Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Công tác tư tưởng trong quân đội là một bộ phận của công tác tư tưỏng của Đảng Cộng sản Việt Nam, một mặt cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội, trực tiếp bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức cách mạng, phát triển đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và quân đội; là công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá chống mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch. Công tác tư tưởng luôn là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và trong sự nghiệp xây dựng chiến đấu của quân đội. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta hơn 76 năm qua đã chứng minh công tác tư tưởng dưới ánh sáng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy sức mạnh và hiệu quả to lớn trong việc củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; là nhân tố quan trọng, có tính chất quyết định bảo đảm cho quân đội ta hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt nam, ngay từ khi cách mạng còn trứng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra sức mạnh để lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến là "ở nơi dân", là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Để phát huy tối đa nguồn sức mạnh đó, theo Hồ Chí Minh phải làm tốt công tác tư tưởng. Vì vậy, trong bất kỳ giai đoạn nào, trong nhiệm vụ gì Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng công tác tư tưởng để giác ngộ nhân dân, hướng dẫn, động viên nhân dân quyết tâm làm và biết làm đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu không những phải đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng mà còn phải nắm vững những định hướng lớn trong hoạt động tuyên truyền giáo dục nhằm xây dựng con người xã hội chủ nghĩa với tư tưởng xã hội chủ nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân và trong quân đội hiện nay.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo điều kiện đưa cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” hòng “phi chính trị hóa” quân đội; xóa bỏ độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tình hình đó, đất nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn đan xen đang đặt ra đòi hỏi rất cao đối với mỗi con người Việt Nam nói chung, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng; đòi hỏi phải tăng cường mạnh mẽ công tác tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân, trong quân đội.

 Quán triệt sâu sắc luận điểm cách mạng và khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”[1]; để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới, đòi hỏi công tác tư tưởng phải chủ động tiến hành một cách toàn diện, lấy việc giáo dục, rèn luyện người quân nhân cách mạng trong quân đội nhân dân Việt nam là trung tâm, trước hết cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, phải quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện công tác tư tưởng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”[2]. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình, nhiệm vụ thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, chúng ta nhất định thắng lợi. Là tổ chức lãnh đạo ở các đơn vị trong toàn quân, sự lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp tác động trực tiếp đến tư tưởng, niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Tinh thần tự giác của quần chúng chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà Nước phụ thuộc rất lớn vào năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và tính tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy ở đâu tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, thì ở đơn vị đó tình hình tư tưởng ổn định, ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của đảng, chính sách và pháp luật của Nhà Nước được thực hiện nghiêm túc, các hiện tượng tiêu cực bị đẩy lùi, mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng được tăng cường và củng cố. Ngược lại, ở nơi nào, đơn vị nào tổ chức đảng yếu kém thì đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà Nước không được thực hiện một cách triệt để; uy tín và sức lãnh đạo của Đảng bị giảm sút, các hiện tượng tiêu cực, tư tưởng lệch lạc nảy sinh và phát triển. Chính vì lẽ đó, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng rong quân đội trước hết phải quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp (nhất là cấp ủy, chi bộ) trong sạch vững mạnh.

Xây dựng cấp ủy, chi bộ trong sạch vững mạnh, theo Hồ Chí Minh phải chăm lo xây dựng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải coi trọng việc giáo dục, quản lý và rèn luyện đảng viên; nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; giải quyết tốt mối quan hệ mật thiết giữa tổ chức đảng với đảng viên và quần chúng. Phải thường xuyên gắn chặt công tác xây dựng đội ngũ đảng viên với công tác cán bộ, công tác củng cố, kiện toàn tổ chức cấp ủy, chi bộ. Phải được kiện toàn cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp, đáp ứng lãnh đạo toàn diện công tác tư tưởng. Cán bộ, đảng viên phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng xứng đáng là tấm gương sáng tiêu biểu để quần chúng noi theo.

Hai là, Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu, tích cực chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình tiến hành công tác tư tưởng.

Chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng ở các đơn vị trong toàn quân là kết quả ảnh hưởng trực tiếp vai trò tích cực chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Đảng nắm chắc được tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Đó là cơ sở để Đảng xác định đường lối, chủ trương, biện pháp tiến hành công tác tư tưởng cho phù hợp với nhiệm vụ và đời sống hoạt động của quân đội. Mặt khác, cán bộ, đảng viên là những người tuyên truyền, giáo dục và tổ chức thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng . Do đó, để nắm chắc tình hình tư tưởng và tiến hành công tác tư tưởng ở các đơn vị trong toàn quân đạt chất lượng hiệu quả cao, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực toàn diện trên các mặt công tác, có khả năng vận dụng lý luận để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của đời sống bộ đội dặt ra. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải sâu sát, nắm vững tâm tư, nguyện vọng và các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội để kịp thời đề xuất và tiến hành các hoạt động công tác tư tưởng cho phù hợp với từng đối tượng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc phát huy vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính trị. Theo Người, tư cách của người chính trị viên ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội, người chính trị viên tốt, thì bộ đội tốt. Từ đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi người chính trị viên phải thực sự tiêu biểu, mẫu mực về mọi mặt, phải là người kiểu mẫu trong mọi việc. Sự gương mẫu đó có sức cảm hóa mạnh mẽ đối với mọi cán bộ, chiến sĩ trong quá trình rèn luyện, phấn đấu để trở thành người quân nhân cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc.

Ba là, đổi mới hình thức phương pháp tuyên truyền, giáo dục gắn với công tác tổ chức các phong trào thi đua rộng khắp.

Để nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp sinh động, khoa học và hiệu quả trong tuyên truyền, giáo dục. Theo Người, phương pháp giáo dục theo nguyên tắc tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục chứ không gò bó. Người rất chú trọng phương pháp nêu gương điển hình tiên tiến, lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Bên cạnh đó phải coi trọng việc khơi dậy, phát huy chủ nghĩa yêu nước, một tiềm năng vô tận của dân tộc Việt nam nói chung và của quân đội nói riêng. Người cho rằng lòng yêu nước là cái quý nhất của con người Việt nam. Nó là động lực mạnh mẽ trong sức mạnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Hồ Chí Minh nhắc nhở: tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải hết sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến. Gắn liền với tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước phải tổ chức các phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp để mọi người được phát huy hết của mình trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội.

Bốn là, công tác tư tưởng phải quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng không thể tách rời đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến sự  ổn định tư tưởng của bộ đội. Người chỉ dạy cho cán bộ trong quân đội: đối với binh sĩ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui nỗi buồn nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ, thì  khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh họ sẽ hăng hái đánh. Trách nhiệm đó thuộc về lãnh đạo, chỉ huy và các ngành, các cấp, là sự thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và nhân dân đối với những người hoạt động trong lĩnh vực quân sự.    

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng trong quân đội ta hiện nay, mọi hoạt động của lĩnh vực công tác tư tưởng đều hướng vào vấn đề trung tâm là giáo dục, rèn luyện con người mới xã hội chủ nghĩa trong quân đội, con người có tình cảm yêu nước xã hội chủ nghĩa, quyết tâm dồn toàn bộ tinh thần và nghị lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.



[1] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội. 2011, Tập 9,  Tr. 63.

 

[2]Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội. 2011, Tập 9,  Tr. 309.

 

 

Thắm tình nơi nguồn cội

 

Đã trở thành thông lệ, những ngày đầu tháng 3, Ban Công đoàn Quốc phòng (CĐQP) tổ chức đoàn công tác về nguồn tại thôn Pắc San 2, xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, nơi đặt Bia di tích lịch sử ra đời Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam, tổ chức công đoàn đầu tiên trong Quân đội (6-3-1949).

“Suốt đêm tôi không ngủ được, cứ mong trời sáng để ra đây, được gặp mặt các đồng chí trong đoàn công tác về thăm bia di tích lịch sử. Năm nào tôi và gia đình cũng vinh dự được cán bộ, chiến sĩ Ban CĐQP quan tâm thăm hỏi, động viên... ”, ông Nguyễn Văn San (54 tuổi, thôn Pắc San 2) xúc động tỏ bày với Đại tá Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban CĐQP và các thành viên trong đoàn tại buổi gặp mặt.

Ở thôn Pắc San 2, gia đình ông San là gia đình có công lớn với cách mạng, với cán bộ, chiến sĩ Ban CĐQP và Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Để có khuôn viên bia di tích khang trang, rộng rãi, thoáng mát như bây giờ, chính gia đình ông đã nhường hơn 1.000m2 đất để đơn vị và địa phương xây dựng bia di tích vào năm 2015. Cùng với gia đình ông San, gia đình ông Lường Văn Tiệp của thôn đã tự nguyện nhận trông coi, chăm sóc khuôn viên di tích. Thế rồi, chuyện những ngày đầu ra đời Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam (tiền thân của CĐQP ngày nay), về quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của CĐQP, về tình cảm của gia đình ông San và người dân nơi đây dành cho bộ đội... cứ thế được các thành viên trong đoàn nhắc lại đầy cảm động.

Về nghỉ hưu đã nhiều năm, hôm nay, được trở về thăm lại nơi này, ngồi dưới những tán cây tỏa bóng xanh mát trong khuôn viên đặt bia lưu niệm, Thiếu tướng Ngô Văn Bích, nguyên Trưởng ban CĐQP, nguyên Cục trưởng Cục Dân vận (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) không giấu được sự bồi hồi, xúc động, Thiếu tướng Ngô Văn Bích nhắc lại lịch sử của ngày 6-3 cách đây tròn 74 năm: Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành quân giới với lực lượng công nhân sản xuất vũ khí được hình thành và ngày càng phát triển, tham gia sinh hoạt tại các tổ chức công đoàn ở nhiều xưởng sản xuất. 

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, theo quyết định của Ban Công vận Trung ương, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trương thống nhất công đoàn trong các xưởng sản xuất vũ khí thành ngành dọc toàn quốc, trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Và Hội nghị thành lập Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam đã chính thức được tổ chức vào ngày 6-3-1949, tại bản Pắc San, xã Yên Đĩnh.

Thắm tình nơi nguồn cội
Các đại biểu trong đoàn công tác ôn lại những ngày đầu thành lập Ban Công đoàn Quốc phòng. 

Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, dù trong gian khổ, mưa bom bão đạn, vừa sản xuất, vừa tham gia chiến đấu nhưng cán bộ, đoàn viên công đoàn, người lao động luôn nêu cao quyết tâm, say mê sáng tạo, cải tiến, tự thiết kế, chế tạo thành công nhiều vũ khí, phương tiện kỹ thuật, tham gia mở đường, góp phần to lớn vào chiến thắng của Quân đội.

Tự hào về truyền thống của CĐQP, về sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của đội ngũ cán bộ, đoàn viên công đoàn hiện nay, Đại tá Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban CĐQP, trưởng đoàn công tác về nguồn lần này phấn khởi tiếp lời: Từ 37.500 đoàn viên công đoàn sinh hoạt tại 137 tổ chức công đoàn những ngày đầu thành lập, đến nay, toàn quân có 54 đơn vị cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng có tổ chức công đoàn với 890 công đoàn cơ sở và hơn 175.000 đoàn viên công đoàn, trở thành lực lượng quan trọng góp phần xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Hoạt động của tổ chức công đoàn trong Quân đội ngày càng được đổi mới cả về nội dung và phương pháp, đạt hiệu quả thiết thực. 74 năm qua, có gần 10 tổ chức công đoàn cơ sở được tặng Huân chương Lao động hạng Ba; 5 đoàn viên công đoàn được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lao động. Ban CĐQP được tặng 2 Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất, Nhì; nhiều cờ thưởng, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam...

Dịp hành quân về nguồn năm nay, đoàn công tác có sự tham gia của nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo Ban CĐQP trước đây. Mặc dù phải trải qua quãng đường dài để đến đây song gương mặt ai cũng rạng rỡ, tinh thần đầy phấn chấn. Nghỉ hưu đã nhiều năm, nay có dịp trở lại với cội nguồn quân giới, cội nguồn của đoàn viên công đoàn, Đại tá Nguyễn Xuân Hải, nguyên Trưởng ban CĐQP xúc động nói: Gắn bó nhiều năm với tổ chức công đoàn, cũng đã nhiều lần trở về Pắc San 2, lần nào cũng cho tôi những cảm xúc dâng trào, có lẽ một phần bởi CĐQP là một phần máu thịt trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Suy nghĩ của Đại tá Nguyễn Xuân Hải cũng là suy nghĩ của hầu hết thành viên trong đoàn. Về nguồn, về với Pắc San 2 để nhắc nhớ rằng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Ban CĐQP luôn ghi nhớ về nơi ra đời của đơn vị. Đó là cội nguồn, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, nhắc nhở mỗi cán bộ, đoàn viên Ban CĐQP nói riêng, cán bộ, đoàn viên công đoàn toàn quân nói chung nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ trên từng cương vị công tác.

Một số nhận thức lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong nhiều năm qua, đặc biệt từ Đại hội XI của Đảng đến nay đã thể hiện hệ thống quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng sâu sắc và toàn diện. Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư là những vấn đề lớn có ý nghĩa chỉ đạo tổng thể, mang tính nền tảng về lý luận và thực tiễn, nội hàm sâu rộng với những nội dung quan trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự Kỳ họp bất thường lần thứ hai, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

Giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền theo quy định của Hiến pháp

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng thời tạo nên sự khác biệt lớn nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản phương Tây. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền không có nghĩa là làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, mà góp phần quan trọng nâng cao vị thế, năng lực lãnh đạo của Đảng, củng cố địa vị cầm quyền của Đảng, hoàn thành sứ mệnh tiên phong của Đảng. Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp (ngày 24-8-2015), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định và nhấn mạnh nội dung mang tính nguyên tắc này: “… trong bất luận hoàn cảnh nào, phải kiên định lập trường tư tưởng, luôn giữ vững mục tiêu, quan điểm, đường lối của Đảng ta trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống luật pháp của nước ta… Chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một nhà nước thực sự kiến tạo khuôn khổ thể chế, pháp luật cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc… Nhưng phải luôn nhớ là Nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho Nhà nước vận hành trôi chảy, vừa tiếp nhận, phát triển những giá trị đã được khẳng định của văn minh nhân loại, vừa phải phù hợp với những giá trị tốt đẹp của truyền thống Việt Nam, phù hợp với yêu cầu của chế độ ta, đất nước ta trong giai đoạn phát triển mới. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, rất hệ trọng”(1)Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ, phát huy quyền con người, quyền công dân, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước trở thành phương thức quan trọng hàng đầu trong các phương thức lãnh đạo của Đảng, khẳng định địa vị cầm quyền của Đảng khi quyền lực chính trị được chính danh hóa trong quyền lực công; và nhờ đó, đường lối của Đảng được thể chế hóa, nguồn lực và sức mạnh của Nhà nước được sử dụng để phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tất yếu khách quan, thể hiện tính chính danh về sự cầm quyền được hiến định, được lịch sử lựa chọn, nhân dân tin tưởng trao trọng trách và tuyệt đối tin theo, nhất là được kiểm chứng trên thực tiễn bằng bản lĩnh, uy tín, năng lực, đạo đức của một đảng cách mạng chân chính, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo và trách nhiệm cầm quyền vì lợi ích của quốc gia - dân tộc, vì ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Nhân dân là cơ sở xã hội, là nguồn sức mạnh hùng hậu của Đảng, bởi vậy, phục vụ nhân dân là lý do tồn tại của Đảng. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải hợp lòng dân, xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, "ý Đảng" phải gắn với "lòng dân". Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm bảo đảm Nhà nước luôn là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, hoạt động đúng Hiến pháp, pháp luật, làm tốt hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân, vì tự do, hạnh phúc của con người và sự phát triển bền vững của đất nước. Thước đo tính đúng đắn, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cuối cùng phải được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Năng lực, hiệu quả hoạt động, uy tín xã hội của Nhà nước không chỉ do các tổ chức đảng đánh giá, mà còn dựa vào sự đánh giá công khai, dân chủ của người dân, cộng đồng và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ ở cấp trung ương, mà ở cả cấp địa phương, thể hiện trong mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức đảng và các cơ quan, tổ chức nhà nước các cấp. Trên cơ sở Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Đó là những phương hướng lớn cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, là những quan điểm cơ bản của chính sách đối nội và đối ngoại. Cương lĩnh, chiến lược, đường lối đúng đắn, khoa học và phù hợp xu thế thời đại là điều kiện cơ bản để Đảng phát huy được vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đây cũng chính là vị thế, trách nhiệm, quyền lực chính trị, tính chính danh của Đảng(2).

“Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp”(3). Trách nhiệm của Nhà nước là phải kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các chính sách, pháp luật và tổ chức thi hành các chính sách, pháp luật đó một cách kịp thời, triệt để. Lãnh đạo việc thể chế hóa đó là một nội dung quan trọng trong sự cầm quyền của Đảng, thể hiện sự cầm quyền của Đảng bằng pháp luật, hay nói cách khác, ý chí của Đảng được thực hiện bằng tất cả sức mạnh của luật pháp. Sự lãnh đạo này bảo đảm cho luật pháp được thực hiện công bằng, không thiên vị, phản ánh đúng nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; loại trừ các biểu hiện “lợi ích nhóm” có thể bị “cài cắm” trong hoạch định chính sách, pháp luật, nhất là trong điều kiện “nhóm lợi ích” có sự vận động phức tạp, tìm cách hướng lái chính sách, pháp luật để trục lợi, gây tổn hại đến lợi ích chung.

Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Tuy nhiên, sự lãnh đạo này luôn luôn mang tính chất chính trị. Điều đó có nghĩa là, Đảng xác định mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, sao cho Nhà nước thật sự là tổ chức quyền lực của nhân dân, thể hiện tập trung và đầy đủ nhất ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; vạch ra đường lối chiến lược về đối nội, đối ngoại để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật ấy; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Nhà nước, giới thiệu đảng viên ưu tú và người ngoài Đảng đủ năng lực, phẩm chất để cử tri bầu vào các cơ quan dân cử hoặc để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, bố trí vào những vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước; giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên và quần chúng; kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Để thực hiện thành công vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, Đảng sử dụng các phương pháp chủ yếu như tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục và tự nêu gương của đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước. Mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật(4).

Muốn thực hiện tốt nguyên tắc đó, đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm của tất cả các chủ thể, bao gồm Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời phải thực hiện tốt cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng phải thường xuyên phân tích, đánh giá, tổng kết thực tiễn để kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, nhằm tiếp tục lãnh đạo Nhà nước và vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện. Mặt khác, phải hoàn thiện hệ thống và cơ chế hoạt động để Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp. Đồng thời, cần đẩy mạnh thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng thông qua xây dựng và phát huy vai trò của Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống chính trị đất nước. Chính vì vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần yêu cầu tập trung nghiên cứu, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; trong đó xác định trọng tâm là xây dựng hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất, phù hợp, phân quyền, phân cấp khoa học, rõ ràng. Đồng chí nêu rõ: “Cần nêu cao hơn nữa quyết tâm chính trị trong việc hoàn thiện bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị phù hợp hơn với điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Nghiêm túc thể chế hóa và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở và hệ thống các đơn vị sự nghiệp trong cả nước”(5). Thực tiễn đã chứng minh rằng, chế độ chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của đất nước với tính ưu việt rất rõ ràng.

Kế thừa quan điểm mang tính nguyên tắc đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(6).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm, chúc tết ngư dân tại khu neo đậu tàu thuyền Cửa Phú, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình_Ảnh: TTXVN

Đặc trưng cốt lõi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân theo quy định của pháp luật

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm quản trị toàn diện đất nước theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân; người dân được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là “Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm để mỗi người dân chủ động, tích cực sử dụng, thực hiện đúng đắn và an toàn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trong làm ăn, sinh sống, đóng góp mọi sức người, sức của, năng lực và trí tuệ xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”(7). Điều này cũng có nghĩa là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là Nhà nước mà nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước; nhân dân có toàn quyền quyết định tính chất, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, mục tiêu, phương hướng hoạt động, xu hướng phát triển của bộ máy nhà nước, sử dụng bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của mình và kiểm tra, giám sát sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập; mọi vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích chung của cả nước và của địa phương đều do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp thảo luận, bàn bạc, quyết định, thực hiện. Đồng thời, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải có tổ chức bộ máy tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thuận tiện cho nhân dân sử dụng quyền lực của mình và kiểm tra, giám sát hoạt động của chính bộ máy đó; có mục đích hoạt động vì lợi ích của nhân dân; mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi ích của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; công cuộc cải cách bộ máy nhà nước hiện nay cũng nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.

Với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, yêu cầu của người dân về dân chủ, pháp quyền, công bằng, công lý, an ninh và bảo vệ môi trường ngày càng lớn. Vì thế, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện sự hoàn thiện không ngừng trong lý luận và thực tiễn về xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mục đích của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là nhằm giữ vững và phát huy mạnh mẽ hơn nữa tính nhân dân, tính dân chủ và nhân văn của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng chí nêu rõ mục đích tối thượng này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị đất nước: “Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế từng bước được xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”(8). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, tính nhân dân là đặc trưng thể hiện sự khác biệt về mặt bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với nhà nước pháp quyền tư sản: “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(9). Chính tính nhân dân đã làm cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có được tính dân chủ thực sự và tính nhân văn sâu sắc.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, giữ vững tính nhân dân của Nhà nước là giữ cho Nhà nước luôn luôn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững tính dân chủ của Nhà nước là giữ cho Nhà nước luôn luôn là nhà nước mà trong tổ chức và hoạt động của nó đều có sự tham gia tích cực và đông đảo của nhân dân; công dân được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm mở rộng các quyền, lợi ích hợp pháp đó phù hợp với sự phát triển của xã hội. Giữ vững tính nhân văn của Nhà nước là giữ cho nhà nước luôn luôn là Nhà nước mà mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đều xuất phát từ nhu cầu, lợi ích cơ bản và chính đáng của con người và nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích đó; bên cạnh những chủ trương, chính sách, pháp luật có giá trị như nhau đối với mọi người, còn có các chủ trương, chính sách, pháp luật dành riêng cho các đối tượng đặc biệt, người yếu thế, như: người và gia đình có công với cách mạng, trẻ em, người già, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa...

Việc giải quyết những vấn đề mang tính nguyên tắc đó cũng đã được Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII khẳng định là một nhiệm vụ lớn cần phải nghiêm túc thực hiện trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(10), với quan điểm bao trùm là “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(11). Theo đó, Đảng xác định cần thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; đổi mới cơ chế bầu cử để lựa chọn được những người xứng đáng đại diện cho nhân dân; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, đề cao đạo đức xã hội và trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân(12),…

Hệ thống pháp luật là xương sống của hệ thống quản trị quốc gia. Do vậy, để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi để tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh chính trị, các quan điểm, đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh. Muốn thế, cần bám sát, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và phân tích, nắm chắc yêu cầu thực tiễn cuộc sống; đồng thời tiếp tục tăng cường năng lực và nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, pháp chế, công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật… Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền con người, quyền công dân”(13).

Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn liền với việc giữ vững ổn định chính trị, đổi mới toàn diện hệ thống chính trị, phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ nhất, giữ vững ổn định chính trị

Sự ổn định chính trị là một trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhất định phải được thực hiện trên nền tảng của sự ổn định chính trị: “Giữ vững ổn định chính trị, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân(14). Sự ổn định chính trị phụ thuộc vào sự ổn định của Nhà nước, vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là tấm gương hội tụ và phản chiếu tập trung nhất toàn bộ đời sống chính trị của đất nước, là công cụ chủ yếu nhất và có hiệu lực nhất để xây dựng, củng cố, bảo vệ và phát huy nền chính trị xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất là một cuộc “cách mạng” trong Nhà nước, do đó, nếu không được tiến hành một cách khoa học thì sẽ làm mất sự ổn định trong Nhà nước, từ đó sẽ làm mất sự ổn định chính trị của cả đất nước.

Thứ hai, đổi mới toàn diện hệ thống chính trị

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với Đảng cầm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khác. Sức mạnh của Nhà nước có được là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tham gia tích cực và sự giúp đỡ to lớn của các tổ chức chính trị - xã hội khác; ngược lại, chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cũng như mức độ phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xã hội phụ thuộc rất lớn vào hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định mục tiêu chung là“Xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, phát triển; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, trí tuệ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”(15)Có thể nói, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là kết quả tổng hợp của toàn bộ công cuộc đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư, hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm yêu cầu: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả hơn. Xây dựng Nhà nước về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp, gắn với đổi mới, hoàn thiện chính quyền các địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật theo các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp năm 2013”(16).

Thứ ba, phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở nền kinh tế phát triển, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng; ngược lại, nền kinh tế phát triển, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng cũng chỉ có thể được xây dựng khi có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Do đó, cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền đồng bộ, toàn diện, đồng thời với các mặt hoạt động khác trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Tiếp tục có những chủ trương, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, xây dựng con người; đổi mới quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phát huy dân chủ, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh”(17). Với ý nghĩa như vậy, bất cứ hoạt động nào của Nhà nước và xã hội liên quan tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đều phải theo phương châm: Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là nhằm phục vụ xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là để phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII xác định, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần “đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(18).

Như vậy có thể thấy, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay với tính chất “là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(19). Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kết quả tổng hợp của việc thực hiện toàn bộ những phương hướng và giải pháp về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, pháp luật… dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các luận điểm quan trọng trong hệ thống quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về vấn đề này cung cấp vũ khí tư tưởng - pháp lý, định hướng khoa học, hướng dẫn hành động cho sự phát triển của Đảng và đất nước trong tình hình mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận quan trọng của mục tiêu tổng thể quản trị đất nước bằng pháp luật, là tiền đề, nền tảng để xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

Gìn giữ, phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ

 

Trường Sĩ quan Chính trị là trung tâm đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, giáo viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự cho toàn quân. Để xứng đáng với sứ mệnh và tầm nhìn của một trường Đảng, trường Đoàn trong Quân đội, thời gian qua, Trường Sĩ quan Chính trị đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh hưởng ứng và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới (Cuộc vận động), coi đây vừa là yêu cầu không thể thiếu, vừa là giải pháp then chốt để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bồi đắp, phát triển phẩm chất, lý tưởng cách mạng tốt đẹp cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ.

Để Cuộc vận động trở thành nhu cầu tự thân 

Những năm qua, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Sĩ quan Chính trị đã coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và hấp dẫn. Nội dung tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết, kết luận, quy định của Trung ương và Quân ủy Trung ương. Coi trọng phát huy vai trò của hệ thống các kênh truyền thông, như: Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Chính trị, bản tin thi đua... Triển khai thực hiện Chuyên mục “Kể chuyện Bác Hồ ngày này năm xưa”, “Lời Bác Hồ dạy” trên truyền thanh nội bộ ở cả hai cấp (cấp nhà trường và cấp hệ, tiểu đoàn); tích cực tuyên truyền, làm lan tỏa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thông qua phối hợp tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế cho học sinh, sinh viên, hoạt động dân vận, hè tình nguyện. Tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, giáo dục về lịch sử truyền thống của dân tộc, Quân đội, nhà trường ngay từ khâu tuyển sinh để nâng cao chất lượng đầu vào.

Thực hiện phương châm “xây đi đôi với chống”, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu", thông qua mạng xã hội như Facebook, YouTube, blog... nhà trường đã phát huy vai trò tích cực của các lực lượng trong đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh của Quân đội; tích cực viết tin, bài, chia sẻ các bài viết tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hình ảnh tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, gương điển hình tiên tiến trong giai đoạn mới; duy trì thường xuyên, nền nếp, thực chất và hiệu quả hoạt động tuyên thệ, báo công cho các đối tượng học viên có tác dụng giáo dục tốt; kịp thời biểu dương, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt. Thông qua đó, đã góp phần bồi dưỡng niềm tin, tình cảm cách mạng cho mỗi cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ, biến nhận thức thành hành động cụ thể, tích cực trong thực hiện các nhiệm vụ của mỗi tập thể và cá nhân.

Gìn giữ, phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ
 Lãnh đạo Trường Sĩ quan Chính trị kiểm tra, động viên học viên năm thứ nhất đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội. Ảnh: NGỌC HUYỀN

Đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện 

Hiệu quả thực hiện Cuộc vận động không chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm và vai trò của các tổ chức, các lực lượng tham gia mà còn phụ thuộc vào hiệu quả của hình thức tổ chức và cách làm cụ thể, sát thực. Thời gian qua, Trường Sĩ quan Chính trị đã triển khai thực hiện Cuộc vận động phù hợp với từng loại hình cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị.

Theo đó, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị xây dựng kế hoạch và bước đi cụ thể gắn với đặc điểm và yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc việc đăng ký, cam kết phấn đấu hằng năm của cán bộ, đảng viên, quần chúng theo tiêu chí đã xác định. Khắc phục triệt để tình trạng đăng ký chung chung, hình thức, không hiệu quả; thực hiện tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức. Gắn kết quả thực hiện Cuộc vận động với phân loại cán bộ, đảng viên, phân tích, đánh giá tổ chức đảng, bình xét đảng viên, bình xét khen thưởng.

Bám sát các tiêu chí phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị đã cụ thể hóa thành các tiêu chí gắn với chức năng, chức trách, nhiệm vụ của từng đối tượng và trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tập thể, cá nhân. Chú trọng phát huy vai trò tiền phong của đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp để cán bộ, đảng viên, quần chúng học tập, noi gương. Kết hợp có hiệu quả việc thực hiện Cuộc vận động với việc tổ chức thực hiện Phong trào Thi đua Quyết thắng.

Trên cơ sở Phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo, mẫu mực, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” do nhà trường phát động, đã triển khai quán triệt, cụ thể hóa trong các Phong trào thi đua “Tận tâm, gương mẫu, sáng tạo, xứng danh người thầy” ở các khoa giáo viên, “Học thực chất, rèn thường xuyên, mẫu mực toàn diện” ở các đơn vị quản lý học viên, “Bám trên, sát dưới, tích cực cải cách hành chính, tham mưu đúng, trúng, chỉ đạo kịp thời, hướng dẫn hiệu quả” ở các cơ quan; xây dựng đội ngũ cán bộ có tác phong công tác khoa học theo quan điểm hướng về cơ sở... 

Xây dựng và nhân rộng các cách làm hay, mô hình sáng tạo

Nhà trường quan tâm xây dựng và nhân rộng các mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả trong thực hiện Cuộc vận động. Với cách làm này, nhiều mô hình mới ra đời đã khẳng định tính sáng tạo và hiệu quả thực tế, như: Mô hình “Giáo dục truyền thống, xây dựng bản lĩnh chính trị, nhân cách cho học viên”; Chuyên mục “Kể chuyện Bác Hồ ngày này năm xưa”, “Lời Bác Hồ dạy” trên truyền thanh nội bộ; mô hình “Bài giảng mẫu”, “Bài giảng 3 tốt”, “Bút thép”, “Giờ luyện tập kiểu mẫu”, “Bộ môn 3 mẫu mực”, “Tiểu đội 3 tiêu biểu”, “Người quân nhân 3 đẹp”, “Chi đoàn công nghệ thông tin”, “Công đoàn cơ sở tiên tiến mẫu mực”, “Phụ nữ chuyên cần, sáng tạo”; mô hình “Đoàn viên đẹp”, “Chi đoàn viết báo”, “Tổ chức đoàn không có cán bộ, đoàn viên, thanh niên vi phạm kỷ luật”, “Bộ 3 cùng tiến”, “Đôi bạn 15 điểm”, “Câu lạc bộ ca khúc”, “Câu lạc bộ Tiếng Anh”... góp phần tạo bước đột phá trong thực hiện Cuộc vận động.

Căn cứ nhiệm vụ của từng giai đoạn, năm học và nội dung, chỉ tiêu phong trào thi đua hằng năm, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị đã đề cao trách nhiệm, chủ động xác định kế hoạch xây dựng điển hình tiên tiến phù hợp, hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng điển hình từng mặt và điển hình toàn diện. Trong đó, tập trung hướng về cơ sở và những tập thể, cá nhân trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ; những cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ có khả năng, năng lực công tác tốt.

Tạo mọi điều kiện để điển hình phát huy trí tuệ, sở trường trong thực hiện các công việc được giao để khẳng định mình. Thường xuyên tổ chức cho các điển hình trao đổi, phổ biến kinh nghiệm, phương pháp, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả để áp dụng trong thực tiễn. Với những cách làm hay, mô hình sáng tạo, từ năm 2019 đến nay, nhà trường có 85 cá nhân đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quân”, 58 lượt tập thể, 182 cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; 12 lượt tập thể được tặng Cờ “Đơn vị dẫn đầu Phong trào Thi đua Quyết thắng”, 134 lượt tập thể được tặng danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng”, 976 lượt cá nhân được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”.

Nêu gương - một phương thức lãnh đạo của Đảng có sức lan tỏa và truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân

 TCCS - Thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo; qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi các xã viên tại vườn chè của Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: thainguyen.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa là phương pháp giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1); “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(2). Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý thức thực hành trách nhiệm nêu gương và đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và truyền cảm hứng vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt chú trọng, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên đã trở thành những tấm gương sáng, sẵn sàng hy sinh quên mình vì thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của nhân dân; cho dù phải chịu cực hình tàn khốc, tra tấn, tù đày, lên máy chém của kẻ thù..., họ vẫn một lòng, một dạ kiên trung với Đảng và Tổ quốc, giữ vững khí tiết của người cộng sản, khiến cho kẻ thù phải run sợ.

Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, phương thức lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, phương thức lãnh đạo bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng phát huy hiệu lực và có sức lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân; đồng thời, được Đảng ta và các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần, thực hiện có hiệu quả. Nhiều cán bộ, đảng viên đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lao tâm, khổ trí, chịu đựng hy sinh, gian khổ, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, quyết tâm tìm tòi con đường đổi mới sáng tạo, đóng góp vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(3).

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(4); đồng thời, khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên trước nhân dân. Sau khi các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được ban hành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện. Ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; góp phần hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị và địa phương; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nêu trên, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương, chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, đến mức phải xử lý kỷ luật đảng, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đáng chú ý là, nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ráo riết chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng mua chuộc, lôi kéo, làm hư hỏng, biến chất một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, thậm chí có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng”, coi đây là lực lượng nòng cốt để “tạo dựng ngọn cờ” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong bối cảnh, tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu, độc, đề cao lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của Đảng; làm cho không ít cán bộ, đảng viên rơi vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khiến họ không còn xứng đáng là tấm gương để quần chúng nhân dân học tập, noi theo.

Hiện nay, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; theo đó, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường tổng kết và tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần phát huy hiệu quả phương thức lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Muốn vậy, tổ chức đảng các cấp phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, khóa XIII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt phương châm nêu gương “trên trước, dưới sau”, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “trong Đảng trước, ngoài Đảng sau”, đảng viên nêu gương trước quần chúng nhân dân.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Cán bộ chủ trì các cấp phải nêu gương trong lời nói và việc làm; ở bất cứ đâu, ở mọi thời điểm, phải luôn nhất quán giữa lời nói và hành động, phải phát ngôn đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, vì lợi ích chung của tập thể và nhân dân; đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải luôn quan tâm, chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách; thực hiện nói đi đôi với làm; luôn tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng, làm một nẻo”; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, khó khăn, thử thách, để chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm để ngày càng tiến bộ, trưởng thành; kiên quyết chống mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.

Để phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng, của cấp ủy, tổ chức đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần tự giác nêu gương, tích cực tự giác học tập, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt, cần tiếp tục “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(5).

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền, giáo dục, nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm nêu gương. Tích cực nhân rộng những điển hình tiên tiến thành các phong trào hành động cách mạng sâu rộng, phong phú, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên cho phù hợp với tình hình thực tiễn và chức trách, nhiệm vụ được giao.

Đây là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ, để cán bộ, đảng viên xứng đáng là tấm gương sáng cho nhân dân học tập, noi theo.

Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí, quy định, bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tránh cách làm phô trương, hình thức, chiếu lệ. Bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thường xuyên bám sát các tiêu chí, quy định về nêu gương để “tự soi”, “tự sửa” từ lời nói, việc làm đến tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cơ sở để tiếp tục thực hiện tốt hơn trách nhiệm nêu gương.

Ba là, tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự thể hiện sinh động việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần tiếp tục giáo dục, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm nêu gương ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tích cực phát động các phong trào thi đua, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động thông qua lời nói và việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, để đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục, có hiệu quả.

Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải đặc biệt coi trọng và có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thật chặt chẽ, sát sao, bảo đảm thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm việc tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương. Ở đây, cần gắn kết chặt chẽ việc kiểm điểm, phân loại đảng viên, tổ chức đảng và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình, phê bình và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, nhân rộng những tấm gương “người tốt, việc tốt”, những cách làm hay, những điển hình tiên tiến về thực hiện trách nhiệm nêu gương; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.