Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2023

 

CÓ PHẢI THAM NHŨNG, SUY THOÁI, THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG ĐẢNG TA HIỆN NAY LÀ PHỔ BIẾN, LÀ CĂN BỆNH NAN Y KHÔNG THỂ CHỮA TRỊ?                                                                                                                       

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất ở nước ta đang diễn ra rất quyết liệt, đã có kết quả bước đầu, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Trước tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh việc công kích, chống phá Đảng và Nhà nước ta; rêu rao nói xấu đội ngũ cán bộ, lặp lại luận điểm cho rằng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta đã không còn đủ khả năng, uy tín để lãnh đạo đất nước, đã tham nhũng, suy thoái, biến chất trở thành những kẻ “đè đầu cưỡi cổ” nhân dân và cho rằng đây là hiện tượng phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị… từ đó nhằm làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của đảng viên và quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, từng bước tạo dựng cơ sở, xác lập chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.

Để lập luận, minh chứng cho luận điểm này chúng đưa ra nhiều luận điệu xảo trá để tấn công, chống phá như:

 Cho rằng, chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo sẽ không chống được tham nhũng; “chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công”; “Đảng không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”… nhằm mục đích bôi nhọ, phú nhuận và chống lại quyết tâm phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta.

Từ  một số vụ việc tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất được phát hiện trong thời gian gần đây, chúng lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa cho rằng, toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng đều rơi vào tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất, suy ra thành Đảng, Nhà nước tham nhũng và đó là bản chất, là căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ “độc đảng” cầm quyền, dẫn tới hậu quả là “nền kinh tế đất nước kiệt quệ” do tình trạng tham nhũng, suy thoái…

Phủ nhận kết quả, thành tựu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta; cho rằng Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng; cho rằng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái của Đảng, Nhà nước ta chỉ là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừ phe phái”.

Các quan điểm sai trái nêu trên đã bộc lộ giã tâm, mưu đồ đen tối là bôi nhỏ hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta; chống phá quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó góp phần phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, đặc biệt là niềm tin vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong nhân dân.

Có thể thấy đây là quan điểm sai lầm, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá, nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ và mang tính áp đặt, cực đoan. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, khách quan để bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên:

Thứ nhất, tham nhũng suy thoái, thoái hóa, biến chất, tồn tại ở mọi chế độ vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực bị tha hóa

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Suy thoái, thoái hóa biến chất là hiện tượng đội ngũ cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn luyện; quan điểm, bản lĩnh, lập trường tư tưởng không kiên định vữngvàng, hoang mang dao động trước những tác động từ bên ngoài, tính chiến đấu giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém; cơ hội, thực dụng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phật của mình… Tham nhũng, suy thoái là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ một đảng hay đa đảng. Chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ.

Bởi thế, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra với nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”, do giai cấp tư sản lãnh đạo, thậm chí ở một số quốc gia còn có biểu hiện nguy hiểm, tình trạng tham nhũng còn leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như ở một số nước: Hàn Quốc, Malaysia. Cũng theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, một số nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền như: Colombia, Brazil, Malaysia... thuộc nhóm nước “tham nhũng nghiêm trọng”. Rõ ràng, việc cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ có ở những nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo là hết sức sai lầm, phản khoa học, ngụy biện, quy chụp.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ phẩm chất, năng lực để lãnh đạo hiệu quả, triệt để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất

Để khẳng định một chính đảng, một nhà nước mới chung, Đảng, Nhà nước ta nói riêng có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hòa, biến chất hiệu quả, triệt để hay không cần căn cứ vào sứ mệnh, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức hoạt động, bản chất quyền lực nhà nước và đặc điểm đội ngũ cán bộ của đảng, nhà nước đó để đánh giá.

Trước hết phải khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng phát triển”2. Đó là mục đích, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động dựa trên nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kỷ luật tự giác nghiêm minh; Đảng ta cũng xác định cần phải làm tốt công tác xây dựng Đảng thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên nguyên tắc. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình yêu cầu từng cán bộ, đảng viên phải thường xuyên kiểm điểm, đánh giá, thấy được những ưu điểm, hạn chế của mình, từ đó tự sửa chữa, hoàn thiện để “phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phân xấu bị dần dần mất đi”, không bị rơi vào tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đảng cũng yêu cầu, các tổ chức đảng và đảng viên nên phải thường xuyên thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách nghiêm minh và tứ giác; mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ, chấp hành theo kỷ luật của Đảng một cách tự giác, nghiêm túc.

Đối với quyền lực của Nhà nước ta, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”1.

Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, Đảng và Nhà nước ta phải hết sức quan tâm đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta phải là những người đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng hi sinh chấp nhận khó khăn gian khổ vì đất nước ,vì dân tộc, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân lên trên hết và trước lợi ích của cá nhân. Đảng kết nạp những người con ưu tú, là công bộc của nhân dân, hăng hái, giác ngộ, được rèn luyện, thử thách, tự nguyện chiến đấu trong hàng ngủ của Đảng, đồng thời loại trừ những kẻ cơ hội, quan liêu, tham nhũng, suy thoái, lãng phí, thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng, Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò đặc biệt của nhân dân, phát huy, thực hành dân chủ rộng rãi, cuốn hút, lôi cuốn nhân dân tham gia vào các công việc của Đảng, của Nhà nước, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất.

Thứ ba, Đảng và Nhà nước ta có quyết tâm chính trị cao trong phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ và được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện khác nhau.

 Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức giõ tính nguy hại của tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, vì nó làm suy yếu Đảng, làm suy yếu quyền lực Nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh danh của Đảng và Nhà nước ta, dễ tạo ra nguy cơ biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu mới, xa rời lợi ích của Đảng, của nhân dân. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống khắc phục tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, trong đảng viên và cán bộ nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, suy thoái, biến chất là “giặc nội xâm”, phải kiên quyết đấu tranh, loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đảng và Nhà nước ta xác định phòng chống tham nhũng, suy thoái là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng ta xác định phải chủ đông phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, bao che, dụng túng tiếp tay cho tham nhũng; phải kết hợp giữa “xây” và “chống” phòng ngừa gắn với xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong phòng chống tham nhũng ở Việt Nam…

Thể hiện quyết tâm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất, Văn kiện các Đại hội của Đảng và nhiều chỉ thị, nghị quyết, chuyên đề của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất đã ra đời sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì ngay sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về mối nguy cơ một số đảng viên của Đảng quan liêu, xa dân, tham ô, hủ hóa, rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là những tội nghiêm trọng. Người chỉ giõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, làm gian lận tham lam, tham ô là trộm cướp.

Trong những năm chiến tranh chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới, Đảng ta cũng quan tâm và tổ chức nhiều cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với những biểu hiện tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên .Trong nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994 Đảng ta xác định, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ của Đảng ta. Trong nhiệm kỳ tiếp theo không có nhiệm kỳ nào trung ương đảng không có nghị quyết liên quan đến phòng, chống quan liêu, tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất; trong đó có các nghị quyết tiêu biểu như: Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) toán VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; Kết luận hội nghị trung ương 4 khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được xác định là một nội dung quan trọng, cần đẩy mạnh, tăng cường: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”2.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất, Nhà nước ta cũng đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng chống các tệ nạn này. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả. Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương được thành lập (Ban Nội chính các tỉnh, thành phố sắp được kiện toàn) và đã đi vào hoạt động có nề nếp, hiệu quả. Nhà nước đã ban hành Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Các cấp ủy Đảng, chính quyền ở Trung ương đến địa phương quan tâm hơn đến công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp đã dành nhiều thời gian, công sức hơn để giám sát công tác này. Các cơ quan như ủy ban kiểm tra, ban nội chính,  thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công an, viện kiểm sát, tòa án… được củng cố một bước cả về thẩm quyền pháp lý, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất.

Quyết tâm phòng, chống suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta còn được biểu hiện ở Việt Nam tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham nhũng như: Công ước Liên hợp quốc về phòng,, chống tham nhũng (năm 2003); tham gia Chương trình hành động chống tham nhũng châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004); tham gia các hoạt động trong một số diễn đàn về phòng ngừa và chống tham nhũng. Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới tiếp tục được mở rộng và củng cố. Việt Nam ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với các nước. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận giải quyết nhiều hồ sơ, văn bản ủy thác tư pháp của nhiều nước.

Thứ tư, xét trên phương diện thực tiễn phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên đều giữ được phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, số cán bộ, đảng viên tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất chỉ là thiểu số.

Ở đây, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng, giữa thiểu số và đa số không thể phủ nhận trong thực tiễn cũng có những cán bộ, Đảng viên có biểu hiện tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất. Tuy nhiên, đó chỉ là thiểu số, ít ỏi so với đa số cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.  Những cán bộ đó đều bị dư luận lên án, bị nhận những hình thức xử lý nghiêm khắc của Đảng, thậm chí có trường hợp bị thanh loại khỏi tổ chức đảng. Cuộc đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua được Đảng ta đẩy mạnh: “Huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”5. Những cán bộ, đảng viên suy thoái, không bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức đều bị phê bình, kiểm điểm, kỷ luật. Điều đó khẳng định quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ trong đảng ta hiện nay là phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị.

Những cơ sở lý luận, thực tiễn trên đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước đạt hiệu quả cao, đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; cần tiến hành đồng bộ các giải pháp:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ. Tiến hành đồng thời việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Gắn công tác cán bộ với việc thực hiện chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tiếp tục triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn với tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu trong công tác cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tổng kết việc thí điểm thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, gắn đánh giá cá nhân với tập thể, với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí chức danh lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương.

Ba là, tập trung rà soát, thể chế hoá kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có, bảo đảm đồng bộ, thống nhất giữa quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoàn thiện các cơ chế về phân cấp quản lý cán bộ; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn, trọng dụng nhân tài, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ để đào tạo, bổ sung cán bộ cho Đảng. Nghiên cứu, ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật. Phát huy vai trò và nâng cao chất lượng phản biện xã hội của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác xây dựng pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như: Công tác cán bộ, tài chính, ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên, thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, hải quan, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, khiếu kiện kéo dài. Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" ngay tại cơ sở, chi bộ. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tự phê bình và phê bình, thực hiện trách nhiệm nêu gương và khắc phục khuyết điểm của tập thể, cá nhân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng được dư luận xã hội quan tâm, nhất là những vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Phối hợp đồng bộ, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán vững mạnh. Chú trọng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; của báo chí. Chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ, đảng viên và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền các cấp.

Như vậy, quan điểm suy diễn của các thế lực thù địch cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất của đội ngũ cán bộ trong Đảng và Nhà nước ta là phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị là quan điểm chủ quan, phản động, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quan điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, một chiều áp đặt. Về thực tiễn, quan điểm này hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế, cường điệu hóa khi không thấy rõ quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, khách quan để bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

 


 

TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN QUÂN ĐỘI

TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI

                                                                                           

Tệ nạn xã hội (TNXH) một hiện tượng xã hội tiêu cực, có tính chất phổ biến, biểu hiện bằng những hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng. Bản chất của tệ nạn xã hội là xấu xa, trái với nếp sống văn minh, trái với đạo đức, bản chất của chế độ XHCN.

Tệ nạn xã hội là biểu hiện cụ thể của lối sống thực dụng, coi thường các chuẩn mực đạo đức xã hội và pháp luật, làm sói mòn các các giá trị đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, có tính phổ biến, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.

Tệ nạn xã hội biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau như: mại dâm, ma tuý; cờ bạc, lô đề, cá độ, vay nặng lãi; mê tín, dị đoan… Một số loại TNXH như mại dâm, ma túy đang gây bức xúc lớn trong xã hội. Hiện nay, số người bán dâm có hồ sơ quản lý là 11.240 người, tập trung nhiều ở khu vực: Đồng bằng sông Hồng; Đông Nam bộ; Đồng bằng Sông Cửu Long; các tội phạm liên quan đến mại dâm như: chứa chấp, môi giới mại dâm; mua dâm người chưa thành niên; đặc biệt là hành vi mua bán người vì mục đích mại dâm gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội. Bên cạnh đó, trên cả nước có 200.134 người nghiện ma túy, xuất hiện ở mọi thành phần xã hội, mọi lứa tuổi, song chủ yếu ở lớp trẻ: 76% trong số người nghiện có độ tuổi dưới 35 tuổi; 60% số người sử dụng ma túy lần đầu ở độ tuổi dưới 25 tuổi, trong đó 8% sử dụng ma túy lần đầu ở độ tuổi dưới 18 tuổi. Ngoài nghiện thuốc phiện, heroin, nghiện ma túy tổng hợp, nhóm chất kích thích dạng Amphetamine (ATS) đặc biệt là Methamphetamine (ma túy đá), Cocaine, Cần sa, “cỏ Mỹ” và các chất hướng thần khác đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều, gây khó khăn cho việc kiểm soát của cơ quan chức năng.

Có thể thấy, TNXH đe dọa trực tiếp tới bản thân, gia đình và sự phát triển của xã hội; là tiền đề, là nguyên nhân chính dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, gây nên những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, có thể dẫn đến mất ổn định về anh ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, có thể là điều kiện xấu để các thế thực thù địch phá hoại đất nước từ bên trong.

Nhận thức được tác hại tiêu cực của các TNXH cũng như ảnh hưởng của nó đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về phòng, chống TNXH. Những năm qua QUTW, Bộ Quốc phòng, cấp ủy chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã có có nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục ảnh hưởng của TNXH như cờ bạc, số đề, cá độ, vay nặng lãi và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những nỗ lực khắc phục đó chưa đáp ứng được với yêu cầu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Các TNXH đang thâm nhập, ảnh hưởng vào các cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội, mà trực tiếp là lực lượng thanh niên quân đội với nhiều thủ đoạn mới, tính chất ngày càng tinh vi hơn, hậu quả ngày càng nặng nề hơn.

Thời gian tới xu hướng diễn biến tình hình TNXH nói chung giảm nhưng chưa triệt để.Tính chất hoạt động ngày càng phức tạp, nguy hiểm hơn, xuất hiện TNXH có yếu tố quốc tế, có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng công nghệ cao. Thủ đoạn hoạt động tinh vi, phương thức hoạt động xảo quyệt, manh động, liều lĩnh. Mức độ hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng lớn. Thành phần tham gia TNXH đa dạng, phức tạp, có xu hướng trẻ hóa độ tuổi. Do đó, để phát huy hơn nữa vai trò của thanh niên nói chung, thanh niên quân đội nói riêng trong đấu tranh phòng chống TNXH, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ; trong đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về phòng, chống TNXH như: Chỉ thị số 33-CT/TƯ ngày 01/03/1994 của BCHTW Đảng (khóa VII) về lãnh đạo phòng, chống các TNXH; Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Nghị định số 53/CP ngày 28/06/1994 của Chính phủ về các biện pháp xử lý đối với cán bộ, viên chức nhà nước và những người có hành vi liên quan đến mại dâm, ma túy, cờ bạc và say rượu bê tha; Quy định số 04/QĐ-BQP của Bộ Quốc phòng về xử lý các hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự... đây là những căn cứ, cơ sở pháp lý để đấu tranh khắc phục các TNXH tác động vào môi trường quân đội; đồng thời trang bị kiến thức cho đoàn viên thanh niên nắm và hiểu biết sâu sắc về pháp luật Nhà nước, tránh bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo vào các TNXH. 

Hai là, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; giáo dục về ý thức, thói quen tự giác tuân thủ pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị, cũng như tác hại và các biện pháp cơ bản trong phòng, chống TNXH cho thanh niên. Nhằm thống nhất nhận thức và hành động, nâng cao khả năng “tự miễn dịch” cho thanh niên trước những tác động của TNXH.

Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, thực sự là trường học trong quân đội, đội dự bị tin cậy của Đảng. Coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt và hoạt động phù hợp với tâm lý tuổi trẻ, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự quản của đoàn viên, thanh niên; chủ động phát hiện, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên trẻ, cán bộ trẻ.

Bốn là, tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” và các phong trào do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động, gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và Phong trào Thi đua Quyết thắng của quân đội.

Năm là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh,  bảo đảm tốt đời sống vật chất và tinh thần cho thanh niên. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách của thanh niên và nâng capo nhận thức về tác hại của TNXH.

Sáu là, đề cao vai trò tự tu dưỡng, tự rèn luyện của mỗi thanh niên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với hậu phương gia đình và địa phương nơi đóng quân để ngăn chặn và khắc phục ảnh hưởng của các TNXH tác động vào thanh niên quân đội.  

Khắc phục TNXH tác động vào môi trường quân đội hiện nay là một vấn đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi cấp ủy, người chỉ huy, các cơ quan chức năng, các lực lượng tham gia phải có chủ trương đúng và những biện pháp cụ thể, phù hợp, kiên quyết nhưng cần kiên trì, đồng thời phải phát huy tốt vai trò trách nhiệm của đội ngũ đoàn viên thanh niên có như vậy mới đem lại hiệu quả thiết thực.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Phản bác luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Chúng tung thông tin giả, xấu độc, xuyên tạc, đang từng ngày, từng giờ lan tràn trên internet và mạng xã hội. Do vậy, các cấp, các ngành phải chủ động và tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài trong tình hình mới.

    Các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt, đặc biệt là chúng lợi dụng internet, mạng xã hội đưa những ý kiến trái với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh sai tình hình thực tiễn cách mạng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam như: Tổ chức Việt Tân, Đài Á châu tự do, BBC Việt ngữ, thoibao.de… thường xuyên đăng tải, tung thông tin sai sự thật chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Chúng thiết lập các website, blog, facebook, youtube, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”… phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu độc để chống phá; đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống cách mạng, bản chất cách mạng cao đẹp của lực lượng vũ trang, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Bọn chúng sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, tập hợp dư luận, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Chuyển hóa các bài viết có sẵn thành thể thơ hoặc bài hát phát trên các kênh âm nhạc trực tuyến làm công cụ tuyên truyền, chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

    Đặc biệt, các phần tử xấu, cơ hội chính trị điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; tìm mọi cách “hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ” của Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận tư tưởng của Hồ Chí Minh, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: “Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam”. Thực chất đây là những luận điệu phản động, sai trái, bịa đặt nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Việc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta gần đây diễn ra rất kiên quyết, mạnh mẽ, “Sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó và không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào” được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng thuận, ủng hộ. Tuy nhiên, các thế lực phản động, những kẻ đội lốt “dân chủ” bóp méo rằng, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng chỉ là sự “thanh lọc” trong nội bộ chứ không phải vì mục đích phục vụ sự phát triển của đất nước; chúng còn vu cáo, tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể chế một đảng không thể chống được tham nhũng... Chúng lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có vi phạm, các phần tử xấu thổi phồng, “vơ đũa cả nắm”... tung luận điệu rằng: “Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...”. Thực chất đây là kiểu quy chụp, chúng đưa những thông tin sai trái, xuyên tạc nhằm lái dư luận sang chiều hướng tiêu cực, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, giảm uy tín, vai trò của quân đội; tự bịa đặt, suy diễn, kích động làm “nóng” tình hình; bày ra âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Các thông tin do các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn tốt xấu, thật giả, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

    Những thông tin như vậy trước hết các thế lực phản động kích động sự hiếu kỳ của đông đảo người dân, đồng thời tạo sự mâu thuẫn, đấu đá nội bộ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

    Nhận thức rõ tác động tiêu cực của những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng đối với công tác tư tưởng, nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên internet, mạng xã hội, cấp ủy đảng các cấp trong toàn Đảng, toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Cấp ủy các cấp, đơn vị và đội ngũ cán bộ chính trị đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, thường xuyên chú trọng định hướng đấu tranh trên mạng xã hội; thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Qua đó, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

    Tuy nhiên, việc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng nhằm phản bác các thông tin giả, xấu độc, sai sự thật ở một số cơ quan, đơn vị cơ sở chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo, chưa liên tục, còn phải đôn đốc nhắc nhở. Một số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tham gia chưa thường xuyên, lơ là, thiếu sót, thiếu tính tự giác dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin chưa thành thạo, nhiều cán bộ chưa biết cách vào các trang mạng xã hội để comment phản bác những luận điệu xuyên tạc… nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn chưa sắc bén, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác này; chậm đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc đối với kẻ địch; thiếu những bài viết có chất lượng chuyên sâu để đấu tranh trực diện phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái…

    Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên internet, mạng xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tình hình mới cần tập trung một số giải pháp chủ yếu sau:

    Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội

    Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái trên không gian mạng theo định hướng, chỉ đạo thống nhất, đồng thời giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ.

    Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

    Hai là, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân

    Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch; mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Đây là cơ sở của hành động, định hướng hành động, có nhận thức đúng mới có trách nhiệm cao và hoạt động hữu hiệu.

    Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân; định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị trật tự, an toàn xã hội.

    Ba là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hoá hình thức đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội.

    Đổi mới nội dung tuyên truyền đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại.... trên mạng xã hội, trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng hệ giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của người dân trước những thông tin sai trái, thù địch.

    Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền; lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền. Phải hướng mạnh về cơ sở, tăng cường thông tin đối ngoại; tiến hành điều tra dư luận xã hội để nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của kẻ địch.

    Bốn là, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền trong quần chúng nhân dân.

    Cần phát huy hiệu quả lợi thế từ công tác tuyên truyền, với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; chủ động thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính định hướng nhằm giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị, nhân dân đối với các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cần cảnh giác với thông tin trên các trang mạng xã hội, phải tỉnh táo, sáng suốt nhận biết thông tin nào là đúng, chính xác, thông tin nào là giả, bịa đặt, xuyên tạc nhằm tránh bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng để lôi kéo, kích động người dân hướng theo ý đồ xấu độc của chúng. Phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

HTN-BMPB-KBC

Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống DBHB trong xây dựng pháp luật

 Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật thời gian tới, các cơ quan, ban, ngành chức năng, trong đó, nòng cốt là lực lượng an ninh nhân dân các cấp cần nghiên cứu, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp theo Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,… gắn với chủ động phòng ngừa các nguy cơ đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Trong đó, hoàn thiện đồng bộ thể chế, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là một trong những đột phá chiến lược; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.

Hai là, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Tham mưu cho các cơ quan, ban, ngành trong việc soạn thảo, ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp. Tham mưu, đề xuất sửa đổi, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về an ninh, trật tự trong hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, quản lý hoạt động của các cơ quan, tổ chức nước ngoài,… và kiên quyết loại bỏ những chương trình, dự án có dấu hiệu vi phạm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Tham mưu nội dung về bố trí, sử dụng nhân sự đối với các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, pháp luật và đại biểu các cơ quan dân cử có chức năng xây dựng, sửa đổi pháp luật.

Chủ động kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền loại bỏ các yếu tố có thể trở thành điều kiện để các thế lực thù địch gia tăng hoạt động móc nối, tác động, can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật ở nước ta. Đồng thời, các cơ quan tư pháp, cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cần chú trọng nắm tình hình những yếu tố liên quan tới dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng tư tưởng” của một số cán bộ, đảng viên trong nội bộ, vấn đề “dân chủ nghị trường”, “phản biện chính sách” để kịp thời tham mưu lãnh đạo các cấp có các biện pháp phòng ngừa, răn đe, chấn chỉnh, xử lý, tránh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị nội bộ, ảnh hướng đến công tác xây dựng pháp luật.

Ba là, chú trọng công tác vận động quần chúng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, hoạt động, phương thức, thủ đoạn, sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong xây dựng pháp luật ở nước ta. Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần phối hợp chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong quần chúng nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Đại hội XIII của Đảng. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là phổ biến rộng rãi các dự thảo luật đang được xây dựng, định hướng dư luận xã hội về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của các văn bản luật đối với xã hội, với người dân; đồng thời, vạch trần âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch lợi dụng quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Chú trọng việc tổ chức tập huấn, tọa đàm, sinh hoạt chính trị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên làm việc tại các cơ quan lập pháp, tư pháp; cơ quan tiếp nhận, thụ hưởng các chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài về xây dựng pháp luật; cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật; cơ quan tiến hành hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật; luật sư trong các liên đoàn luật sư, hội luật gia... Tích cực phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật, đặc biệt là về hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật. Các cơ quan, ban, ngành hữu quan cần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức nước ngoài, nhất là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và trong nước đã, đang hoặc chuẩn bị đầu tư thực hiện các dự án, chương trình về xây dựng pháp luật của Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần phối hợp, tham gia thẩm định các dự án, chương trình có dấu hiệu phức tạp trong việc hỗ trợ xây dựng pháp luật, cảnh báo, khuyến nghị kịp thời âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đến các cơ quan, đơn vị hoạch định chính sách. Quản lý chặt chẽ công tác hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật, các hội nghị, hội thảo quốc tế, các chương trình tài trợ, dự án liên quan đến xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư và các tổ chức nghề nghiệp, nhất là số đối tượng khoác áo “cấp tiến” trong nước có mối quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài; các đối tượng xấu, có quan điểm sai trái, thù địch./.

 St

Nhận diện phương thức, thủ đoạn“diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ở Việt Nam

 Trong thực tiễn hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ở Việt Nam với các phương thức, thủ đoạn rất đa dạng, có thể chỉ ra các thủ đoạn phổ biến sau:

Thứ nhất, thông qua tài trợ các chương trình, dự án hợp tác về xây dựng pháp luật với nguồn kinh phí lớn trong vỏ bọc hỗ trợ xây dựng pháp luật nhưng lại đưa ra những yêu cầu, khuyến nghị sửa đổi pháp luật, can thiệp, tác động vào quá trình xây dựng, ban hành pháp luật của Việt Nam, nhất là trong giai đoạn dự thảo chương trình, đề án, dự án xây dựng luật, giai đoạn soạn thảo luật và thảo luận, giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật. Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng việc triển khai các dự án, chương trình tài trợ, hội nghị, hội thảo với vỏ bọc hỗ trợ các cơ quan có chức năng lập pháp Việt Nam xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thu thập thông tin có giá trị về hệ thống pháp luật Việt Nam phục vụ cho mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam theo ý đồ của họ…

Thứ hai, tìm cách quan hệ, móc nối, tiếp xúc với cán bộ làm việc tại các cơ quan tham mưu, hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật, với mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam, như mời cán bộ thuộc các cơ quan lập pháp, tư pháp của Việt Nam đi tham quan, nghiên cứu mô hình hệ thống tư pháp ở nước ngoài nhằm tác động làm thay đổi quan điểm, tư tưởng, nhận thức; thậm chí tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, tác động, kích động các đối tượng chống đối, bất mãn tuyên truyền, phê phán việc xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung, hệ thống pháp luật nói riêng và công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta nhằm làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động lấy danh nghĩa tài trợ cho giới luật gia Việt Nam mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho luật sư trong nước để tác động, khuyến khích họ phát biểu, phê phán hệ thống pháp luật Việt Nam; lôi kéo số luật gia có trình độ, có uy tín nhưng có tư tưởng đa nguyên, những đối tượng chống đối, có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm, chính sách, pháp luật Việt Nam, tuyên truyền các quan điểm pháp lý tư sản.

Thứ tư, lợi dụng các hiệp định thương mại, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia để tác động, yêu cầu sửa đổi pháp luật. Gần đây nhất là việc nước ta ký kết tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó cài ẩn một số điều khoản tạo tiền đề pháp lý để các “tổ chức xã hội” trong nước phát triển, dần tự do và thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam, tiến tới hình thành tổ chức chính trị đối lập.

Thứ năm, đưa ra các tuyên bố, kiến nghị tập thể, kích động biểu tình, gây rối để tuyên truyền, gây sức ép đến các cơ quan nhà nước mỗi khi có những chính sách, pháp luật mới được ban hành hoặc trong quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật nhằm mục đích gây bất ổn tình hình chính trị - xã hội. Thông qua các cơ chế dân chủ, nhân quyền, các phiên đối thoại song phương, các tổ chức nước ngoài đưa ra những đánh giá sai lệch rằng, pháp luật Việt Nam không bảo đảm các cam kết quốc tế, yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi pháp luật theo ý đồ của họ. Chẳng hạn, như yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi, ban hành các luật liên quan đến thể chế chính trị, thể chế kinh tế, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền con người... Bên cạnh đó, lợi dụng các vụ, việc phức tạp về an ninh, trật tự trong nước, các đối tượng phản động bên ngoài móc nối với các đối tượng chống đối trong nước tuyên truyền, xuyên tạc tình hình, tạo dư luận tiêu cực, phản đối chính sách, pháp luật, kích động biểu tình, bạo loạn…

Ngày này năm xưa: 6-1-1946

Tổng tuyển cử trong cả nước bầu đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây là một sự kiện quan trọng sau Lễ Tuyên ngôn Độc lập diễn ra vào ngày 2-9-1945 chỉ hơn 4 tháng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: Đây là lần đầu tiên người dân Việt Nam được thể hiện quyền làm chủ của mình trong một quốc gia theo chính thể Cộng hòa - Dân chủ.

Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”, "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng, vào Quốc hội đầu tiên của nước ta".

Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 6/1/1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.

Công việc Tổng tuyển cử diễn ra trong điều kiện giặc ngoài thù trong, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn, vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết những nhiệm vụ rất cấp bách hằng ngày đặt ra, vừa thực hiện sách lược tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc, đồng thời lại vừa phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng. Trong điều kiện như thế, đây không phải là một cuộc Tổng tuyển cử thông thường, mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt.

Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội, ứng cử viên Hồ Chí Minh đến phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình.

Theo những số liệu được công bố ngày hôm đó, một cuộc phổ thông đầu phiếu diễn ra trên cả nước đã bầu chọn 333 đại biểu Quốc hội đại diện cho nhiều địa phương, đảng phái chính trị, tầng lớp xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời, đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam

 St


Trắng đêm “đánh giặc lửa”, cứu rừng

 Từ tối 5 đến hết sáng 6-1, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1) liên tục điều động lực lượng và phương tiện cơ động giúp nhân dân xã Minh Phú và Minh Tân của huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội chữa cháy rừng hiệu quả, an toàn tuyệt đối cho người và phương tiện.

Sáng 6-1, nhận lệnh của chỉ huy Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1), Trung đoàn 165 đã cử 120 cán bộ, chiến sĩ cơ động đến khu vực núi Sao Vàng, thuộc thôn Phú Ninh, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội (cách nơi đóng quân gần 15km). Ngay khi tới hiện trường, đơn vị đã tổ chức lực lượng tạo các đường băng cản lửa, khoanh vùng đám cháy và sử dụng phương tiện “đánh lấn” từ ngoài vào trong, đến 10 giờ cùng ngày lực lượng của Trung đoàn 165 cơ bản đã khống chế được ngọn lửa và tiếp tục tạo vành đai an toàn chống cháy lan.

Trước đó, vào 19 giờ 30 phút ngày 5-1, Trung đoàn 165 đã điều 200 cán bộ, chiến sĩ cùng phương tiện cơ động đến khu vực hồ Đồng Đò thuộc thôn Minh Tân, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội để tổ chức chữa cháy rừng (cách nơi đơn vị đóng quân 20km).

Trung tá Hoàng Đình Sơn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 cho biết, do thời tiết hanh khô, gió Bắc thổi mạnh nên đám cháy ngày càng bùng phát dữ dội. Hơn nữa, trong điều kiện đêm tối, địa hình phức tạp, tầm nhìn hạn chế, công tác dập lửa cứu rừng của cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn cả trong công tác tiếp cận và phối hợp thực hiện. Sau nhiều giờ chiến đấu với giặc lửa, đến hơn 1 giờ ngày 6-1, các lực lượng đã khống chế được đám cháy, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Theo Thiếu tá Đinh Văn Oánh, Phó tham mưu trưởng Trung đoàn 165, những năm qua, do biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan, vào mùa hanh khô, nhiều cánh rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn có nguy cơ bị cháy cao. Trước yêu cầu của chính quyền địa phương, nhiều năm qua Trung đoàn 165 đã tổ chức lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng. Trung đoàn 165 coi đây là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” và là một trong những tình huống thực tế làm cơ sở để rèn luyện khả năng sẵn sàng cơ động và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đột xuất.

Thiếu tá Nguyễn Xuân Minh, Phó chính ủy Trung đoàn 165 trực tiếp chỉ huy bộ đội chữa cháy rừng cho biết: "Thời điểm này Trung đoàn 165 đang triển khai các hoạt động thi đua chào mừng kỷ niệm 77 năm Ngày truyền thống (19-1-1946/ 19-1-2023). Thế nên, dù triển khai đồng thời nhiệm vụ cùng thời điểm như đăng cai, phục vụ Sư đoàn 312 tổ chức tập huấn cán bộ năm 2023, làm công tác chuẩn bị huấn luyện và triển khai công tác năm 2023 và nhiều nhiệm vụ khác, nhưng khi có lệnh là cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị đều nhanh chóng triển khai với tinh thần chủ động cao".

Được biết trong những năm qua, cùng với các đơn vị của Sư đoàn 312, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 165 đã nhiều lần tham gia giúp nhân dân trên địa bàn huyện Sóc Sơn chữa cháy rừng, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương khen ngợi. Đây là một trong những thành tích tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống Trung đoàn “Thành Đồng Biên Giới” hai lần anh hùng.     

- Theo báo QĐND-

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 01 NĂM 1960!

     “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đảng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”!
     Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Ba mươi năm hoạt động của Đảng: “...Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vổ sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”, đăng trên Báo Nhân dân, số 2120, ngày 6-1-1960; trong bối cảnh Đảng ta tròn 30 tuổi, đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đẩy nhanh hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học lớn tổng kết lịch sử, khẳng định Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng tỏ rõ là lực lượng đại biểu cho trí tuệ, ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam: dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.
     Lời của Người là nguồn ánh sáng chiếu rọi khắp mọi miền đất nước, được mọi cán bộ, đảng viên của Đảng trân trọng đón nhận, tạo động lực tinh thần thi đua học tập nâng cao bản lĩnh cách mạng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, gắn bó đoàn kết cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
     Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; không ngừng củng cố tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị, phát huy truyền thống dân tộc, gắn bó mấu thịt với nhân dân, anh dũng, kiên cường, chiến đấu sáng tạo, cùng toàn dân đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
     Trong tình hình mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời Bác năm xưa, thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong Quân đội, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng./.
Yêu nước ST.

CẢM GIÁC BUỒN, HỤT HẪNG

 


Nếu một đứa trẻ mất đi cha hoặc mẹ, thì người ta gọi đó là đứa trẻ mồ côi, đàn ông mất vợ thì gọi là góa, phụ nữ mất chồng thì gọi là quả phụ. Nhưng tại sao không có tên gọi nào dành cho những người cha, người mẹ bị mất con? Ðó là vì không có một từ ngữ nào đủ để miêu tả về nỗi đau đó cả. Không một từ nào...".


Xót xa làm sao khi bé Hạo Nam ra đi, người đau đớn nhất bây giờ chính là bố mẹ của em. Cuộc sống vô thường lắm, không biết ngày mai sẽ thế nào : Chúng ta hãy trân trọng yêu thương nhau khi còn có thể để không phải hối tiếc .. 

Cầu mong cho Bé Hạo Nam sẽ sớm được siêu thoát.

CỬ CHỈ ÂN NGHĨA VỚI CÁC LIỆT SĨ

 


“Khi thấy người thân liệt sĩ ngắm thật lâu những bức ảnh được phục chế, ôm vào ngực rồi khóc, tôi lại có thêm động lực để thực hiện công việc này”-đó là tâm sự của Phúc Lê (Lê Văn Phúc, sinh năm 1989), một bạn trẻ có tài phục chế ảnh, mong muốn tri ân thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Nhà của Phúc Lê nằm sát Quốc lộ 1A, thuộc xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên (Hà Nội). Khi chúng tôi đến, đang có vài bạn trẻ mắt không rời màn hình máy tính, bàn tay thoăn thoắt điều khiển con chuột chỉnh sửa ảnh. Phúc Lê giới thiệu đó là những học viên đến nhà anh theo học nghề.


Bước vào nghề nhiếp ảnh gần 20 năm, ban đầu Phúc Lê chỉ chụp ảnh sự kiện, hoạt động tại địa phương. Đã làm nghề nhiếp ảnh thì phải biết xử lý hậu kỳ để bức ảnh đẹp nhất phục vụ khách hàng, cho nên Phúc Lê học thầy, học bạn, mày mò nắm bắt các kỹ năng chỉnh sửa ảnh. 3 năm trước, Phúc Lê phục chế ảnh của người cô ruột đã mất từ năm 1989. Đã 30 năm các con không được nhìn rõ hình ảnh của mẹ nên sau khi nhìn thấy bức ảnh như thấy mẹ còn sống, lập tức òa khóc, khiến anh rất xúc động. Từ đó, Phúc Lê làm thêm công việc phục chế ảnh bởi anh thấy nhu cầu của người dân lớn, trong khi nhiều bức ảnh phục chế chất lượng không cao.


Nhiều người ở khắp các địa phương trên cả nước biết đến tay nghề của Phúc Lê liền tìm đến anh với hy vọng phục chế những bức ảnh cũ của người thân, trong đó có nhiều thân nhân liệt sĩ. Gia đình Phúc có người bác ruột là liệt sĩ chưa tìm được hài cốt và cũng không còn bức ảnh nào lưu lại nên anh đồng cảm với các gia đình liệt sĩ. Mỗi khi có yêu cầu phục chế ảnh liệt sĩ, anh đều dồn hết tâm huyết để bức chân dung thật chân thực, thật đẹp và sống động. Đặc biệt, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7), anh đều nhận phục chế ảnh liệt sĩ miễn phí.


Quy trình phục chế ảnh, bước đầu tiên là xóa mốc, ố, bụi trên ảnh; sử dụng máy quét cho ra ảnh kỹ thuật số; dùng các phần mềm đồ họa vẽ lại những chi tiết bị mất, bị mờ; cuối cùng là hoàn thiện màu sắc, tinh chỉnh các chi tiết. Theo Phúc Lê, cái khó của phục chế ảnh là nhiều bức ảnh do thời gian và quá trình bảo quản dẫn đến bị mờ và ố, rất khó nhận diện chân dung liệt sĩ. Nhiều bức ảnh thực chất là ảnh vẽ, không phải ảnh chụp bằng phim, nên càng khó phục chế hơn. Có nhiều bức, anh và các cộng sự phải tìm cách cảm nhận, liên tưởng để hình dung ra khuôn mặt các liệt sĩ; đôi khi còn phải dựa vào mô tả và khuôn mặt của người thân để dựng lại khuôn mặt người đã khuất.


Những bức ảnh không quá phức tạp thì chỉ cần vài giờ đồng hồ là hoàn thành, song có bức ảnh phải làm đi làm lại hàng tuần. Phúc Lê còn chịu khó tham khảo tài liệu, đến các bảo tàng tìm hiểu quân phục bộ đội trước đây để phục chế chính xác quân phục của các liệt sĩ theo từng thời kỳ. Chính sự tỉ mỉ đó khiến chất lượng ảnh phục chế của Phúc Lê được người trong giới đánh giá cao.


Phúc Lê cho biết, thu nhập từ nghề phục chế ảnh chỉ tạm đủ sống. Điều khiến anh hứng thú với công việc là niềm vui đi tìm lại chân dung đã bị thời gian xóa nhòa. Dịp 27-7 năm nay, anh đã phục chế được gần 70 chân dung liệt sĩ và một số ảnh chân dung của các nhân vật lịch sử. Anh cho biết, sức người có hạn, nhu cầu của thân nhân liệt sĩ rất lớn, do vậy thời gian tới, anh sẽ tập trung đào tạo nhiều bạn trẻ nắm vững kỹ năng phục chế ảnh để chung tay làm công việc nhiều ý nghĩa này.

XUÂN CỦA LÍNH “ĐẾM GIÓ, ĐONG MƯA, ĐO NƯỚC”

 Bất chấp nắng hay mưa, ngày hay đêm, biển lặng dịu êm hay sóng càn bão tố, họ phải “trằn mình” tận nơi đo mực nước, hứng gió để phân tích số liệu phục vụ cho công việc dự báo thời tiết mỗi ngày. Tất cả sự bình yên của chủ quyền biển đảo và sự an bình của những con tàu.

Chuyện lần đầu tiên kể

Để hiểu rõ hơn về những quan trắc khí tượng làm nhiệm vụ ngoài nhà giàn DK1/7, tôi xin gặp Trung tá Lê Xuân Nam - nguyên Chỉ huy trưởng Nhà giàn DK1/7 Tiểu đoàn DK1 Vùng 2 Hải quân để nghe anh kể công việc thường ngày của những quan trắc khí tượng thủy văn nơi đầu sóng ngọn gió.

Theo Trung tá Nam, nếu trắc thủ Radar được gọi là người “siêu âm tàu biển” tức là tàu đi đến đâu, ở vị trí nào đều nắm được, thì chiến sĩ quan trắc khí tượng gọi là “bác sĩ bắt mạch thời tiết”.

“Công việc của họ làm việc suốt ngày đêm khá nhọc nhằn và gian khổ, nhưng không kém phần vinh quang tự hào. Để có số liệu chính xác về dự báo thời tiết gửi về đất liền, các quan trắc viên phải thay phiên nhau trực canh liên tục ngày, đêm, bất kể nắng hay mưa, mùa biển lặng hay bão tố. Tất cả vì sự bình yên của các công trình trên tuyến đầu của Tổ quốc”, Trung tá Nam chia sẻ.

Một thời “ăn sóng nói gió”, “sống với biển vui buồn với biển” ngoài Nhà giàn DK1/7, Trung tá Nam luôn coi “đếm gió, đong mưa, đo nước” của các chiến sĩ trắc thủ khí tượng là nhiệm vụ “chuyên biệt đặc thù”. Để có bản tin dự báo thời tiết chính xác vùng biển, đảo, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc được phát đi trên toàn quốc trong mỗi ngày, anh đã cũng với tổ quan trắc khí tượng ngày đêm “đếm gió, đong mưa, đo nước” từ thực địa nhà giàn.

Một ngày đêm có 24 giờ, thì các quan trắc phải “đo” 24 lần mực nước, “đếm” 24 lần gió. Số liệu tổng hợp được được mã hóa bằng mật mã cơ yếu gửi về Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây cũng là cơ sở đầu tiên để cho ra những bản tin dự báo thời tiết chính xác mỗi ngày.

Đó là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác rất cao. Trong bất luận điều kiện thời tiết nào, mưa hay nắng, đêm hay ngày, gió bão hay sấm chớp, cứ đến giờ là các trắc thủ đến tận nơi để đo, đếm. Đây cũng được coi là nhiệm vụ chiến đấu số 1 của chúng tôi

Chế độ “đo mực nước biển, đếm gió trời” là cả một công việc tỉ mỉ, cẩn trọng. Trong hệ thống 15 nhà giàn DK1 hiện nay, DK1/7 là nhà giàn duy nhất được lắp đặt hệ thống khí tượng thủy văn do các trắc thủ khí tượng đảm trách.

Các chân đế nhà giàn đều được đánh dấu “mực nước, độ sâu”. Thủy triều dâng đến đâu, ứng với “nấc thang số liệu” đến đó. “Nấc thang số liệu” cũng chính là “số đo” của mực nước biển. Dựa vào số đo này, các cơ quan chuyên môn sẽ phân tích tổng hợp và dự báo được biển trong những ngày tới có động hay không.

Ban ngày việc đo mực nước dễ dàng hơn. Chỉ cần nhìn vào trụ cột chân đế nhà giàn, nước dâng đến đâu là đo đến đó. Nhưng đêm tối, các trắc thủ phải cầm “đèn pin” đi xuống sàn cập tàu, “rọi” vào các chân đế để đo. Sóng yên biển lặng việc đo mực nước dễ dàng, song đêm tối sóng to gió lớn, việc đo mực nước biển rất khó khăn nguy hiểm. Dẫu ánh sáng của “đèn pin chuyên biệt” rọi xa, nhưng không phải lúc nào cũng thuận lợi. Ấy là chưa kể đến hiểm nguy rình rập trượt chân rớt xuống biển trong đêm tối nếu không cẩn trọng.

“Mặc dù rất có nhiều kinh nghiệm đo nước biển trong đêm tối, nhưng mỗi lần gặp sóng to gió lớn, chúng tôi đều mặc áo phao xuống sàn cập tàu và có phương án cứu hộ để tránh tai nạn đáng tiếc xảy ra. Việc “đếm gió” trời nhàn hơn nhưng cũng thực hiện giờ một lần. Trên sân thượng nhà giàn lắp hệ thống quạt gió. Số vòng quay của quạt gió thu được từ tốc độ gió thổi trong mỗi giây, chính là số liệu cần thiết báo hiệu trong những ngày tới vùng biển đảo có bão tố, hay gió lớn không? Chúng tôi làm việc không kể ngày đêm, cứ đến ca trực là vào vị trí chiến đấu”, Trắc thủ khí tượng, chiến sĩ Hà Quốc Khánh từ Nhà giàn DK1/7 chia sẻ.

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai?

Xuân Quý Mão đã tràn về trên khắp nẻo đường làng quê góc phố. Ở nơi xa nhất của biển đảo Tổ quốc, những quan trắc khí tượng ngoài Nhà giàn DK1/7 cũng đón một mùa Xuân yên bình trong niềm vui chung của nhân dân cả nước.

Lần thứ 9 đón Tết giữa ngàn khơi, mặc dù rất nhớ đất liền, thương bố mẹ ở quê nhà cả năm vất vả, nhưng nhân viên khí tượng Trần Thành Công vẫn yên tâm tư tưởng và luôn xác định hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chia sẻ về niềm trăn trở khi đón Xuân xa nhà giữa biển trời Tổ quốc, Công trải lòng: “Ngày Tết ai chẳng nhớ đất liền, gia đình người thân. Nhưng vì nhiệm vụ của đơn vị giao phó phải quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nếu ai cũng đón Tết ở đất liền, ai là người giữa biển, ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ để dành phần ai. Để có bản tin dự báo thời tiết chính xác, vì sự bình yên của những con tàu, những công trình ngoài biển đảo, thì dù gian khổ, thầm lặng cống hiến, hy sinh tuổi trẻ, cũng là kiêu hãnh. Đã là lính nhà giàn thì sự lựa chọn là bảo vệ biển, đảo Tổ quốc, đó là nhiệm vụ thiêng liêng”.

“Có nhiều lúc gió bão đến rất gần, xung quanh xảy ra sấm chớp, sóng to cấp 9, 10, gió giật cấp 12, chúng tôi cầm đèn pin đội mưa trèo lên sân thượng nhà giàn ghi lại những dữ liệu mà các máy đo vừa ghi nhận để kịp thời xử lý số liệu. Đo mực nước giữa đêm tối trong mùa bão tố sóng lớn cũng vô cùng gian khổ.

DK1/7 là nhà giàn duy nhất đặt trạm Khí tượng Hải văn tiêu chuẩn phát báo quốc tế (trạm cấp I, phát báo 4 obs/ngày). Biên chế quân số thường xuyên thiếu hụt nên anh em thay ca nhau trực ở nhà giàn 8 tháng mới vào đất liền một lần. Cũng có người đón 2 Tết ở biển mới về nghỉ phép 1 tháng rồi lại ra nhà giàn trực lại. Nhiệm vụ khó khăn, gian nhọc nhằn khổ lắm, nhưng cứ nghĩ đến sự bình yên của các công trình biển, nhọc nhằn lại tan biến, niềm vui lại nhân lên, đong đầy”, anh Công trải lòng.

Từ năm 2009, hệ thống nhà giàn DK1 đã được nâng cấp sửa chữa từ một thân lên hai thân hiện đại. Đời sống của cán bộ, chiến sĩ cũng đã được cải thiện rất nhiều. Trong bữa cơm giữa biển trời nắng gió, không chỉ có món cá kho mặn mòi vị biển, mà còn có rau muống luộc, rau cải nấu canh. Nước ngọt cũng có phần “xông xênh” hơn trước. Mạng điện thoại Viettel là “nhịp cầu Ô Thước” nối liền khoảng cách giữa biển và bờ. Ngày thường nỗi nhớ đất liền đã canh cánh trong lòng, khi Xuân về, Tết đến, dẫu yên tâm tư tưởng nhưng nỗi nhớ gia đình người thân ở đất liền càng thêm da diết./.