Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

 

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO
Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương
23:19, ngày 01-12-2022

TCCS - Năm 1947, tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, với bút danh X.Y.Z. Những chỉ dẫn của Người trong “Sửa đổi lối làm việc” vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa thiết thực đối với Đảng, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong công cuộc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện đảng cầm quyền qua các tác phẩm tiêu biểu

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch để thực sự vững mạnh, thực sự là Đảng chân chính cách mạng theo học thuyết đảng kiểu mới của V.I. Lê-nin.

Tư tưởng đổi mới của Người được hình thành từ rất sớm, bởi Người rất nhạy cảm với cái mới, từ tư duy đổi mới đến hành động đổi mới sáng tạo, quyết tâm thực hiện sự thay đổi trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, biến khát vọng giải phóng dân tộc thành hiện thực theo hệ giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho Tổ quốc - Dân tộc và nhân dân. Người đã lao động, học tập, tranh đấu suốt 30 năm để tìm chân lý cách mạng, với hoài bão, ý chí, nghị lực phi thường. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ tìm đườngnhận đườngchọn đường đã trở thành người dẫn đường cho dân tộc ta trên “Đường Cách mệnh” để thực hành lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm_Ảnh: Tư liệu

Khi Đảng chưa ra đời, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã viết “Đường Cách mệnh”. Đây là tập bài giảng lý luận cách mạng dùng cho các lớp huấn luyện cán bộ do Người tổ chức và trực tiếp giảng dạy tại Quảng Châu (Trung Quốc). Có thể xem “Đường Cách mệnh” là một trong những tác phẩm đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam, sau khi Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, khi Người tham gia Đại hội Tua ở Pháp, năm 1920, lúc đó Nguyễn Ái Quốc mới 30 tuổi. Người bỏ phiếu tán thành lập trường của Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), cùng với các đồng chí cộng sản Pháp. Đảng Cộng sản Pháp ra đời năm 1920 tại Đại hội lịch sử này và Nguyễn Ái Quốc được thừa nhận là một trong những người đồng sáng lập. Sau đó, Người đã có những đóng góp to lớn trong việc tổ chức ban nghiên cứu các vấn đề thuộc địa, xác định vai trò và trách nhiệm của đảng cộng sản ở chính quốc cần phải ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân để giải phóng dân tộc, giành độc lập. Đó là tư tưởng đổi mới của Người, khi tiếp thu tư tưởng của V.I. Lê-nin về quyền tự quyết của các dân tộc, từ luận cương về dân tộc và các vấn đề thuộc địa.

“Đường Cách mệnh” là tác phẩm đặt nền móng tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930, do Người sáng lập. Bản Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng cũng do Người trực tiếp soạn thảo, cùng với thư kêu gọi các tầng lớp dân chúng ủng hộ Đảng, làm cách mạng giải phóng do Đảng lãnh đạo. Tư tưởng đổi mới của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật ở các luận điểm được đề cập trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Người xác định: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(1). Cách mạng phải đến nơi (tức là triệt để) theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917 do V.I. Lê-nin và đảng kiểu mới lãnh đạo. “Trước hết phải có đảng cách mệnh”, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”, “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn”, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2). Dù hết sức dung dị trong diễn đạt, nhưng tư tưởng đổi mới sâu sắc của Người đã ở tầm kinh điển.

Một trong những điểm đặc sắc của “Đường Cách mệnh” là ở chỗ, mở đầu tác phẩm lý luận này, Nguyễn Ái Quốc đặt lên hàng đầu vấn đề tư cách của người cách mạng. Người nhấn mạnh: “Giữ chủ nghĩa cho vững” và phải “Ít lòng tham muốn về vật chất”(3). Có như vậy, đảng cách mạng, người cách mạng mới làm tròn sứ mệnh cao cả của mình là thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, làm cách mạng thành công, quyền giao vào tay dân chúng số nhiều, tức là công - nông và đông đảo quần chúng lao động bị áp bức. Sự nghiệp vĩ đại ấy cần có sự soi đường của lý luận khoa học và cách mạng, cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định của những người thực hành lý tưởng, lại phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, biết hy sinh, tận tâm, tận lực phục vụ dân chúng. Sức mạnh ấy, là tất yếu cần thiết để vượt qua chủ nghĩa cá nhân mà Người nói rõ, đó là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất.

Theo tư tưởng của Người trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, chỉ có sự kết hợp thống nhất và nhuần nhuyễn giữa trí tuệ khoa học với đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị của đảng cách mạng, của người cách mạng, mới đủ sức tập hợp dân chúng thành lực lượng, mới giác ngộ và thức tỉnh dân chúng, đoàn kết họ, quy tụ họ thành phong trào theo đảng tiên phong, đưa cách mạng tới thành công. Sớm nhận ra vai trò của đạo đức cách mạng và sức mạnh của đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc, gắn liền với đoàn kết quốc tế trong công cuộc cách mạng giải phóng theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tấm gương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đó là sự nhạy cảm, sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng của Nguyễn Ái Quốc. Đó cũng là nét nổi bật, đặc trưng cho tư tưởng đổi mới của Người, ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời.

Nhờ có tư tưởng đổi mới ấy, như kim chỉ nam hành động, như ánh sáng soi đường mà Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Đó là Tuyên ngôn lập quốc và dựng nước Việt Nam mới trong lịch sử Việt Nam hiện đại - Thời đại Hồ Chí Minh. Tầm vóc vĩ đại về tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chứng thực ở chỗ, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của tư tưởng, của đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Trong thế kỷ XX, sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi (ngày 7-11-1917), là thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam. Sau Đảng Cộng sản Liên Xô ở vị trí đảng cộng sản cầm quyền là sự xác lập vị trí cầm quyền của Đảng ta. Với cách mạng Việt Nam, đó là bước ngoặt quan trọng, chứng thực thiên tài tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đóng góp vô giá vào phong trào cách mạng thế giới, làm phong phú và sâu sắc thêm kho tàng lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Hai mươi năm sau kể từ khi viết tác phẩm “Đường Cách mệnh”, và hai năm sau, kể từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, năm 1947. Tư tưởng đổi mới của Người thể hiện trong tác phẩm quan trọng này, nổi bật ở hai điểm mang tính khái quát lý luận, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đổi mới là cần thiết, tất yếu do sự phát triển của cách mạng đặt ra, khi Đảng lãnh đạo và cầm quyền đứng trước những biến chuyển phức tạp của tình hình mới, hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng chữ “sửa đổi”, tức là “đổi mới”. Đó là nhận thức và hành động của Đảng, có trọng trách dẫn dắt và thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên trước những thử thách, bước ngoặt. Như Người đã định nghĩa về cách mạng là “phá cái cũ, đổi ra cái mới”, “phá cái xấu đổi ra cái tốt”, thì “sửa đổi”, “đổi mới”, thực sự mang tầm vóc cách mạng, thực sự là một cuộc cách mạng.

Năm 1947, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược trở lại, đã bắt đầu. Trước đó, ngày 19-12-1946, Người đã ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, với một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4). Nhà nước cách mạng non trẻ vừa mới ra đời, đã phải đứng trước tình thế hiểm nghèo thù trong, giặc ngoài; vận nước, vận Đảng ở trong thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Cả nước lên đường, toàn dân đánh giặc, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ chuyển lên Việt Bắc, chỉ huy cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện. Trước đây, nhờ Việt Bắc mà cách mạng thành công, nay lại nhờ Việt Bắc mà kháng chiến thắng lợi. Dự cảm sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày đầu của chính thể mới, đã trở nên hoàn toàn chính xác. Từ tháng 11-1945, với một sách lược chính trị độc đáo, Đảng đã tuyên bố “tự giải tán”, nhưng về thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo và cầm quyền bằng những phương thức phù hợp. Trong hoàn cảnh ấy, Người đã viết về Đảng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, với hình thức diễn đạt là “ĐOÀN THỂ’; tuy nhiên, trong nội bộ Đảng, Người vẫn nói về Đảng, là một đảng chân chính cách mạng. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có lúc Đảng còn được biểu đạt với tên gọi là “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Đến năm 1951, từ Đại hội II, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi “Đảng Lao động Việt Nam”, mà về bản chất vẫn là Đảng Cộng sản, như Người đã xác định từ đầu, khi thành lập Đảng ngày 3-2-1930.

Nhiệm vụ mới đặt ra lúc này là “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, với niềm tin và quyết tâm chính trị rất cao “kháng chiến tất thắng”, để “kiến quốc tất thành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng kiên định, linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có trọng trách tối cao trong lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân “kháng chiến kiến quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất của tư tưởng và hành động đổi mới; do đó, phải kịp thời “sửa đổi”, kịp thời “đổi mới”, thấm nhuần sâu sắc và thực hành sáng tạo chỉ dẫn của V.I. Lê-nin; một khi tình hình đã thay đổi, nhiệm vụ và yêu cầu mới đã đặt ra, thì không bao giờ giải quyết hết được những nhiệm vụ của ngày hôm nay, nếu chỉ dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm và phương pháp của ngày hôm qua.

Không phải ngẫu nhiên mà cùng trong năm 1947, giữa bao bộn bề công việc phải lo toan, Người tập trung viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, và trước đó, tháng 3-1947, Người viết tác phẩm “Đời sống mới”, với bút danh Tân Sinh. Cả hai tác phẩm này đều nổi bật tư duy đổi mới, hành động đổi mới, ra sức giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ cả về phương pháp và phong cách lãnh đạo theo yêu cầu khoa học, dân chủ và sáng tạo trên nền tảng cốt yếu là ra sức thực hành đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, thực hành dân vận, thực hành đoàn kết, đại đoàn kết, gắn liền quyết tâm với tín tâm và đồng tâm để quân, dân đồng lòng sản xuất, chiến đấu, hậu phương thi đua với tiền phương, tất cả cho chiến đấu, tất cả để chiến thắng quân thù. Muốn vậy, phải kịp thời “sửa đổi”, tức là “đổi mới” từ cách nghĩ, đến cách làm, từ tổ chức đến cán bộ, từ Đảng đến nhân dân, đã cùng mục đích thì cùng phấn đấu, hy sinh cho mục đích trở thành hiện thực.

Thứ hai, đổi mới phải chọn đúng khâu đột phá, tên tác phẩm của Người đã thể hiện rõ ràng tư tưởng và phương pháp đó; “Lối làm việc” tức là “phương pháp”, “cách thức”. Đây là điều cốt yếu phải đổi mới, hơn nữa, Người còn xác định điều hệ trọng: “PHẢI SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC CỦA ĐẢNG”(5). Mệnh đề này, trong tác phẩm của Người là câu trả lời cho khâu đột phá ở đâu và của ai? Rõ ràng, Đảng phải tự đổi mới chính mình, đổi mới phương pháp, cách thức làm việc, tức là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, như cách nói hiện nay, sao cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, làm tròn sứ mệnh của mình, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đưa kháng chiến tới thắng lợi, để kiến quốc mau thành công. Đảng tự đổi mới chính bản thân mình, để thúc đẩy và dẫn dắt xã hội đổi mới. Muốn đổi mới, phải có dũng khí, tự nhận thức, tự phê phán, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, để phát hiện ra những yếu kém, khuyết điểm của mình và quyết tâm sửa chữa. Theo đó, mở đầu tác phẩm, Người tập trung làm rõ vấn đề “Phê bình và sửa chữa”. Đánh giá đúng những khuyết điểm đó, Người tập trung vào những căn bệnh mà đội ngũ cán bộ, đảng viên thường mắc phải, đó là “bệnh chủ quan”, “bệnh hẹp hòi” và “thói ba hoa”. “Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”(6), có chung một nguồn gốc, một nguyên nhân, do “chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”(7). Chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, nó đẻ ra trăm nghìn bệnh tật, thói hư tật xấu, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hư hỏng, tổ chức suy yếu, nguy hại tới phong trào cách mạng, mà nguy hại nhất là suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng. Theo đó, đánh mất lòng tin, niềm tin của nhân dân, là Đảng tự đánh mất sức mạnh của mình, sức mạnh tự bảo vệ và được quần chúng nhân dân bảo vệ, mất cơ sở xã hội quan trọng nhất để cách mạng phát triển và thắng lợi. Từ sự phê phán nghiêm khắc đó, vạch rõ nguyên nhân để có quyết tâm sửa chữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích và rút ra những kinh nghiệm, những bài học thu hoạch từ thực tiễn, nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đặc biệt là, phải thường xuyên củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, mà có tư tưởng xa dân và không được dân giúp đỡ, bảo vệ thì dù ai và tổ chức nào có tài giỏi mấy cũng không làm nên điều gì. Công tác dân vận phải đặt vào tầm chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng là vì vậy. Trong những nhân tố bảo đảm cho cách mạng thành công, thì công tác tổ chức và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhân tố cơ bản, quyết định nhất. Do đó, cách mạng phát triển thuận lợi hoặc khó khăn, thành công hay thất bại, suy đến cùng là do phẩm chất và năng lực của cán bộ quyết định; bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc./ Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(8). Đây là những tổng kết thực tiễn rất quan trọng để phát triển lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đặt cơ sở khoa học chính xác và thiết thực nhất cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Từ đó, “Sửa đổi lối làm việc” đề cập đến “Tư cách của cán bộ, đảng viên”, “Tư cách của Đảng” và vạch ra hệ thống 12 điều cần hiểu đúng, làm đúng, nhất thiết không được xem nhẹ một điều nào. Đó là điều kiện để Đảng thật vững bền, là quan điểm, nguyên tắc và phương pháp “xây dựng đảng chân chính cách mạng” - 12 điều, vẻn vẹn trong 456 từ, mà toát lên lý luận xây dựng đảng cầm quyền, có giá trị và ý nghĩa về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, như một tất yếu cô đọng về học thuyết xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tác phẩm còn dành một dung lượng lớn để nói về cách lãnh đạo, cách đánh giá, phát hiện, huấn luyện cán bộ, bố trí cán bộ, kiểm soát cán bộ, bảo vệ cán bộ, chính sách đối với cán bộ. Kết thúc tác phẩm, Người nói một cách thấm thía về “bệnh ba hoa” và “cách chữa bệnh ba hoa” trong cách nói và viết của cán bộ, rộng ra là thái độ và trách nhiệm của cán bộ với nhân dân. Như một người thầy thuốc, Người đã “khám bệnh” vô cùng kỹ lưỡng, “bắt mạch kê đơn” vô cùng thiết thực, chính xác để giúp cho việc chữa bệnh đối với những người mang bệnh thật sự có kết quả. Hiếm có tác phẩm nào, như tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Người nói nhiều, nói kỹ tới các bệnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên đến thế, vừa thẳng thắn, nghiêm khắc với tất cả tinh thần trách nhiệm, vừa tin tưởng và hy vọng rằng, đảng chân chính cách mạng biết đề cao tự phê bình và phê bình, biết dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, thì nhất định sẽ “tẩy sạch”, sẽ làm cho “tiệt nọc” (chữ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh); những chứng bệnh nguy hiểm, nhờ đó, Đảng sẽ khỏe mạnh, chắc chắn, tiến bộ, trưởng thành, làm tròn sứ mệnh vẻ vang do dân tộc ủy thác và xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân, niềm tự hào của nhân dân về Đảng của mình. Rõ ràng, “Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm điển hình về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận với thực tiễn, về tính chỉnh thể Tư tưởng - Đạo đức - Phong cách Hồ Chí Minh; ở đó, những nguyên lý xây dựng, chỉnh đốn Đảng được trình bày một cách khoa học, đầy sức thuyết phục, tầm tư tưởng sâu sắc được thể hiện một cách giản dị, trong sáng bởi ngôn từ và văn phong. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những vấn đề mà Người đặt ra trong tác phẩm vẫn không hề cũ, vẫn luôn luôn mới trong tình hình hiện nay đối với Đảng ta, với dân tộc và nhân dân ta.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi đời sống, sản xuất của ngư dân tại huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận_Ảnh: chinhphu.vn

Thấm nhuần sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” để ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay

Từ nội dung toàn diện và phong phú trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vận dụng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, quyết tâm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là một đảng chân chính cách mạng, lãnh đạo và cầm quyền; toàn Đảng, từng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là các đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo, quản lý các cấp, cần phải học tập thật thấu đáo để làm theo thật sự có hiệu quả Tư tưởng - Đạo đức - Phong cách Hồ Chí Minh trên những vấn đề cốt yếu sau đây:

Một là, phải có dũng khí tự phê bình và phê bình, sửa chữa bằng được những khuyết điểm và sai lầm.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm. Vì có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ”(9). Coi trọng việc học tập trong Đảng, Người đã có những chỉ dẫn cụ thể việc học tập, từ tổ chức đến quy định thời gian, từ tài liệu, cách thức học tập, thảo luận, hướng dẫn cách phê bình đến kiểm tra, báo cáo và thực hành. Đặt vấn đề học tập ngay ở phần mở đầu tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần coi việc học tập là để mở mang sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, là điều kiện cần thiết để thực hiện việc “phê bình và sửa chữa” có kết quả.

Người yêu cầu: “Mỗi cơ quan, bộ đội, đoàn thể phải tổ chức một ủy ban học tập, do cán bộ cao cấp lãnh đạo”, “Ủy ban này định ra kế hoạch; nghiên cứu, thảo luận, kiểm tra và thực hành”, “Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì”(10). Trong thảo luận, phê bình, Người nêu rõ: “mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy”,  “Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức”, “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(11). Người nhấn mạnh: “Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”(12); theo đó, về phương pháp tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giáo dục cán bộ, đảng viên về tôn trọng tự do tư tưởng, tôn trọng quyền dân chủ của mỗi người, đặc biệt là tôn trọng nhân cách, không xúc phạm nhân cách của đồng chí mình trong lúc phê bình. Đó là yêu cầu về đạo đức và văn hóa ứng xử trong tự phê bình và phê bình; có động cơ, mục đích đúng, còn phải đi liền với phương pháp khéo thì mới có kết quả. Đây là nét tinh tế, mà Người chỉ dẫn cho chúng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đòi hỏi trong Đảng, phải chú trọng thực hành lời dạy của Người về việc học tập, về cách tự phê bình và phê bình một cách trung thực, thẳng thắn, thấm nhuần các chuẩn mực đạo đức và văn hóa. Kết tinh những điều ấy, trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(13); đồng thời, khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đó là điều mong mỏi thiết tha, chân thành, thường xuyên của Người đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. “Mọi người phải nhớ rằng: cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại. Cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưu điểm lớn, rất lợi cho Đảng và công cuộc kháng chiến”(14).

Từ đây, Người đòi hỏi “phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”. Theo Người: “Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều. Đó là lẽ tất nhiên. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”; “Chúng ta có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng: Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan./ Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi./ Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa./ Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”; “Mỗi chứng bệnh sinh ra do nhiều nguyên nhân. Nhưng kết quả nó đều làm cho người ta ốm yếu. Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông”(15). Người nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”, “chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành(16). Nếu bệnh chủ quan thuộc về nhận thức, thì bệnh hẹp hòi thuộc về thái độ và cách cư xử trong các mối quan hệ trong việc dùng người, mà nhiều cán bộ, đảng viên thường mắc phải. Bệnh này rất nguy hiểm, trong thì ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết, ngoài thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân.

Phê phán bệnh hẹp hòi, nhất là hẹp hòi trong việc dùng người, cả trong Đảng lẫn ngoài Đảng, với những biểu hiện khác nhau, Người rút ra nhiều nhận xét, kết luận thấm thía. “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”, “Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng”, “Cũng vì bệnh hẹp hòi đó mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ”, “không thân mật hợp tác”(17). Và theo Người: “Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào. Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi. Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”(18). Bởi vậy, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng”(19). Người còn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải chống thói ba hoa, vì thói này, cũng hại như hai bệnh kia (chủ quan và hẹp hòi): “Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn”(20).

Trong tác phẩm“Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết từ thực tiễn để rút ra “Mấy điều kinh nghiệm”. Đó là một tổng kết đặc sắc gồm sáu điểm:

- Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong.
- Chính sách thì đúng, cách làm thì sai.
- Không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc.
- Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái.
- Vì ai mà làm? Đối ai phụ trách?
- Sát quần chúng, hợp quần chúng.

Những tổng kết đó, vừa là những kết luận có tính nguyên lý, vừa tiếp tục nêu lên những tình huống, nói rõ hạn chế, khuyết điểm phải ra sức khắc phục, trên tinh thần phê bình xây dựng, rất có ích trong phấn đấu, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ở đây, Người đưa ra những chỉ dẫn rất quan trọng, đó là: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(21); “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại”, “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng”(22). Đặc biệt là, Người thẳng thắn phê bình cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực. Đây là một yếu kém phải ra sức sửa chữa, nếu không sẽ ảnh hưởng tai hại tới sự đoàn kết và sức chiến đấu của Đảng, làm sai lệch đạo đức, nhân cách của người đảng viên. Theo Người, dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau; phải làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu rõ, “bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”(23), phải “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”(24). Đó là tính nhân dân, là quan điểm quần chúng, mà người cách mạng phải thấm nhuần, phải nhất quán từ nhận thức đến hành động.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng với mục đích vì dân và trách nhiệm cao nhất với nhân dân. Đó là cơ sở, là nền tảng, là mục đích phục vụ nhân dân của đảng chân chính cách mạng. Một khi giác ngộ điều sâu xa, căn bản này, thì từng tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, phải nêu cao dũng khí tự phê bình và phê bình, quyết tâm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, sao cho không phụ lòng nhân dân, xứng đáng với niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, phải nêu cao tư cách của đảng chân chính cách mạng, ra sức làm tròn phận sự của đảng viên và cán bộ, phải dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trong 12 điều cần thiết để xây dựng và bảo vệ tư cách của đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nổi bật một tư tưởng lớn: Đảng phải dựa vào dân mà xây dựng Đảng, phải không ngừng củng cố mối liên hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh bản chất, mục đích của Đảng. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Điều thứ nhất trong 12 điều cần thiết trong xây dựng Đảng liên quan đến động cơ phấn đấu vào Đảng của mỗi người. Đó cũng là điều hệ trọng nhất, nhất là khi Đảng đã cầm quyền, thì điều này lại càng vô cùng hệ trọng và thiêng liêng. Sai lạc về mục đích, động cơ phấn đấu, về lý tưởng và lẽ sống là khởi đầu dẫn đến suy thoái, biến dạng và hư hỏng. Nêu bật điểm đầu tiên này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thức tỉnh chúng ta về đạo đức trong chính trị. Ý nghĩa thực tiễn sâu xa của vấn đề này trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là Đảng phải hết sức chú trọng giáo dục mục đích, động cơ cho những người muốn phấn đấu vào Đảng; đồng thời, phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá đội ngũ cán bộ, đảng viên về lòng trung thành với lý tưởng của Đảng, về sự tận tụy, hy sinh phục vụ nhân dân bằng việc làm, bằng hành động, chứ không chỉ căn cứ vào lời nói. Tư tưởng “dựa vào dân để xây dựng Đảng” được Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rõ, bởi yêu cầu đặt ra của sự nghiệp cách mạng đối với mỗi đảng viên, đối với sự lãnh đạo của Đảng; phương pháp và phong cách mà Đảng chỉ ra cho mỗi đảng viên thể hiện trong mối quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Đó là nâng cao hiểu biết về lý luận cách mạng, gắn liền lý luận với thực hành, thấm nhuần quan điểm thực tiễn khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị; thường xuyên xem xét lại tất cả công tác của Đảng, giữ vững nguyên tắc, liên hợp chặt chẽ với dân chúng, luôn đứng về phía quần chúng, chú trọng phương pháp (cách thức) tổ chức, giáo dục đảng viên và quần chúng. Theo đó, Người nhấn mạnh đến việc phải hết sức đề cao bản lĩnh tự phê bình và phê bình, không che giấu khuyết điểm, không sợ phê bình, giữ nghiêm kỷ luật, lựa chọn những người rất trung thành, rất hăng hái vào nhóm trung kiên lãnh đạo; đồng thời, tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.

Cán bộ Trung tâm Hành chính công tỉnh Quảng Ninh hướng dẫn công dân giải quyết các thủ tục hành chính_Nguồn: baoquangninh.com.vn

Theo Người: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(25). Vì vậy, thấm nhuần quan điểm “dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn lúc nào hết, Đảng càng phải ra sức vận dụng, thực hiện nhất quán, với tinh thần khoa học và cách mạng, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, hết lòng tin cậy nhân dân, rất mực trung thành và tận tụy phục vụ nhân dân; coi đó là thước đo về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, là bảo đảm vững chắc nhất để Đảng có sức mạnh từ niềm tin, sự gắn bó, sự giúp đỡ, ủng hộ và bảo vệ Đảng của nhân dân, được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là bí quyết của thành công.

Nêu lên 12 điều căn bản đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nội dung toàn diện của xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, mà sâu xa là xây dựng Đảng về văn hóa. Quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, Đảng vì nhân dân, nên nhân dân tin Đảng và theo Đảng đến cùng. Đó là sức mạnh của Đảng, là văn hóa chính trị của đảng chân chính cách mạng đang thực thi sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, làm tất cả vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của Tổ quốc, của dân tộc và của nhân dân. Lời căn dặn của Người:

“Muốn cho Đảng được vững bền/ Mười hai điều đó chớ quên điều nào”(26), đến nay, vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa kim chỉ nam hành động của Đảng ta.

Thứ ba, phải tạo ra những chuyển biến căn bản có tính đột phá về công tác cán bộ, về đổi mới phương pháp và phong cách lãnh đạo của Đảng, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức và văn hóa của dân tộc, của thời đại.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(27); đó là một chỉnh thể, mà sâu xa là xây dựng Đảng về văn hóa, xây dựng văn hóa trong Đảng. Muốn làm cho Đảng và cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, “là đạo đức, là văn minh”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đây là một giải pháp chiến lược trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần và phải thực sự trở thành một nhu cầu văn hóa của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức trong toàn Đảng, trong cả nước.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc xây dựng hệ giá trị chuẩn mực cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; trước hết là ở những người lãnh đạo, theo tinh thần “chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu”, ra sức thực hành trách nhiệm nêu gương cho quần chúng noi theo, làm theo. Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Từ lâu, Người đã nói như vậy, cũng như Người đã từng nhấn mạnh, lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất, hợp với lòng dân và được lòng dân nhất. Cán bộ phải thực sự là tinh hoa, không chỉ đủ phẩm chất, năng lực, tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, mà còn phải có uy tín trong sự nhìn nhận, đánh giá của nhân dân, được thừa nhận qua dư luận xã hội.

Vấn đề cán bộ, công tác cán bộ và chính sách cán bộ, cũng như cách lãnh đạo, đổi mới phương pháp và phong cách lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn hết sức tỉ mỉ, khoa học. Nếu thực sự thấm nhuần và thực sự có quyết tâm hành động, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm, đã hứa trước Đảng, trước nhân dân thì phải thực hiện, không chỉ nêu cao quyết tâm, mà còn giữ trọn tín tâm, nỗ lực hết mình thực hiện đoàn kết dân chủ và đồng thuận trong Đảng, trong nhân dân, thì nhất định sẽ tạo ra đột phá về chất lượng đội ngũ cán bộ, chất lượng tổ chức, “thanh toán” triệt để tình trạng yếu kém kéo dài từ bấy lâu nay về công tác tổ chức, công tác cán bộ.

Chúng ta cần lĩnh hội những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề cốt yếu này. Người căn dặn chúng ta, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(28). Người không chỉ chú trọng huấn luyện cán bộ, từ huấn luyện nghề nghiệp đến huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận làm cho cán bộ có đủ năng lực, có tầm nhìn xa trông rộng, có bản lĩnh sáng tạo và dám chịu trách nhiệm, mà còn ân cần chỉ dẫn cho chúng ta việc “dạy cán bộ và dùng cán bộ”, thận trọng trong lựa chọn cán bộ, có cách (phương pháp) đối với cán bộ cho đúng và cho khéo, sao cho từ phong trào thực tiễn, mà nảy nở rất nhiều nhân tài; trong đó, có cả “nhân tài ngoài Đảng”, để Đảng và Chính phủ trọng dụng, vì lợi ích của cách mạng, của dân tộc và của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo, nhà tổ chức thiên tài, bằng trí tuệ mẫn tiệp, có “tầm mắt đại dương”, lại giàu lòng nhân ái, khoan dung, Người còn nhấn mạnh những điểm lớn trong chính sách cán bộ. Người nói rõ: “Sao cho đối đãi đúng với mọi người? Đó là một vấn đề rất trọng yếu”(29), bởi nó kích thích được tài năng, tạo ra động lực cho cán bộ phát triển và cống hiến. Tổng kết của Người là cẩm nang cho cán bộ lãnh đạo trong việc dùng người gồm năm điểm: “Hiểu biết cán bộ,/ Khéo dùng cán bộ,/ Cất nhắc cán bộ,/ Thương yêu cán bộ,/ Phê bình cán bộ”(30). Người nêu lên những quan niệm khoa học thấm sâu tinh thần thực tiễn và đổi mới, đặc biệt là muốn dùng cán bộ cho đúng, thì người lãnh đạo phải thực sự có trí tuệ, có đạo đức, thật sự công tâm, khách quan, vì sự nghiệp chung, vì lợi ích tối cao của nhân dân, của đất nước, mà dùng người thực đức, thực tài, không thiên tư thiên vị, không định kiến hẹp hòi; đồng thời, phải có bản lĩnh chính trị dám quyết, dám chịu trách nhiệm, “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”(31). Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chú trọng công tác kiểm tra cán bộ, “Giao công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến. Thế là không biết yêu dấu cán bộ”(32). Cũng như vậy, kiểm tra, phê bình cán bộ là cần thiết, tất yếu, là thái độ chủ động trong bảo vệ cán bộ, nghiêm mà vẫn bao dung, thấu lý, đạt tình là điểm đặc sắc trong phương pháp và phong cách của Người, là chất nhân văn, chủ nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người phê phán nghiêm khắc những chứng bệnh mà không ít cán bộ lãnh đạo có trọng trách dùng người, nhưng dùng không đúng thường mắc phải; đó là “Tự cao tự đại,/ Ưa người ta nịnh mình,/ Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người,/ Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau”(33).

Người để lại cho chúng ta những thu hoạch vô cùng bổ ích, chắt lọc và kết tinh vô vàn những kinh nghiệm và trải nghiệm trong nhiều thập niên hoạt động cách mạng của mình, thiết nghĩ vào lúc này, những cán bộ lãnh đạo cần vận dụng, thực hành cho tốt. “Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(34), “Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”(35), “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”(36). Công tác cán bộ gắn liền với công tác tổ chức và ngược lại. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tổ chức, về cán bộ có liên quan trực tiếp tới công tác lãnh đạo và đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo. Đảng phải dày công trong công tác cán bộ, xây dựng một đội ngũ cán bộ có chất lượng cao về mọi mặt, đặc biệt là Đảng ta nhấn mạnh vào phẩm chất, năng lực, uy tín. Trong tác phẩm“Sửa đổi lối làm việc”, những kiến giải của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách lãnh đạo, có rất nhiều điểm đặc sắc. Độ lùi của thời gian càng xa, thì những luận điểm của Người càng có sức tỏa sáng, trở thành những giá trị bền vững - xét về mặt tư tưởng, thấm nhuần triết lý của Người và cả về đạo đức và phong cách, mà ngày nay Đảng ta cần vận dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện mới.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng nghĩa là: “Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng”, “Phải tổ chức sự thi hành cho đúng”, “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”(37); cả ba việc ấy đều cần phải dựa vào nhân dân, có sự giúp đỡ của nhân dân. Người còn nhấn mạnh: “Muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”(38). Để thực hiện sự lãnh đạo theo quan niệm nêu trên, Người căn dặn chúng ta, phải liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng; đồng thời, liên hiệp người lãnh đạo với quần chúng. Lại phải chú ý “vừa lãnh đạo vừa học tập”, đối với dân chúng phải biết phát huy vai trò của bộ phận quần chúng tiên tiến, nâng đỡ lớp quần chúng trung bình cho họ tiến bộ, biết cách thuyết phục, cảm hóa những quần chúng chậm tiến. Người cũng đòi hỏi phải, “phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy”, “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”(39).

Những chỉ dẫn trên đây của Người là cơ sở để chúng ta rút ra những thu hoạch về khoa học và nghệ thuật trong lãnh đạo và quản lý; đó là: Lãnh đạo bằng khoa học, lãnh đạo một cách dân chủ, lãnh đạo bằng sự gương mẫu, tiên phong, nhất là sự gương mẫu về đạo đức của người lãnh đạo. Còn nhiều vấn đề khác, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm quan trọng này, nhưng tất cả đều quy tụ vào nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vào vai trò của quần chúng trong việc giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ Đảng và điều mấu chốt là Đảng phải dựa vào nhân dân, củng cố mối liên hệ bền chặt với nhân dân. Đó vừa là cơ sở xã hội rộng lớn của Đảng, vừa là nguồn xung lực mạnh mẽ, giúp Đảng không ngừng phát triển, thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với trọng trách lãnh đạo, cầm quyền, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Một số kiến nghị

Một là, nhân kỷ niệm 75 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (và tác phẩm “Đời sống mới”) - những tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng đổi mới của Người trong điều kiện Đảng cầm quyền, cần tổ chức giáo dục, tuyên truyền sâu rộng giá trị và ý nghĩa những tác phẩm này trong Đảng, trong dân; coi đây là một điểm nhấn về lý luận - thực tiễn trong chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh” năm 2022, góp phần tạo động lực thúc đẩy khát vọng cống hiến của mỗi người, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc.

Hai là, xuất phát từ tầm vóc tư tưởng, với những giá trị bền vững và phong cách đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện qua tác phẩm, Đảng và Nhà nước ta cần đưa tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vào danh mục các tác phẩm Bảo vật quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm phong phú và sâu sắc thêm kho tàng di sản các bảo vật quốc gia của Việt Nam.

Ba là, cùng với việc đó, một việc làm cần thiết, cấp bách lúc này là phải đưa “Tuyên ngôn Độc lập” - Bản tuyên ngôn lập quốc, dựng nước Việt Nam mới, mà cả dân tộc và thế giới đều biết đến tác giả khởi thảo và tuyên đọc văn kiện vô giá này là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vào danh mục bảo vật quốc gia của Việt Nam. Việc bổ sung chính thức tác phẩm vĩ đại này là hết sức cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt trong di sản tư tưởng và văn hóa của Việt Nam - Thời đại Hồ Chí Minh./.

--------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 284
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 289, 280
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 272
(6), (7), (8) Hồ Chi Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 273, 276, 309
(9), (10), (11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 271, 217, 272, 272
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 622
(14), (15), (16), (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 272, 274, 276
(18), (19), (20), (21), (22), (23), (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 278, 279, 339, 280, 283, 285, 288
(25), (26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 290
(27) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 95
(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 309
(29), (30), (31), (32), (33), (34), (35), (36) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 317, 317, 315, 316, 317, 313, 317, 323
(37), (38), (39) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 325

  •  
  •  
  •  
  •  

Nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị ở Việt Nam hiện nay

 

Nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị ở Việt Nam hiện nay

PGS, TS. CAO THU HẰNG - PGS, TS. LÊ TRỌNG TUYẾN
Tạp chí Cộng sản - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
19:04, ngày 20-12-2022

TCCS - Tuyên truyền chính trị được sử dụng bằng nhiều phương thức khác nhau. Với đặc điểm thông tin nhanh, độ lan tỏa rộng, các phương tiện truyền thông xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tuyên truyền các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nếu được tận dụng một cách phù hợp, sẽ góp phần tạo sự đồng thuận của xã hội và sự phát triển của đất nước.

1- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, tuyên truyền là “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”(1). Như vậy, tuyên truyền là giải thích để mọi người hiểu một vấn đề nào đó, qua đó, thuyết phục mọi người ủng hộ, tán thành và làm theo.

Tuyên truyền chính trị là hoạt động của các giai cấp, đảng phái, nhà nước giải thích, thuyết phục mọi người ủng hộ, tán thành và làm theo tư tưởng, các hoạt động của giai cấp, đảng phái, nhà nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định.

Chính vì giải thích, thuyết phục mọi người ủng hộ, tán thành đường lối, tư tưởng và hoạt động chính trị nên tuyên truyền chính trị có vai trò quan trọng trong các hoạt động tuyên truyền. Nếu người dân không hiểu, không tin vào chủ trương, quan điểm, đường lối, hoạt động chính trị của một giai cấp, một đảng phái, hay một nhà nước thì sẽ thờ ơ hoặc không ủng hộ, dẫn đến sự thất bại của chủ trương, đường lối và rốt cục, dẫn đến thất bại trong hoạt động thực tiễn của giai cấp, chính đảng, nhà nước. Đánh giá về vai trò của công tác tuyên truyền chính trị, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”(2).

Trong bối cảnh hiện nay, tuyên truyền chính trị ở nước ta tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tuyên truyền các sự kiện chính trị trong nước và quốc tế. Các nội dung tuyên truyền chính trị giúp các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kể cả những chính sách đang thực hiện và những mục tiêu đang hướng tới. Nếu người dân hiểu, nhận thức rõ các chủ trương, đường lối, chính sách đó sẽ tin tưởng, ủng hộ; tạo sự thống nhất cao trong hành động, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước theo quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.

Tuyên truyền chính trị hiện nay có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, như tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua sách, báo…; trong đó, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên số, việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội là một hình thức truyên truyền cần thiết phải sử dụng.

Tuyên truyền pháp luật cho đồng bào xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

2- Các phương tiện truyền thông xã hội được coi là dịch vụ kết nối các thành viên tham gia với nhau trên môi trường không gian mạng với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Các phương tiện truyền thông xã hội tương tác bằng cách thêm bạn, nhận xét về các thông tin cá nhân, gia nhập các nhóm và thảo luận, có nhiều tính năng kết nối liên thông đa ứng dụng để người sử dụng chia sẻ thông tin, như chat, bình luận, email. Các phương tiện truyền thông xã hội đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày của hàng tỷ người trên thế giới(3). Ở Việt Nam hiện nay, các phương tiện truyền thông xã hội nổi tiếng ngoài nước và trong nước đang được nhiều người sử dụng, như Facebook, Instagram, Twitter, TikTok, Zing Me… Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có số lượng người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội đông đảo; đến tháng 1-2021, có 68,72 triệu người dùng internet, trong đó có 72 triệu người dùng các phương tiện truyền thông xã hội trên khoảng 98,7 triệu dân số(4). Với đặc tính dễ kết nối, dễ chia sẻ, dễ tương tác, ẩn danh và nhiều người sử dụng, nên sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị đem đến cả khía cạnh tích cực và tiêu cực.

Về mặt tích cực: Một là, nhờ đặc điểm thông tin nhanh chóng, thuận tiện hơn so với cách thức tuyên truyền truyền thống, phù hợp với các tầng lớp nhân dân, kể cả người dân vùng sâu, vùng xa, trong thời gian qua, các phương tiện truyền thông xã hội góp phần tuyên truyền các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, những ngày lễ, kỷ niệm lớn của đất nước, những anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa đất nước, các phong trào thi đua yêu nước. Nhiều cơ quan, đơn vị đã sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội Facebook, Zalo… để tuyên truyền và thu hút được một lượng lớn công chúng theo dõi, như fanpage trang “Thông tin Chính phủ” trên Facebook có 3,5 triệu người theo dõi. Nhờ đó, các tầng lớp nhân dân Việt Nam hiểu biết sâu sắc hơn về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thấy rõ được những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; qua đó, đồng tình, ủng hộ đường lối đổi mới đất nước.

Hai là, góp phần tập hợp quần chúng, tạo nên những phong trào chính trị rộng khắp. Nhờ sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, nhiều phong trào chính trị được lan tỏa và thực hiện thành công, chẳng hạn như Chiến dịch “Tôi đi bầu cử” do VTV Digital triển khai chuyên biệt trên các nền tảng số hướng tới các cử tri trẻ, nhân sự kiện bầu cử Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Chiến dịch đã có gần 45 triệu lượt xem và tương tác sôi nổi. Trên các phương tiện truyền thông xã hội, không ít cử tri trẻ cho biết, chiến dịch này đã giúp các bạn nhận thức rõ hơn về sự kiện bầu cử và đã quyết định đi bầu để thể hiện trách nhiệm của mình với đất nước(5).

Ba là, với đặc điểm là có sự tương tác giữa chủ thể truyền tin và công chúng tiếp nhận, đo lường được những vấn đề mà công chúng quan tâm, các phương tiện truyền thông xã hội dễ nắm bắt được xu hướng, nhu cầu thông tin của các tầng lớp nhân dân, qua đó, góp phần định hướng dư luận xã hội, đặc biệt là những vấn đề mang tính nhạy cảm, cần thông tin kịp thời. Chẳng hạn như trong bối cảnh khó khăn do dịch bệnh COVID-19 gây ra trong năm 2020 và năm 2021, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chương trình livestream “Dân hỏi - Thành phố trả lời” của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra đời đã thu hút, tạo sự tin tưởng của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trong khó khăn của dịch bệnh. Tính đến ngày 29-10-2021, Chương trình đã thu hút 11.270.000 tổng lượt người xem; tổng số lượt bình luận trực tiếp tại chương trình là 5.211.228 lượt. Qua đó, các cơ quan, đơn vị của Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận được nhiều thông tin từ người dân để phục vụ cho công tác điều hành, quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực. Đồng thời, thông qua Chương trình, lãnh đạo Thành phố có thêm thông tin để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, mong muốn của người dân, từ đó điều chỉnh, triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao trong người dân, doanh nghiệp(6).

Bốn là, các phương tiện truyền thông xã hội góp phần cổ vũ những tấm gương người tốt, việc tốt, tạo ra những hiệu ứng lan tỏa tích cực trong xã hội; đồng thời, phản bác các quan điểm sai trái, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn các thông tin xấu, thất thiệt, tin giả. Với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, các phương tiện truyền thông xã hội đã góp phần trong việc chia sẻ các thông tin tích cực, ngăn chặn, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu, độc, tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; góp phần nâng cao nhận thức, hành vi chính trị cho các tầng lớp nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, các phương tiện truyền thông xã hội cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng người dân. Một là, thông tin xấu, độc xuất hiện trên các phương tiện truyền thông xã hội, xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một số đối tượng sử dụng tài khoản mạo danh bịa đặt, vu cáo, kích động chống Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, kêu gọi biểu tình, tụ tập tạo điểm nóng, đánh lừa dư luận… gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến niềm tin của thế hệ trẻ nói riêng và các tầng lớp nhân dân nói chung đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Hai là, việc đưa những thông tin thất thiệt, mang tính tiêu cực, giật gân, câu view, gây hoang mang đến dư luận xã hội, ảnh hưởng đến tâm lý xã hội, như việc một số cá nhân, trang mạng đưa tin thất thiệt, không chính xác về dịch bệnh COVID-19, thành lập các hội, đoàn trái quy định của pháp luật…

Nguyên nhân của tình trạng trên là một số cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội chưa thấy rõ được vị trí, vai trò của việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị; nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền chưa đa dạng, phong phú; việc đưa thông tin chính thống đôi lúc còn chậm, chưa kịp thời; nhận thức của người dân trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội chưa cao; quản lý các phương tiện truyền thông xã hội còn bất cập; các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước ta; đối tượng thông tin trên các phương tiện truyền thông xã hội sử dụng công nghệ hiện đại thường ẩn danh, mạo danh, thay đổi phương thức phát tin, gây khó khăn trong truy vết…

Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi đối thoại với người dân trên chương trình livestream “Dân hỏi - Thành phố trả lời”_Nguồn: dangcongsan.vn

3- Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị, cần thực hiện số giải pháp:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của tuyên truyền chính trị trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Các cấp ủy cần coi việc tuyên truyền chính trị trên các phương tiện truyền thông xã hội là một nhiệm vụ quan trọng. Đưa việc tuyên truyền chính trị, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của Việt Nam… là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong truyền thông chính sách. Thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, những vấn đề lý luận cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho các hội viên, quần chúng, bằng các hình thức phù hợp. Nâng cao hiệu quả trong phản bác, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch; giúp cho các hội viên, quần chúng nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác, thấy rõ bản chất những luận điểm xuyên tạc. Các cán bộ, đảng viên, tùy vị trí công tác, cần chia sẻ, đưa thông tin đúng, chính xác về sự phát triển của Việt Nam; đấu tranh, lên án với những thông tin sai trái, phản động. Việc tuyên truyền của các cấp ủy, các tổ chức chính trị - xã hội cần làm thường xuyên, kịp thời, trọng tâm, trọng điểm, không để trống “trận địa” để các tin xấu, độc len lỏi, hoành hành.

Thứ haiđổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực”(7). Theo đó, cần thường xuyên cung cấp thông tin chính thống trên các phương tiện truyền thông xã hội, sử dụng diễn đàn trực tuyến để tổ chức hội thảo, tọa đàm, thông tin những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; các anh hùng trong lịch sử và những tấm gương người tốt, việc tốt; chú trọng tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; định hướng giá trị và hệ chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay; phê phán, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đối tượng tuyên truyền chính trị rất đa dạng, gồm những người dân Việt Nam có sự khác biệt về giới tính, lứa tuổi, ngành nghề làm việc, khu vực sinh sống, trình độ văn hóa…. Điều đó đặt ra vấn đề cần có hình thức truyên truyền khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”. Theo đó, cần tìm ra những nét đặc thù của mỗi đối tượng, tầng lớp, khu vực để có phương thức tuyên truyền cho phù hợp. Chẳng hạn, với đối tượng sinh viên, thanh niên, tuổi đời còn trẻ, có thể sử dụng các công nghệ hiện đại, các bài viết, hình ảnh, âm thanh sinh động phù hợp với tâm lý lứa tuổi để tuyên truyền. Với những người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thông điệp truyền thông chính trị cần ngắn, gọn, dễ hiểu, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của đồng bào.

Thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương trong tuyên truyền chính trị. Tuyên truyền tốt thì phải thực hiện tốt, nói đi đôi với làm, có như vậy thì quần chúng mới noi theo; nếu không thì sẽ phản tác dụng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”(8), bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(9). Đồng thời, chú trọng tuyên truyền những tấm gương tiêu biểu; tận dụng những người có ảnh hưởng trên các phương tiện truyền thông xã hội (KOL) để dẫn dắt, định hướng tư tưởng, đạo đức, lối sống tốt đẹp. Trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các ban, bộ, ngành trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị, để có sự phối kết hợp hiệu quả.

Thứ banắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tâm lý các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở đó, xây dựng chương trình tuyên truyền phù hợp; đồng thời, kiện toàn tổ chức bộ máy tuyên truyền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, v.v. của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”. Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”(10). Do đó, cần theo dõi, nắm bắt tình hình dư luận xã hội, những vấn đề mới xuất hiện trong đời sống chính trị, kinh tế đất nước, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của người dân, để trên cơ sở đó, có những biện pháp tuyên truyền phù hợp. Đồng thời, tăng cường đối thoại để nắm chắc tình hình trong nhân dân, xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh. Đây cũng là thế mạnh của việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị khi có thể lắng nghe, rà quét, đo lường được những luồng thông tin chính mà người dân quan tâm; đồng thời, cũng dễ dàng thực hiện điều tra xã hội học về chất lượng, loại hình thông tin mà người đọc ở các lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, khu vực quan tâm.

Kiện toàn tổ chức bộ máy tuyên truyền chính trị tinh gọn, hiệu quả, có sự kết nối giữa các đơn vị, tổ chức thực hiện tuyên truyền. Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin(11).

Xây dựng các lực lượng làm công tác truyền thông trên các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận diện rõ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, mà còn cần nắm vững đặc điểm tâm lý của đối tượng tuyên truyền, sử dụng thành thục các phương tiện truyền thông xã hội. Để thực hiện được điều này, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng về cách viết tin, bài, sử dụng, khai thác tối đa các tính năng của các phương tiện truyền thông xã hội; trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại cho các đơn vị, lực lượng phụ trách.

Thứ tư, tăng cường quản lý đối với các phương tiện truyền thông xã hội, giáo dục ý thức trách nhiệm của nhân dân trong sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013, của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI), "Về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014, của Chính phủ, “Về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới”; Thông báo số 17/TB-VPTW, ngày 23-8-2016, của Thường trực Ban Bí thư, “Về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Luật An ninh mạng năm 2018, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo Việt Nam), Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông)… Đồng thời, cần kịp thời định hướng, cung cấp thông tin chính thống, nhất là các vụ việc nhạy cảm, phức tạp được dư luận quan tâm. Các phương tiện truyền thông xã hội có tính lan tỏa nhanh, nên các cơ quan quản lý cần kịp thời ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu nhanh chóng, kịp thời; nhận diện rõ những phương thức, thủ đoạn của các tổ chức, cá nhân lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh với các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông xã hội xuyên biên giới, bảo đảm an ninh mạng; chấn chỉnh, có chế tài xử lý đối với những người có hành vi vi phạm, đưa thông tin thất thiệt, gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội; xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán thông tin sai lệch, có nội dung vu khống về sự phát triển của Việt Nam. Có biện pháp ngăn chặn, triệt phá, vô hiệu hóa các thông tin xấu, độc, sai sự thật trên các phương tiện truyền thông xã hội…

Có thể thấy, việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn những thông tin xấu, độc hại trên các phương tiện truyền thông xã hội là cần thiết. Song, cần thiết và quan trọng hơn là nâng cao khả năng “tự miễn nhiễm” của người dân trước các thông tin xấu, độc hại trên các phương tiên truyền thông xã hội. Hiện nay, một bộ phận nhân dân thường chia sẻ thông tin giật gân, tiêu cực trên các phương tiện truyền thông xã hội, mà không nhận thức rõ được hậu quả của những hành vi sai trái đó. Do đó, để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, tiếp cận và xử lý thông tin một cách đúng đắn cho người dân, cần nâng cao nhận thức chính trị cho các tầng lớp nhân dân trong sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, trong tiếp nhận, xử lý thông tin, không chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng; phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Khuyến khích nhân dân đưa thông tin tích cực, những việc làm tốt trong xã hội; xây dựng hội, nhóm tích cực trên các phương tiện truyền thông xã hội .

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế.

Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức trên thế giới trong sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tuyên truyền chính trị; qua đó, cũng góp phần giới thiệu những thành tựu phát triển của Việt Nam; phối hợp đấu tranh với các loại tội phạm mạng xuyên biên giới. Bên cạnh đó, cần phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông xã hội quốc tế để gỡ bỏ, ngăn chặn các tin xấu, độc hại, vi phạm pháp luật và thuần phong, mỹ tục của dân tộc./.

---------------------

Tiếp tục xây dựng Hội Cựu chiến binh Việt Nam vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”

 


Tiếp tục xây dựng Hội Cựu chiến binh Việt Nam vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”

NGUYỄN VĂN ĐƯỢC
Thượng tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
15:50, ngày 29-12-2022

TCCS - Trong năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2017 - 2022, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, Hội Cựu chiến binh Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhất là trước những tác động của tình hình thế giới, khu vực với nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động nặng nề của thiên tai, dịch bệnh,... Với truyền thống “Trung thành - Đoàn kết - Gương mẫu - Đổi mới”, các cấp hội đoàn kết, năng động, sáng tạo, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra, tiếp tục xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với niềm tin yêu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính viết lưu bút khi thăm phòng truyền thống Hội Cựu chiến binh Việt Nam _Ảnh: TTXVN

Thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2017 - 2022

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là Ban Bí thư và các cấp ủy; sự phối hợp, giúp đỡ có hiệu quả của Chính phủ, các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, trong niềm tin và khí thế mới của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cùng sự đoàn kết, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của các thế hệ cán bộ, hội viên, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội lần thứ VI đề ra, góp phần vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước; đáp ứng yêu cầu: “phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”... trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Tăng cường vai trò của hội viên trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(1). Hội tiếp tục khẳng định là tổ chức chính trị - xã hội có uy tín cao, thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp tích cực tham gia có hiệu quả công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội. Quán triệt thực hiện các nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, các cấp hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng cho cán bộ, hội viên kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, hướng dẫn của Đảng về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; bầu cử hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV; đề cao trách nhiệm chính trị, lựa chọn, giới thiệu cán bộ, hội viên có đủ phẩm chất, năng lực để bầu vào các cơ quan lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở các cấp(2). Tham gia tích cực, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giám sát và phản biện xã hội; góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, với những kiến nghị, đề xuất thẳng thắn, có trách nhiệm, được cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng đánh giá cao. Các cấp hội đã tích cực tham gia công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Kết luận 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, các cấp hội từ Trung ương tới cơ sở đã quán triệt và triển khai nghiêm túc, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; xác định chuẩn mực đạo đức chung: “Trung thành, đoàn kết, gương mẫu, kỷ cương, trách nhiệm”; thực hiện phương châm chuyển mạnh từ “học tập” sang “làm theo”. Sau 5 năm thực hiện, đã đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành công việc tự giác, thường xuyên của tổ chức hội các cấp, của từng cán bộ, hội viên, trước hết là của người đứng đầu các cấp hội.

Các cấp hội chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị của Hội, nêu cao bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống “Trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới”. Tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng. Thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, chủ động định hướng, dự báo và kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh. 

Với trí tuệ, bản lĩnh “Bộ đội Cụ Hồ”, phương pháp, hình thức phù hợp, các cấp hội đã đẩy mạnh phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu”, giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi, nâng cao đời sống cho hội viên. Phong trào cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững; tích cực xóa nhà dột nát, nhà tạm. Hội huy động nhiều hình thức vay vốn, đầu tư, hỗ trợ khác nhau để giảm nghèo, phát triển kinh tế hiệu quả, giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động là cựu chiến binh và con em cựu chiến binh, góp phần ổn định cuộc sống(3). Tổng kết 5 năm phong trào “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi” giai đoạn 2016 - 2021, Trung ương Hội đề nghị Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động cho 18 cá nhân; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 24 cá nhân; Trung ương Hội tặng Bằng khen cho 283 cá nhân, 4 tập thể điển hình tiêu biểu xuất sắc.

Các cấp hội tích cực tham gia các phong trào, chương trình phối hợp, các cuộc vận động, như “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Cả nước chung tay vì người nghèo”; “Giữ gìn trật tự, an toàn giao thông và xây dựng văn hóa giao thông”, đền ơn đáp nghĩa, động viên giúp đỡ gia đình hội viên gặp khó khăn, hoạn nạn; thăm hỏi, hỗ trợ gia đình chính sách,... với nhiều nội dung, hình thức sáng tạo, đạt hiệu quả thiết thực. Các cấp hội quyên góp, ủng hộ các quỹ phòng, chống thiên tai, bão lụt, quỹ vì người nghèo, chất độc da cam/đi-ô-xin... được hàng trăm tỷ đồng. Đặc biệt, cán bộ, hội viên Hội Cựu chiến binh các cấp đã gương mẫu, nêu cao trách nhiệm, chung sức cùng toàn dân phòng, chống đại dịch COVID-19; vận động các tổ chức hội, doanh nghiệp, hội viên ủng hộ công tác phòng, chống dịch trên 800 tỷ đồng; thành lập 6.000 tổ phòng, chống dịch COVID-19 ở cơ sở, với gần 600.000 cán bộ, hội viên tham gia.

Các hoạt động tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; tuyên truyền, phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; giáo dục, bồi dưỡng, động viên thế hệ trẻ được các cấp hội tiến hành thường xuyên, liên tục đạt hiệu quả cao. Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền thành lập trên 30.000 câu lạc bộ ở cơ sở, tập hợp được gần 1,1 triệu cựu quân nhân tham gia sinh hoạt, nhằm giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tích cực tham gia các hoạt động ở cơ sở.

Công tác xây dựng tổ chức hội được các cấp hội đặc biệt chú trọng. Tuyệt đại đa số cán bộ, hội viên kiên định lý tưởng cách mạng, lập trường tư tưởng, có phẩm chất đạo đức, tác phong tốt, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, gương mẫu trong cuộc sống, có uy tín trong nhân dân. Hệ thống tổ chức hội từ Trung ương đến cơ sở được kiện toàn; không có tổ chức vi phạm kỷ luật phải xử lý; nội dung, phương thức hoạt động được đổi mới, thể hiện rõ vai trò, tính chất của tổ chức chính trị - xã hội đặc thù; có sự phân công trách nhiệm cụ thể, tạo sự đồng thuận và thống nhất cao trong hành động.

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng(4), hệ thống tổ chức hội từ cơ quan Trung ương đến cơ sở được kiện toàn kịp thời theo đề án sắp xếp tổ chức, biên chế ở mỗi cấp(5). Hội đã triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả bước đầu nghị quyết chuyên đề về xây dựng tổ chức cơ sở hội vững mạnh; nghị quyết về công tác quy hoạch cán bộ hội nhiệm kỳ khóa VII;... Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ hội ở các cấp, thực hiện tốt công tác quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, nghỉ công tác đối với cán bộ chủ trì và chuyên viên ở cơ quan các cấp theo nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội và chủ trương của cấp ủy cùng cấp. Quá trình tuyển dụng, bổ nhiệm, bầu các chức danh lãnh đạo ở các cấp hội bảo đảm chặt chẽ. Cán bộ hội ở mỗi cấp bảo đảm số lượng theo biên chế, cơ cấu hợp lý; có phẩm chất đạo đức, trách nhiệm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển của hội trong tình hình mới.  Hằng năm, số tổ chức hội cấp trên cơ sở, cấp cơ sở đạt tiêu chuẩn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 96%, cán bộ hội, hội viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 80%, trong đó tập thể, cá nhân xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên 20%. 

Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo Kết luận số 62-KL/TW, ngày 8-12-2009, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, đạt kết quả tích cực. Nội dung, phương thức hoạt động được đổi mới, thể hiện rõ hơn vai trò, tính chất của một tổ chức chính trị - xã hội; có sự phân công trách nhiệm cụ thể, tạo sự đồng thuận và thống nhất cao trong hành động. Thường xuyên gắn công tác xây dựng Hội với việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, các phong trào của địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị.

Các cấp hội luôn gắn công tác xây dựng Hội với thực hiện các nhiệm vụ, các phong trào của Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị; hướng mạnh về cơ sở, lấy cơ sở, các chi hội, phân hội làm địa bàn hoạt động, nhất là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Các cấp hội có nhiều đổi mới trong việc ra nghị quyết, coi trọng hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến.

Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của lãnh đạo, cơ quan Hội từ Trung ương tới cơ sở có nhiều chuyển biến tiến bộ. Thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; nói đi đôi với làm. Có nhiều đổi mới trong việc ra nghị quyết, coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong các hoạt động của Hội theo hướng giảm bớt thủ tục, giấy tờ, hội họp.

Công tác kiểm tra, giám sát đã được các cấp hội thực hiện nghiêm túc, hoạt động có nền nếp và hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của Hội, xây dựng tổ chức hội trong sạch, vững mạnh. Việc tổ chức kiểm tra, giám sát của Ban Chấp hành Hội các cấp đối với tổ chức hội cấp dưới và hội viên ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn. Kết quả trung bình hằng năm vượt từ 6 - 8% chỉ tiêu kế hoạch đề ra(6).

Duy trì nền nếp, chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng. Công tác thi đua - khen thưởng từng bước được đổi mới từ nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức phong trào thi đua đến xây dựng mô hình điểm, phát hiện, bồi dưỡng điển hình và nhân rộng điển hình.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam duy trì hoạt động đối ngoại nhân dân một cách nền nếp, như tăng cường quan hệ với Liên đoàn Cựu chiến binh thế giới (WVF), Liên đoàn Cựu chiến binh các nước ASEAN (VECONAC); đảm nhiệm thành công cương vị Chủ tịch VECONAC các năm 2020 và 2021, góp phần nâng cao vị thế của đất nước và của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Các cựu chiến binh ngày gặp lại _Ảnh: TTXVN

Tiếp tục xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới

Trong thời gian tới, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, tác động mạnh, nhiều chiều đến Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các hoạt động của các cấp hội. Kế thừa thành tựu 33 năm xây dựng và trưởng thành, cùng những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống “Trung thành - Đoàn kết - Gương mẫu - Đổi mới”, góp phần tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Hội vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Giai đoạn mới, mục tiêu tổng quát là: Tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống của hội viên; tăng cường vai trò của hội viên trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tập trung động viên hội viên, cựu chiến binh thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Một là, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tham gia giám sát, phản biện xã hội theo quy định của Đảng, Nhà nước.

Các cấp hội tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các hoạt động xã hội, kịp thời phát hiện những vấn đề mới phát sinh để tham gia ý kiến với cấp ủy, chính quyền, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, hội viên; góp phần củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội. Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền(7). Phối hợp với lực lượng chức năng tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức quốc phòng, an ninh trong cựu chiến binh và nhân dân; tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; góp phần giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở,...

Hai là, phát huy tinh thần yêu nước, nêu cao ý chí tự lực, tự cường; khơi dậy, phát huy tiềm năng, khai thác mọi nguồn lực, giúp nhau làm kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; phấn đấu giảm nghèo bền vững, làm giàu hợp pháp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, cựu chiến binh; tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; tích cực hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước của địa phương.

Các cấp hội tích cực quán triệt, thực hiện các nghị quyết của Đảng, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ(8); khai thác tối đa mọi nguồn lực và chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với cựu chiến binh, gắn với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đầu tư, phát triển các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững gắn với bảo vệ chủ quyền, an ninh, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; tham gia có hiệu quả các chương trình kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng; coi trọng hợp tác kinh tế quốc tế, thông qua hoạt động đối ngoại nhân dân phát triển thị trường, đối tác với cựu chiến binh các nước;... Các cấp hội thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa Hội Cựu chiến binh Việt Nam với Hiệp hội Doanh nhân cựu chiến binh Việt Nam; đẩy mạnh phong trào “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi”, tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu”.

Tiếp tục thực hiện tốt quy chế phối hợp công tác giữa Trung ương Hội với Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương; giữa Hội Cựu chiến binh với các cấp, ngành, đoàn thể của địa phương. Đổi mới hơn nữa hình thức, phương pháp phối hợp hoạt động theo phương châm “càng xuống cơ sở càng được cụ thể hóa, phù hợp với tình hình từng địa phương”. Phối hợp trong phát huy dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tích cực phối hợp cải cách hành chính; đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với dịch vụ hành chính công; triển khai các cuộc vận động, các phong trào do Trung ương, địa phương và các tổ chức, đoàn thể phát động nhằm xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. Phối hợp với các thành viên của Mặt trận Tổ quốc triển khai đồng bộ nội dung các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; các phong trào: “Dân vận khéo”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Cựu chiến binh tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông”, cựu chiến binh với công tác bảo vệ môi trường...; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, tổ dân phố, khu dân cư. Coi trọng công tác tham mưu và chỉ đạo có hiệu quả các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 trong trạng thái bình thường mới.

Ba là, tích cực tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước về các vấn đề liên quan đến cựu chiến binh, tiếp tục chú trọng nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật cho cựu chiến binh; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên và cựu chiến binh. Động viên cựu quân nhân tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, ban liên lạc cựu quân nhân; tích cực tham gia phong trào, các cuộc vận động ở cơ sở.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam tích cực tham gia xây dựng các dự án luật, văn bản quy phạm pháp luật; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật liên quan đến cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, hội viên; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa với các đối tượng chính sách và hoạt động nghĩa tình. Phối hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội vận động, giúp đỡ, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng nhiều hình thức thích hợp, đa dạng và hiệu quả; tích cực thực hiện Quyết định số 1515/QĐ-TTg, ngày 14-9-2021, của Thủ tướng Chính phủ về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ và xác định danh tính liệt sỹ đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Động viên cựu quân nhân phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và vai trò tích cực trong thực hiện các cuộc vận động, các phong trào của cơ sở. Phấn đấu tập hợp trên 65% số cựu quân nhân có mặt tại địa phương tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, ban liên lạc cựu quân nhân ở cơ sở.

Bốn là, tích cực, chủ động tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, qua đó góp phần hiện thực hóa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, cùng phát triển của Đảng, Nhà nước ta; phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan quân sự địa phương đẩy mạnh giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam rất coi trọng việc duy trì, phát triển quan hệ đối ngoại nhân dân song phương, đa phương; tích cực vận động các đối tác, các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ giải quyết, khắc phục hậu quả chiến tranh, chất độc da cam/đi-ô-xin, trực tiếp là với Làng Hữu nghị Việt Nam. Tiếp tục quán triệt, phối hợp triển khai các nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tích cực tham gia phát hiện, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên ưu tú để giới thiệu xem xét, kết nạp vào Đảng; động viên thanh niên làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc; quan tâm vận động các doanh nhân, cựu chiến binh làm kinh tế giỏi chia sẻ kinh nghiệm, tạo cơ hội cho đoàn viên, thanh niên lập thân, khởi nghiệp.

Năm là, về công tác xây dựng Hội:

Hội Cựu chiến binh Việt Nam các cấp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên; đặc biệt coi trọng việc rèn luyện tư tưởng chính trị, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng trước những vấn đề xã hội nổi cộm, bức xúc; kiên quyết đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các cấp hội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng(9); phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương Hội, các lực lượng, các cộng tác viên trong nắm bắt dư luận xã hội, nhất là ở các khu vực điểm “nóng”, trước các sự kiện nhạy cảm, để kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, hội viên và nhân dân trên địa bàn. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu” gắn với các cuộc vận động, chương trình quốc gia. Tổ chức tốt Đại hội thi đua yêu nước lần thứ VII, hướng đến tổng kết phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu” trong toàn Hội vào năm 2024.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam tăng cường xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế, bố trí đúng quy định của cấp có thẩm quyền; tập trung xây dựng tổ chức hội các cấp vững mạnh toàn diện. Quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 09/NQ-CCB, ngày 11-1-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, “Về công tác quy hoạch cán bộ Hội Cựu chiến binh Việt Nam khóa VII (nhiệm kỳ 2022 - 2027)”. Tạo chuyển biến thực sự trong xây dựng tổ chức cơ sở hội theo Nghị quyết số 05/NQ-CCB, ngày 9-1-2020, của Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, về “Xây dựng tổ chức cơ sở Hội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới”. Thực hiện thống nhất tiêu chí đánh giá, xếp loại hằng năm đối với cán bộ, hội viên, tổ chức hội; chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các cấp hội. Kiến nghị với Nhà nước, chính quyền các cấp có cơ chế hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động của câu lạc bộ, ban liên lạc cựu quân nhân. Quán triệt, triển khai thực hiện kịp thời chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban hành đối với cán bộ, hội viên; đẩy mạnh các hoạt động tình nghĩa, tri ân đối với các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng và hoạt động tình nghĩa trong nội bộ Hội. Quan tâm sâu sát, cụ thể đối với tổ chức hội cơ sở ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo hội các cấp về công tác kiểm tra, giám sát. Phấn đấu hằng năm tổ chức hội cấp trên kiểm tra 25% số tổ chức hội cấp dưới, 25% số chi hội; giám sát 100% số tổ chức hội và hội viên theo phân cấp; kiểm tra 100% số tổ chức hội, hội viên có dấu hiệu vi phạm. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ mà cấp ủy, chính quyền địa phương giao. Xử lý nghiêm túc, kịp thời những cán bộ, hội viên vi phạm kỷ luật và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, không để tồn đọng, kéo dài.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo ở tất cả các cấp hội bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tạo điều kiện để các cấp hội phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của Trung ương Hội. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cấp hội từ Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, bám sát cơ sở, nói đi đôi với làm.#Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành nghị quyết, văn bản của các cấp hội, bảo đảm tính thiết thực, khả thi; phân công rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa công tác hội; cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở hội theo hướng thiết thực, hiệu quả. Chú trọng cải tiến tác phong, lề lối phong cách làm việc; phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; đồng thời, tăng cường quan hệ chặt chẽ với các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội.

Với truyền thống “Trung thành - Đoàn kết - Gương mẫu - Đổi mới” và bản lĩnh, bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, Hội Cựu chiến binh Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức,  phấn đấu hoàn thành thắng lợi mọi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra; cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

-----------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 169 – 170
(2) Tại đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, toàn Hội có 324.602 hội viên là đảng viên được bầu đi dự đại hội các cấp; 129.771 đảng viên là hội viên được bầu vào cấp ủy (có 66.844 đồng chí được bầu giữ chức bí thư, phó bí thư). Có 63.682 cán bộ, hội viên Hội Cựu chiến binh được giới thiệu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.
(3) Vay vốn tín dụng ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội, đến 30-11-2021, tổng dư nợ ủy thác qua Hội là hơn 41.346 tỷ đồng, tăng 11.003 tỷ so với tháng 12 năm 2017; với hơn 01 triệu hộ vay, thuộc 29.997 tổ tiết kiệm và vay vốn (mức vay bình quân trên 38 triệu đồng/hộ). Tỷ lệ các tổ tiết kiệm và vay vốn  đạt khá, tốt là 94,43%. Vốn vay tạo việc làm và vay từ các tổ chức tín dụng khác là hơn 1.017 tỷ đồng (dư nợ 7.555 tỷ đồng). Bằng hình thức huy động của chi hội, của Hội cấp xã, phường, hình thành Quỹ giúp nhau giảm nghèo, cho vay không tính lãi hoặc lãi suất thấp để phát triển sản xuất là hơn 748 tỷ đồng (dư nợ 2.105 tỷ đồng), bình quân gần 200 triệu/1 cơ sở hội (tăng gấp 4 lần so với năm 2017), tạo việc làm ổn định cho 643.396 cựu chiến binh và nhân dân địa phương. Cơ sở Hội còn có Quỹ nội bộ để cho các hoạt động khác trên 2.100 tỷ đồng.
(4) Như: Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị, về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Quy định số 212-QĐ/TW, ngày 30-12-2019, của Ban Bí thư, về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, huyện,...
(5) Có 110 tổ chức trực thuộc Trung ương Hội (63 tỉnh, thành; 47 tổ chức hội khối). Tổ chức hội cấp trên trực tiếp cơ sở: 799, giảm 42 so với đầu nhiệm kỳ; tổ chức cơ sở hội: 14.572, giảm 1.890 cơ sở; chi hội: 91.067, giảm 15.023 chi hội. Hội viên: 3.014.710, tăng 79.396 người so với đầu nhiệm kỳ; số hội viên mới được kết nạp đúng đối tượng, bảo đảm chất lượng.
(6) Thường trực, Ban Chấp hành tổ chức Hội các cấp đã tiến hành kiểm tra 155.798 lượt tổ chức Hội cấp dưới và chi, phân hội (tăng 8% so với nửa nhiệm kỳ khóa V), 685.500 hội viên; giám sát: 320.504 lượt tổ chức hội và chi, phân hội; 2.656.238 hội viên. Ban Kiểm tra Hội các cấp đã tiến hành kiểm tra 26.729 tổ chức hội và 60.802 hội viên (tăng 9% so với nhiệm kỳ khóa V); giám sát 87.452 tổ chức hội cấp dưới và 994.742 hội viên.
(7) Theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”
(8) Nhất là Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030
(9) Như: Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”,...

Ở NGA CŨNG CÓ BỌN "NGA TÂN" QUÝ VỊ Ạ!

         Tưởng rằng chỉ có ở Việt Nam mới có bọn Việt tân chống phá đất nước nhưng hóa ra ở nước Nga cũng có bỏn "Nga tân" - những kẻ ăn tàn phá hoại nước Nga.
     Mới đây, trong một cuộc hội thảo đề cập đến những đối tượng người Nga chuyên chống phá lại nước Nga, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga D. Medvedev đã tuyên bố : 
     “Những kẻ phản bội đất nước mình, cầu mong cho sự thất bại và suy vong của quê hương mình, cần phải được xem như những kẻ thù của đất nước. Dù ở nươvs ngoài, nhà nước chưa tiến hành khởi tố hình sự hay hành chính đối với những kẻ này nhưng đã có dấu hiệu phản bội tổ quốc thì không nên cho họ về lại nước Nga cho tới ngày tận cùng của họ.
     Là người nước mình đang sống ở nước Nga mà theo đuôi nước khác chống lại dân tộc mình thì cần cắt họ khỏi các thu nhập mà họ có ở nước ta, dù là trong lĩnh vực nào!”
     Ông cũng nhấn mạnh: “Các đối tượng này nếu có cho hồi hương, thì chỉ với điều kiện họ có lời cáo lỗi rõ ràng. Một số trường hợp, chỉ có thể sau khi được ân xá, hoặc xoá án”
     Xem ra các nhận xét này đúng không chỉ với nước Nga mà đúng cả với Việt Nam. Ở Mỹ, nếu các nhân viên, công chức làm việc trong hệ thống chính quyền Mỹ, kể cả khi về hưu đã phản bội lại nước Mỹ thì mọi chế độ lương và hưu trí đều bị chính quyền cắt khỏi hệ thống tiền lương. 
     Ở Việt Nam, có 1 đám tri thức về hưu ngồi chễm trễ hưởng lương Nhà nước nhưng lại suốt ngày ra rả chống Nhà nước vẫn chưa có quy định nào cúp lương hưu cả. Thiết nghĩ Việt Nam cũng nên học cách trừng trị bọn phản bội tổ quốc như Nga và Mỹ thì bỏn ấy mới ngồi yên./.
Yêu nước ST.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN!

     Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.
     Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
     Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.      
     Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin./.


Yêu nước ST.

LỰC LƯỢNG CỨU HỘ TINH NHUỆ NHẤT CỦA VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG TRƯỚC BÀI TOÁN CHƯA CÓ TIỀN LỆ !!!

         Tính đến hiện tại, đã qua gần 4 ngày, đêm kể từ khi bé trai Thái Lý Hạo Nam gặp nạn. Nhiều người ngồi sau bàn phím chỉ trích rằng tiến độ chậm trễ, rồi sao không dùng cách này cách kia để cứu cháu lên. Trước những luồng ý kiến đó, cơ quan chức năng đã có thông báo rằng: Mỗi phương án đều đi kèm rủi ro nhất định. Vì thế, qua gần 4 ngày đêm cứu nạn, lực lượng chức năng phải thay đổi nhiều phương án để đảm bảo an toàn cao nhất.
     Nếu cứu bé theo phương án thả dây chuyên dụng thì không khả thi do đường kính cọc bê tông rất nhỏ. 
     Phương án dùng máy khoan làm mềm đất ở khu vực xung quanh thì máy khoan giếng sẽ mất rất nhiều thời gian. Với máy khoan chuyên dụng, nguy cơ là dễ làm cho ống cọc bê tông bị gãy hoặc đứt mối nối.
     Phương án được xem là tốt nhất và lần đầu tiên thực hiện là đóng xuống một lồng thép đường kính 1,6m, dài 19m bọc quanh ống cọc bê tông. Khoan guồng xoắn đến độ sâu 27m sẽ tiến hành tròng cáp vào 3 đoạn ống bê tông, dùng thiết bị chuyên dụng kéo ống cọc bê tông lên theo hướng thẳng đứng. Tuy nhiên, phương án này đang gặp khó do kết cấu đất chặt có thể bị gãy ống. 
     Cuối cùng, sử dụng phương pháp khoan xoáy nước áp lực lớn tạo độ tơi đất, kết hợp khoan guồng xoắn đến khi cách đáy trụ bê tông khoảng 3 - 4m lực lượng sẽ phối hợp kéo trụ bê tông lên. Đồng thời, thực hiện cắt trụ bê bông khi được nhấc lên. 
     Xin mời các kĩ sư online vào thẩm định ạ!
Yêu nước ST.

CỘNG ĐỒNG MẠNG PHẢI CÓ CÁI NHÌN KHÁCH QUAN VỀ VIỆC GIẢI CỨU CHÁU BÉ Ở ĐỒNG THÁP!

     Vụ cậu bé không may bị rơi xuống cọc bê tông ở Đồng Tháp đang nhận được rất nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí là chỉ trích, miệt thị của không ít nhà báo, cư dân mạng. Rất nhiều người không phải chuyên gia, cũng chẳng am hiểu về kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật và nguyên tắc cứu nạn, cứu hộ cũng lên tiếng phán như thánh, hỏi sao không làm thế này, không làm thế kia. 
     Có cô giáo bất mãn, đã bị cho thôi việc của một trường dân tộc nội trú ở Tây Nguyên còn bỉ bôi, bảo sao không gọi hỗ trợ quốc tế, nhất là Mỹ cứu, hay lo mất thể diện quốc gia. Có cô người đẹp nào đó còn mượn sự việc để đánh bóng tên tuổi, đến giai đoạn cứu hộ khó khăn, mất gần hết hy vọng rồi mới tuyên bố sẽ đài thọ cho cháu Nam đến khi 18 tuổi, nhưng với điều kiện là cháu còn sống và lành lặn. Vân vân và mây mây. 
     Thế mới thấy, trước một sự việc nhận được sự chú ý của dư luận, có nhiều kẻ cơ hội thật. Còn trong số ấy, liệu mấy ai thương xót cháu bé thực sự? Vì người thương cảm thực sự, họ chỉ thấy sốt ruột, mong ngóng và cầu nguyện phép màu sẽ đến với cháu.
     Đây là vụ tai nạn hy hữu, chưa từng có tiền lệ. Vì độ sâu của cọc là 35m dưới lòng đất, có một đứa bé bị kẹt bên trong, và bất cứ sơ xuất nào làm gãy cọc, lệch trọng tâm cọc cũng có thể khiến cho hậu quả lớn hơn và công tác cứu hộ khó khăn gấp vạn lần. Trong xây dựng, người ta chỉ quan tâm tới công nghệ đóng cọc xuống dưới đất sao cho càng chắc càng tốt, chứ chưa ai nghiên cứu cách nhổ cọc lên, vì nếu ko có sự cố như thế này, chẳng bao giờ chiếc cọc ấy cần phải nhổ lên cả. Đóng xuống cần 1 lực, thì nhổ lên cần 4-5 lực như vậy. Trong khi đó, thiết bị thì không có sẵn, quá trình vận chuyển khó khăn, mất thời gian. Di chuyển thiết bị, nhân lực trong nước đã khó khăn, chờ cầu cứu quốc tế, lại từ Mỹ nữa thì thử hỏi đến bao giờ?
     Tai nạn lao động là điều không ai mong muốn. Và khi xảy ra tai nạn, nhất là đối với trẻ em, ai cũng đều nóng ruột, tìm mọi cách cứu hộ, cứu nạn. Nhưng ta phải chấp nhận rằng, không phải cái gì cứ muốn là được. Vì chinh phục tự nhiên là thách thức với con người và khoa học công nghệ hàng nghìn năm nay. Thế nên, đừng vì một phút bốc đồng, hay vì định kiến cá nhân, mà phủ định sạch trơn công lao của cả hệ thống và hàng trăm con người mất ăn, mất ngủ mấy ngày qua./.

Yêu nước ST.