Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ ĐỂ CHỐNG PHÁ, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC .

 

Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả...
Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...
Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.
Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.
Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.
Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.
Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.
Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.
Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.
Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.
Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.
Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.
Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số./.
Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng, ngoài trời và đám đông
Tất cả cảm xúc:
1

NGĂN CHẶN, XỬ LÝ TIN GIẢ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 

Đó là chủ đề Hội thảo khoa học quốc tế do Trường Đại học Kỹ thuật Hậu cần Công an nhân dân (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tổ chức sáng 2/3, với sự tham gia của đại diện Hội đồng Lý luận Trung ương, các bộ, ban, ngành, Đại sứ quán một số nước tại Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Phát biểu đề dẫn Hội thảo, Thiếu tướng, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Cương, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Hậu cần Công an nhân dân nhấn mạnh, không gian mạng là không gian ảo, hình thành từ mạng lưới kết nối của các mạng bao gồm: internet, mạng viễn thông, hệ thống máy tính, bộ xử lý và điều khiển, chứa đựng cơ sở dữ liệu, phản ánh hoạt động của con người, không giới hạn về không gian, thời gian. Thời đại không gian mạng với các hệ thống thực ảo kết hợp, con người đang khai phá một không gian mới vô tận, tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày càng nhiều các công nghệ mới, tiên tiến hơn sẽ xuất hiện. Khi đó, không gian mạng sẽ trở thành một không gian hiện hữu trong đời sống thường ngày, gắn chặt với công việc, thời gian, tâm tư, tình cảm của con người. Tuy nhiên, không phải mọi thứ trên không gian mạng đều an toàn, đáng tin cậy, văn minh và tuân thủ theo luật pháp; sức phá hoại, sự nguy hiểm của tin giả trên không gian mạng rất lớn. Vì vậy, cơ quan chức năng cần có biện pháp ngăn chặn, xử lý phù hợp.
Hội thảo là diễn đàn để các đại biểu trao đổi về các vấn đề: Cơ sở lý luận, pháp lý, cơ sở thực tiễn về vấn đề tin giả trên không gian mạng; công tác đấu tranh phòng, chống tin giả trên không gian mạng; các giải pháp đấu tranh phòng, chống tin giả trên không gian mạng. Qua đó, khẳng định tầm quan trọng của việc ngăn chặn và xử lý tin giả trên không gian mạng; đưa ra các đề xuất để phát hiện, xử lý tin giả trên không gian mạng. Các báo cáo tham luận tập trung nghiên cứu và phát triển các giải pháp sử dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện và ngăn chặn tin giả trên mạng một cách chính xác, hiệu quả hơn; nghiên cứu về giáo dục và nâng cao nhận thức của người dùng mạng. Hội thảo là diễn đàn tăng cường hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và Chính phủ để đưa ra các giải pháp toàn diện, bền vững nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của tin giả trên không gian mạng đến xã hội.
Chia sẻ về vấn đề tin giả trong kỷ nguyên truyền thông xã hội, Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Tuấn Anh, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã đưa ra cơ chế phòng, chống, hạn chế tin giả. Cụ thể, cần thành lập các bộ phận, nhóm làm việc hoặc thiết kế không gian theo cách thức nhất định để kiểm chứng thực tế hay xác minh sự thật; nâng cao kiến thức để mọi người hiểu được chức năng của truyền thông trong xã hội, có khả năng đánh giá nghiêm túc nội dung và tương tác với truyền thông một cách đúng đắn. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật trong phòng, chống tin giả.
Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã phân tích, chỉ rõ ảnh hưởng, hậu quả của việc đưa tin giả trên không gian mạng; các tin này ảnh hưởng đến xã hội và gây hậu quả đến nền kinh tế. Từ đó, các cơ quan chức năng cần hạn chế ảnh hưởng của tin giả trên không gian mạng. Thực tế thời gian qua, việc xử lý tin giả được các cơ quan chức năng quan tâm với nhiều giải pháp đồng bộ tuy nhiên tình trạng phát tán tin giả, tin xấu, độc vẫn diễn biến phức tạp.
Giáo sư Lê Văn Lợi đề xuất, các cơ quan chức năng cần chuyển từ tư duy “zero face news” sang tư duy quản trị, rủi ro, tạo các khung, cơ chế, thể chế để điều chỉnh, chủ động giảm thiểu ảnh hưởng của tin giả lên không gian mạng. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan báo chí trong vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội; cung cấp thông tin chính xác về những vấn đề dư luận xã hội quan tâm; đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp của các lực lượng trong đấu tranh với “vấn nạn” tin giả…/.
TTXVN

TỰ DO NGÔN LUẬN CẦN PHẢI CÓ GIỚI HẠN 


➡️ Trong thời gian qua nhiều người dùng mạng xã hội để đưa ra những thông tin bịa đặt, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Có thể kể đến một số vụ việc đáng chú ý như: khởi tố vụ án liên quan Nguyễn Phương Hằng, Đặng Thị Hàn Ni (nhà báo) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo điều 331 BLHS.


➡Việc CQĐT khởi tố một số người về tội Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân là cần thiết, để đảm bảo an ninh, an toàn mạng, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân.


📣 Điều 25 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Trên không gian mạng, quyền tự do ngôn luận của công dân cũng được pháp luật bảo hộ - sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng phải tuân thủ quy định chung của Luật An ninh mạng, Luật An toàn thông tin mạng năm 2018,…. Tại Điều 8 Luật An ninh mạng quy định những hành vi bị nghiêm cấm như: Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi;…


👉 Như vậy, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam... Những cá nhân nào ngộ nhận hoặc lợi dụng về quyền tự do ngôn luận, thông qua nền tảng mạng xã hội để phát ngôn bừa bãi, không có căn cứ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, gây nhiễu loạn thông tin, làm bất ổn tình hình an ninh trật tự xã hội…, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.


✅Cụ thể, người thực hiện hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyên điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, quy định như sau: “Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;…


✅Nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác, quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự hoặc Tội vu khống, quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự. Thậm chí, nếu thực hiện phát trực tiếp những nội dung thông tin không được kiểm chứng, sử dụng những ngôn từ mang tính chất nhục mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, coi thường pháp luật, có thể bị truy cứu tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân", quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự.

PBVN ST 

Luận điệu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch


Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai trái, bịa đặt. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm, thu hút sự chú ý của nhiều người là chúng nói xấu chế độ XHCN, nói xấu Đảng, Nhà nước, các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, nhân quyền; xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ và công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ của Đảng ta; tuyên truyền làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ; bôi nhọ nói xấu Bộ Chính trị; kêu gọi người dân xuống đường biểu tình xóa bỏ Đảng. Những hoạt động trên là một trong những hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và phản động. Trong đó các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bản chất là chúng muốn gây chia rẽ, gây mâu thuẫn 54 dân tộc anh em trong xã hội Việt Nam ta, gây mất đại đoàn kết toàn dân tộc trên nhiều vấn đề.

KỶ NIỆM 117 NĂM NGÀY SINH THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG (1/3/1906-1/3/2023).

 

🌸🏵🌼🌺🌻💐🌸🏵🌼🌺🌻💐
Gần một thế kỷ của cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế yêu mến và kính trọng.
94 tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho đất nước, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đồng chí cũng luôn tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng, vào tương lai tươi sáng của đất nước.
♦️ Người học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1/3/1906 trong một gia đình công chức tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi và mất ngày 29/4/2000, tại Thủ đô Hà Nội.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi còn là một thanh niên, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, đã biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”…
Năm 1926, đồng chí được sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí. Đồng chí đã nhanh chóng tiếp thu những tư tưởng mới - con đường cách mạng vô sản, và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Cũng từ đó, đồng chí có điều kiện gặp gỡ nhiều hơn với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ý chí cách mạng, lý tưởng cộng sản và tinh thần yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới tình cảm và lý tưởng của đồng chí, biến đồng chí từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.
Đầu năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng những nhiệm vụ quan trọng. Cũng từ đây, bắt đầu một thời kỳ dài gần 30 năm (cho tới khi Bác mất), đồng chí Phạm Văn Đồng thường xuyên làm việc bên Bác, theo sự chỉ dẫn và phân công của Người.
Là một trong những cán bộ tiền bối, được Bác Hồ trực tiếp giáo dục và rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trở thành người học trò xuất sắc, một cộng sự gần gũi và thân thiết của Bác Hồ. Đồng chí thể hiện những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực, đó là đức tính: Tận trung với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung…
♦️ Người cộng sản kiên cường, mẫu mực, suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong suốt 15 năm đầu đi theo con đường cách mạng (1926-1940), đồng chí luôn vượt qua mọi khó khăn, gian nguy, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho cách mạng với niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến tháng 1/1949, đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ. Đồng chí đã có những cống hiến và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu tự lực cánh sinh, chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng chí còn chỉ đạo việc thành lập và trực tiếp giảng dạy tại Trường Trung học Bình dân Nam Trung Bộ.
Khoảng tháng 2/1949, đồng chí được điều động trở lại công tác tại Việt Bắc được bổ sung làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, sau đó là Phó Thủ tướng Chính phủ. Từ năm 1951 đến 1986, được bầu vào Bộ Chính trị. Từ năm 1955 đến 1987, đồng chí được Đảng và Nhà nước giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Đồng chí còn kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng trong những năm 1954-1955. Trong thời gian từ 1986-1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và giữ cách sống mẫu mực của một đảng viên cộng sản chân chính theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí luôn là tấm gương mẫu mực về một người cán bộ lãnh đạo, tận tâm tận lực, vì dân, vì nước, liên khiết, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với nhân dân.
Tháng 5/1999, dù tuổi cao, sức khỏe không còn tốt, đồng chí vẫn gửi đến Tạp chí Cộng sản bài viết "Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam". Với ngòi bút sắc sảo của mình, đồng chí đã chỉ rõ những mặt yếu kém cần sửa chữa, khắc phục, với tinh thần thấy rõ sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật, nghiêm khắc và sắc bén làm nổi rõ những gì phải giải quyết, đồng thời đưa ra những biện pháp giải quyết thiết thực và hiệu quả. Những lời tâm huyết từ đáy lòng của người chiến sĩ cách mạng lão thành đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh của Đảng của dân tộc, đã có sức lay động con tim độc giả. Bài viết đã gây được sự chú ý của dư luận trong những ngày đầu cuộc vận động triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương VI (lần 2).
♦️ Nhà lãnh đạo xuất sắc
Trong hai cuộc kháng chiến cứu quốc, trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã lo tổ chức một bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém mà có hiệu quả, tích cực phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến; tăng cường sức mạnh và sự an toàn hậu phương của chiến tranh; tổ chức tốt công tác chi viện cho tiền tuyến.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng chí rất trăn trở trước những khó khăn của đất nước. Đồng chí đã chỉ đạo cho cán bộ đi khảo sát “khoán chui” trong nông nghiệp ở Hải Phòng. Đồng chí trực tiếp làm việc với cán bộ lãnh đạo Hải Phòng và kết luận cái được, cái chưa được trong cơ chế khoán này. Đó là tiền đề cho Chỉ thị của Đảng về khoán hộ trong nông nghiệp ở thời kỳ đổi mới, một giải pháp hiệu quả cho nền nông nghiệp nước nhà. Cũng thời gian này, đồng chí đã đồng ý cho Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp mới trong cơ chế sản xuất công nghiệp và từng bước tổng kết. Từ đó đã ra đời các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là những bước đầu của tư tưởng đổi mới.
Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đồng chí khẳng định: Đổi mới là xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là dân giàu, là xây dựng một nền văn hóa mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Với phong cách làm việc gắn kết chặt chẽ giữa tư duy lý luận sắc bén với thực tiễn sinh động, đồng chí đã thể hiện là một người lãnh đạo kinh tế đổi mới, người quản lý thông thái, đầy năng động và sáng tạo. Đồng chí rất nghiêm khắc đòi hỏi ở bản thân và mọi người phải làm việc thực sự có hiệu quả, năng suất, chất lượng; phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí. Những năm 1976-1985, ở cương vị lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế trên phạm vi cả nước, đồng chí đã lo tập trung giải quyết những vấn đề trọng yếu, cấp thiết của đất nước ở tầm vĩ mô nhằm thực hiện tốt các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong lĩnh vực đối ngoại, đồng chí là một nhà ngoại giao tài năng, có uy tín lớn trên thế giới; nhìn xa thấy rộng, tinh tế và linh hoạt, kiên cường và mềm dẻo, ứng xử nhanh nhạy, sáng tạo, luôn thể hiện lập trường chính trị sáng suốt trước mọi diễn biến của thời cuộc và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh. Đồng chí là Trưởng đoàn Việt Nam tham dự nhiều Hội nghị quốc tế, giải quyết những vấn đề không chỉ của Việt Nam mà còn liên quan đến nhiều nước, nhiều phong trào ở khu vực và quốc tế, như: Hội nghị Fontainebleau (1946), Hội nghị Geneva (1954), Hội nghị các nước Á - Phi họp ở Indonesia (1955), các Hội nghị cấp cao của Phong trào không liên kết…
Trong những năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng chí tham gia vào việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Gần một thế kỷ của cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế yêu mến và kính trọng. Là một nhà lãnh có uy tín lớn của Đảng và Nhà nước ta, công lao, nhân cách của Thủ tướng mãi là tấm gương sáng để các thế hệ con cháu tôn vinh và học tập./.
vubao8-st

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG"



Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”.
Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, chúng lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.
Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của các thế lực thù địch để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.
Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó. Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu?./.
vubao-st7
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
Tất cả cảm xúc:
1

NGA NÊU RÕ LÝ DO NGỪNG HIỆP ƯỚC HẠT NHÂN CUỐI CÙNG VỚI MỸ


Nga tuyên bố quyết định tạm ngừng tham gia hiệp ước hạt nhân START Mới với Mỹ vì "Washington sử dụng thỏa thuận này để hỗ trợ Ukraine tập kích vào các cơ sở chiến lược của Moscow".
Reuters đưa tin, Thứ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ryabkov ngày 2/3 cho biết, Moscow đã buộc phải tạm ngừng tham gia hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân START Mới vì cáo buộc Mỹ sử dụng hiệp ước này để giúp Ukraine tấn công các địa điểm chiến lược của Nga.
Phát biểu tại Hội nghị Giải trừ quân bị của Liên hợp quốc ở Geneva, ông Ryabkov cáo buộc Mỹ và các đồng minh muốn thấy Nga bị thất bại về mặt chiến lược ở Ukraine và cáo buộc phương Tây đã thổi bùng xung đột ở đó.
"Tình hình càng xấu đi sau khi Mỹ cố gắng 'thăm dò' hệ thống an ninh của các cơ sở chiến lược của Nga trong Hiệp ước START Mới bằng cách hỗ trợ chế độ Kiev tiến hành các cuộc tấn công vũ trang chống lại những cơ sở này. Vì điều này, chúng tôi buộc phải tạm ngừng tham gia hiệp ước", ông phát biểu.
Tổng thống Nga Vladimir Putin tuần trước tuyên bố Nga ngừng tham gia START Mới và đã ký thành luật hồi đầu tuần này sau khi được quốc hội thông qua. Tuy nhiên, Nga khẳng định không rút khỏi thỏa thuận hạt nhân cuối cùng với Mỹ.
Quyết định của Nga khiến phương Tây lo ngại. Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết, ông xem quyết định của nhà lãnh đạo Nga về việc tạm ngừng hiệp ước START Mới với Mỹ là bước đi sai lầm. Mặc dù vậy, ông nói, không có dấu hiệu nào cho thấy Moscow đang cân nhắc sử dụng vũ khí hạt nhân.
Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cho rằng, việc có thêm nhiều vũ khí hạt nhân và ít thỏa thuận kiểm soát vũ khí đang khiến thế giới trở thành một nơi nguy hiểm hơn.
Hiệp ước START Mới giữa Nga và Mỹ có hiệu lực từ năm 2011, trong đó quy định mỗi nước không triển khai quá 1.550 đầu đạn hạt nhân và 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa. Theo giới quan sát, Nga tạm ngừng tham gia START Mới dường như nhằm kéo thêm các nước đồng minh khác của Mỹ có vũ khí hạt nhân vào hiệp ước và gây sức ép với phương Tây về vấn đề Ukraine.
Dân trí
Có thể là hình ảnh về 1 người


CHỈ CẦN TRONG XE CÓ MỘT TRÁI TIM

 

❤
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
....
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Trich thơ Phạm Tiến Duật
🍁
"Chỉ cần trong xe có một trái tim" là biểu hiện của tình yêu nước, ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột thịt của những người linh lái xe Trường Sơn. Chính sức mạnh ấy đã giúp người lính vượt qua bao gian khó, thiếu thốn, những anh lính lái xe, những “tiểu đội xe không kính”, “vượt núi, vượt ngàn khó nguy, ta đưa những chuyến xe đầy”, băng băng ra chiến trường không sợ bom đạn pháo sáng và hy sinh, cho nên họ đều có niềm tự hào của người lính vận tải anh hùng đã góp phần làm nên chiến thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước CHỈ CÂN TRONG XE CÓ MỘT TRÁI TIM'
Tất cả cảm xúc:
1