lại năm 2022, tôi mong muốn và đề nghị các đồng chí trả lời một cách rõ ràng, mạch lạc câu hỏi tổng quát đó, rằng năm 2022 kết quả, thành tích đạt được trên các mặt, các lĩnh lực có nhiều hơn, tiến bộ hơn năm 2021 hay không? Nhiều hơn, tiến bộ hơn ở mặt nào, lĩnh vực nào? Còn mặt nào, việc nào chưa được như mong muốn? Nguyên nhân vì sao? và cho chúng ta thêm bài học kinh nghiệm gì? Qua Báo cáo của Chính phủ, ý kiến phát biểu của đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương và thông tin được cập nhật đến ngày hôm nay, tôi có cảm nhận là: Năm 2022 chúng ta đã cơ bản đạt được điều mong ước và lời chúc đó. Thể hiện ở 5 điểm sau: - Một là, nhìn về tổng thể: Năm 2022 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn, bất ngờ xuất hiện, tác động xấu, nhiều mặt và ảnh hưởng rất nặng nề không chỉ đối với nước ta mà còn đối với toàn thế giới. Trên thế giới, cuộc xung đột kéo dài tại Ukraine, các lệnh trừng phạt của Mỹ và các nước phương Tây đối với Nga; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 tại Trung Quốc; thiên tai, lũ lụt, hạn hán kéo dài trên diện rộng ở Trung Quốc, các nước EU... đã làm cho chuỗi cung ứng bị gián đoạn; giá dầu thô, lương thực, thực phẩm và nhiều vật tư, nguyên liệu đầu vào tăng mạnh; lạm phát tăng cao đột biến ở nhiều quốc gia và đối tác lớn. Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức mới, nặng nề hơn: Phải tiếp tục xử lý những tồn tại, yếu kém vốn có của nền kinh tế đã tích tụ từ lâu và trầm trọng hơn do tác động của đại dịch Covid-19 và sự suy giảm kinh tế thế giới cũng như những biến động bất thường của thị trường tài chính-tiền tệ toàn cầu; kiểm soát dịch Covid-19, phòng, chống dịch cúm A, sốt xuất huyết, bệnh đậu mùa khỉ châu Phi và các loại dịch bệnh, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, trái quy luật; giá cả hàng hóa, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, nhất là giá xăng dầu, chi phí đầu vào, vận tải tăng cao, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực và đời sống nhân dân... Trong bối cảnh rất đặc biệt đó, nhờ có quyết tâm cao và sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã thực hiện thắng lợi, khá toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả. Đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 14/15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra (chỉ còn 1 chỉ tiêu về tốc độ tăng năng suất lao động xã hội là không đạt được). Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, Việt Nam là điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. - Hai là, trong bối cảnh tình hình kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm và gặp nhiều rủi ro như nêu trên, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6-6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thu ngân sách nhà nước tăng 14,12% so với năm 2021; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 11,5% so với năm trước; trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được giải ngân đạt hơn 22 tỷ đô-la Mỹ (USD), tăng 13,5%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2021 (Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 25 nền kinh tế hàng đầu về thương mại); tiếp tục duy trì xuất siêu năm thứ 7 liên tiếp với kim ngạch đạt 11,2 tỷ USD. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát ở mức 3,15% so với cùng kỳ; các cân đối lớn của nền kinh tế nhìn chung được bảo đảm; thị trường tài chính-tiền tệ vẫn cơ bản ổn định. Các ngành, các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế đều phục hồi, có bước phát triển mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng gần 8% so với năm 2021; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, tăng 3,36% so với cùng kỳ; xuất khẩu gần 7 triệu tấn gạo và nhiều mặt hàng nông sản chủ lực khác với tổng kim ngạch hơn 53 tỷ USD. Khu vực du lịch, dịch vụ phát triển sôi động trở lại, nhất là từ sau khi kiểm soát được dịch bệnh, tăng 19,8%. Phát triển doanh nghiệp có nhiều khởi sắc, đã có hơn 208 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới và hoạt động trở lại, tăng hơn 30% so với cùng kỳ, gấp 1,4 lần số doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài, nhất là việc xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém, những doanh nghiệp, dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả được tập trung tháo gỡ, xử lý, bước đầu đạt được kết quả tích cực. Đặc biệt, Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương đã chủ động, tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổng kết lý luận và thực tiễn, xây dựng trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành các nghị quyết mới về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở toàn bộ 6 vùng kinh tế-xã hội của cả nước. Việc tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết này theo đúng tinh thần của 6 hội nghị toàn quốc về phát triển vùng được tổ chức rất thành công trong năm 2022 với tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt" sẽ góp phần tích cực thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đại hội lần thứ XIII của Đảng về phát triển vùng-một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong việc phát triển nhanh, bền vững các vùng nói riêng và cả nước nói chung. - Ba là, các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, rõ nét; các cấp, các ngành và toàn hệ thống chính trị ngày càng nhận thức đúng đắn hơn và hành động tích cực hơn đối với vấn đề phát triển văn hóa, xã hội. Đã kiểm soát có hiệu quả đại dịch Covid-19 và các dịch bệnh khác cũng như nguy cơ "dịch chồng dịch", tạo cơ sở quan trọng cho việc mở cửa, phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện; đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách xã hội, nhất là chính sách đối với người có công với cách mạng; chính sách bảo trợ xã hội và các chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân bị ảnh hưởng nặng bởi đại dịch Covid-19. Ngành giáo dục tiếp tục có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học; kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông. Nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, giải trí quy mô lớn, đặc biệt là SEA Games 31, đã được tổ chức rất thành công. - Bốn là, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, nâng cao hiệu quả; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Xử lý linh hoạt, hiệu quả và phù hợp các tình huống phức tạp trên biển và tuyến biên giới. Tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tập trung trấn áp các loại tội phạm; bảo đảm an ninh, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động; đối thoại thẳng thắn với những người có chính kiến khác. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả và đạt nhiều kết quả quan trọng, được xem là một điểm sáng trong năm vừa qua. Nổi bật là các chuyến thăm, điện đàm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đến các nước và với các đối tác, đặc biệt là Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... đã thành công rất tốt đẹp, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, góp phần tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của nước ta, đóng góp tích cực, hiệu quả, có trách nhiệm vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển và tiến bộ trong khu vực và trên thế giới. Công tác bảo hộ công dân, thông tin đối ngoại, ngoại giao kinh tế, văn hóa tiếp tục được chú trọng, đẩy mạnh. - Năm là, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh, tăng cường, kế thừa, phát huy tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã đạt được trong thời gian qua, nhất là từ đầu nhiệm kỳ đến nay; kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn hơn giữa "xây" và "chống". Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã tạo ra sức răn đe, cảnh tỉnh rất lớn. Tham nhũng, tiêu cực từng bước được kiểm soát, đẩy lùi; nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng, nhất là các vụ án lớn, nghiêm trọng tiếp tục được phát hiện, điều tra, tiến hành khởi tố, truy tố, xét xử nghiêm minh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Việc xử lý các sai phạm liên quan đến Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Công ty Việt Á, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao... là những ví dụ minh chứng cho những điều vừa nêu trên đây. Trong năm 2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã kịp thời ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Với 3 kỳ họp, trong đó có 1 kỳ họp bất thường, Quốc hội đã thảo luận, xem xét thông qua 12 dự án luật, 34 nghị quyết; cho ý kiến đối với 13 dự án luật. Chính phủ và chính quyền các cấp tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ, chính quyền điện tử... Hệ thống các cơ quan tư pháp đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh cải cách tư pháp, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, khá toàn diện và đồng bộ các hoạt động tư pháp. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần quan trọng tăng cường sự đồng thuận xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhận xét tổng quát về năm 2022 là như vậy; không biết có phải không? Xin các đồng chí cho ý kiến. Nếu các đồng chí tán thành, xin các đồng chí cho một tràng pháo tay! Hội nghị đã có một tràng pháo tay rất dài và rất vang; như vậy, có nghĩa là các đồng chí đều đồng tình, đồng ý. Sự đồng thuận cao này không phải là chúng ta tự cao tự đại, tự mãn, tự khen nhau, mà là sự thật, đúng với thực tế đã diễn ra và phù hợp với sự nhìn nhận, đánh giá của bạn bè quốc tế, không khí phấn khởi trong nhân dân mà qua quan sát, nhất là qua tiếp xúc với cử tri và một số bè bạn nước ngoài tôi cảm nhận được. Tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và chân thành cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng các doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và đồng bào, chiến sĩ cả nước về những kết quả, thành tích và những nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn đó. Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, bởi vì đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt là những khó khăn thách thức gay gắt, mới xuất hiện từ giữa tháng 10-2022 đến nay: Thị trường tài chính-tiền tệ, nhất là thị trường bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp diễn biến rất phức tạp, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thanh khoản của một số ngân hàng thương mại yếu kém và doanh nghiệp, dự án lớn gặp không ít khó khăn. Lãi suất ngân hàng tăng cao, sức ép lạm phát còn lớn. Hoạt động sản xuất, kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực có xu hướng suy giảm; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng; nhiều doanh nghiệp phải giảm nhân công, giảm giờ làm, cho người lao động nghỉ việc; đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn. Giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, đăng ký bổ sung hoặc góp vốn, mua cổ phần giảm so với cùng kỳ. Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước có dấu hiệu suy giảm; nợ xấu ngân hàng, nợ thuế nhà nước có xu hướng tăng; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh mạng, trật tự, an toàn xã hội, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân... hiện vẫn là những vấn đề lớn có nhiều khó khăn, thách thức cần khắc phục. Năng lực xây dựng thể chế, chính sách còn hạn chế; chất lượng luật pháp, chính sách còn thấp, thậm chí một số văn bản còn mâu thuẫn, chồng chéo, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư kinh doanh. Việc tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, thực thi công vụ vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương ở nhiều nơi chưa nghiêm, thậm chí còn có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; cái gì có lợi thì kéo về cho cơ quan, đơn vị và cá nhân mình; cái gì khó khăn thì đùn đẩy ra xã hội, cho cơ quan khác, người khác. Việc phản ứng chính sách, công tác phối hợp trong một số trường hợp còn chậm, chưa quyết liệt, thậm chí còn bị động, lúng túng, hiệu quả chưa cao... Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tích đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nên chăng Hội nghị của chúng ta hôm nay cần nhìn thẳng vào sự thật, tập trung phân tích thấu đáo, khách quan, tạo sự thống nhất cao về đánh giá, phân tích tình hình, nguyên nhân và rút ra một số bài học kinh nghiệm. Theo tôi, chúng ta có thể tiếp tục kế thừa, phát huy 3 bài học đã được rút ra tại các hội nghị trước, đó là: (1) Kế thừa, phát huy những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua hơn 35 năm đổi mới và những kết quả toàn diện đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay. (2) Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt". Cả hệ thống chính trị, bao gồm các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể kiên quyết, kiên trì đổi mới sáng tạo, phối hợp, kết hợp nhịp nhàng, đồng bộ, bài bản hơn nữa trong việc lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc phát huy đầy đủ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân; giải quyết kịp thời, đúng đắn, sát hợp và có hiệu quả các vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là các vấn đề quan trọng, nhạy cảm, bức xúc xã hội. (3) Tranh thủ được sự đồng thuận, đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên, góp ý kịp thời của cán bộ, đảng viên, các đồng chí lão thành, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tin, báo chí... tạo nên sức mạnh tổng hợp, sự đồng tâm nhất trí của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đồng thời, bổ sung thêm bài học mới, cụ thể của năm nay, tạm gọi là bài học thứ 4: Nâng cao hơn nữa năng lực phân tích, dự báo; chủ động, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới của tình hình; kịp thời, quyết liệt xử lý có hiệu quả các vấn đề; làm việc nào dứt điểm việc đó, không để kéo dài, gây ách tắc, lãng phí nguồn lực; thích ứng linh hoạt với các tình huống mới phát sinh. Chú trọng hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tranh thủ mọi thời cơ để phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững hơn. Kịp thời phát hiện và có chủ trương, biện pháp phù hợp, kiên quyết khắc phục những khó khăn, những việc khó, việc mới. II- VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2023 Chúng ta đều biết, năm 2023 là năm thứ 3, năm bản lề, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trung ương Đảng đã có Kết luận, Quốc hội đã có Nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội, trong đó xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cho năm 2023. Tôi cơ bản đồng tình với các báo cáo của Chính phủ, chỉ xin gợi ý, nhấn mạnh thêm một số vấn đề mang tính định hướng để Hội nghị của chúng ta cùng suy nghĩ, trao đổi. Một là, về đánh giá, phân tích, nhận định tình hình: Chúng ta cần chủ động đối với mọi tình huống, đặc biệt là những khó khăn, thách thức mới phát sinh; tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được, vì mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ đề ra cho năm 2023 và cả nhiệm kỳ khóa XIII là rất cao, trong khi đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức lớn, như tôi đã nêu ở trên. Dự báo, trong những năm tới, bối cảnh, tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước không ít trở ngại, khó khăn. Cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt. Dưới tác động của xung đột có thể còn kéo dài tại Ukraine và các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây đối với Nga, thế giới sẽ có những biến động về địa chính trị, địa kinh tế và nguy cơ rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Khoa học-công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt có thể đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta. Hai là, về phát triển kinh tế: Phải chăng chúng ta cần quán triệt thật sâu sắc hơn nữa, tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và luật pháp, chính sách của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững. Chú trọng củng cố, tăng cường nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế trên cơ sở lành mạnh hóa, giữ vững sự phát triển ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp. Tập trung ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết có hiệu quả những khó khăn, hạn chế, yếu kém, cả trước mắt lẫn lâu dài của nền kinh tế để giữ vững đà phục hồi, tăng trưởng nhanh và bền vững, thực chất hơn; tạo chuyển biến mạnh hơn trong việc thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... gắn với tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ba là, về văn hóa, xã hội: Cần quan tâm hơn nữa đến nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân, người lao động, doanh nghiệp gặp khó khăn. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa nông thôn, đô thị, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững; ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các chương trình, đề án, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; khẩn trương xử lý, khai thông việc cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc chữa bệnh, vật tư, thiết bị y tế; bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa, nhất là ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, văn hóa tốt đẹp. Xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội. Bốn là, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Cần tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ. Tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại đã ký kết, tranh thủ tối đa lợi ích mà các hiệp định này có thể đem lại. Năm là, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Cần tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể là, phải có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, ráo riết, có kết quả cụ thể các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương về vấn đề này, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài, liêm chính, tâm huyết; thật sự vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy nhà nước. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những người vướng vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để "không thể, không dám, không muốn tham nhũng". Đồng thời, chấn chỉnh, đấu tranh loại bỏ tư tưởng bàn lùi, lo ngại rằng việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ cản trở sự phát triển, làm nhụt chí, làm "cầm chừng", "phòng thủ", "che chắn", giữ "an toàn" trong một bộ phận cán bộ, công chức nào đó, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Tôi đã nhiều lần nói rồi; nay xin nhắc lại: Những ai có tư tưởng ấy thì hãy đứng sang một bên để người khác làm! Tất cả chúng ta, nhất là những người trực tiếp làm công tác tổ chức, cán bộ, phải có tấm lòng trong sáng, có con mắt tinh đời, đừng "nhìn gà hóa cuốc"! Thưa các đồng chí, Với những kết quả, thành tựu đã đạt được trong năm 2022 và từ đầu nhiệm kỳ đến nay, tôi tin tưởng và tha thiết mong rằng, sau Hội nghị này, với niềm tin mới, khí thế mới, động lực mới, Chính phủ và chính quyền các địa phương sẽ cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa; năng động, sáng tạo hơn nữa để tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức; hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2023 và cả nhiệm kỳ khóa XIII, góp phần xây dựng đất nước thân yêu của chúng ta ngày càng phát triển, cường thịnh; ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, như Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong đợi. Nhân dịp năm mới 2023 và chuẩn bị đón Xuân Quý Mão sắp đến, tôi xin thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân, chúc Chính phủ và chính quyền các địa phương tiếp tục phát huy những thành tích, kết quả và bài học kinh nghiệm đã đạt được; khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hoạt động quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả hơn nữa, hoàn thành trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó. Năm 2023 nhất định phải đạt được nhiều thành tích và tiến bộ hơn năm 2022! Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang kỳ vọng, đòi hỏi và trông chờ ở chúng ta, ở các đồng chí! Chúc toàn thể các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công! VN

HIỂU ĐÚNG VỀ “ANH HÙNG”!

 


“Anh hùng thật là những người bất cứ việc to việc nhỏ, luôn luôn cố gắng, vượt qua khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài “Anh hùng giả và anh hùng thật”, đăng trên Báo Nhân dân, số 149, từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 11 năm 1953.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác thi đua - khen thưởng, phát hiện, cổ vũ, động viên, phát huy và nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động… để nhân lên cái đẹp, đẩy lùi cái xấu, góp phần hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Bác đã dạy: “Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Thấu triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác thi đua - khen thưởng, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, tôn vinh các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động có sức lan tỏa sâu rộng, tạo nên động lực, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cách mạng. Từng thời kỳ, từng giai đoạn, đều xuất hiện nhiều tấm gương người tốt, việc tốt, những anh hùng tiêu biểu mẫu mực về nỗ lực vượt mọi khó khăn, gian khổ, nói đi đôi với làm, nói ít là nhiều, làm có hiệu quả, không quản ngại hy sinh, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước, sống nghĩa tình, thủy chung… được mọi người tôn vinh, học tập và noi theo.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tích cực hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, các phong trào của các cấp, các ngành và đã cụ thể hóa thành phong trào thi đua Quyết thắng được triển khai sâu rộng và được cán bộ, chiến sĩ toàn quân, lực lượng dân quân tự vệ tích cực hưởng ứng thực hiện với quyết tâm chính trị và trách nhiệm cao. Toàn quân luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Toàn quân đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anh hùng tiêu biểu tinh thần vượt mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng. St

 

Tinh thần trách nhiệm!

 

Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, vv… là không có tinh thần trách nhiệm".💐💐💐💐💐

Đó là lời của Bác Hồ trong Bài viết về "Tinh thần trách nhiệm" được đăng trên Báo Nhân dân số 36, ngày 13 tháng 12 năm 1951. Đây là năm đầu thực hiện đường lối kháng chiến "toàn dân, toàn diện, trường kỳ và nhất định thắng lợi" của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đề ra, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có một số biểu hiện tư tưởng thiếu cố gắng, làm chưa hết chức trách, nhiệm vụ, nói nhiều, làm ít; làm chưa đến nơi, đến chốn…, để kịp thời đấu tranh, khắc phục và làm cơ sở cho các tổ chức học tập, chỉnh đốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài viết về tinh thần trách nhiệm.

Thực hiện lời chỉnh huấn của Bác, trong thời điểm ấy, các tổ chức đảng đã tập trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nắm chắc tình hình, nhiệm vụ, chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết gắn bó với nhân dân, thi đua phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó, tạo tiền đề huy động sức mạnh của toàn dân tộc tích cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao; đại đa số cán bộ đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; luôn thể hiện rõ tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm, tâm huyết, tận tụy với công việc. Cán bộ, chiến sĩ tích cực, tự giác trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật, pháp luật; chủ động, sáng tạo, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Tuy nhiên, cũng còn một số cán bộ đảng viên, quần chúng có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít; làm qua loa chiếu lệ… Đòi hỏi việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy về "Tinh thần trách nhiệm" không chỉ là yêu cầu, trách nhiệm chính trị đối với mọi cán bộ, đảng viên, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với mọi tổ chức, cá nhân và mọi công dân yêu nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.St

 

Thấm nhuần lời Bác dạy!

 


“Việc to cũng như việc nhỏ. Đảng và Chính phủ ta đều lo phục vụ lợi ích của nhân dân”.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân dân, số 3176, ra ngày 05 tháng 12 năm 1962.

Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm không ngừng phát triển kinh tế - xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.

Là người sáng sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải tôn chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền tự Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam, cộng khổ, chi ngọt, sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí.St.

 

TỰ HÀO DANH XƯNG “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 


Trên thế giới, chưa một nước nào, người lính lại được vinh dự gắn với tên một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ của mình như ở Việt Nam. Danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” thực sự là sự sáng tạo của nhân dân ta, là nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

“Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị tiêu biểu trong dòng chảy của nền văn hóa Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh. Cái hay cái đẹp của dạnh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” là ở chỗ nó được vun đắp, phát triển phù hợp với thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Bộ đội Cụ Hồ” - một giá trị văn hóa, một danh hiệu vinh dự do nhân dân khen tặng. Từ đội quân chủ lực đầu tiên là “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” và “Quân giải phóng” thời Tiền khởi nghĩa đến “Vệ quốc đoàn”, “Quân đội quốc gia”, “Quân đội nhân dân” thời kì chống Pháp, và “Quân giải phóng miền Nam” thời kì chống Mỹ, “Quân tình nguyện Việt Nam” tại Lào và Campuchia trong chiến tranh Đông Dương, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam từ đời cha đến đời con nối tiếp truyền thống đi đánh giặc cứu nước đã hun đúc nên một phẩm chất cao đẹp, một bản lĩnh mà nhân dân ta trìu mến gọi là “Bộ đội Cụ Hồ” và nhân dân nước bạn gọi là “Đội quân Nhà Phật”.

“Bộ đội Cụ Hồ” là một danh hiệu vinh dự và trách nhiệm. Một danh hiệu cao quý do nhân dân khen tặng. Đó là danh hiệu của lòng dân. Được dân gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là vinh dự lớn lao, là phần thưởng cao quý nhất đối với quân đội ta, là sự xác nhận của nhân dân rằng: Quân đội ta thật sự là Quân đội nhân dân, thật sự là quân đội của dân, do dân, vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.St

 

“Gia đình là hạt nhân của xã hội”!

 “Gia đình là hạt nhân của xã hội”.

Trích trong bài viết “Phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụ nữ” Hồ Chí Minh viết, đăng trên Báo Nhân dân, số 3199, ngày 28 tháng 12 năm 1962.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của gia đình, bởi theo Bác nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Vậy nên, quan tâm đến gia đình nhỏ trước tiên là phải thực hiện nam - nữ bình quyền. Với quan điểm đó, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề gia đình đã được Hiến pháp đầu tiên của nước ta thông qua với nhiều điểm tiến bộ. Trong quan hệ gia đình, nam - nữ bình đẳng như nhau, chế độ hôn nhân được pháp luật quy định là một vợ một chồng...

Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ gia đình ngày càng được củng cố và hoàn thiện góp phần thúc đẩy việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình ở Việt Nam, trở thành môi trường tốt để giáo dục nhân cách con người, là cơ sở để xây dựng đời sống mới của xã hội mới, trở thành hạt nhân của xã hội Việt Nam.

Nhận thức gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm công tác chăm lo xây dựng gia đình bằng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “Xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”, ngày 29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu hướng tới là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, XIII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội. Như vậy, gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nên nhân cách con người. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người.St.


  

LỜI BÁC HỒ DẠY!

 


“Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ:

- Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng,

- Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Ngày 29 tháng 12 năm 1966, tại phiên họp cuối năm của Hội đồng chính phủ, khi đề cập đến khuyết điểm của công tác lưu thông phân phối Bác đã căn dặn những điều trên. Ở đây, Bác đề cập đến “không sợ thiếu”, “không sợ nghèo” không phải là cam tâm chịu nghèo, chịu thiếu. Cách mạng là để cuộc sống con người giàu có hơn, sung sướng hơn. Nhưng trước cái thiếu, cái nghèo còn đang hiện hữu thì phải làm sao thiếu mà được công bằng, nghèo mà lòng dân vẫn yên. Sợ sự không công bằng và sợ lòng dân không theo là biểu thị thái độ, trách nhiệm của người quản lý. Trước đó, năm 1947 để giữ nghiêm pháp luật và kỷ luật Bác đã phải thức trắng đêm để suy nghĩ và đi đến quyết định bác đơn xin ân xá của Đại tá Trần Dụ Châu, nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu vì những vi phạm nghiêm trọng về mặt đạo đức, quản lý không tốt, bớt xén của bộ đội để dùng vào việc riêng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác phân phối hàng hóa trong hệ thống phân phối của nhà nước đã đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là giai đoạn đất nước còn trong chiến tranh và thực hiện cơ chế bao cấp, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong Quân đội, mọi chế độ, tiêu chuẩn, chính sách của cán bộ, chiến sĩ được quy định cụ thể trong các văn bản, được phổ biến và niêm yết công khai theo quy định ở từng cấp để mọi quân nhân biết, thực hiện. Hằng tháng, các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp Ngày Dân chủ tham gia góp ý trên mọi mặt công tác; qua đó tạo bầu không khí dân chủ, tin cậy đã trực tiếp xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.St.

 

 

ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG!

“Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí học tập số 12 tháng 12 năm 1958.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo của lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây, chính là việc người đảng viên thực hiện trọng vẹn lời hứa tại Lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt ba mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).

Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại tạm thời... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng Quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; luôn giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.St.

 

Nhớ “Tết trồng cây”!

 


Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về, mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác - một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,

Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân…”

Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây “cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người - từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.

Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ. Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho con cháu đời sau.

52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.

Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích...”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.

Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.St

 

Ghi nhớ!

 

“Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, viết vào tháng 1-1959, trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng bom đạn để đàn áp, giết hại nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và cấu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy”.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương cách mạng - nhân tố quyết định đến những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lời của Người đầu năm 1959 đã khích lệ, cố vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, vượt qua khó khăn, thử thách, đoàn kết đồng khởi, quyết tâm đấu tranh diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, giành chính quyền, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, hình thành một cao trào cách mạng đồng khởi vũ trang của quần chúng rộng khắp, tạo tiền đề đẩy nhanh thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; song lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm ấy đến hôm nay vẫn đang lan tỏa sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết, kiên trì, sáng tạo đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn ghi sâu lời Bác, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cho quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.St.

 

LỜI BÁC NHẮC NĂM MỚI!


“Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

Là lời thư chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 1 tháng 1 năm 1952, đăng trên Báo Nhân dân ngày 03-1-1952, trong bối cảnh nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua gần 7 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc: "Nhân dịp Nguyên đán dương lịch 1952, tôi gửi lời thân ái chúc: Toàn thể đồng bào và kiều bào, Toàn thể chiến sĩ, Các anh chị em cán bộ, Các cụ phụ lão, các vị thân sĩ, Các cháu thanh niên, nhi đồng. Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

Lời Bác trong thư đầu năm mới thể hiện tấm lòng thương nhớ da diết và trân trọng của Người đối với đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài và khích lệ, khơi dậy, động viên, thôi thúc “con dân nước Việt” nêu cao truyền thống yêu nước, cống hiến sức mình cho thắng lợi sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc.

Đầu năm 1952, ngay khi đăng tải trên báo, lời chúc đầu năm mới của Người đã được các tầng lớp nhân dân, kiều bào, cán bộ chiến sĩ quân đội đón nhận, chuyển hóa thành khẩu hiệu “hành động cách mạng” trên khắp tiền tuyến, hậu phương trong cả nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội dấy lên phong trào thi đua học tập, huấn luyện, đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước, trên dưới đồng lòng, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phản công chiến lược, tạo ra thế phát triển tiến công trên diện rộng, làm tiền đề đẩy nhanh thực hiện chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954, mau chóng kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Vang vọng lời Bác năm xưa, mỗi dịp vui xuân, đón tết Nguyên đán của dân tộc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi lời chúc năm mới tới toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, phát huy trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất của dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, đoàn kết thi đua yêu nước, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vẻ vang, sánh vai cùng bè bạn năm châu.

Trong những giờ phút thiêng liêng chuyển sang năm mới, tự hào vững bước dưới Quân kỳ "Quyết chiến, quyết thắng", cán bộ, chiến sĩ Quân đội khắc sâu lời chúc năm mới của Bác; tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tay súng, giữ vững biên cương, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống ấn no hạnh phúc của nhân dân. St

 

Học theo gương Bác làm động lực cố gắng, phấn đấu.

Với truyền thống và tránh nhiệm, niềm tin yêu tuyệt đối với Đảng, Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng luôn nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học và làm theo Bác, xác định rõ đây là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài Học tập Bác: Là học tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức cách mạng và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính. Thúc đẩy việc học tập Bác trở thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, cội nguồn sức mạnh to lớn, để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự thấm nhuần tư tưởng của Bác, thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm. Ai cũng tìm thấy ở đó những chuẩn mực đạo đức cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành nhu cầu, lẽ sống tự nhiên, mong muốn vươn lên, hoàn thiện chính bản thân mình: Bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Qua đó, bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, làm cho đất nước ngày càng phát triển, dân tộc ngày càng cường thịnh, trường tồn. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên đã được tôi luyện và trưởng thành, Đảng ta sẽ ngày càng tăng cường được sức mạnh, sức chiến đấu và sự trong sáng, xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân, "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân". Làm theo Bác: Là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ "học tập" sang "làm theo", hiện thực hoá bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn, trên nền tảng, kim chỉ nam là tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin trong mọi hành động. nhuần tư tưởng của Bác về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân". Nêu gương: Là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương. Phát huy hiệu quả mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ này, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị, mà trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mỗicán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo; phải thể hiện được tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể, theo tinh thần Bác đã dạy: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", kiên quyết, kiên trì, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hoá tinh thần trong Đảng, tạo dấu ấn rõ rệt về xây dựng văn hoá Đảng, để Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh". Trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên, cần kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", trong đó "xây" là cơ bản, chiến lược; "chống" là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần "nói đi đôi với làm", "rèn luyện suốt đời", thường xuyên "tự soi", "tự sửa". Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân không trong sáng nào. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

BÀI HỌC TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 

 

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh Việt Nam diễn ra cuộc khủng hoảng chính trị, “tình hình đen tối tưởng chừng như không có đường ra”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, mang theo hoài bão lớn giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”. Câu hỏi lớn cần lời giải đáp: Lựa chọn con đường nào để giành độc lập dân tộc, cứu nước, cứu dân đã được Nguyễn Tất Thành từng bước làm sáng tỏ trên hành trình bôn ba ở hải ngoại. Suy nghĩ ấy ngày càng được củng cố và phát triển khi Nguyễn Tất Thành đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu kỹ hơn về các cuộc cách mạng tư sản. Đặc biệt, khi Nguyễn Tất Thành được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hội Pháp (16/7/1920). Có thể nói chính sự kiện này đã tạo ra sự chuyển biến căn bản trong tư tưởng của Nguyễn Tất Thành - từ nhận thức của người thanh niên yêu nước, chuyển sang nhận thức của người cộng sản. Nhờ bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin mà tư tưởng “Tự lực cánh sinh”, “Dựa vào sức mình là chính” của Nguyễn Ái Quốc được củng cố vững chắc và phát triển thành tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Tư tưởng về con đường giải phóng dân tộc “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” của Nguyễn Ái Quốc được nâng lên ở tầm cao mới khi Người quyết định đến với quê hương của Cách mạng Tháng Mười, đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Được hình thành, phát triển mạnh mẽ ngay sau sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào ngày 3-2-1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng nói chung và tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” chính thức được truyền bá sâu rộng và phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Bằng tư tưởng, tinh thần ấy, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ cho phong trào cách mạng Việt Nam. Hàng loạt cuộc đấu tranh quy mô lớn, nổi bật là phong trào Xô viết - Nghệ Tĩnh. Khí thế cách mạng sục sôi của cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh đã lan rộng nhanh chóng ra khắp cả nước với hàng loạt các cao trào, cuộc khởi nghĩa. Đây chính là quá trình Đảng ta bổ sung và hoàn thiện đường lối chính trị, phương thức tiến hành, chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc sau này. Khi thời cơ cách mạng xuất hiện, công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, tinh thần đoàn kết của toàn dân đã lên đến đỉnh điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước nhất tề đứng lên giành chính quyền. Ngay trong lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, bằng tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã dẫn dắt cả dân tộc đứng lên tận dụng triệt để thời cơ lịch sử giành thắng lợi to lớn trong cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, vận mệnh đất nước trong cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân ta tiếp tục phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” để vượt qua tất cả. Nhấn mạnh tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Bằng tư tưởng “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã vững vàng chèo lái đưa dân tộc vượt mọi chông gai, băng qua mọi thác ghềnh kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thành quả và những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị, trong đó, bài học về tinh thần “Phát huy sức mạnh nội sinh”, “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” có ý nghĩa thời sự sâu sắc, luôn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xác định vừa là phương châm, vừa là giải pháp để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của cách mạng. Đặc biệt, bằng tinh thần “Tự lực cánh sinh”, “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam. Bằng cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chính nhờ kế thừa và phát huy tư tưởng, tinh thần “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu ấy là sự kết tinh ý chí, tinh thần, nghị lực, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong điều kiện mới hiện nay, bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” từ cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được Đảng ta kế thừa và phát huy nhằm khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quốc gia hùng cường, thịnh vượng như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định./.

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “CHỐNG THAM NHŨNG LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM”

 


Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, làm “nhụt chí” những người khác”.Tham nhũng là tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Và chính tham nhũng hiện nay cũng đang trở thành hiểm họa, vấn nạn mà tất cả các quốc gia đều quan tâm. Trong đó, những quốc gia đang phát triển và chậm phát triển thì vấn đề này như một căn bệnh mà nếu không ngăn chặn được sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường.“Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” - đó là lập luận của những cá nhân, tổ chức, các trung tâm truyền thông chống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tập trung tuyên truyền. Luận điệu này được Đài RFA đăng tải trên website ngày 28/11/2022, cho rằng “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài RFA dẫn lời của Reuters suy diễn rằng, việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Đài VOA tiếng Việt hôm 29/11/2022 rêu rao, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Cùng phụ họa với RFA, VOA là các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ bài viết lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước. Luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Trước tiên, cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý… Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Do đó, lập luận cho rằng chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế là sai trái. Quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân. Như vậy, quan điểm rõ ràng “cây ngay không sợ chết đứng”, đã trong sạch, không tham ô, tham nhũng thì không phải e dè trong công việc của mình. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi cung ứng trong kinh tế. Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam. Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Để đối phó với tình trạng này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về chống tham nhũng vào ngày 9/12/2003. Cuộc chiến chống tham nhũng cũng là một phần không thể thiếu đối với những quốc gia phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia Đông Nam Á… đều tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng để tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội. Các quốc gia tổ chức triển khai cuộc chiến chống tham nhũng tạo động lực to lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, một quốc gia trong khối ASEAN là Indonesia đã tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng rất bài bản với việc công bố “đường dây nóng” để người dân có thể trực tiếp thông báo những vấn đề họ bức xúc; thành lập Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (KPK); thành lập Tổ cố vấn của Tổng thống về chống tham nhũng… Những việc làm quyết liệt đó đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở đất nước này. Do đó, hoàn toàn không có lý lẽ nào để tô vẽ, nguỵ biện rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế. Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định: “Công tác chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành xu thế không thể đảo ngược”; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nản chí, chùn bước, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm chùn bước những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”. Cuộc chiến chống tham nhũng đi vào thực chất, không còn vùng cấm và việc nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía người dân chính là động lực để cuộc chiến này càng thêm vững vàng với mục tiêu xây dựng một xã hội thực sự trong sạch, vì quyền lợi của mọi người dân, vì lợi ích của quốc gia dân tộc.

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tập trung dân chủ trong thực tiễn hoạt động của Đảng

Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức, xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhờ vậy, Đảng luôn thực hiện và giữ vững được sự thống nhất về tư tưởng và hành động, đưa sự nghiệp cách mạng của nước ta vượt qua bao khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đảng hoạt động bí mật, chưa có chính quyền trong tay, trở thành đảng cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng trước giai cấp, nhân dân, dân tộc thật vẻ vang, nhưng cũng ngày càng to lớn, nặng nề, khó khăn, phức tạp. Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước dân tộc về những quyết định chính trị của mình, để xứng đáng vừa “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong bản Di chúc lịch sử. Tập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo trong tổ chức và hoạt động của đảng cộng sản. Chế độ tập trung dân chủ tạo những điều kiện cần thiết để thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, và chế độ đó là nội dung trong nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng được thực hiện trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, nơi có các tổ chức đảng lãnh đạo. Trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, Đảng nêu cao sự thống nhất ý chí và hành động trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thể hiện sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của Đảng. Để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của Đảng trở nên quan trọng, cấp thiết, là vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định đến uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, quyết định sự thành, bại của sự nghiệp cách mạng. Nguyên tắc tập trung dân chủ phản ánh những đặc trưng cách mạng của giai cấp công nhân và tác động to lớn đến sự phát triển thắng lợi của phong trào cách mạng do đảng cộng sản lãnh đạo. Vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc này càng to lớn, càng quan trọng trong điều kiện Đảng ta trở thành đảng duy nhất cầm quyền và thông qua Nhà nước để tổ chức, giáo dục, động viên trí tuệ, sức mạnh của toàn dân tộc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối nội, đối ngoại nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng... Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” Nguyên tắc tập trung dân chủ đã trở thành một nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng và của cả hệ thống chính trị; vì vậy, sự tồn tại và phát triển của Đảng và cả hệ thống chính trị gắn bó mật thiết, hữu cơ với việc tuân thủ, củng cố, phát triển nguyên tắc đó. Điều đó cũng có nghĩa, nếu xa rời hoặc buông lỏng nguyên tắc ấy sẽ làm cho Đảng mất dần sinh khí, sức mạnh; có thể dẫn tới đánh mất bản chất của Đảng, bị tha hóa, biến chất, dẫn tới nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do vậy, tuân thủ, bảo vệ nguyên tắc tập trung dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng chống mọi biểu hiện xa rời, buông lỏng, xem nhẹ nguyên tắc ấy là biểu hiện rõ ràng nhất tính đảng, phẩm chất đạo đức cách mạng của mọi tổ chức đảng và của mỗi người cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng là di huấn quý báu, là ngọn đèn pha soi đường, trở thành nền tảng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo cho công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh hiện nay./.

CÔNG TÁC XÂY DỰNG LUẬN CỨ KHOA HỌC, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 


Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch, trước hết cần coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, củng cố vững chắc tính cách mạng, khoa học của nền tảng tư tưởng, đặc biệt là lý luận về đường lối đổi mới, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Bởi vậy, Đảng ta rất coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo vấn đề này. Cụ thể là: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của lý luận và công tác nghiên cứu lý luận, ban hành nhiều văn bản có tính pháp lý cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai công tác lý luận. Từ Đại hội VI đến nay, mỗi nhiệm kỳ Đại hội đều ban hành nghị quyết chuyên đề về công tác lý luận hoặc đưa ra giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu lý luận.

Sau các kỳ Đại hội, Đảng ta đều tiến hành tổng kết công tác lý luận, đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ tiếp. Tại Đại hội VIII, Đảng ta tiến hành tổng kết 10 năm đổi mới; Đại hội IX, tổng kết 15 năm đổi mới; Đại hội X, tổng kết 20 năm đổi mới và Đại hội XI, tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, tổng kết 20 năm thực hiện Hiến pháp 1992 và 30 năm đổi mới đất nước. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” và trong nhiệm kỳ khóa X, tại Hội nghị Trung ương 5, thông qua Nghị quyết “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới“, và khóa XI, Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 09/10/2014, của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội XIII, ngoài nội dung văn kiện Đảng với nhiều vấn đề lý luận sâu sắc, còn tổng kết 10 năm thực hiện Cương lĩnh ( bổ sung, phát triển năm 2011). Hiện nay, Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì, cùng các cơ quan đang triển khai hàng loạt công trình nghiên cứu giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra và hướng tới chuẩn bị Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào năm 2026, trong đó có vấn đề về xây dựng luận cứ khoa học. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo nhiều vấn đề lớn trong công tác lý luận; nghe các cơ quan nghiên cứu, các nhà lý luận trình bày kết quả, đóng góp ý kiến về những vấn đề mà Đảng, Nhà nước quan tâm; cho ý kiến về kết quả nghiên cứu, về những vấn đề cần thiết khác, tạo điều kiện cho công tác lý luận phát triển thuận lợi. Định kỳ 5 năm, theo nhiệm kỳ của Đại hội Đảng, các cơ quan tham mưu của Đảng về công tác lý luận phối hợp với các cơ quan quản lý khoa học của Nhà nước, xây dựng các chương trình nghiên cứu lớn trong nhiệm kỳ trình Ban Bí thư phê duyệt. Trên cơ sở các định hướng của Ban Bí thư, Chính phủ phê duyệt các chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm quốc gia, trong đó có các chương trình nghiên cứu lý luận. Năm 2022, Hội đồng Lý luận Trung ương tiếp tục tư vấn cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những vấn đề lý luận lớn, cấp bách. Đặc biệt là vấn đề về đất đai, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về kinh tế tập thể.. hiện nay đang xây dựng các báo cáo tư vấn về trí thức và chính sách xã hội. Hệ thống các chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận được tổ chức hoạt động thành nề nếp nhằm nghiên cứu những vấn đề trọng tâm mà Trung ương đề ra trong mỗi kỳ đại hội. Hội đồng Lý luận Trung ương coi trọng hợp tác với một số cấp uỷ đảng, địa phương về công tác lý luận, thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc kết lý luận, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới. Như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh… trong nghiên cứu, giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, xây dựng, cung cấp các các luận cứ cho việc hình thành chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo… Các cơ quan nghiên cứu lý luận của Trung ương và một số ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng triển khai việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chất lượng và khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu lý luận đã tiến bộ hơn trước. Tăng cường phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương, chắt lọc kết quả nghiên cứu, là nguồn đầu vào cho hang loạt các công trình nghiên cứu khác. Trong năm 2022, mặc dù có những khó khăn do Đại dịch COVID, Hội đồng Lý luận TW vẫn tiếp tục duy trì kênh hợp tác nghiên cứu với nước ngoài về những đề lý luận trong, ngoài nước quan tâm, với nhiều đối tác có kinh nghiệm, góp phần bổ sung, hoàn thiện một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Hoạt động trao đổi, tham vấn trong lĩnh vực lý luận, có bước bộ tiến thông qua nhiều cuộc trao đổi lý luận với một số đảng cầm quyền, đảng tham chính, như : Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Nhật Bản và một số Đảng cánh tả Châu Âu; phong trào công sản và công  nhân quốc tế… Kết quả nghiên cứu, trao đổi là cở sở quan trong cho các cơ quan lý luận, cơ quan quản lý, đào tạo ở Trung ương và địa phương. Hội đồng Lý luận Trung ương đã coi trọng một số ngành khoa học quan trọng như: Quản trị quốc gia hiện đại, Nhà nước pháp quyền, kinh tế học phát triển, chính trị học, văn hóa và phát triển, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam… Đặc biệt, ngành khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong thực tiễn có bước phát triển nhanh và đi vào chiều sâu. Việc tập trung nghiên cứu, truyền bá giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đã bước đầu đạt kết quả tốt. Công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch được tăng cường, tính thuyết phục được nâng cao từ cơ sở khoa học, luận cứ lý luận, tạo được những tác động tích cực trong đời sống xã hội. 

 

NHẬN DIỆN PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC

 


Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có 01 dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc… Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản, nhất quán trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nhờ vậy, trong những năm qua đời sống của đồng bào các DTTS được nâng lên đáng kể, diện mạo vùng DTTS và miền núi ngày càng thay đổi theo hướng tích cực. Tuy vậy, so với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng bào các DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi phát triển còn chậm. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao rằng, đồng bào các DTTS đang chịu bất bình đẳng dân tộc so với đồng bào đa số, cụ thể là. Lợi dụng sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế- xã hội giữa dân tộc Kinh và đồng bào DTTS và những bất cập trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở một số địa phương, các thế lực thù địch đã xuyên tạc rằng, Đảng, Nhà nước đối xử không công bằng, chỉ chăm lo cho người Kinh mà không chăm lo cho đồng bào DTTS, khiến cho cuộc sống của đồng bào khó khăn, nghèo đói. Khi Đảng, Nhà nước đầu tư các nguồn lực để xây dựng các công trình, dự án ở vùng đồng bào DTTS chúng lại rêu rao rằng, việc đầu tư đó chủ yếu tập trung ở các thị trấn, thị tứ, thành phố với mục đích là để phục vụ người Kinh và cán bộ, công chức trong chính quyền của người Kinh chứ không phải dành cho đồng bào DTTS. Chúng còn lợi dụng những hiện tượng cục bộ do lịch sử để lại để vu cáo Đảng, Nhà nước ta đã tạo điều kiện cho người Kinh cướp đất của đồng bào DTTS, do vậy, đồng bào mới thiếu đất ở, thiếu đất sản xuất và mới đói nghèo. Ở các vùng DTTS, cùng với những khó khăn về điều kiện địa lý, tự nhiên, môi trường là những hậu quả của chế độ phong kiến, thực dân để lại đã tạo ra sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa người Kinh và đồng bào DTTS. Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng để rút ngắn khoảng cách chênh lệch này. Đảng ta khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số”. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước rất chú trọng phát huy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào DTTS trong phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ vậy, đời sống của đồng bào DTTS, tình hình kinh tế - xã hội ở vùng DTTS ngày càng được cải thiện. Tính đến tháng 6/2021, 100% huyện vùng DTTS có đường đến trung tâm huyện; 98% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã và 97,2% thôn bản có điện lưới quốc gia; 93,9% hộ gia đình được sử dụng điện; 100 % xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7 % xã có trường mần non; 99,3%; 99,3% xã có trạm y tế; 65,8% xã và 76,7% thôn có nhà văn hóa/nhà sinh hoạt cộng đồng. Tuy vậy, để đời sống của đồng bào DTTS và kinh tế - xã hội ở vùng DTTS phát triển ngang bằng với các vùng khác đòi hỏi phải có thời gian, không thể nôn nóng được. Các thế lực thù địch, phản động liên tục rêu rao rằng, đồng bào DTTS không được tham gia bình đẳng vào đời sống chính trị của đất nước như người Kinh, đồng bào DTTS không có quyền hành gì đối với đất nước. Lợi dụng nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận đồng bào DTTS, chúng còn tuyên truyền, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng nhưng thực chất đang làm trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về quyền dân tộc tự quyết! Từ đó chúng đã kích động đồng bào các DTTS (Mông, Chăm, Ê đê, Ba na, Khơme) đòi tách ra thành lập nhà nước riêng để bảo đảm quyền lợi của mình. Sau khi Liên hợp quốc thông qua “Tuyên ngôn về quyền của người bản địa” (2007), trong đó từ Điều 1 đến Điều 5 của Tuyên ngôn này nói rằng: Các dân tộc bản địa có quyền tự quyết. Trên tinh thần đó họ có quyền tự do quyết định tình trạng chính trị và tự do mưu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động đã cố tình đánh tráo khái niệm, gọi một số dân tộc thiểu số tại chỗ như: đồng bào Chăm ở duyên hải miền Trung, đồng bào Khơme ở Tây Nam Bộ, đồng bào Ê đê, Ba na ở Tây Nguyên là các dân tộc bản địa và từ đó rêu rao rằng, các dân tộc bản địa này bị các nông, lâm trường của người Kinh và người Kinh cướp đất, vì vậy phải tách ra thành lập nhà nước riêng để đòi lại những gì “thuộc về” mình. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo cơ hội, điều kiện để đồng bào DTTS tham gia xây dựng hệ thống chính trị, quản lý đất nước. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước rất chú trọng đến chính sách phát triển đội ngũ cán bộ DTTS. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ DTTS tham gia vào các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 11,68% cấp ủy viên người DTTS (cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%). Tại Đại hội XIII của Đảng có 13 Ủy viên Trung ương Đảng là người DTTS. Tại Quốc hội khóa XV có 89 đại biểu người DTTS, chiếm 17, 84% số đại biểu (là tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay). Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền dân tộc là nói đến quyền của các dân tộc quốc gia (nation) trong hoàn cảnh chủ nghĩa chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, các dân tộc thuộc địa (nation) có quyền tự quyết/tách ra để thành lập quốc gia độc lập. Việc các thế lực thù địch đánh tráo khái niệm dân tộc quốc gia (nation) với khái niệm dân tộc tộc người (ethnic) để rêu rao Đảng, Nhà nước ta làm trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin là sự xuyên tạc trắng trợn. Khái niệm “người bản địa” có nguốn gốc lịch sử gắn liền với thời kỳ chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm, áp đặt sự thống trị ở các nước thuộc địa. Ở các nước này có 2 tầng lớp người: một là những “quan cai trị” và những người di cư đến làm ăn có quan hệ mật thiết với bộ máy cai trị và một là cộng đồng những người dân thuộc địa, bị thống trị được gọi là “người bản địa” hoặc “người bản xứ”. Ở Việt Nam, khi chế độ thực dân xâm lược bị đánh đổ thì khái niệm “người bản địa” cũng không còn cơ sở tồn tại. Đây là một sự thật lịch sử không thể bác bỏ. Việc các thế lực thù địch kích động lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ của một bộ phận đồng bào DTTS để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, để đồng bào đòi tách ra thành lập quốc gia riêng là hành động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta. Trước những thay đổi về văn hóa - xã hội ở các vùng DTTS theo hướng hiện đại, tiến bộ, các thế lực thù địch, phản động vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng bản sắc, văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS, cố tình “đồng hóa về văn hóa” ở vùng đồng bào DTTS theo văn hóa người Kinh để “Kinh hóa đồng bào DTTS”. Trước những khó khăn về y tế, giáo dục ở vùng đồng bào DTTS, chúng rêu rao rằng, chính quyền của người Kinh ngược đãi đồng bào DTTS, không chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí ở vùng DTTS để “dễ bề cai trị”. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm để giữ gìn, phát triển văn hóa truyền thống của các DTTS, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đến nay, đã có 03 di tích quốc gia, 08 di tích lịch sử - văn hoá, danh lam, thắng cảnh liên quan đến đồng bào DTTS được xếp hạng di tích quốc gia; có 126 di sản văn hóa phi vật thể, 276 nghệ nhân ưu tú là người DTTS. Đã chính thức tổ chức dạy và học 06 thứ tiếng DTTS: Mông, Khmer, Chăm, Gia Rai, Ba Na, Ê Đê. Việc tổ chức dạy và học tiếng DTTS được triển khai ở 23 tỉnh, thành phố. Có 95% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình (có nhiều chương trình/kênh phát bằng tiếng DTTS;100% xã có điện thoại cố định và di động; 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn. Để tạo cơ hội, điều kiện cho con em đồng bào DTTS học tập, Đảng, Nhà nước đã triển khai các chính sách: cử tuyển, đào tạo có địa chỉ…, đầu tư xây dựng 3.126 trường phổ thông dân tộc nội trú tại 49 tỉnh, thành phố, 4 trường dự bị đại học, 1 trường phổ thông dân tộc nội trú có chương trình dự bị đại học và 3 khoa dự bị đại học cho con em đồng bào DTTS tại các trường đại học. Những kết quả đáng ghi nhận này chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc phát triển văn hóa- xã hội ở vùng DTTS, chứ không phải như luận điệu vu khống trắng trợn của các thế lực thù địch. Những luận điệu hết sức thâm độc kể trên của các thế lực thù địch, phản động đã làm xói mòn niềm tin của một bộ phận đồng bào DTTS với Đảng, Nhà nước; phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc; tạo ra nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đe doạ đến an ninh quốc gia. Vì vậy chúng ta cần vạch rõ thực chất những luận điệu vu khống, xuyên tạc của chúng.