Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

Thực chất, cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2022”

 


Thực chất, cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” được sử dụng như bình phông phục vụ cho ý đồ chống phá. Hằng năm, tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam lựa chọn một số đối tượng mà họ gọi là “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam để “vinh danh”, thực chất đây là những đối tượng có hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội, đã bị cơ quan chức năng xử lý. Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tung ra giải thưởng từ năm 2002 với mục đích “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”. Tính từ năm 2002 đến nay, giải thưởng này đã trao cho hơn 50 cá nhân và 4 tổ chức, trong đó các cá nhân được “vinh danh” là những đối tượng có hành vi phạm tội, đã bị toà án xét xử, đã hoặc đang chấp hành án tại Việt Nam. Trong số các cá nhân đã được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao thưởng có thể kể đến những đối tượng như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang… Những người này đều đã bị tòa án tuyên các bản án khác nhau về hành vi phạm tội, quy định tại Bộ luật Hình sự.

Những năm qua, cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” đã được các tổ chức, hội nhóm nhân danh dân chủ, nhân quyền lập ra và quảng bá rùm beng. Nhìn vào phía hội nhóm đứng ra trao giải, dễ dàng nhận thấy đó là các tổ chức, hội nhóm thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam như: tổ chức khủng bố Việt Tân, tổ chức Theo dõi nhân quyền, Phóng viên không biên giới, Tự do ngôn luận quốc tế, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam…

Việc trao “giải thưởng nhân quyền” của một số tổ chức nhân danh nhân quyền ở nước ngoài cho các đối tượng có hành vi, hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã gây ra nhiều phẫn nộ, bức xúc trong dư luận. Năm nay, giải thưởng trên lại được các đối tượng rêu rao và trao cho Nguyễn Tường Thụy. Đây là một trong những đối tượng, thường xuyên có những bài viết xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, tuyên truyền chống phá Nhà nước đăng tải trên Facebook cá nhân và trang mạng của Hội Nhà báo độc lập với tư cách phó chủ tịch. 

Không khó để nhận ra mưu đồ của tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, đó là thông qua cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” hòng kêu gọi các tổ chức quốc tế, tổ chức nhân quyền, dân biểu một số nước lên tiếng gây sức ép với Việt Nam, lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; hạ uy tín của Việt Nam, từ đó tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Ngoài ra, hành động trao giải trên còn nhằm ca ngợi, cổ súy cho hành vi sai trái của các đối tượng chống phá ở trong nước, tạo ra sự tin tưởng, an tâm cho chính những người thân trong gia đình bị cáo rằng “cứ chống đối sẽ không bị bỏ rơi”! Bằng việc rêu rao, “vinh danh” giải thưởng cùng sự ủng hộ vật chất, các thế lực thù địch hy vọng sẽ tiếp sức cho các đối tượng đang chấp hành hình phạt trong trại giam, để những đối tượng này tiếp tục ngoan cố chống đối, thể hiện “bản lĩnh”! Một mặt, việc rêu rao giải thưởng, các thế lực xấu cũng tranh thủ sự quan tâm trong xã hội để nêu lên quan điểm cá nhân, tận dụng sự chú ý của dư luận để chống phá, tạo sự mất ổn định, gây khó khăn cho sự phát triển xã hội. Ca ngợi những cái phi lý, cổ suý hành vi phạm tội bởi các đối tượng nghĩ rằng, đó sẽ là yêu sách gây áp lực với chính quyền.

Rõ ràng, việc cổ suý, trao giải cho những đối tượng có hành vi phạm tội chính là một chiêu bài xuyên tạc, bẻ cong sự thật của những tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ cố gắng tô vẽ cho các đối tượng này qua các danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”... Việc trao các loại “giải thưởng nhân quyền” cho Nguyễn Tường Thụy và một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội được nêu trên chính là một thủ đoạn, một yếu tố cấu thành của kịch bản trong chiến lược “diễn biến hoà bình”.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các giá trị nhân quyền theo đúng quy định pháp luật. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định rõ các quan điểm: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo”; “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”… Điều kiện tiên quyết để người dân được hưởng các giá trị dân chủ, nhân quyền là đất nước hòa bình, ổn định. Vì vậy, chúng ta phải hết sức tỉnh táo để kịp thời nhận diện, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các thành phần cơ hội chính trị. Những giá trị nhân danh dân chủ với động cơ hẹp hòi, ích kỷ để chống phá lợi ích quốc gia, cộng đồng chính là trò nguỵ biện, xảo trá. Đó là những cái cớ được kẻ xấu tung ra hòng đánh lừa dư luận, tìm cách phá rối an ninh, kích động bạo loạn, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc…

QUÂN ĐỘI KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

 


Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; được Đảng, bác Hồ sáng lập và rèn luyện, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng. Với chức năng của đội quân công tác, Quân đội cần thực hiện tốt các giải pháp:

Một là, cần nhận thức đầy đủ về XHDS và có cách “ứng xử” phù hợp với vấn đề “XHDS”. Phải thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với các quan điểm khuyến khích, cổ vũ XHDS với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Hiện nay, nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến XHDS chưa được nghiên cứu thấu đáo, hiệu lực và công cụ quản lý của Nhà nước, ý thức pháp luật của người dân còn có những hạn chế. Do đó, nếu chúng ta buông lỏng, thả nổi cho sự hình thành, phát triển “XHDS” sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy phức tạp, khó kiểm soát, nhất là dưới góc độ quản lý nhà nước, cũng như bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ an ninh quốc gia.

Hai là, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của XHDS mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Cần tổ chức nghiên cứu bài bản, có hệ thống về XHDS, các yếu tố của XHDS, nhất là làm rõ khái niệm, bản chất của XHDS; XHDS và các yếu tố cấu thành, biểu hiện cụ thể của XHDS; các hình thức của XHDS gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể, nhất là chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; cấu trúc của XHDS và quan hệ của XHDS với nhà nước, thị trường, tôn giáo, mạng xã hội, gia đình; vai trò, ưu thế và giới hạn, mặt tiêu cực của XHDS; yếu tố ngoại sinh và nội sinh của XHDS; các hình thức lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Từ những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho Đảng, Nhà nước chủ động có chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm quản lý các tổ chức xã hội, các NGO, vừa phát huy mặt tích cực, vừa định hướng hoạt động lành mạnh phù hợp với thể chế chính trị, đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước, triệt tiêu các yếu tố có thể bị lợi dụng để hình thành lực lượng chính trị đối lập, gây bất ổn chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân không bị các thế lực thù địch kích động, lôi kéo thông qua danh nghĩa tổ chức XHDS.

Ba là, trong điều kiện có sự tồn tại khách quan của một số loại tổ chức có tính chất “XHDS”, cần tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức này, hạn chế những tác động tiêu cực của nó và có các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất của chế độ. Sự quản lý và định hướng có hiệu quả, bằng pháp luật của Nhà nước sẽ tạo ra một môi trường dân chủ, lành mạnh cho sự phát triển hài hòa của toàn xã hội. Mặt khác, cần củng cố, đổi mới, phát huy tính tích cực và chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt chức năng đoàn kết, tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân trước tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa.

Đồng thời, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(1), định hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, hiệp hội, đoàn thể ở Việt Nam phải gắn liền với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; gắn với đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện nền dân chủ XHCN.

Bốn là, làm tốt công tác phối kết hợp với các lực lượng nòng cốt các cấp( nhất là công an) căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, vận dụng các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, vấn đề cấp bách hiện nay là tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức hội và NGO Việt Nam, không để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tác động, chuyển hóa thành tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây.

Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng khác đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, ngăn chặn hoạt động truyền bá tư tưởng, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của XHDS theo mô hình, tiêu chí của phương Tây, cổ vũ thành lập các tổ chức chính trị đối lập, các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc của tổ chức “XHDS”.

Năm là, Tích cực tuyên truyền, vận động các nhân sĩ, trí thức, học giả đang sinh hoạt tại các hội, liên hiệp hội, tổng hội nâng cao cảnh giác trước luận điệu của các thế lực thù địch về cái gọi là “hình mẫu lý tưởng” của “XHDS” phương Tây, cũng như tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng - lý luận. Đồng thời, vạch rõ những điểm không phù hợp (cả về lý luận và thực tiễn) của “XHDS” theo hình mẫu phương Tây đối với xã hội Việt Nam; vạch rõ mưu đồ chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thông qua việc lợi dụng vấn đề “XHDS” để tác động, chuyển hóa chế độ chính trị tại Việt Nam. Bên cạnh đó, sử dụng các biện pháp, phương tiện ngăn chặn, vô hiệu hóa các con đường, cách thức truyền bá vấn đề “XHDS” theo hình mẫu phương Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, hợp tác, trao đổi về văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo... Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết, hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong nước thành lập các tổ chức phản động dưới danh nghĩa, vỏ bọc XHDS./.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ"

 


Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vậy bản chất và đặc điểm của nó là gì?

Thứ nhất, dù những người cổ vũ cho XHDS tự cho rằng XHDS có tính “độc lập” với Nhà nước và không mang bản chất giai cấp, nhưng thực tế cho thấy, XHDS (bao gồm các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, quỹ, diễn đàn...) đều mang tính chính trị, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống Đảng và Nhà nước. “Xã hội dân sự” chính là môi trường mà trong chính bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... Do đó, các lực lượng, phe phái, đảng phái chính trị luôn tìm cách chi phối, vận động, lôi kéo lực lượng XHDS hoặc chính các thành tố của XHDS (hội, hiệp hội, đoàn thể, quỹ, diễn đàn...) để đạt được mục tiêu, lợi ích của mình đều bị chi phối bởi các thế lực chính trị hoặc bị chính trị hóa ở các mức độ, hình thức khác nhau. Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng, thúc đẩy hình thành XHDS đối lập với Đảng, hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước, tạo tiền đề cho can thiệp, lật đổ dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân chủ”, đưa các lực lượng chống đối lên nắm chính quyền.

Thứ hai, vốn mang tính đa dạng về lợi ích, thành phần, do đó XHDS cũng mang tính đa dạng, đa nguyên về tư tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống XHDS. Đối với Việt Nam, sự hình thành của XHDS còn chứa đựng nguy cơ xuất hiện, hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản, tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị.

Thứ ba, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, ý thức công dân, ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, quản lý của chính quyền còn nhiều lỗ hổng; lại có những đặc điểm phức tạp, đa dạng về tôn giáo, dân tộc, di tồn lịch sử của chế độ thực dân... Do đó, sự hình thành và phát triển các yếu tố của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng dẫn đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước.

Thứ tư, XHDS bao hàm nhiều tổ chức xã hội có tính đa dạng về thành phần, mục đích hoạt động, lợi ích, thiếu tính tổ chức chặt chẽ, do đó nó dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối, lợi dụng để thực hiện các mục đích riêng và tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, ổn định xã hội. Tính chất đa dạng, phức tạp của XHDS cho thấy đây là khu vực không thuần nhất, tính đồng thuận không cao và thiếu tính nhất quán. Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chỉ chạy theo lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích chung, toàn xã hội, tạo ra các “lệ” riêng, có thể gây cản trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí có trường hợp bị biến tướng phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức có điều kiện chi phối. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò các tổ chức của XHDS, xem nhẹ quản lý của Nhà nước, chỉ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tiền đề cho rối loạn, bất ổn. Do tính chất đa dạng và phức tạp này mà XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các đối tượng, tổ chức thù địch cả trong và ngoài nước mua chuộc, chi phối, lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối

Thứ năm, một số tổ chức xã hội có vai trò, ảnh hưởng xã hội nhất định, số lượng thành viên đông đảo luôn trở thành mục tiêu tác động, chi phối, lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm biến các tổ chức này thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Một bộ phận các tổ chức xã hội, đặc biệt là các hội, liên hiệp hội, tổng hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang, với số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng nhất định đối với quần chúng. Các tổ chức này trở thành mục tiêu lợi dụng của các thế lực thù địch để tìm cách tác động đến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua các hoạt động “vận động hành lang”, hội thảo, kiến nghị, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, như chế độ sở hữu đất đai, an ninh mạng, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc... Do đó, nếu không có những quy định pháp lý đủ mạnh, thiếu hiệu lực quản lý của các cơ quan chức năng để các hoạt động “vượt rào” thì các tổ chức này rất dễ bị lợi dụng, biến thái và biến tướng thành các lực lượng hỗ trợ tích cực cho thúc đẩy “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thậm chí chuyển hóa thành tổ chức đối lập về chính trị. 

BẢN CHẤT CỦA "XÃ HỘI DÂN SỰ"

 


Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Khái niệm “xã hội dân sự” gây nên nhiều tranh cãi tại Việt Nam, có người đặt nó đối nghĩa với “xã hội chính trị”, có người lại xem nó đối lập với “xã hội quân sự”. Nhiều người không thừa nhận khái niệm này vì nội hàm và ngoại diên không tường minh, bởi khó có thể định nghĩa một “xã hội” (dân sự) trong “xã hội” (tổng thể) mà nhân loại lâu nay đã phân định thành các phân hệ - lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Có người xem các hiệp hội, tổ chức xã hội chính, quỹ, diễn đàn... là những biểu hiện cụ thể của “XHDS”, nhưng người khác lại cho rằng đó chính là các thiết chế xã hội gắn với các thể chế tương ứng, đâu phải là một “xã hội”. Một định nghĩa về XHDS được chia sẻ rộng rãi: “XHDS là không gian xã hội công cộng nằm ngoài nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...”.

Điều đó cho thấy, không có định nghĩa thống nhất về “XHDS” mà nó thường bị giải thích một cách chủ quan bởi ý chí của người muốn sử dụng khái niệm này. Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng tính không rõ ràng, thiếu tính lịch sử - cụ thể của khái niệm này để giải thích nội hàm “XHDS” theo tiêu chí của các nước phương Tây. Trong các nền dân chủ đa đảng, ranh giới giữa một tổ chức của XHDS và đảng chính trị rất mong manh. Một tổ chức xã hội khi đủ điều kiện và đăng ký tham gia tranh cử vào nghị viện, nếu giành được một tỷ lệ phiếu nhất định trong các cuộc bầu cử (theo quy định của các nước rất khác nhau), thì được xếp vào đảng chính trị và nhận được hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước để hoạt động. Thậm chí nếu giành được số phiếu cao có thể trở thành đảng chính trị có vị thế trong đời sống chính trị đất nước. Còn các tổ chức xã hội không hội đủ số phiếu cần thiết, cùng với các hiệp hội, quỹ, diễn đàn, viện nghiên cứu độc lập... được xem là thành tố cấu thành của “XHDS”. Ngay bản thân tài chính của các tổ chức xã hội, viện nghiên cứu độc lập, quỹ, diễn đàn này, một mặt, dựa vào khả năng tự huy động; mặt khác, nhận đấu thầu các gói dịch vụ có nguồn gốc tài chính ngân sách để thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Những tổ chức của “XHDS” có vị thế lớn đều có lực lượng chính trị này hay lực lượng chính trị khác đứng sau chi phối, gây ảnh hưởng, thông qua cung cấp tài chính và định hướng mục tiêu hoạt động.

Trong các nước chuyển đổi chế độ chính trị ở Đông Âu, không gian hậu Xô-viết, Bắc Phi - Trung Đông, cũng như ở nhiều nơi khác, đã từng diễn ra các trường hợp một tổ chức của “XHDS” bằng các chiêu trò dân túy và sự hà hơi, tiếp sức từ bên ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn chuyển hóa thành đảng chính trị thực hiện “cách mạng nhung”, “cách mạng màu” rồi trở thành đảng cầm quyền. Các NGO nước ngoài nhân danh “XHDS” hoạt động trên lãnh thổ nước khác hoạt động rất ráo riết để cổ vũ cho thúc đẩy các hoạt động “cách mạng đường phố”, mà đứng sau đều chịu sự chi phối bởi các chính phủ đã cung cấp tài chính. Vì vậy, Tổng thống Nga V. Pu-tin rất mạnh tay với các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Nga; nhiều nước khác cũng rất cảnh giác, thận trọng, tìm cách quản lý, kiểm soát các tổ chức này nếu không muốn gây nên nguy cơ bất ổn xã hội.

Do các tổ chức xã hội có vai trò tích cực nhất định, nên các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã ra sức lợi dụng, tuyệt đối hóa đặc điểm này để tranh thủ quần chúng, tập hợp lực lượng một cách công khai nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Họ lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, các vấn đề tiêu cực trong xã hội, vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khi thời cơ chín muồi sẽ hình thành tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

CHIA RẼ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN - CHIÊU TRÒ NGUY HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Các thế lực thù địch đang ra sức chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực; trong đó, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một trong những chiêu trò nguy hiểm nhất. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chúng, nhằm bảo vệ uy tín của Đảng, cũng như mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân là việc làm cấp thiết.

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam 90 năm qua, đã chứng minh mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân Việt Nam là mối quan hệ gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất. Tính thống nhất đó, được thể hiện tập trung ở chỗ: Sự ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ nhân dân, ở trong nhân dân. Đảng là của dân, vì dân, dân một lòng, một dạ theo Đảng. Đảng luôn quan tâm chăm lo cho lợi ích của nhân dân và nhân dân cũng luôn sẵn sàng chiến đấu, xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định sức mạnh dời non, lấp biển của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân; đồng thời, thể hiện sức mạnh của sự thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng không có gì quý hơn độc lập, tự do của nhân dân. Sự thống nhất đó, là nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng làm nên những thắng lợi vĩ đại, huy hoàng của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước đây và công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Nhận thức rõ sức mạnh vô địch của Đảng Cộng sản Việt Nam là ở mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, các thế lực thù địch luôn tìm mọi chiêu trò phá hoại, công kích nhằm chia rẽ Đảng với dân; lôi kéo, kích động, tách nhân dân ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho dân xa Đảng, thậm chí đối lập với Đảng. Gần đây, người ta lại thấy những chiến dịch rầm rộ được các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài hợp sức tấn công vào công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Những luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đưa ra những lập luận, như: “một đảng cầm quyền thì không có dân chủ”, với những yêu sách đòi “Đảng ta phải từ bỏ quyền lãnh đạo” và coi đó là vấn đề “căn cốt”, “then chốt” để hợp lòng dân, v.v. Không khó hiểu khi vấn đề đảm bảo dân chủ được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều, với những chiêu trò ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức xuyên tạc, công kích bằng những luận điệu: Đại hội XIII chẳng có gì mới, vẫn theo phương hướng “chính trị bảo thủ”; vẫn tiếp tục “tôn thờ một chủ thuyết đã bị phá sản” và “không thể trông chờ ” vào ban lãnh đạo mới để đưa đất nước đi theo trào lưu văn minh nhân loại(!). Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống được đưa ra xét xử, chúng cố tình thổi phồng, gán ghép cho Đảng ta đủ các bệnh hoạn: nào là “dốt nát”, “võ biền”, “vi phạm dân chủ”, “chà đạp lên lợi ích của nhân dân”, “thất nhân tâm” làm hại dân, hại nước. Nhiều “cuốn sách”, “tờ báo”, “tờ rơi”, “tâm thư”,“thư ngỏ”, “tuyên cáo” xuyên tạc mục đích hoạt động của Đảng không phải vì lợi ích của nhân dân, mà là lợi ích của nhóm cán bộ, đảng viên có chức có quyền và người thân của họ. Và, Đảng Cộng sản Việt Nam hết “vai trò lãnh đạo”; “quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa”. Rồi, chúng kêu gọi như lời “hịch”: trách nhiệm của những người yêu nước phải “nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, đánh đổ ban lãnh đạo của Đảng, giải tán Đảng, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước”; “bỏ lỡ thời cơ này là có tội với dân tộc”, v.v.

Từ những lời lẽ, giọng điệu trên chúng ta thấy rõ, mục tiêu số một của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; làm cho nhân dân hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng, xa Đảng, đối lập, chống lại Đảng, thủ tiêu nguồn sức mạnh vô địch và sức sống của Đảng, để đi đến thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Chúng ta không cần phải trình bày nhiều về các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa đã thiết lập nên vị thế lãnh đạo, vai trò dẫn dắt dân tộc, vị thế cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như tính chất mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong quá trình cách mạng nước ta. Đảng đã vì dân mà ra đời, lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân thoát khỏi đêm trường nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Và, nhân dân Việt Nam đã theo Đảng, đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng làm nên những kỳ tích vĩ đại của thế kỷ XX, ngày nay đang vững bước trên con đường đổi mới. Đó là bản chất và nội dung cốt lõi của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân đã, đang và vẫn thể hiện sinh động trong thực tiễn và là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, không có thế lực nào, dù nham hiểm đến đâu cũng không thể xuyên tạc, chia rẽ được. Bởi, vai trò của Đảng đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là khách quan. Tính khách quan đó, không chỉ do chính lịch sử dân tộc và khát vọng của nhân dân Việt Nam quy định, mà còn do chính bản chất cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của Đảng. Vai trò và mối quan hệ đó đã được khẳng định trong thực tiễn lịch sử Việt Nam suốt 90 năm qua, không ai có thể bác bỏ.

Do đó, không thể vì sự hạn chế, khuyết điểm nào đó mà nói bừa rằng, Đảng ta đã “hết vai trò”, “không còn khả năng để lãnh đạo đất nước”, “không còn là đảng của nhân dân, vì nhân dân”, v.v. Và, cũng không thể phán xét một cách hồ đồ rằng, quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa, rồi kích động, hô hào nhân dân chống đối lại Đảng và chế độ.

Không chỉ trong lịch sử, mà thực tiễn ngày nay cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng thực sự trong cuộc sống hằng ngày, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Mọi người dân đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, phát huy hiệu quả. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát không chỉ trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội, mà còn là phương châm hành động trong xây dựng hệ thống chính trị và là yêu cầu ứng xử của cán bộ, đảng viên trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lợi và nghĩa vụ; quyền hạn và trách nhiệm; cống hiến và hưởng thụ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Đảng đã thực sự gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đúng với Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã hiến định. Đó là thực tế, hiện thực sinh động không thể phủ nhận, đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc chống phá, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Những thành tựu có được ngày hôm nay là sự cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận một số yếu kém, khuyết điểm trong quá trình xây dựng đất nước, nhất là công tác lãnh đạo, quản lý, vai trò nêu gương của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Theo đó, trong tình hình mới, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII). Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách hợp lòng dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Thực hiện tốt những yêu cầu này, không chỉ củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mà còn làm thất bại mọi sự xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với dân của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay./.

BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

 

Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử của các cuộc chiến tranh, nhưng đó cũng là lịch sử của hòa bình. Lớp lớp thế hệ cha ông đến thời đại Hồ Chí Minh hôm nay, người Việt Nam đều quyết tâm cố gắng cao nhất nhằm giữ môi trường hòa bình, ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền. Việt Nam hiện thực hóa khát vọng đó bằng kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình, thông qua một hoạt động đặc biệt quan trọng "Ngoại giao quân sự".

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”.

Quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của Đảng ta là sự kế thừa tư tưởng giữ nước mang tính truyền thống của dân tộc trong điều kiện mới, đồng thời thể hiện tư duy, nhận thức mới của Đảng về phương thức, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, về không gian là bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ; về thời gian là bảo vệ từ trước, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa nguy, lấy việc phòng ngừa từ trước, chuẩn bị từ trước làm chủ yếu, theo phương châm không cần tiến hành chiến tranh là thượng sách.

Ngày nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của ta được thực hiện trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở Biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”; nước ta ngày càng hội nhập quốc tế sâu, rộng... Trong bối cảnh đó, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, tư duy mới của Đảng về chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa./

TÌM HIỂU NHỮNG THẾ HỆ VÀNG SON CỦA DÂN TỘC

 


Sinh thời, nhà khoa học nổi tiếng Trần Đại Nghĩa từng từ chối mức lương 20 lượng vàng để theo Hồ Chủ tịch về nước. Trong buổi trưa ngày 30/4/1975 ông đã viết vào cuốn sổ tay nhỏ của mình "Đã hoàn thành nhiệm vụ" đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà khi mới 20 tuổi ông ấp ủ. Ông đã từ bỏ mức lương 20 lạng vàng 1 tháng để về Việt Nam theo cách mạng. Khi báo chí phương tây hỏi vì sao ông theo Hồ Chủ tịch về nước mà không ở lại như một số bạn bè khác, ông đã nói “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”.

Để có được tự do sau gần 100 trăm năm bị đô hộ bởi giặc tây, những người lính Việt Minh đã đi ròng rã 9 năm trời từ Căn cứ địa Tân Trào rồi cắm cờ trên nóc chiến hào Điện Biên Phủ, buộc người Pháp đầu hàng một cách vô điều kiện là chấn động cả Năm châu. Nếu nói về quãng đường đi ngày hôm nay, nó chỉ tầm vài giờ xe chạy nhưng để có được hòa bình, thế hệ người Việt Nam chúng tôi phải đi quãng đường dài 9 năm mới có được, kèm theo đó sự đánh đổi hi sinh xương máu của hàng triệu con em máu đỏ da vàng.

Để có được thống nhất non sông, người Việt Nam đã đi ròng rã 21 năm trời trên con đường trường chinh giải phóng dân tộc, hành trình của người Việt được nâng đỡ trên những chiếc xe thồ vạn dặm, và sự bền bỉ của đôi dép cao su vượt Trường Sơn đi cứu nước.

Ngày nay chúng ta trên những chuyến bay hành trình Hà Nội - TP. HCM chỉ gần 2h bay, nếu bạn đi xe khách hoặc tàu hỏa cũng chỉ hai ngày. Nhưng để có được hai ngày đó những người lính của chúng ta đã nếm mật nằm gai hi sinh gian khổ và sau 21 năm vào ngày 30/4/1975 mới tới được đích đến dinh Độc Lập.

Để đuổi được người Mỹ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Người Việt đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ trên chiến trường với người Mỹ, Miền Bắc bị san phẳng bởi B52, đông bào Miền Trung bị thảm sát... Để có được hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam và các nước Đông Dương, kết quả của gần 5 năm đàm phán, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Nếu hòa bình độc lập mà dễ dàng như nhiều người từng chém gió trên mạng, thì người Việt không phải đánh nhau ròng rã với người Pháp 9 năm, với người Mỹ 21 năm để thống nhất non sông thu về một mối? Hòa bình luôn là vế sau của một cuộc chiến, mà nơi đó biết bao thế hệ thanh niên ưu tú nhất ra đi mãi không trở về.

Một số thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền chống phá Việt Nam

Trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được các thế lực thù địch coi là một mũi tấn công gây sức ép lớn. Nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

 Nhiều năm qua, vấn đề nhân quyền đã và đang được các thế lực thù địch sử dụng như một thứ vũ khí, một vỏ bọc cho các hoạt động chống phá, chuyển hóa Việt Nam theo phương thức “diễn biến hòa bình”. Ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền còn được các thế lực thù địch, phản động xem như là một mũi tấn công chính, là một trong bốn “đột phá khẩu” nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

 
Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh, trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo tiền, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
 
Có thể nhận diện một số thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam:
 
Thứ nhất, lợi dụng sự khác biệt trong quan điểm, nhận thức về vấn đề quyền con người để công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ XHCN Việt Nam, đả kích vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị Việt Nam. Chúng quy kết học thuyết Mác - Lênin là độc tài, mất dân chủ, vi phạm quyền con người; tuyên truyền công kích vào Hiến pháp, pháp luật và thể chế chính trị, từ đó đòi thay đổi cương lĩnh, đường lối của Đảng, kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
Thứ hai, ra sức xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền ở nước ta, triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp như tham nhũng, khiếu kiện, đình công, phân hóa xã hội, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống đối chính trị… để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Hàng năm chính phủ một số quốc gia, một số tổ chức quốc tế thường đưa ra những cái gọi là “báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới” (trong đó có phần đề cập đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam), “báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam”, “dự luật nhân quyền Việt Nam”...; ra các tuyên bố, thông cáo báo chí xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.
 
Thứ ba, lợi dụng tính phổ biến của vấn đề quyền con người, quan hệ quốc tế trong vấn đề quyền con người để tuyệt đối hóa, tuỳ tiện áp đặt các “chuẩn mực” nhân quyền nhân danh “tinh thần thời đại”, “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; đặt ra các “điều kiện”, “tiêu chuẩn” về nhân quyền trong quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... từ đó gây sức ép, tác động chuyển hóa nội bộ Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo chuẩn mực, giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản phương Tây.
 
Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “thúc đẩy dân chủ”, “bảo vệ quyền con người” để tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước nhằm hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cá nhân, tổ chức nước ngoài thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa các nhân vật trong chính giới, nhân viên cơ quan ngoại giao, các phái đoàn của chính phủ các nước với các đối tượng chống đối ở cả trong và ngoài nước để hậu thuẫn, khuyến khích chúng tăng cường hoạt động chống nhà nước Việt Nam; thông qua chiêu bài nhân quyền để can thiệp, bảo vệ cho số đối tượng chống đối chính trị bị bắt, xử lý, kêu gọi trả tự do cho các đối tượng…
 
Thứ năm, gắn vấn đề nhân quyền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, lợi dụng những thiếu sót, hạn chế trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để kích động hoạt động chống nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài đòi “tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo”, “quyền tự quyết dân tộc”; gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; kích động một bộ phận quần chúng hoạt động chống chính quyền nhân dân như gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn…
 Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu đúng, đầy đủ về nó và luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./.
 

Lại diễn chiêu trò bình chọn, trao và tung hô “giải thưởng nhân quyền” năm 2022 của các thế lực thù địch, phản động

 Cuối tháng 11 vừa qua, trên các diễn đàn mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh tung hô về “giải thưởng nhân quyền năm 2022” được trao cho Nguyễn Tường Thụy). Đây không phải là điều gì mới mẻ mà đã thành điệp khúc, cứ dịp cuối năm cũ, đầu năm mới, các thế lực thù địch, phản động lại diễn chiêu trò bình chọn, trao và tung hô “giải thưởng nhân quyền”

Thực chất, cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” được sử dụng như bình phông phục vụ cho ý đồ chống phá. Hằng năm, tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam lựa chọn một số đối tượng mà họ gọi là “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam để “vinh danh”, thực chất đây là những đối tượng có hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội, đã bị cơ quan chức năng xử lý. Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tung ra giải thưởng từ năm 2002 với mục đích “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”. Tính từ năm 2002 đến nay, giải thưởng này đã trao cho hơn 50 cá nhân và 4 tổ chức, trong đó các cá nhân được “vinh danh” là những đối tượng có hành vi phạm tội, đã bị toà án xét xử, đã hoặc đang chấp hành án tại Việt Nam. Trong số các cá nhân đã được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao thưởng có thể kể đến những đối tượng như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang… Những người này đều đã bị tòa án tuyên các bản án khác nhau về hành vi phạm tội, quy định tại Bộ luật Hình sự.

Những năm qua, cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” đã được các tổ chức, hội nhóm nhân danh dân chủ, nhân quyền lập ra và quảng bá rùm beng. Nhìn vào phía hội nhóm đứng ra trao giải, dễ dàng nhận thấy đó là các tổ chức, hội nhóm thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam như: tổ chức khủng bố Việt Tân, tổ chức Theo dõi nhân quyền, Phóng viên không biên giới, Tự do ngôn luận quốc tế, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam…

Việc trao “giải thưởng nhân quyền” của một số tổ chức nhân danh nhân quyền ở nước ngoài cho các đối tượng có hành vi, hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã gây ra nhiều phẫn nộ, bức xúc trong dư luận. Năm nay, giải thưởng trên lại được các đối tượng rêu rao và trao cho Nguyễn Tường Thụy. Đây là một trong những đối tượng, thường xuyên có những bài viết xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, tuyên truyền chống phá Nhà nước đăng tải trên Facebook cá nhân và trang mạng của Hội Nhà báo độc lập với tư cách phó chủ tịch. 

Không khó để nhận ra mưu đồ của tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, đó là thông qua cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” hòng kêu gọi các tổ chức quốc tế, tổ chức nhân quyền, dân biểu một số nước lên tiếng gây sức ép với Việt Nam, lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; hạ uy tín của Việt Nam, từ đó tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Ngoài ra, hành động trao giải trên còn nhằm ca ngợi, cổ súy cho hành vi sai trái của các đối tượng chống phá ở trong nước, tạo ra sự tin tưởng, an tâm cho chính những người thân trong gia đình bị cáo rằng “cứ chống đối sẽ không bị bỏ rơi”! Bằng việc rêu rao, “vinh danh” giải thưởng cùng sự ủng hộ vật chất, các thế lực thù địch hy vọng sẽ tiếp sức cho các đối tượng đang chấp hành hình phạt trong trại giam, để những đối tượng này tiếp tục ngoan cố chống đối, thể hiện “bản lĩnh”! Một mặt, việc rêu rao giải thưởng, các thế lực xấu cũng tranh thủ sự quan tâm trong xã hội để nêu lên quan điểm cá nhân, tận dụng sự chú ý của dư luận để chống phá, tạo sự mất ổn định, gây khó khăn cho sự phát triển xã hội. Ca ngợi những cái phi lý, cổ suý hành vi phạm tội bởi các đối tượng nghĩ rằng, đó sẽ là yêu sách gây áp lực với chính quyền.

Rõ ràng, việc cổ suý, trao giải cho những đối tượng có hành vi phạm tội chính là một chiêu bài xuyên tạc, bẻ cong sự thật của những tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ cố gắng tô vẽ cho các đối tượng này qua các danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”... Việc trao các loại “giải thưởng nhân quyền” cho Nguyễn Tường Thụy và một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội được nêu trên chính là một thủ đoạn, một yếu tố cấu thành của kịch bản trong chiến lược “diễn biến hoà bình”.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các giá trị nhân quyền theo đúng quy định pháp luật. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định rõ các quan điểm: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo”; “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”… Điều kiện tiên quyết để người dân được hưởng các giá trị dân chủ, nhân quyền là đất nước hòa bình, ổn định. Vì vậy, chúng ta phải hết sức tỉnh táo để kịp thời nhận diện, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các thành phần cơ hội chính trị. Những giá trị nhân danh dân chủ với động cơ hẹp hòi, ích kỷ để chống phá lợi ích quốc gia, cộng đồng chính là trò nguỵ biện, xảo trá. Đó là những cái cớ được kẻ xấu tung ra hòng đánh lừa dư luận, tìm cách phá rối an ninh, kích động bạo loạn, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc…

Phát huy sức mạnh nhân dân trong cuộc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 

Phát huy sức mạnh nhân dân trong cuộc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Việc làm cần thiết hiện nay là phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu của chúng là tìm mọi cách phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm suy yếu rồi dần xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN ở nước ta.

Vì vậy, việc làm cần thiết hiện nay là phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Phương thức tuyên truyền, chống phá ngày càng tinh vi, nham hiểm

Hiện nay, Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển mạng di động nhanh nhất thế giới; với khoảng 75 triệu người dân sử dụng internet cho các mục đích thông tin liên lạc, giao lưu văn hóa, học tập, giải trí và kinh doanh điện tử.

Tuy nhiên, trên môi trường internet, bên cạnh các thông tin bổ ích, tích cực là những thông tin tiêu cực, độc hại không dễ kiểm soát, ngăn ngừa. Thực tế cho thấy, các đài VOA, BBC, RFI, RFA trước kia dùng sóng radio phát vào nước ta nên phần nào bị hạn chế tiếp cận với người nghe, nhưng nay nhờ sử dụng kỹ thuật số nên khả năng chống phá tăng lên gấp nhiều lần. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh livestream phát trực tiếp có thể truyền tải thông tin “xấu, bẩn, độc” đến hàng vạn người nghe, người xem trên khắp thế giới.

Theo thời gian, phương thức tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trước đây, các luận điệu tuyên truyền "cách mạng màu", xuyên tạc, xét lại lịch sử, bôi xấu hạ bệ lãnh tụ, phủ nhận công lao, vai trò của Đảng với đất nước thường khá rõ ràng, lộ liễu, thậm chí thô thiển, khó thuyết phục, không được nhân dân chấp nhận.

Mấy năm trở lại đây, trên các trang thông tin tiếng Việt của VOA, BBC, RFI, RFA cũng như một số trang mạng YouTube, Twitter, Facebook của các tổ chức Việt Tân, Triều đại Việt, Tiếng dân, Phố Bolsa TV, Nửa vòng trái đất TV, Hội anh em dân chủ... thường tổ chức những cuộc bàn tròn, đối luận, bình luận, hội luận, kể chuyện lịch sử mà các đối tượng thường sử dụng những thông tin, sự kiện có thật, nhưng được sửa chữa và thêm thắt nhiều tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi tung ra như một dạng thông tin chính thống.

Những thủ đoạn kiểu này thường được thực hiện theo kịch bản dàn dựng công phu để khi tiếp cận, không chỉ người trẻ thiếu hiểu biết, người dân nhận thức hạn chế mà cả những người có học vấn cao, thậm chí một số ít cán bộ trung, cao cấp nghỉ hưu cũng có thể bị mắc lừa.

rPhát huy sức mạnh nhân dân trong cuộc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

Phát huy sức mạnh của nhân dân trong cuộc chiến “không khói súng”

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết số 35 nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân; bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc... Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân.

Thời gian qua, hàng triệu người dân trong nước khi tiếp cận được các thông tin bẩn đã vô cùng phẫn nộ với các chiêu trò kích động, bịa đặt, bôi xấu, hạ bệ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng và Nhà nước. Bức xúc trước thực trạng đó, nhiều người dân đã dùng ngay chính những phương tiện cá nhân tự có và sử dụng các mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo của mình để đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của những kênh “truyền thông bẩn” chủ yếu từ nước ngoài.

Ban đầu là hành động đơn lẻ của những cá nhân riêng lẻ. Sau một thời gian ngắn, vì cùng tư tưởng “chống giặc trên không gian mạng” nên những người dân dần liên kết với nhau một cách tự nguyện, từ tự phát trở thành tự giác, để phối hợp cùng đấu tranh, phản bác các kênh “truyền thông bẩn” và thông tin xấu độc. Họ thuộc nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, trong đó có cán bộ, công chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, bộ đội nghỉ hưu, sinh viên trên khắp mọi miền đất nước và cả một bộ phận người Việt Nam yêu nước đang sinh sống ở nước ngoài.

Nhiều người dân đã tổ chức các cuộc hội luận, đối luận, tranh luận trực tiếp trên không gian mạng với những đối tượng phản động, chống cộng cực đoan, “cờ vàng” ở nước ngoài và các thành phần “dân chủ cuội”, thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ở trong nước.

Thật đáng mừng là các cuộc “chống giặc trên không gian mạng” của người dân đạt được hiệu quả khá tích cực, qua đó làm cho nhiều chủ kênh “thông tin bẩn” phải giảm bớt tần suất, mật độ xuyên tạc chống phá. Vì là trí tuệ tập thể, trí tuệ nhân dân, nhiều người bằng trình độ lý luận, kinh nghiệm hiểu biết thực tiễn, kiến thức lịch sử phong phú vốn có đã phản bác các luận điệu xuyên tạc một cách kịp thời, thuyết phục. Cũng nhờ các cuộc đấu tranh “chống giặc trên không gian mạng” nên nhiều người dân đã tự bổ sung kiến thức cả về lý luận chính trị, lịch sử, văn hóa xã hội cho bản thân.

Nếu trước đây, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành chiến tranh nhân dân giành độc lập cho dân tộc và thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ; thì ngày nay, trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chúng ta tiếp tục thực hiện chiến tranh nhân dân trên mặt trận tư tưởng.

Cùng các bài viết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước trên những cơ quan báo chí: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam... cũng như nhiều cơ quan báo chí trong cả nước thì hằng ngày, trên không gian mạng cũng diễn ra các cuộc đấu tranh quyết liệt của nhiều người dân đối với những phần tử phản động, thù địch, cơ hội chính trị.

Không ít luận điệu xuyên tạc bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các nhóm phản động ở trong và ngoài nước vừa tung ra online ngay lập tức bị nhiều người dân phản bác bằng lý lẽ thông minh, lập luận sắc bén. Thật khâm phục thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học của một cán bộ cao tuổi nghỉ hưu có thể trích dẫn ngay những câu nói của Bác Hồ về một vấn đề nào đó, Bác nói mấy lần, trong những hoàn cảnh nào, trích dẫn cụ thể, tên sách, tập, trang, dòng, cơ quan và năm xuất bản để phản bác thông tin xuyên tạc lãnh tụ.

Một thanh niên, một cô giáo dạy trung học cơ sở, một thương binh-cựu chiến binh, một cán bộ nghỉ hưu... đều đồng lòng góp sức, góp công, góp phần tham gia “bẻ gãy” các luận điệu xuyên tạc về Đảng, về lãnh tụ và bôi đen, bóp méo thành tựu công cuộc đổi mới ở Việt Nam...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tin ở dân, chăm lo cho dân, lấy dân làm gốc là một bài học lớn được rút ra từ chiều sâu lịch sử đất nước ta. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ và Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của công tác dân vận, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Chính nhờ thế mà mặc dù với số lượng không đông, Đảng ta vẫn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, dù đó là kẻ thù nguy hiểm và hung bạo nhất”.

Đảng ta dựa vào nhân dân, tin tưởng vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là điều căn bản, cốt yếu tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng là hạt nhân. Từ đó khẳng định chúng ta chỉ có thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước các thế lực thù địch, phản động khi chúng ta biết dựa vào và phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân.          

NGUYỄN TUẤN ANH, Nguyên Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

 

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Luôn quan tâm, quyết liệt đề nghị tăng lương cho người lao động

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình
Việc bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới. 

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Cụ thể, ngay trong năm 2022 vừa qua, từ những đề xuất của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, ngày 12-6-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2022. Theo đó, mức lương tối thiểu tháng đã tăng bình quân 6% (tương ứng tăng từ 180.000-260.000 đồng/tháng) so với mức cũ. Về mức lương tối thiểu giờ, nghị định cũng quy định các mức lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: Vùng I là 22.500 đồng/giờ, vùng II là 20.000 đồng/giờ, vùng III là 17.500 đồng/giờ, vùng IV là 15.600 đồng/giờ. Các mức lương tối thiểu trên là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp thỏa thuận và trả lương đối với người lao động.

Để bám sát tình hình, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam yêu cầu các cấp công đoàn chỉ đạo công đoàn cơ sở chủ động tham gia với người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định mới về mức lương tối thiểu.

Đồng thời liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành, công đoàn tại các tổng công ty trực thuộc tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội... của các doanh nghiệp, nhất là việc thực hiện nghị định của Chính phủ.

Đồng thời, các cấp công đoàn cũng nắm bắt thông tin, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội.

Theo Cục Quan hệ lao động và Tiền lương (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), năm nào nhà nước có điều chỉnh lương tối thiểu vùng thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ được tăng cao hơn mức tăng bình quân khoảng 2%. Trong 10 năm qua, tiền lương của người lao động tăng bình quân 6-7% mỗi năm. Năm Covid-19 tác động mạnh, Nhà nước không điều chỉnh lương tối thiểu, tỷ lệ tăng có giảm còn 5-6%. Những năm kinh tế phát triển tốt, mức tăng đạt 8-9%. Chỉ khi thiếu giờ làm, tiền lương của người lao động mới phải giảm do doanh nghiệp cũng không có nguồn để bảo đảm. Tuy nhiên, hụt đơn hàng, thiếu việc cũng chỉ ở nhóm ngành sản xuất. Một số ngành như dịch vụ ăn uống vẫn có sự tăng trưởng.

Kịp thời giải quyết khi có tranh chấp lao động tập thể

Khi có tranh chấp lao động tập thể, ngừng việc tập thể, đình công tự phát, các cấp công đoàn đều chủ động phối hợp với UBND và các cơ quan chức năng trên địa bàn kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi của tập thể người lao động, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Khi dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội, nhiều người lao động mất việc, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ công nhân, người lao động, trong đó vai trò của Công đoàn Việt Nam rất nổi bật.

Từ việc các cấp công đoàn quan tâm, phát hiện những khó khăn của người lao động, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1-7-2021 tập trung hỗ trợ 2 nhóm đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng sâu bởi đại dịch Covid-19, chủ yếu là công nhân và người lao động trực tiếp. Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, cả nước đã hỗ trợ cho gần 36,5 triệu người lao động, người dân, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỷ đồng.

Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành nhanh chóng, kịp thời, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân, người lao động và người sử dụng lao động trước tác động của đại dịch, được người dân, doanh nghiệp, người lao động tích cực ủng hộ thực hiện, qua đó ngày càng tạo được niềm tin của công nhân, người lao động cũng như toàn thể nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Không tổ chức nào thay thế được Công đoàn Việt Nam

Cũng do luôn sâu sát, nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động nên ngay từ cuối quý III năm 2022, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lên kế hoạch chăm lo Tết Quý Mão 2023. Theo đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dự kiến sẽ chủ trì, trực tiếp tổ chức 21 Chương trình "Ngày hội công nhân-Phiên chợ nghĩa tình năm 2023" tại các địa phương có đông công nhân, người lao động, vùng sâu, vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn; dành gói hỗ trợ khoảng 500 tỷ đồng phân bổ về các công đoàn ngành, địa phương, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở để chăm lo, hỗ trợ cho đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mức hỗ trợ 500.000 đồng/người, được chi bằng tiền mặt (ước có khoảng 1 triệu đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ-bằng 10% tổng số đoàn viên công đoàn).

Bên cạnh đó, công đoàn cơ sở căn cứ vào nguồn lực hiện có, tự quyết định mức chi chăm lo cho đoàn viên, người lao động. Ví dụ như, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch số 61/KH-LĐLĐ về tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên công đoàn, người lao động nhân dịp Tết Quý Mão 2023 với phương châm “Tết đến với mọi đoàn viên, người lao động”.

Dự trù kinh phí chăm lo Tết Quý Mão năm 2023 cho đoàn viên, người lao động khó khăn của Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh khoảng 140 tỷ đồng, trong đó, cấp thành phố bảo đảm từ 25-28 tỷ đồng, công đoàn cấp trên chăm lo 110 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể khác có hỗ trợ chăm lo Tết cho công nhân. Các hoạt động như tặng quà Tết, tặng vé xe về Tết, tổ chức chợ Tết bình ổn giá... rất thiết thực với công nhân, người lao động.

Như thế có thể thấy, ý kiến cho rằng người lao động bị Công đoàn Việt Nam bỏ mặc, Công đoàn Việt Nam không quan tâm đến đấu tranh đòi tăng lương, không quan tâm đấu tranh cho đời sống người lao động là ý kiến hoàn toàn sai trái. Nguy hại hơn nữa là mưu đồ kích động người lao động đình công tự phát, biểu tình để đòi tăng lương. Cần nhận thức rằng doanh nghiệp chính là môi trường làm việc, là nơi trả lương và bảo đảm đời sống cho người lao động.

Vì thế, công nhân, người lao động phải có trách nhiệm cùng xây dựng để doanh nghiệp phát triển, từ đó mới có nguồn lực để tăng lương, bảo đảm đời sống. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, bảo đảm quyền lợi hài hòa, cùng chia sẻ khó khăn giữa công nhân và người sử dụng lao động là một chủ trương đúng đắn của Công đoàn Việt Nam. Môi trường kinh doanh có ổn định thì các doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào Việt  Nam. Do đó, việc kích động công nhân biểu tình, đình công tự phát là lừa phỉnh họ, xui họ làm điều sai trái, để rồi tự hủy hoại nồi cơm của chính mình.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó.

HỒ QUANG PHƯƠNG