Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 - biểu hiện sinh động về vấn đề “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”

 Thắng lợi của Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 thể hiện sự chủ động của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với dự đoán chính xác việc Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội, từ đó, sớm chỉ đạo Quân chủng Phòng không - Không quân tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Thắng lợi đã để lại những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong giai đoạn hiện nay.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; đồng thời nhấn mạnh “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (1). Tư duy chiến lược đó là sản phẩm kết tinh những kinh nghiệm quý báu trong quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, đồng thời thể hiện sự sáng tạo, nhạy bén trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Sau 50 năm nhìn lại, Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là một biểu hiện rất sinh động của tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xác máy bay Mỹ bị bắn rơi ở ngoại thành Hà Nội, tháng 12-1972_Ảnh: TTXVN

Thủ đô Hà Nội - trung tâm của hậu phương lớn ở miền Bắc - có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ chi viện sức người, sức của…, mà còn “chia lửa” với miền Nam ruột thịt. Vì thế, việc bảo vệ Thủ đô Hà Nội là một nhiệm vụ rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nói riêng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung. Tầm quan trọng của Thủ đô Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo: “Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội” (2). Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề bảo vệ bầu trời thủ đô đã được Quân chủng Phòng không - Không quân quan tâm ngay từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX.

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm là nhấn mạnh đến sự chủ động chuẩn bị trước về thời gian. Bảo vệ bầu trời Hà Nội “từ sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Như vậy, bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc”. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người và đáp ứng yêu cầu cách mạng, từ năm 1954 đến năm 1964, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập nhiều đơn vị pháo phòng không: Trung đoàn 210, 220, 230, 240, 250, 260, 280; trong đó, có ba trung đoàn pháo phòng không bảo vệ Hà Nội là 220, 230 và 260.

Ngay từ năm 1962, khi Mỹ chưa sử dụng máy bay B-52 ở chiến trường Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất này của Mỹ và đã chỉ thị cho lực lượng phòng không chủ động nghiên cứu để tiêu diệt nó.

Cùng với việc tự chuẩn bị về tư duy, quan điểm, lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động đề nghị Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng lực lượng tên lửa phòng không nhân dịp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kô-xư-ghin thăm Hà Nội, tháng 2-1965. Hai trung đoàn tên lửa 236 và 238 được thành lập, trong đó Trung đoàn 236 - đơn vị tên lửa đầu tiên - được triển khai chiến đấu tại khu vực Suối Hai, Bất Bạt, Hà Tây (nay là Hà Nội), để đối phó với không quân Mỹ đang leo thang đánh ra miền Bắc.

Để tạo thêm lưới lửa bảo vệ Hà Nội, ngày 19-5-1965, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định số 67/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Sự ra đời của Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, cùng các lực lượng phòng không khác, mở đầu cho việc hình thành lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô, trong đó lực lượng phòng không Sư đoàn Phòng không 361 làm nòng cốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Đồng thời, sự kiện này còn đánh dấu một bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội - trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (phía tây bắc Sài Gòn). Trước hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ, ngày 19-7-1965, khi đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, tại Trung đoàn 234 (Đoàn pháo cao xạ Tam Đảo), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” (3). Trước hành động Mỹ dùng B-52 đánh ra Quảng Bình, sau đó đánh rộng ra Vĩnh Linh - Quảng Trị năm 1966, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị lực lượng phòng không - không quân phải tìm ra cách đánh B-52.

Quán triệt tinh thần đó, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không chống địch tập kích B-52 đánh vào Hà Nội. Với quan điểm “muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, Trung đoàn Tên lửa 238 đã được đưa vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B-52.

Sau nhiều lần hội thảo khoa học và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tìm ra cách đánh và quyết tâm đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ. Tất cả sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, về ý chí, quyết tâm đã thể hiện ta “không để bị bất ngờ”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch. Năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân đã bắt tay xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội.

Với những kinh nghiệm ban đầu, với quyết tâm cao độ, trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến giữa năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho Chiến dịch Trị - Thiên và tiếp tục nghiên cứu cách đánh B-52. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Đến tháng 9-1972, Quân chủng đã chính thức xây dựng được phương án đánh máy bay B-52 bằng việc phổ biến trong bộ đội phòng không cuốn “cẩm nang đỏ” là cuốn sách “Cách đánh B-52 của Bộ đội Tên lửa”. Đây là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn chiến đấu, sáng tạo cách đánh của lực lượng phòng không - không quân. Trên cơ sở tài liệu này, ngày 31-10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị cán bộ để thảo luận phổ biến cách đánh B-52, sau đó tổ chức huấn luyện cho các kíp chiến đấu; tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm; đôn đốc kiểm tra mọi mặt chuẩn bị, đánh trả cuộc tập kích đường không của địch.

Với khí thế cách mạng tiến công, từ năm 1971 - 1972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Vùng giải phóng ở các khu vực: Trị - Thiên, đồng bằng Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ mở rộng, tạo thành thế bao vây, chia cắt địch. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ phải dùng phần lớn hỏa lực của không quân và hải quân, “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị ném bom trở lại miền Bắc. Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên Linebacker-II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá Hà Nội, Hài Phòng và một số địa phương ở miền Bắc.

Trước âm mưu của Mỹ, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân gấp rút củng cố, bổ sung lực lượng và phương án tác chiến để đáp ứng các yêu cầu chiến lược. Tại Hà Nội, Hải Phòng có 5 trung đoàn tên lửa, 6 trung đoàn pháo cao xạ (không kể 8 trung đoàn cao xạ của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc), 4 trung đoàn không quân, trong đó chỉ có 2 trung đoàn MiG-21, Ra-đa chỉ có 4 trung đoàn rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, lực lượng phòng không của dân quân tự vệ 9 tỉnh có 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại. Do yêu cầu và tính chất chiến đấu, Bộ Quốc phòng điều chỉnh một số đơn vị chủ lực và thành lập những đơn vị phòng không mới. Trên địa bàn Hà Nội, Sư đoàn 361 được bổ sung 3 trung đoàn pháo cao xạ 57 và 37 ly (mới thành lập). Đến tháng 6 năm 1972, việc bố trí hỏa lực phòng không trên miền Bắc và Hà Nội đã có nhiều điểm mới để tập trung cho các trận địa ở Hà Nội.

Tháng 11-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định, âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh Thủ đô Hà Nội - linh hồn của cuộc kháng chiến - sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô... Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu”. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng máy bay B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Bộ đội Phòng Không - Không quân là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt” (4).

Như vậy, việc xác định Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội giúp chúng ta có quá trình chuẩn bị công phu 10 năm từ trước khi Mỹ đưa B-52 ra đánh phá bầu trời Hà Nội. Sự chuẩn bị từ sớm về thời gian, lực lượng, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, cải tiến vũ khí trang bị, chuẩn bị sẵn sàng về tâm thế, sớm tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị một trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giúp ta giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong 12 ngày đêm, quân, dân Hà Nội và quân, dân các tỉnh miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân lớn nhất của đế quốc Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược B-52, lập nên một kỳ tích chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, là kết quả rực rỡ của tư duy bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm.

Chiến sĩ trận địa Chèm - Tiểu đoàn Tên lửa 77 - luyện tập sẵn sàng chiến đấu bảo về vùng trời Thủ đô_Ảnh: TTXVN

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ xa

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ xa là nhấn mạnh đến sự chủ động, cảnh giác, sớm phát hiện, triệt tiêu các nhân tố bất lợi từ xa về không gian địa lý và cả thời gian, triệt tiêu ngay từ nguyên nhân, điều kiện hình thành nguy cơ đe dọa, uy hiếp. Được sự cảnh báo từ sớm về nguy cơ đương đầu với cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn của Mỹ bằng máy bay B-52, cùng với quá trình chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, từ đầu năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, đã xác định được cụ thể không gian cần bảo vệ. Việc Mỹ dùng máy bay B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội có mối quan hệ chặt chẽ với tiến trình Hội nghị Paris. Sau một thời gian rất dài đàm phán (từ ngày 13-5-1968 đến ngày 17-10-1972), văn bản hiệp định cơ bản đã được hoàn tất theo tinh thần Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và dự kiến thời điểm ký kết Hiệp định là ngày 31-10-1972. Tuy nhiên, ngày 7-11-1972, sau khi đắc cử Tổng thống, Ních-xơn đã lật lọng, tráo trở đòi sửa đổi rất nhiều nội dung trong Hiệp định nhằm có lợi cho Mỹ. Đồng thời, để gây sức ép với ta trong việc ký Hiệp định, Ních-xơn đã quyết định huy động phần lớn siêu pháo đài bay B-52 ném bom rải thảm, bắn phá Hà Nội.

Quyết định tăng cường Trung đoàn tên lửa 238 vào “tuyến lửa” Vĩnh Linh, cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương vừa trực tiếp đánh trả, vừa nghiên cứu cách đánh B-52 của Quân ủy Trung ương từ tháng 5-1966 là quyết định đúng đắn, có tầm nhìn xa trông rộng. Xác định kinh nghiệm chiến đấu chỉ có được khi tác chiến trực tiếp với địch, từ đó những nghiên cứu kỹ đặc điểm kỹ chiến thuật, phương tiện chiến tranh, nắm quy luật hoạt động của máy bay B-52 mới đánh giá được mức độ, hiệu quả, vì thế, việc cử những cán bộ chỉ huy, tham mưu, quân báo, khoa học quân sự và phi công có nhiều kinh nghiệm vào Vĩnh Linh nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay B-52 để tìm cách đánh là một quyết tâm rất cao thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân. Với khẩu hiệu “Dọn đường mà đi, đánh địch mà tiến”, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 238 đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vừa hành quân, vừa chiến đấu, vượt qua muôn vàn gian khó để đưa khí tài vào chiến trường đánh Mỹ. Ngày 15-3-1967, máy bay B-52 xuất hiện, lần đầu tiên Trung đoàn 238 tổ chức trận đánh tập trung để diệt B-52 nhưng không thành. Địch đánh phá ác liệt nhằm hủy diệt cả con người và khí tài của ta, nhưng nhân dân Vĩnh Linh và cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn vẫn không chùn bước. Từ thất bại ban đầu đó, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn càng sục sôi ý chí quyết tâm đánh B-52 của Mỹ. Đến ngày 17-9-1967, sau một thời gian dày công nghiên cứu, nhận dạng, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 84 - Trung đoàn 238 đã bắn rơi một chiếc B-52. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi “Siêu pháo đài bay B-52” của đế quốc Mỹ. Chiến công này tác động rất lớn đến tư tưởng và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, khẳng định ta có khả năng đánh thắng các cuộc tập kích đường không bằng B-52 của địch, củng cố lòng tin, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và nhân dân, đồng thời làm cơ sở để biên soạn tài liệu, hướng dẫn cách đánh máy bay B-52. Chiến công bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên của Trung đoàn 238 ở Vĩnh Linh cách xa Hà Nội khoảng 600km, đã trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá và chứa đựng một số kinh nghiệm thực tiễn ban đầu cần thiết, để Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 hiệu quả nhất.

Ngày 4-6-1972, đế quốc Mỹ huy động lực lượng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc lần thứ hai. Ngày 13-7-1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân: “Thực hiện gấp việc tiếp tục nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn bộ đội đánh B-52 trong các tình huống phức tạp” (5). Trên cơ sở phán đoán Mỹ sẽ tập trung B-52 kết hợp với máy bay chiến thuật đánh lớn ra miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, để sẵn sàng đối phó với máy bay B-52, ngày 24-11-1972, Kế hoạch đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân đã được phê chuẩn, yêu cầu mọi công tác chuẩn bị bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, trước ngày 3-12-1972. Trong đó, việc dự kiến hướng tập kích và đường bay chủ yếu của B-52 là nhiệm vụ quan trọng nhằm điều chỉnh lại đội hình chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không.

Xác định hướng tập kích và đường bay chủ yếu của B-52 sẽ là hướng tây bắc và tây nam Hà Nội, Quân chủng Phòng không - Không quân đã chỉ đạo: “Phải bố trí lực lượng tên lửa chốt ở vòng kết hợp với pháo 100mm để đánh B-52. Tập trung lực lượng và hoả lực vào hướng chủ yếu, đường bay chủ yếu của B-52” (6). Do đó, các đơn vị tên lửa được điều chỉnh bố trí trên hướng chủ yếu; lực lượng pháo phòng không ở Hà Nội, Hải Phòng được bố trí ôm sát các mục tiêu trọng yếu để có thể đánh địch khi bay bằng và bổ nhào ném bom, nhất là ném bom có điều khiển bằng tia lade. Các đơn vị không quân, ngoài lực lượng tham gia đánh địch theo phương án tác chiến bảo vệ Hà Nội, đại đội bay đêm là lực lượng nòng cốt đánh B-52. Đội hình mạng ra-đa được điều chỉnh, kiện toàn để vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo đảm ra-đa cho tác chiến phòng không bảo vệ miền Bắc, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng, vừa có thể phát hiện B-52 từ xa.

Nửa thế kỷ đã đi qua, song Chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" vẫn luôn là niềm tự hào của các thế hệ người dân Việt Nam, là minh chứng sinh động nhất cho sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò của lực lượng phòng không, không quân. Đó là kết quả tất yếu của sự chủ động bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội từ sớm, từ xa, với thời gian khoảng một thập kỷ để chuẩn bị lực lượng mọi mặt, xây dựng kế hoạch và phương án tác chiến chính xác, hiệu quả.

Ngày nay, với sự phát triển nhanh của khoa học - kỹ thuật và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, những thành tựu mới nhất về khoa học - công nghệ đã được ứng dụng vào lĩnh vực quân sự, tạo ra nhiều loại phương tiện, vũ khí tiến công đường không có tốc độ nhanh, tầm bắn xa, độ chính xác cao, có thể tiến công từ xa, không trực tiếp, tiếp xúc, đánh áp đảo ngay từ đầu; lấy không quân và tên lửa hành trình là lực lượng tiến công chủ yếu, đồng thời kết hợp chặt chẽ với tác chiến điện tử rộng khắp trên các môi trường trên không, trên bộ, trên biển, vũ trụ và chiến tranh mạng ngày càng trở nên ác liệt… Thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 để lại những bài học về sự chủ động chuẩn bị, dự báo sớm tình hình, lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt mang tầm chiến lược để có nhiều biện pháp tích cực, thiết thực xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phòng không nhân dân rộng khắp, liên hoàn, vững chắc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.VTT (St)

Một số giải pháp bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay

 Một là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho  thanh niên.

Việc giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sẽ giúp cho thanh niên thấy được vinh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với đất nước, với sự hy sinh của lớp lớp thế hệ đi trước cho đất nước, từ đó thẩm thấu một các tự giác niềm tin của thế hệ trẻ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Tiếp tục kiên trì, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống”(11). Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương và cán bộ đoàn các cấp cần làm tốt công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên thông qua các hoạt động thực tiễn cụ thể, thiết thực, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, địa phương và trình độ nhận thức của thanh niên; tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu, tâm lý của giới trẻ hiện nay; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục truyền thống với phương pháp hiện đại, giữa giáo dục, thuyết phục, nêu gương với biện pháp hành chính, giữa tôn trọng nhân cách cá nhân với đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong rèn luyện, từng bước hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mỗi người thanh niên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát hiện, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão của thanh niên.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam”(12). Theo đó, công tác chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thanh niên phải đi vào thực chất, bền vững, dựa trên “kiềng ba chân” gia đình, nhà trường và xã hội, gắn kết với nhau trong các khâu, các bước giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của gia đình: “Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”(13).

Ba là, chú trọng xây dựng môi trường văn hoá thật sự trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc để thanh niên phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cần chú ý xây dựng môi trường, điều kiện học tập, rèn luyện, lao động, giải trí để thanh niên phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về thể lực, trí lực và tâm hồn”(14). Môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc có ý nghĩa rất quan trọng để thanh niên phát triển. Môi trường đó là những mối quan hệ xã hội, các điều kiện tự nhiên, các điều kiện bảo đảm cho quá trình sinh sống, làm việc của thanh niên… Đây là những tác nhân, điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển của thanh niên; môi trường không thuận lợi sẽ cản trở sự phát triển của thanh niên, ngược lại, nếu môi trường thuận lợi sẽ kích thích, tạo động lực để thanh niên công tác, làm việc theo đúng năng lực, sở trường, thế mạnh, thúc đẩy họ không ngừng phấn đấu vươn lên. Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, đề cao tinh thần nêu gương của mỗi người, xây dựng môi trường dân chủ, đoàn kết, thương yêu, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của thanh niên, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Bản thân mỗi thanh niên phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, cầu tiến bộ; bồi dưỡng tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”(15). Mỗi thanh niên thường xuyên tự phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, tránh xa cạm bẫy của tệ nạn xã hội, rèn luyện  bản lĩnh vững vàng, đạo đức trong sáng, biết “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày, để ngày càng tiến bộ; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện ở mỗi thanh niên; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu đựng khó khăn, gian khổ và dám chịu trách nhiệm với hành động, việc làm của mình.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp thêm sức mạnh, niềm tin sâu sắc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, để thanh niên Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tự tin “tay cầm cờ sao vàng tiến lên”(16), “góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với kỳ vọng và niềm tin yêu của Đảng, Bác Hồ và nhân dân cả nước đối với thế hệ trẻ”./.  

VTT (St)

Bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên

 Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”(9). Theo đó, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên là toàn bộ hoạt động giáo dục, rèn luyện của lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương và sự tự tu dưỡng, rèn luyện của thanh niên, nhằm làm phong phú thêm tri thức, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm và rèn luyện ý chí của thanh niên để họ luôn có niềm tin xã hội chủ nghĩa vững chắc, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách cho thanh niên, xứng đáng là lực lượng kế cận sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nhiều luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống… từ bên ngoài thiếu lành mạnh xâm nhập vào nước ta, trong đó có những tư tưởng phi mác-xít, thói chuộng các giá trị phương Tây… làm lệch lạc suy nghĩ, phai nhạt lý tưởng cộng sản của thanh niên. Các phương tiện truyền thông xã hội với thông tin đa chiều, thật - giả lẫn lộn, gây nhiễu loạn truyền thông, làm cho thanh niên mất phương hướng trong việc phân biệt, ứng xử thông tin, bị tác động bởi những luồng thông tin xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, dụ dỗ, lôi kéo một số thanh niên tham gia vào các hoạt động “diễn biến hòa bình”. Đặc biệt, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị các cấp, nhất là người đứng đầu, có chức vụ ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương gây bức xúc, giảm sút niềm tin của nhân dân, trong đó có thanh niên.

Bên cạnh đó, hoạt động bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa được chú trọng, chưa có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp; công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng giá trị, phẩm chất tốt đẹp của văn hóa, con người Việt Nam có lúc, có nơi chưa thường xuyên. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, mơ hồ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thiếu động cơ phấn đấu vươn lên, ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện; sống thờ ơ, bàng quan, không quan tâm đến vấn đề chính trị - xã hội của đất nước; sống thực dụng, sính ngoại, buông thả, chạy theo thị hiếu, trào lưu xã hội nhất thời, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục… Xu hướng trẻ hóa tội phạm trong thanh niên vi phạm pháp luật, như cờ bạc, nghiện hút, buôn ma tuý, cướp của, giết người… đang có xu hướng gia tăng. Theo thống kê của Bộ Công an, giai đoạn 2018 - 2020, cả nước đã ghi nhận 10.786 vụ người chưa thành niên vi phạm pháp luật, với 16.583 đối tượng có liên quan. Trong đó, nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm đến 95%. Riêng năm 2020, các cơ quan chức năng đã xử lý 4.262 vụ, với hơn 6.500 đối tượng phạm pháp (10)

Thực tế đó càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải tăng cường bồi dưỡng đạo đức, lối sống, lý tưởng, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay.

VTT (St)

Niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của thanh niên

 Niềm tin là yếu tố không thể thiếu được đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của con người, giúp con người có thể vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được những ước mơ, hoài bão của mình. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Lòng tin tưởng mà thiếu nó thì người đó sẽ không làm được gì cả”(2); Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh”(3). Lịch sử xã hội ngày càng phát triển, tư duy và hoạt động thực tiễn của con người càng trở nên phong phú và sâu sắc, con người đã từng bước khám phá và nhận thức được quy luật vận động của tự nhiên và sự phát triển của xã hội. Trên cơ sở đó, niềm tin khoa học được hình thành và phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ đời sống của con người. Niềm tin khoa học trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy năng lực sáng tạo của con người, tạo lập lý tưởng sống, khát vọng và hoãi bão cao đẹp, hướng con người phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu đã đề ra.

Niềm tin xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình lịch sử xã hội loài người. Đứng từ góc độ bản chất, niềm tin xã hội chủ nghĩa chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó xét đến cùng, niềm tin xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức - niềm tin - tình cảm - ý chí - hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin xã hội chủ nghĩa là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên cũng như xã hội, trên cơ sở đó “thấm nhuần chân lý các nguyên lý lý luận, sẵn sàng chứng minh, bảo vệ chân lý trong bất kỳ hoàn cảnh nào; là thái độ nhất quán giữa nhận thức chân lý và hành động theo chân lý, giữa lời nói và việc làm, dù có phải hy sinh cả tính mạng của mình cũng kiên quyết bảo vệ chân lý”(4).

Thanh niên Việt Nam là những người trẻ, khỏe, năng động, trí tuệ, sáng tạo, tiếp nhận và ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào học tập, rèn luyện, phục vụ công việc, có nhiều đam mê, khát vọng, có mục đích, động cơ phấn đấu vươn lên không ngừng; mong muốn được cống hiến, khẳng định mình. Thực tiễn lịch sử từ khi có Đảng ra đời đã chứng minh mục tiêu, lý tưởng, niềm tin xã hội chủ nghĩa của thanh niên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, “thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, rường cột của quốc gia. Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh; trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, thanh niên luôn nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí anh hùng, bất khuất của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước”(5).

Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các tầng lớp nhân dân, giương cao ngọn cờ độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã tập hợp, đoàn kết đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên tham gia vào Mặt trận Dân tộc thống nhất. Theo tiếng gọi của non sông đất nước, lớp lớp các thế hệ thanh niên đã nối tiếp nhau nô nức lên đường kháng chiến, với tinh thần, khí thế hừng hực niềm tin vào ngày toàn thắng của cách mạng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Thanh niên Việt Nam đã không quản khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Mục tiêu, niềm tin xã hội chủ nghĩa đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc thanh niên hành động, dâng hiến cuộc đời và tuổi thanh xuân cho dân tộc. Niềm tin xã hội chủ nghĩa đã định hướng và thôi thúc trái tim, sự nhiệt huyết cháy bỏng của thanh niên, giúp họ vượt qua muôn vàn sóng to, gió lớn, vững bước đi qua “mưa bom, bão đạn” của kè thù. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Lịch sử của dân tộc và của Đảng ta đã ghi nhận và đánh giá cao các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, như “Cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh”, “Tòng quân giết giặc lập công trong kháng chiến chống Pháp; “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong” trong kháng chiến chống Mỹ”(6)

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh, trong giai đoạn hiện nay, thanh niên Việt Nam không ngừng đổi mới sáng tạo, bắt nhịp nhanh với thời cuộc, phát huy tốt tinh thần xung kích của tuổi trẻ trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta “chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(7). Điều này đã góp phần quan trọng vào việc củng cố, bồi đắp niềm tin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên. Những phong trào lớn của thanh niên, như: “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”… khơi dậy ý khí, khát vọng vươn lên của thanh niên; thông qua chương trình xây dựng nông thôn mới, tiếp sức mùa thi…, đặc biệt là trong phòng, chống đại dịch COVID - 19 vừa qua, đã chứng minh tinh thần, trách nhiệm và ý thức chính trị của thanh niên. Nhiều mô hình, cách làm sáng tạo của đoàn viên, thanh niên trong phòng, chống dịch, như: shipper tình nguyện, đi chợ giúp dân, triệu bữa cơm, san sẻ yêu thương - chung tay vượt qua đại dịch, triệu ly sữa và hành trình của những cuốn sách…; nhiều thanh niên trong lực lượng vũ trang không màng đến sự hiểm nguy để cứu người gặp nạn; trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, thanh niên luôn là lực lượng xung kích đi đầu... Nhiều thanh niên là những chủ doanh nghiệp trẻ thành công trong ứng dụng khoa học và công nghệ; tích cực giải quyết việc làm cho các bạn cùng trang lứa, như: trang thông tin kết nối tình nguyện và khởi nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, livestream trực tuyến trên trang fanpage của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung tâm Dịch vụ việc làm thanh niên ở tỉnh Bắc Ninh. “Thông qua hoạt động thực tiễn, tổ chức đoàn và mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên không ngừng được xây dựng, củng cố, mở rộng… Đã có hàng triệu thanh niên tiên tiến được đứng vào hàng ngũ của Đoàn và hàng vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú được kết nạp vào Đảng; góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và niềm tự hào về thế hệ trẻ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”(8).

Thanh niên Việt Nam phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội_ Ảnh: TTXVN
VTT (St)

Triển lãm – Hội chợ trên không gian mạng - Videx 2021

 Chiều ngày 06/12, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị Ban Tổ chức Triển lãm “Thành tựu tiêu biểu trong thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế” và Hội chợ thương mại trên không gian mạng năm 2021 (VIDEX 2021). Lần đầu tiên Triển lãm - Hội chợ trên không gian mạng được tổ chức tại Việt Nam, khẳng định tiềm lực khoa học - công nghệ quân sự, đường lối kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng ta; mở rộng cơ hội giao thương, thu hút đầu tư cho doanh nghiệp quốc phòng.

Đại diện Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng), Cơ quan thường trực của Ban Tổ chức đã báo cáo chi tiết kết quả triển khai Triển lãm - Hội chợ và Kế hoạch tổ chức Triển lãm - Hội chợ trên không gian mạng năm 2021.

Theo kế hoạch, Triển lãm - Hội chợ sẽ chính thức khai mạc vào lúc 19 giờ, ngày 14/12/2021, tại Nhà khách Bộ Quốc phòng (266 Thụy Khuê, Hà Nội), phát trực tuyến trên internet (thông qua nền tảng Triển lãm trực tuyến www.videx.vn, dẫn link trực tiếp trên Báo Điện tử Quân đội nhân dân, Báo Điện tử VnExpress) và kết nối với trên 30 điểm cầu ở các cơ quan, đơn vị trong Quân đội; các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế (qua nền tảng Zoom). Triển lãm thu hút hơn 130 doanh nghiệp trong và ngoài quân đội, doanh nghiệp nước ngoài thuộc các lĩnh vực: Công nghiệp quốc phòng, môi trường, năng lượng, xử lý nước, cơ khí, ô tô, công nghiệp phụ trợ, quy trình nông nghiệp hữu cơ, v.v.

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để Hội chợ - Triển lãm diễn ra an toàn, hiệu quả, Trung tướng Huỳnh Chiến Thắng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu các chương trình, hoạt động của VIDEX 2021 phải mang tính tổng thể, thống nhất, xuyên suốt, phù hợp với mục tiêu, chủ đề đã xác định. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ khẩn trương hoàn tất công tác chuẩn bị; chú trọng các phương án bảo đảm phòng, chống dịch Covid-19, an toàn thông tin, an ninh mạng; tăng cường kết nối giao thương, mở ra cơ hội tiêu thụ hàng hóa cho các doanh nghiệp trong bối cảnh tác động tiêu cực của dịch Covid-19; tuyên truyền, quảng bá và khẳng định tiềm lực khoa học và công nghệ quân sự, năng lực công nghiệp quốc phòng Việt Nam.

Tác chiến không gian mạng - hình thức tác chiến mới bảo vệ Tổ quốc

 Không gian mạng được coi là một phần lãnh thổ quốc gia, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của công nghệ thông tin hiện nay thì việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng càng trở nên cấp thiết, cần được quán triệt, triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.

Tác chiến không gian mạng - loại hình tác chiến chiến lược mới

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Các quốc gia có quyền kiểm soát, đấu tranh ngăn chặn, bóc gỡ các hoạt động chống phá và tác chiến trên không gian mạng cả trong thời bình và khi xảy ra chiến tranh. Nhiều quốc gia trên thế giới coi tác chiến không gian mạng là loại hình tác chiến chủ yếu trong thế kỷ XXI, bộ phận quan trọng của tác chiến trong chiến tranh hiện đại. Học thuyết An ninh thông tin của Nga (năm 2016) xác định: tác chiến thông tin là hoạt động bảo vệ lợi ích sống còn của cá nhân, tổ chức xã hội, nhà nước trước các mối đe dọa bên trong và bên ngoài liên quan tới sử dụng không gian mạng; ngăn chặn các hành động thù địch, xâm lược từ không gian mạng, đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, v.v. Điều lệnh tác chiến mạng của Quân đội Mỹ chỉ rõ: tác chiến không gian mạng là một thành phần không thể tách rời của chiến tranh thông tin; các bên tham chiến sử dụng mạng internet, mạng máy tính dùng riêng, mạng viễn thông,... để thu thập, điều khiển, phá hoại mạng đối phương nhằm giành được các mục tiêu thông qua không gian mạng. Trung Quốc coi tác chiến không gian mạng là phương tiện chủ yếu nhằm kiểm soát không gian mạng của đối phương, bảo vệ không gian mạng của mình; là hoạt động đối kháng máy tính, gồm các hoạt động giám sát, bảo vệ và tiến công mạng; đồng thời, kết hợp với khả năng chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, máy tính, tình báo, trinh sát, giám sát (C4ISR) truyền thống, tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến liên hợp. Từ các quan niệm trên cho thấy, khái niệm tác chiến không gian mạng được tiếp cận ở nhiều góc độ, tùy thuộc vào quan điểm, chiến lược, học thuyết quân sự của từng nước và tiếp tục phát triển, hoàn thiện cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ.

Đối với nước ta, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Tập trung xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong Nghị định số 98/2015/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của lực lượng Tác chiến không gian mạng đã xác định: “Tác chiến không gian mạng là hoạt động đánh địch có tổ chức của lực lượng Tác chiến không gian mạng trên không gian mạng nằm trong thế trận chiến tranh nhân dân nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, tác chiến không gian mạng được tiến hành cả trong thời bình và thời chiến. Trong thời bình, đấu tranh trên không gian mạng nhằm bảo vệ an toàn hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; bảo vệ an toàn, an ninh thông tin, bí mật, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và sẵn sàng đối phó với các tình huống. Trong thời chiến, tác chiến không gian mạng không chỉ phá hủy hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin, hoạt động chỉ huy, điều khiển tác chiến mà còn tác động vào trạng thái tâm lý của đối phương; phối hợp, phát huy hiệu quả các hệ thống, phương tiện chỉ huy bộ đội, điều khiển vũ khí,… giành ưu thế trên chiến trường, chi viện cho tác chiến trên các chiến trường, môi trường tác chiến khác, thậm chí còn quyết định tiến trình chiến tranh. Như vậy, có thể khẳng định, tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là loại hình tác chiến chiến lược mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những vấn đề cơ bản về tác chiến chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Đặc điểm cơ bản của tác chiến không gian mạng là diễn ra trong môi trường mang tính đặc thù cao, nên cần được quán triệt, hiểu rõ về nó một cách cơ bản, tổng thể trên tất cả các mặt, yếu tố, nội dung liên quan; từ đó, đề ra các nội dung, giải pháp cơ bản, nhất là nghệ thuật tác chiến cho loại hình tác chiến này phù hợp với từng đối tượng, mục tiêu, thủ đoạn tác chiến cụ thể, v.v. Thực hiện điều đó, trước hết, chúng ta cần hiểu, thống nhất những vấn đề cơ bản và chung nhất sau:

Về đối tượng, môi trường, đặc điểm tác chiến. Các thế lực thù địch, phần tử phản động, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị,... ở trong nước và ngoài nước, lực lượng tác chiến không gian mạng của địch sử dụng không gian mạng để chống phá, phá hoại, đánh phá các hoạt động về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh,... của ta cả trong thời bình và thời chiến đều được xác định là đối tượng tác chiến trong chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Hoạt động tác chiến đó được diễn ra trong môi trường tác chiến thông tin, bao gồm cơ sở hạ tầng thông tin và các hoạt động xã hội trên không gian mạng. Mặc dù, không gian mạng là môi trường tác chiến vừa mang tính hữu hình, vừa vô hình; vừa có giới hạn, vừa không có giới hạn; vừa thực, vừa ảo, song đây được coi là một trong những chiến trường quan trọng, nơi các quốc gia luôn củng cố, gia tăng sức mạnh, cạnh tranh sự ảnh hưởng. Hoạt động tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có đặc điểm chung của chiến tranh thông tin, như: khó nhận diện, đánh giá, dự báo; không giới hạn về không gian, thời gian; lực lượng tác chiến đa dạng, phức tạp; tính tri thức cao; sát thương mềm là chủ yếu với hiệu suất cao. Ngoài ra, có đặc điểm riêng đó là: mọi hoạt động (chiến thuật, kỹ thuật) đều gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông; đánh hiểm vào các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, quân sự, quốc phòng, hệ thống tự động hóa chỉ huy, điều khiển của đối phương và tác chiến hết sức linh hoạt.

Về mục tiêu, nhiệm vụ tác chiến trên không gian mạng. Mục tiêu chung là bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng; lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ độc lập, tự do, chế độ xã hội và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Mục tiêu bảo vệ cụ thể là hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng, an ninh, thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, hệ thống điều khiển vũ khí; các cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia, như: viễn thông, giao thông, điện lực, ngân hàng, hàng không,… và hệ thống thông tin của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể trong tác chiến mạng, thông tin mạng, trong các tình huống cụ thể để xác định mục tiêu nào là chủ yếu, quan trọng.

Tác chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có nhiệm vụ thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình; nghiên cứu, tìm hiểu các phương thức tác chiến, cách đánh,... của đối tượng đấu tranh, tác chiến không gian mạng trên tất cả các môi trường tác chiến (không, bộ, biển, vũ trụ và không gian mạng). Trực tiếp chiến đấu trên không gian mạng, bảo vệ các hệ thống trinh sát, giám sát, thông tin chỉ huy, điều khiển vũ khí, hỏa lực của Quân đội. Chủ trì các hoạt động tiến công, phòng thủ, xây dựng thế trận trên không gian mạng, phối hợp với các lực lượng bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, giám sát, phát hiện, đánh giá, phân loại thông tin, cảnh báo sớm các nguồn phát tán thông tin vi phạm pháp luật; nhận định xu hướng thông tin, chủ động, tăng cường định hướng thông tin tích cực, đẩy lùi, pha loãng, hạ thấp tỷ lệ thông tin tiêu cực trên không gian mạng. Tổ chức bảo đảm công nghệ thông tin cho hoạt động quản lý, chỉ huy, điều hành, điều khiển vũ khí của các cơ quan, đơn vị.

Về nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, phương pháp tác chiến. Để tác chiến trên không gian mạng đạt hiệu quả cao, cần tuân thủ nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo “chủ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ, trí tuệ, sáng tạo” và hiệp đồng chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tác chiến. Về phương pháp tác chiến chung là dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, hình thành thế trận đấu tranh, tác chiến trên không gian mạng vững chắc, liên hoàn, bí mật. Chọn đúng hướng, khu vực, hệ thống thông tin, kênh, máy chủ, mục tiêu chủ yếu trong đấu tranh và tác chiến mạng. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp tác chiến, hình thức đấu tranh trong trinh sát, phòng thủ, tiến công trên không gian mạng, kết hợp giữa tác chiến và đấu tranh trong các loại hình tác chiến chiến lược, chiến dịch, trận chiến đấu; thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh chống âm mưu, hoạt động phá hoại, bạo loạn chính trị, vũ trang, lật đổ, ly khai,... ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn tác chiến, phá hoại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Về lực lượng, sử dụng lực lượng tác chiến trên không gian mạng. Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; trong đó, hiện nay lấy lực lượng của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng làm nòng cốt, kết hợp với lực lượng tác chiến không gian mạng, công nghệ thông tin quân sự, dân sự. Lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng gồm có lực lượng tác chiến không gian mạng cấp chiến lược, chiến dịch; lực lượng công nghệ thông tin các đơn vị, doanh nghiệp Quân đội.

Việc bố trí, sử dụng lực lượng tác chiến không gian mạng phải hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể, từng tình huống, trận chiến đấu, chiến dịch và giai đoạn tác chiến trong thời bình, thời chiến; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chuyên trách với lực lượng kiêm nhiệm, rộng rãi, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành thống nhất theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Tập trung sử dụng lực lượng hợp lý, đúng khả năng, thế mạnh, sở trường tác chiến trên từng hướng, khu vực, từng mạng, từ xa đến gần, rộng khắp trên cả hệ thống thông tin, kênh, máy chủ, bảo đảm đúng thời điểm, thời cơ với hiệu suất cao trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Cùng với sự ra đời, phát triển của công nghệ thông tin, cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã làm xuất hiện các hình thái chiến tranh trên không gian mạng, như: chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng máy tính,... thì tác chiến không gian mạng là loại hình tác chiến chiến lược mới, cần được quán triệt sâu sắc, nghiên cứu thấu đáo để từng bước phát triển, hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Quân đội tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng và lịch sử cách mạng

 “Diễn biến hòa bình” là chiến lược tiến công toàn diện, thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng xác định chống phá về chính trị, tư tưởng, văn hóa là mặt trận quan trọng hàng đầu, là khâu đột phá; tiến công vào lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng là một mũi nhọn. Triệt để sử dụng internet, mạng xã hội, kênh youtube và một số hãng truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam, như: RFI, VOA, BBC… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị phát động nhiều chiến dịch phát tán thông tin xấu độc xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng nhằm hạ thấp ý nghĩa, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã giành được; gây chia rẽ, làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.

 

Những năm gần đây, các thế lực thù địch ráo riết xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với nhiều luận điệu: Kẻ thì đánh tráo khái niệm, “lập lờ đánh lận con đen” một cách tinh vi; kẻ thì hằn học, trắng trợn; lại có người nêu vấn đề một cách nhẹ nhàng, tưởng như mang tính xây dựng “nên xem xét lại” vấn đề, sự kiện, nhưng thực chất, đó là mưu đồ hết sức thâm hiểm. Đối tượng tuyên truyền luận điệu sai trái, thù địch là một số kẻ từng làm việc cho chính quyền tay sai, mang nặng tâm lý hận thù; một số khác là sinh ra, lớn lên sau năm 1975, bị kẻ thù dụ dỗ, mua chuộc hay thất thế, bất mãn. Đáng buồn, trong số này có một số cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ thoái hóa biến chất, bị lôi kéo, mua chuộc, tâng bốc thành những “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà cải cách”, “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”[1].

 

Hằng năm, chúng bám sát các sự kiện lịch sử để tăng cường hoạt động chống phá. Trong dịp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng xuyên tạc sự thật và cho rằng: Cách mạng Tháng Tám chỉ là hành động nhanh tay cướp lấy chính quyền khi bộ máy chính quyền cũ đã bỏ trống. Đối với hai cuộc chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (1945 - 1975), có kẻ ngụy biện: Lẽ ra nhân dân ta tránh được hai cuộc chiến tranh tàn khốc chống Pháp, chống Mỹ nếu như các nhà lãnh đạo Việt Nam “khôn khéo, mềm mỏng hơn” trong quan hệ với Pháp và Mỹ. Chúng cố ý đồng nhất chiến tranh giành độc lập dân tộc với chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của thực dân, đế quốc để phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh cách mạng khi cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam; bình luận suy diễn, xuyên tạc về vấn đề “Ai là người soạn lời đầu hàng của Dương Văn Minh trưa 30/4/1975?”[2] để kích động, gây chia rẽ các cán bộ, nhân chứng lịch sử. Đặc biệt, những kẻ mang nặng hận thù đã coi ngày 30/4/1975 là “nỗi tang thương to lớn”, là “ngày quốc hận”…

Các thế lực thù địch thực hiện nhiều phương thức, thủ đoạn, luận điệu thâm độc tiến công vào mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Chúng suy diễn “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội đã thay đổi”, nên Quân đội đã “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển đảo của Trung Quốc”[3]; qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội. Chúng xuyên tạc lịch sử để kích động, chia rẽ mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc[4], Việt Nam - Campuchia[5].

Trước, trong và sau Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng, chúng phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử đời tư các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Bộ Quốc phòng, suy diễn việc xử lý kỷ luật một số cán bộ Quân đội vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội là hoạt động “thanh trừng nội bộ... để tiến công vào truyền thống đoàn kết của Quân đội và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Những năm qua, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

 

Quán triệt quan điểm của Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, các đơn vị thành viên Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương[6], Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 các cơ quan, đơn vị đã chủ động tham mưu, chỉ đạo, kiện toàn tổ chức, lực lượng, tổ chức đấu tranh với nội dung, hình thức, biện pháp, cách làm sáng tạo. Nhiều chuyên trang, chuyên mục, trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội hoạt động hiệu quả cao, bảo vệ uy tín của lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự thật lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, định hướng dư luận xã hội.

Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương chỉ đạo đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, đấu tranh triệt phá tin giả, thông tin xấu độc; cụ thể hóa Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới Quốc gia, Đề án Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Chỉ đạo đánh giá kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị; sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị và triển khai các dự án công nghệ thông tin nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong Quân đội. Duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của 325 Ban Chỉ đạo các cấp, 9 đồng chí cán bộ Nhóm Chuyên gia, Cộng tác viên Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương.

 

Là cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, cơ quan đầu ngành lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, trung tâm nghiên cứu lịch sử quân sự của Nhà nước, trung tâm đào tạo sau đại học về lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ: biên soạn các công trình lịch sử quân sự, lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tư tưởng - tổ chức quân sự, lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự, tổng kết các cuộc chiến tranh; giúp Bộ Quốc phòng chỉ đạo, quản lý công tác tổng kết và biên soạn lịch sử quân sự của toàn quân, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lịch sử quân sự và làm công tác thông tin về lịch sử quân sự.

 

Những năm qua, Đảng ủy Viện đã quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, sự chỉ đạo, định hướng của Tổng cục Chính trị và nội dung Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, Đảng ủy Viện ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo 35Lực lượng 47 của Viện để chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch và ban hành Quy chế, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện.

 

Ngay sau khi thành lập, Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 của Viện nhanh chóng đi vào hoạt động, kịp thời theo dõi, nghiên cứu, tổng hợp, phân tích hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị, nhất là những âm mưu, thủ đoạn, nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng trên internet, mạng xã hội; kịp thời tham mưu, đề xuất Đảng ủy Viện các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh. Căn cứ chỉ đạo của cấp trên, Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Viện đã hướng dẫn, chỉ đạo Lực lượng 47 xác định nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh, bảo đảm phù hợp với lực lượng, phương tiện hiện có; động viên mọi cán bộ, nhân viên tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Viện, Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 xây dựng kế hoạch, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, nội dung cần tập trung đấu tranh trong từng giai đoạn, thời điểm; chú trọng các vấn đề tác động, ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, dư luận, tâm trạng bộ đội và nhân dân, nhất là về các vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng, Quân đội để tuyên truyền, đấu tranh. Phối hợp chặt chẽ với các trang, nhóm, blog của các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân; sử dụng nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh công khai, ẩn danh để giữ vững định hướng chính trị, tăng cường hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng.

 

Bám sát chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, các trang, nhóm, blog, Cổng Thông tin điện tử của Viện nhanh chóng đi vào hoạt động nền nếp, hiệu quả, liên tục có mức độ tăng trưởng cao về thành viên tham gia, theo dõi và số lượng bài viết đăng tải, lượt chia sẻ, bình luận tích cực. Kết quả hoạt động các trang, nhóm, blog, Công Thông tin điện tử của Viện góp phần tích cực nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng trên không gian mạng.

 

Tạp chí Lịch sử quân sự phát hành định kỳ hằng tháng thường xuyên đăng tải các bài viết của các nhà khoa học uy tín về những chủ đề phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đưa ra những thông tin chính thống, chuẩn xác về các vấn đề, sự kiện, nhân vật lịch sử làm cơ sở thống nhất nhận thức về lịch sử trong lực lượng vũ trang và nhân dân. Nhiều bài viết đấu tranh trực diện với những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng[7], góp phần bảo vệ sự thật lịch sử, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa.

 

Với những kết quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, Viện Lịch sử quân sự được Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng ghi nhận, đánh giá cao[8]. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Viện Lịch sử quân sự, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

 

Một là, thường xuyên bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cấp trên. Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thấy, đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Để hoạt động đấu tranh đúng định hướng, đạt hiệu quả, đòi hỏi phải bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cấp trên, Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng để cụ thể hóa vào quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ.

 

Hai là, tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh phù hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cần kết hợp chặt chẽ giữa lựa chọn những cán bộ, nhân viên đủ trình độ lý luận, có trách nhiệm cao, tích cực, sáng tạo trong đấu tranh để làm nòng cốt, đảm nhiệm vai trò quản trị viên, người kiểm duyệt với huy động, động viên mọi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của đơn vị, phối hợp chặt chẽ với Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tham gia đấu tranh.

 

Ba là, phát huy thế mạnh của Viện trong tổ chức đấu tranh. Với thế mạnh là cơ quan chiến lược, giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác lịch sử quân sự, tổng kết chiến tranh trong toàn quân, Viện Lịch sử quân sự là cơ quan có nhiều lực lượng, nguồn tư liệu, được tiếp cận với nhiều nhân chứng lịch sử. Thông qua trao đổi kiến thức lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với các khoa lịch sử của các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu lịch sử, trong các cuộc hội thảo khoa học… nhiều vấn đề lịch sử được làm sáng tỏ. Đây là cơ sở quan trọng giúp Đảng ủy Viện lãnh đạo, chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, góp phần bảo vệ tính đúng đắn, cách mạng, khoa học trong đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng qua các thời kỳ.

 

Bốn là, thường xuyên sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm khen thưởng, biểu dương kịp thời. Đây là nội dung quan trọng thúc đẩy hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Thời gian qua, Viện Lịch sử quân sự đã làm tốt việc sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng. Đối với cá nhân, khen thưởng bằng hình thức biểu dương, tính thành tích trong nhận xét cán bộ, phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên và đề nghị cấp trên có thẩm quyền khen thưởng; cộng điểm thi đua đối với các đơn vị trực thuộc Viện.

 

Dự báo trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp, nhạy cảm để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Trong đó, chúng xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nham hiểm và khó nhận biết hơn theo phương châm “ngầm, sâu, mềm”, sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện, biện pháp để tổ chức các hoạt động chống phá trên thực địa, trên không gian mạng, trên các phương tiện truyền thông, báo chí.

 

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh trong thời gian tới, cần phát huy vai trò Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47 các cấp. Thực hiện tốt phương châm: “Dự báo sớm, nhận diện đúng, phản ứng nhanh, đấu tranh kịp thời, hiệu quả”. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” để “chống”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực, tăng cường cung cấp thông tin chính thống, chuẩn xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử, tạo sức “đề kháng”, khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các thông tin xấu độc. Thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến, cách làm sáng tạo, hiệu quả. Tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, lực lượng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và đấu tranh, tạo sức mạnh tổng hợp làm thất bại âm mưu, hoạt động xuyên tạc, phủ nhận lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội

 Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

 

Trên thực tế, các nước phương Tây đã thực hiện thành công “Diễn biến hòa bình” với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của mạng xã hội tại nhiều nước Đông Âu, Bắc Phi như: Gruzia (2003), Ukraine (2012) và Tunisia, Libya, Ai Cập trong phong trào “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011. Trong các cuộc bạo loạn lật đổ ở các nước này, mạng xã hội đã trở thành vũ khí tối ưu khi nhanh chóng liên kết các nhóm chống đối, các phong trào hoạt động ngầm không có thủ lĩnh công khai, tránh được sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền. Chính nhà xã hội học Thụy Sĩ Ô-li-vơ Gơ-lát-xi đã khẳng định “các mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc cách mạng này.

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.
 

Trên thực tế, các nước phương Tây đã thực hiện thành công “Diễn biến hòa bình” với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của mạng xã hội tại nhiều nước Đông Âu, Bắc Phi như: Gruzia (2003), Ukraine (2012) và Tunisia, Libya, Ai Cập trong phong trào “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011. Trong các cuộc bạo loạn lật đổ ở các nước này, mạng xã hội đã trở thành vũ khí tối ưu khi nhanh chóng liên kết các nhóm chống đối, các phong trào hoạt động ngầm không có thủ lĩnh công khai, tránh được sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền. Chính nhà xã hội học Thụy Sĩ Ô-li-vơ Gơ-lát-xi đã khẳng định “các mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc cách mạng này.

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.


Dẹp "chuyện nhỏ" để tránh họa to

 

Lâu nay có những việc mà nhiều người coi là "chuyện nhỏ" nhưng lại gây hậu quả rất nghiêm trọng, là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thổi phồng, chống phá, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, thậm chí ảnh hưởng tới uy tín của đất nước. Những việc này cần được nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục, không để "chuyện nhỏ" gây họa to!