Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

Xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay


Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những định hướng giáo dục về đức liêm, chính cũng như những cảnh báo về sự bất liêm, bất chính, tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, vẫn mang tính thời sự và đậm chất nhân văn. Điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đang diễn ra sôi động với đầy rẫy những cám dỗ về vật chất, tiền bạc cũng như sự du nhập của không ít yếu tố văn hóa ngoại lai, trong đó có lối sống ưa hưởng thụ, ham muốn quyền lực, xa hoa, phô trương, hình thức... Trong bối cảnh đó, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thực sự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, không thường xuyên thực hành liêm, chính thì dễ dẫn đến suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đánh mất sự trong sạch của hệ thống chính trị và làm suy giảm uy tín, năng lực, đạo đức, sức chiến đấu của bản thân cán bộ, đảng viên cũng như bản chất tốt đẹp của một chính đảng cách mạng tiên phong.

Chính vì lẽ đó, thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, nhất là sự liêm, chính của cán bộ, đảng viên, Đảng ta luôn đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi trọng việc tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; yêu cầu nghiêm túc thực hành “cần, kiệm, liêm, chính”, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm, uy tín của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu liêm, chính trên cả ba cấp độ: 1- Đối với đội ngũ cán bộ; 2- Đối với các cấp ủy và cơ quan nội chính; 3- Đối với bộ máy nhà nước. Cụ thể là: Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”; yêu cầu các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng “kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động”; yêu cầu bộ máy nhà nước phải “tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”.

Muốn thực hiện được những định hướng đó nhằm mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, thì việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm, mang tính quyết định và cần phải chú trọng trên các phương diện cụ thể sau:

Thứ nhất, cần xác định rõ liêm, chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực bắt buộc đối với người cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, thúc đẩy, hướng dẫn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, là trụ cột của việc điều hành và phát triển đất nước. Trong công cuộc xây dựng đời sống chính trị liêm, chính thời kỳ mới, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là lực lượng chủ lực, tiên phong, chiếm vị trí chủ đạo. Phẩm chất liêm, chính của người cán bộ, đảng viên cần được thể hiện đầy đủ trên tất cả phương diện, trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày. Theo đó, họ cần phải hiểu biết sâu sắc về đạo đức chính trị, tuân theo đạo đức công vụ, nghiêm túc về đạo đức cá nhân, luôn có ý thức tu thân bằng đạo đức, tu tài bằng tri thức, thuyết phục người khác bằng sự liêm, chính, trong sạch của bản thân. 

Để có đạo đức chính trị liêm, chính thì mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện lý tưởng và niềm tin vững vàng, có tính đảng mạnh mẽ, sâu sắc, biết phân biệt và kiên định trước những điều đúng - sai, không sợ hãi khi đối mặt với thử thách và gian khổ, đứng vững trước những cám dỗ của đời sống.

Đạo đức công vụ liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là hết lòng phục vụ nhân dân, triệt để thấm nhuần và chấp hành quan điểm phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; luôn có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có ý chí tự lực, tự cường. 

Đạo đức cá nhân liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là nghiêm khắc, kỷ luật, đúng mực trong mọi lời nói, hành vi, cách cư xử; sẵn sàng hy sinh nhu cầu, lợi ích bản thân để phục vụ quần chúng nhân dân, sử dụng quyền lực được nhân dân giao phó đúng chức năng, nhiệm vụ; tăng cường tự tu dưỡng, rèn luyện, tự kiểm tra, tự giám sát; suy nghĩ trung thực, công - tư phân minh.

Thứ hai, cần khẳng định việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thời gian qua, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất mà đánh mất lòng chính trực, sự liêm khiết của bản thân, gây ra không ít sai phạm trong các cơ quan công quyền; không ít cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí phải xử lý hình sự, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; làm suy giảm danh dự, uy tín của hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, để quản trị nội bộ Đảng một cách nghiêm minh và toàn diện, chúng ta không chỉ cần dựa vào việc “điều trị” các triệu chứng, biểu hiện của tham nhũng, lãng phí và các loại tiêu cực, mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân của các loại “bệnh” này, đó là do thiếu tu dưỡng, thiếu “gốc” đạo đức, văn hóa, trong đó chủ yếu là do không ít cán bộ, đảng viên các cấp bất liêm, bất chính. Vì vậy, việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng sự liêm, chính của Đảng và hệ thống chính trị. Kể từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI với việc ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm và ý chí chưa từng có trong việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương châm không khoan nhượng, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Thứ ba, cần nâng tầm liêm, chính lên thành “văn hóa liêm, chính” trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Cần xem việc xây dựng văn hóa liêm, chính là một bộ phận quan trọng của văn hóa chính trị và là bộ phận không thể thiếu của văn hóa xã hội trong thời kỳ mới. Văn hóa liêm, chính cần được triển khai trên mọi phương diện, ở nhiều cấp độ, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm xây dựng nên “tuyến phòng thủ” đạo đức chống lại tham nhũng, lãng phí và tiêu cực; thiết lập quy tắc ứng xử tôn vinh đạo đức trong sáng, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái chính trị và xã hội văn minh, tiến bộ.

HAIVAN    

Tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm, chính

 

Khi bàn về đức liêm, chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự kế thừa sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống của người phương Đông và phát triển nó lên một tầm cao mới gắn với thời đại mới. Người nhìn nhận liêm, chính trong tổng thể các giá trị đạo đức ở một con người, luôn đồng hành cùng cần, kiệm. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Người nhấn mạnh, cần - kiệm - liêm - chính có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau; muốn có liêm, chính thì phải thực hành cần, kiệm; không rèn luyện cần, kiệm, sống buông thả, xa hoa thì ắt sẽ mất đi sự liêm, chính. Vậy nên, trong cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính” luôn làm thành một cụm từ cố định. Hay nói cách khác, nội hàm của liêm, chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã bao gồm cả đức cần, kiệm; và theo đó, một người liêm, chính nhất thiết phải có sự cần cù, chịu khó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giữ mình liêm khiết, trong sạch, đúng mực trong các mối quan hệ, luôn hướng tới sự đúng đắn trong mọi phương diện của đời sống. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính vừa là con đường thực hành đạo đức, vừa là đích đến trong rèn luyện đạo đức truyền thống của người Á Đông.

Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nâng tầm, vận dụng quan điểm truyền thống về liêm, chính vào thời đại mới và khẳng định: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới”. Người nhấn mạnh, liêm, chính là chuẩn mực đạo đức của con người thời đại mới, là thước đo cho mọi giá trị, danh hiệu trong đời sống xã hội mới. Người phân tích: “Ai là anh hùng?... Anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính”; “Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính”; “Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nghiêm khắc mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động với tư cách là một công dân của xã hội mới “phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể”.

Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác nhằm bảo vệ những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất rõ ràng, những người cần, kiệm, liêm, chính là những người thuộc phe thiện, tiên phong, tiến bộ; còn những kẻ bất liêm, bất chính, bất nhân là những người thuộc phe ác; phe thiện phải có sứ mệnh đánh bại phe ác, làm cho điều thiện được lan tỏa, trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống xã hội. Người nêu rõ: “Nếu mình cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đấy là phe thiện. Nếu tham ô, hủ hóa, cầu danh, cầu lợi là phe ác. Phe thiện trong mình mà đánh thắng được phe ác, thì ảnh hưởng đến phe thiện trong nước đánh thắng được phe ác, phe thiện thế giới đánh thắng được phe ác”.

Về xây dựng Đảng; liêm, chính là đặc trưng bảo đảm bản chất tốt đẹp, “là đạo đức, là văn minh” của Đảng; có liêm, chính thì Đảng mới trong sạch, vững mạnh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính không chỉ là đạo đức của cá nhân, của xã hội, mà cao hơn nữa, là đạo đức của Đảng, là sự phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng ta. Người coi đạo đức là bản chất hàng đầu của Đảng ta, và định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Vậy nên, xây dựng liêm, chính trong Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, chính trực, vì nhân dân phục vụ, là góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa, trí tuệ.

Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chăm lo và coi trọng việc rèn luyện đạo đức liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Theo Người, nếu như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” thì đạo đức chính là gốc của người cán bộ. Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức, xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự liêm, chính. Một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cần đi đầu trong “quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí” để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. 

Mặt khác, xây dựng liêm, chính trong nội bộ Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp là nền tảng để bảo đảm an ninh tư tưởng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Có thể thấy, qua quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liêm, chính được xem là nền tảng để các chính đảng mác-xít duy trì sự trong sạch, vững mạnh; đạo đức liêm, chính là cơ sở để cán bộ, đảng viên trung thực, liêm khiết. Trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người vẫn đau đáu về mối quan hệ mật thiết giữa đạo đức cách mạng (trong đó có đặc trưng liêm, chính) với sứ mệnh cao cả của Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Về xây dựng nền hành chính quốc gia, liêm, chính là điều kiện, yêu cầu của việc xây dựng Chính phủ tiến bộ, phát triển.

Ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở Việt Nam (tháng 9-1945), liêm, chính là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ mới, và vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước Quốc hội, quốc dân và thế giới tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I rằng: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”. Đó là một Chính phủ mà tất thảy cán bộ, công chức phải liêm khiết, chính trực; phải hết sức tiết kiệm, minh bạch, phải có trách nhiệm, có cái tâm trong sáng, không bòn rút của dân, không vụ lợi, vị kỷ và phải cải tạo lòng mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Bất kể ai trong hệ thống công quyền cũng đều phải thực hành liêm, chính, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khuyến cáo, nếu cán bộ không giữ được mình trong sạch, sẽ sa vào hưởng thụ, tham lam, tham nhũng, tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, lộng quyền, rồi thoái hóa, biến chất; như vậy là có tội với nước, với dân: “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””; “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ... dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”(16).  Để răn đe, ngăn chặn những hành vi bất liêm, bất chính, ngày 26-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh, trong đó quy định tội trộm cắp của công phải bị tử hình, giống như tội phản quốc.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính là linh hồn, là văn hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống chính trị đất nước, mà đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân”(17). Chính vì lẽ đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành liêm, chính trong công việc, trong sử dụng quyền lực nhà nước, trong tu dưỡng bản thân và ứng xử với nhân dân. Đây chính là những lời răn dạy rất thấm thía, sâu sắc mà Người đã để lại cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. 

HAIVAN

Để việc tự học, thực học, học tập suốt đời hiệu quả theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ một số hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Những hạn chế đó là: Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân... Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số nơi còn chưa thực chất. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ.... Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân là do những hạn chế từ quá trình tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân khiến cho việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn là do việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn; còn tồn tại tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập, không chịu đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học...

Thực tiễn cách mạng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi cần vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học và học tập suốt đời để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Thứ nhấtthực hiện nghiêm việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Thời gian qua, công tác này còn một số hạn chế, như Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chỉ rõ: “Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”. Vì vậy, cần khắc phục những hạn chế còn tồn tại để tuyển dụng được những nhân sự xứng đáng. Muốn vậy, cần tuyển chọn những nhân sự có chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng qua thực tế công việc, để họ ngày càng trưởng thành. Kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong công tác tuyển dụng, nhất là chỉ tuyển chọn người thân, người quen, “nhóm lợi ích” vào cơ quan, đơn vị dù không đáp ứng được yêu cầu công việc. Thực hiện tuyển dụng công khai, minh bạch; làm tốt việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị; xây dựng những tiêu chí cần thiết, phù hợp cho mỗi vị trí việc làm và thực hiện nghiêm túc những quy định có liên quan.

Thứ haiđổi mới công tác đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đánh giá cán bộ qua chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị một cách nghiêm túc, khách quan; qua đó, thúc đẩy cán bộ luôn phải liên tục tìm tòi những cách thức, biện pháp hữu hiệu thường xuyên, để nâng cao chất lượng công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao; phải liên tục học hỏi, tích lũy kiến thức, kỹ năng không ngừng qua thực tế công tác và thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Đây chính là cơ sở để người cán bộ thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Thời gian qua, công tác này còn có một số hạn chế, đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW, chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”.

Thứ bathắt chặt hơn mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với cơ sở. Đây là một phương sách hữu hiệu để thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, những ý kiến xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của quần chúng nhân dân chính là những gợi ý tốt cho việc đề ra những giải pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người cán bộ, đảng viên, mà không sách vở, giáo trình nào có thể đề cập hết được.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”. Đây cũng chính là cơ sở để đội ngũ cán bộ, đảng viên dựa vào nhân dân để thực hiện có hiệu quả việc tự học, thực học và học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, cần “đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”. Đội ngũ cán bộ, đảng viên “quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm... công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân”.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời còn vẹn nguyên giá trị thời sự, luôn là kim chỉ nam để mỗi người cán bộ, đảng viên không ngừng tự học, tự rèn nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ chuyên môn, xây dựng đội ngũ vững mạnh.

HAIVAN

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “thực học” và“học tập suốt đời” người cán bộ cách mạng

Việc “thực học” đối với người cán bộ

Mục đích học tập của người cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là để phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta không biết, thì chúng ta phải học, chúng ta không có quyền giấu dốt. Chúng ta phải học cho kỳ được, vì... chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Những công việc thiết thực đó, không phải chỉ chính trị suông mà làm được”. Vì thế, theo Người, mỗi đảng viên phải nắm vững, học thạo một nghề chuyên môn, thuộc mọi ngành, nghề trong xã hội, để có thể lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện công việc trên mọi lĩnh vực, theo sự phân công của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích. Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho... về địa phương họ có thể thực hành ngay”. Muốn thực học có kết quả, Người yêu cầu người học “phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành” những điều mình học. Người cũng phê bình cán bộ mắc “bệnh lý luận suông”, đó là những người thuộc nhiều sách vở, nói chuyện lúc nào cũng dẫn sách nọ, quyển kia, nhưng lại kém trong giải quyết công việc thực tế. Đòi hỏi của người cán bộ cách mạng là không chỉ biết nhiều kiến thức, mà còn phải biết “ra sức thực hành mới thành người biết lý luận”. Kết luận lại, Người yêu cầu cán bộ cách mạng “phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”.

“Học tập suốt đời” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là thể hiện thái độ trách nhiệm của tổ chức đảng, cấp ủy các cấp cũng như của mỗi đảng viên đối với việc học tập. Lúc này, học tập là nhiệm vụ của người cách mạng chứ không phải là quyền lợi và sở thích cá nhân nữa. Có nghĩa là, học để phục vụ sự nghiệp cách mạng nên trở thành nhiệm vụ; đồng thời, sự nghiệp đó là vô cùng lâu dài, gian khổ, nên học tập cũng là trách nhiệm phải thực hiện suốt cuộc đời của người cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao.

Đối với một số hạn chế, yếu kém trong thực hiện trách nhiệm này, về phía tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ. Vì sao? Vì việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo”. Qua đó, có thể thấy, Người nghiêm khắc phê bình việc học tập, huấn luyện không thiết thực. Điều này không chỉ gây ra sự lãng phí cho tập thể về thời gian, mà xa hơn còn gây ra hậu quả xấu cho phong trào cách mạng, do việc đào tạo không chất lượng, nên người cán bộ không được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết, vì thế, khi thực hiện nhiệm vụ sẽ không đạt yêu cầu đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một biểu hiện không tốt trong đội ngũ cán bộ, đó là “bệnh khinh lý luận”. Biểu hiện của căn bệnh này chính là đề cao kinh nghiệm bản thân, không chịu học hỏi, mà quên rằng “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi”; vì thế, Người chỉ rõ, họ “cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Người mắc phải “bệnh khinh lý luận” là những người ngại học hỏi, tìm tòi cái mới, bằng lòng với cái đang có, vì thế, không bao giờ thực hiện được yêu cầu phải học tập suốt đời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Do đó, để thực hiện được yêu cầu học tập suốt đời, cần phải chống lại “bệnh khinh lý luận”. Điều này không có gì mâu thuẫn với việc tự học, thực học theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi khi tập thể yêu cầu, khi nhiệm vụ đòi hỏi, người cán bộ cần tham gia học tập nghiêm túc ở trường lớp để thu nhận kiến thức một cách hệ thống, bài bản. Ở đó, người cán bộ được trang bị kiến thức lý luận chuyên sâu, cũng là để khắc phục căn bệnh coi khinh lý luận; đồng thời, quá trình này là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc tự học với việc học tập suốt đời thông qua hình thức đào tạo tập trung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện ra “bệnh kém tổng kết” phong trào cách mạng, đó là có những nơi, có những phong trào đạt thành tích rất tốt, nhưng vì “chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành tích khá?... để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được... cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”. Đối với những sai lầm, thất bại, cũng tồn tại tình trạng như vậy, vì thế, Người chỉ rõ: “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ,... rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Thực hiện tốt những chỉ dẫn nói trên của Người chính là làm cho quá trình tự học tập suốt đời một cách thiết thực, có hiệu quả. Sự nghiệp cách mạng là quá trình lâu dài, luôn xuất hiện những đòi hỏi và yêu cầu mới, ngày càng cao hơn, khó khăn hơn, vì vậy, người cán bộ cách mạng phải không ngừng học hỏi, học tập suốt đời để nâng cao trình độ bản thân.

HAIVAN    

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học tập của người cán bộ cách mạng

Học tập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người cán bộ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn xây dựng được chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, xã hội mới cần phải có những cán bộ với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và trực tiếp thực thi các khâu trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó có cả việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng những con người xã hội chủ nghĩa.

Vì thế, với người cán bộ cách mạng, yêu cầu trước hết là học để “làm người”, “làm việc” và sau đó mới để “làm cán bộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lời khuyên này cho mỗi cán bộ cách mạng vào tháng 9-1949, nhân dịp Người đến dự lễ khai giảng khóa đào tạo của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Đây chính là yêu cầu đối với người cán bộ cách mạng. Nó chỉ rõ sự khác biệt cơ bản về mục đích của việc học trong chế độ cũ và chế độ mới. Trong khi dưới chế độ cũ, đi học là đặc quyền của một số người và học là để “vinh thân, phì gia” - đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình; thì dưới chế độ mới, đi học là quyền lợi của toàn dân; học là để phụng sự, để cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Người cán bộ cách mạng đi học để làm sao trở thành những “công bộc” của nhân dân mới đúng nghĩa “làm người”, có nghĩa là gột rửa hết được những tàn dư do xã hội cũ để lại. Điều này rất quan trọng, bởi nếu vẫn còn chịu tác động bởi lối suy nghĩ của xã hội cũ thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, nặng nề đến hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội mới. Học để làm việc có nghĩa là học làm sao để có thể hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó. Muốn làm cán bộ thì bắt buộc phải học tập, không chỉ học về kiến thức, mà quan trọng hơn cả là học về tư cách người cán bộ cách mạng, để làm sao “phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc và nhân loại” một cách tốt nhất.

Việc “tự học” đối với người cán bộ

Một mặt, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đa dạng và ngày càng nặng nề của sự nghiệp cách mạng, mỗi người cán bộ phải hiểu rõ mình còn thiếu kiến thức gì trong khi thực hiện nhiệm vụ, để bổ sung kịp thời; mặt khác, vì đòi hỏi của thực tế công việc, nên không phải bất cứ lúc nào người cán bộ có nhu cầu học tập cũng có thể tham gia những lớp học bổ sung kiến thức do đoàn thể đứng ra tổ chức. Vì vậy, phải “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”. Ngoài cách truyền thống theo học trường lớp bài bản, chính quy, người cán bộ còn rất nhiều cách học vừa phù hợp với hoàn cảnh cá nhân và thực tiễn cách mạng phong phú, vừa đáp ứng đòi hỏi và nhu cầu chính đáng là thu nhận kiến thức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chính trị ngày càng tốt hơn. Đó chính là, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dânHọc ở sách vở là cách tự học phổ biến nhất, giải quyết được khó khăn về thời gian của người học, khi không có điều kiện đến trường lớp chính quy. Yêu cầu cao nhất của người tự học chính là cách thức học sao cho có hiệu quả thiết thực, cùng với sự đòi hỏi cao về nghị lực. Người cán bộ có thể giúp cho quá trình tự học của đồng nghiệp, người khác có kết quả, bằng cách “tùy theo hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường lối của Đảng”. Đây chính là cách học từ công việc hằng ngày, học bằng cách tìm tòi kiến thức xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên.

Học lẫn nhau là sự học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân có cùng chung mục đích học tập, có sự liên quan với nhau về kiến thức... Việc học hỏi lẫn nhau đòi hỏi cao về đức tính khiêm tốn, ham học hỏi của cá nhân người tự học. Phải có đức tính khiêm tốn thì mới thấy mình còn thiếu điều gì so với đồng nghiệp, để thực tâm mong học hỏi; đồng thời, cũng phải có sự ham học hỏi cao mới có thể giúp người học dẹp bỏ được tự ái cá nhân để thu nhận kiến thức từ đồng nghiệp. Vì thế, khi thành tâm học lẫn nhau, người cán bộ không những tu dưỡng, rèn luyện có hiệu quả đạo đức cách mạng là khiêm tốn, ham học hỏi, cầu thị trong công việc, hạn chế nguy cơ nảy sinh căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, mà còn thắt chặt tình đoàn kết trong tập thể - yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh, với người tự học nói riêng, người cán bộ cách mạng nói chung không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn. Nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản, V.I. Lê-nin đã khẳng định, so với quảng đại quần chúng nhân dân, những người cộng sản chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, nhân dân biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Theo Người, việc tự học của người cán bộ cách mạng muốn thu được kết quả tốt, không thể tách rời thực tiễn phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Chính trong phong trào đó, nhờ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, người cán bộ cách mạng mới học hỏi được những kiến thức mà chưa có bất cứ nhà trường nào truyền dạy; học hỏi nhân dân từ những vấn đề thực tế hằng ngày, từ đó đúc kết thành những tri thức lý luận để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Vì thế, muốn tự học có kết quả, người cán bộ phải gắn bó mật thiết với nhân dân, thực tâm không ngừng học hỏi nhân dân.

HAIVAN


Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên

 

Hiện nay, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương, chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, đến mức phải xử lý kỷ luật đảng, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đáng chú ý là, nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ráo riết chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng mua chuộc, lôi kéo, làm hư hỏng, biến chất một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, thậm chí có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng”, coi đây là lực lượng nòng cốt để “tạo dựng ngọn cờ” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong bối cảnh, tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu, độc, đề cao lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của Đảng; làm cho không ít cán bộ, đảng viên rơi vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khiến họ không còn xứng đáng là tấm gương để quần chúng nhân dân học tập, noi theo.

Thực tiễn hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; theo đó, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường tổng kết và tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần phát huy hiệu quả phương thức lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Muốn vậy, tổ chức đảng các cấp phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, khóa XIII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt phương châm nêu gương “trên trước, dưới sau”, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “trong Đảng trước, ngoài Đảng sau”, đảng viên nêu gương trước quần chúng nhân dân.

Cán bộ chủ trì các cấp phải nêu gương trong lời nói và việc làm; ở bất cứ đâu, ở mọi thời điểm, phải luôn nhất quán giữa lời nói và hành động, phải phát ngôn đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, vì lợi ích chung của tập thể và nhân dân; đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải luôn quan tâm, chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách; thực hiện nói đi đôi với làm; luôn tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng, làm một nẻo”; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, khó khăn, thử thách, để chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm để ngày càng tiến bộ, trưởng thành; kiên quyết chống mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.

Để phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng, của cấp ủy, tổ chức đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần tự giác nêu gương, tích cực tự giác học tập, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt, cần tiếp tục “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên cho phù hợp với tình hình thực tiễn và chức trách, nhiệm vụ được giao.

Đây là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ, để cán bộ, đảng viên xứng đáng là tấm gương sáng cho nhân dân học tập, noi theo.

Ba là, tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm nêu gương ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tích cực phát động các phong trào thi đua, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động thông qua lời nói và việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, để đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục, có hiệu quả.

Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải đặc biệt coi trọng và có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thật chặt chẽ, sát sao, bảo đảm thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm việc tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương. Ở đây, cần gắn kết chặt chẽ việc kiểm điểm, phân loại đảng viên, tổ chức đảng và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình, phê bình và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, nhân rộng những tấm gương “người tốt, việc tốt”, những cách làm hay, những điển hình tiên tiến về thực hiện trách nhiệm nêu gương; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên

Nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa là phương pháp giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”. Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý thức thực hành trách nhiệm nêu gương và đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và truyền cảm hứng vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt chú trọng, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên đã trở thành những tấm gương sáng, sẵn sàng hy sinh quên mình vì thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của nhân dân; cho dù phải chịu cực hình tàn khốc, tra tấn, tù đày, lên máy chém của kẻ thù..., họ vẫn một lòng, một dạ kiên trung với Đảng và Tổ quốc, giữ vững khí tiết của người cộng sản, khiến cho kẻ thù phải run sợ.

Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, phương thức lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, phương thức lãnh đạo bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng phát huy hiệu lực và có sức lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân; đồng thời, được Đảng ta và các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần, thực hiện có hiệu quả. Nhiều cán bộ, đảng viên đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lao tâm, khổ trí, chịu đựng hy sinh, gian khổ, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, quyết tâm tìm tòi con đường đổi mới sáng tạo, đóng góp vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(4); đồng thời, khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên trước nhân dân. Sau khi các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được ban hành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện. Ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; góp phần hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị và địa phương; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

HAIVAN


DÁM NGHĨ, DÁM LÀM, TỰ GIÁC CHỊU TRÁCH NHIỆM


Từ việc hình thành nhận thức sâu sắc về trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, cần phải biến thành hành động cụ thể. Quá trình triển khai trên thực tế đòi hỏi mỗi cán bộ lãnh đạo phải phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự giác chịu trách nhiệm trong hoạt động quản lý, điều hành tại cơ quan, đơn vị mình.
Việc nêu gương của cán bộ lãnh đạo là vô cùng quan trọng, có tác động mạnh mẽ đến tập thể. Tuy nhiên, bên cạnh việc tự giác chịu trách nhiệm, tự giác nêu gương, cũng cần phải thiết lập cơ chế, luật pháp để cán bộ, nhất là người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm, nhất là trong việc xử lý các sai phạm, yếu kém.
Chỉ tính riêng trong năm 2022, đã có 539 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trên cả nước đã khởi tố mới 493 vụ/1.123 bị can về tội tham nhũng (tăng 163 vụ/328 bị can so với năm 2021). Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 11 vụ/37 bị can, khởi tố bổ sung 120 bị can trong 22 vụ án...
Những con số thống kê này cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, nhưng cũng thể hiện sự quyết tâm của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là những hồi chuông cảnh tỉnh, răn đe, cảnh báo nghiêm khắc để đội ngũ cán bộ, nhất là những người đứng đầu ý thức, trách nhiệm hơn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Điều đáng nói, những kết quả quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã tạo hiệu ứng tích cực, góp phần bồi đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với sự phát triển cường thịnh, vững bền của đất nước. Kết quả ấy không hề làm suy giảm, nhụt ý chí, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu.
Trái lại, đó chính là cơ hội để cho cá nhân mỗi người đứng đầu có cơ hội sửa sai, là bài học quý báu trong quá trình rèn giũa sau này để mỗi cán bộ lãnh đạo ngày càng hoàn thiện bản thân, đóng góp được nhiều hơn cho đơn vị, địa phương. Đồng thời, đây cũng chính là cơ hội, thời vận để tạo ra đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp biết đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm khi làm việc, hành động thực sự vì sự nghiệp chung, vì nhân dân, vì đất nước.
Yêu cầu về việc tự chịu trách nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo đã hình thành từ lâu, tuy nhiên khi công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường trong thời gian qua thì vấn đề này càng trở nên cấp bách. Thực tiễn cho thấy cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh, có bước phát triển mới, đi vào chiều sâu đã tạo ra hiệu ứng rất tích cực trong công tác cán bộ.
Không chỉ bịt những “kẽ hở” pháp luật mà còn lấp những “khoảng trống” để tham nhũng, tiêu cực, lãng phí không có điều kiện nảy sinh, tác oai tác quái. Kết quả của những bước ngoặt, sự đột phá trong trận chiến chống “giặc nội xâm” đã buộc đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu phải cẩn trọng, thấu đáo, xác định rõ mục tiêu, lợi ích khi ban hành những chính sách, quyết định, cũng như trong quá trình quản lý, thực thi công việc. Họ ý thức được việc tự nguyện chịu trách nhiệm, trước khi buộc phải cho thôi giữ chức vụ, bị xử lý kỷ luật. Tinh thần ấy đã và đang từng bước lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, chắc chắn sẽ có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.
Trong công tác cán bộ, để tránh tình trạng chây ỳ, thủ thế, lo “giữ ghế” khi được bổ nhiệm, thay vào đó là khuyến khích sử dụng cán bộ năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm, ngày 17/11/2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Quan điểm chỉ đạo được Đảng ta xác định trong Nghị quyết là làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm; phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở.
Trong công tác cán bộ, để tránh tình trạng chây ỳ, thủ thế, lo “giữ ghế” khi được bổ nhiệm, thay vào đó là khuyến khích sử dụng cán bộ năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm, ngày 17/11/2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Một trong những mục tiêu của Nghị quyết số 28 là: Đề cao trách nhiệm của tập thể, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gắn với kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Điểm mới của Nghị quyết số 28 về công tác cán bộ chính là khuyến khích cán bộ từ chức khi có khuyết điểm; kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm; kiên trì thực hiện “có vào, có ra, có lên, có xuống” trong công tác cán bộ.
Tổ chức thực hiện nghiêm kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật, góp phần bảo đảm kỷ cương, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Điểm mới của Nghị quyết số 28 về công tác cán bộ chính là khuyến khích cán bộ từ chức khi có khuyết điểm; kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm; kiên trì thực hiện “có vào, có ra, có lên, có xuống” trong công tác cán bộ.
Trước đó, ngày 3/11/2021 Đảng ta đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm của người đứng đầu. Theo đó, không cần đến hết thời hạn bổ nhiệm, cán bộ lãnh đạo có thể bị xem xét việc miễn nhiệm, từ chức nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Miễn nhiệm đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng; Người đứng đầu lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực thì tùy tính chất, mức độ sai phạm để xem xét cho từ chức; Cho từ chức đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng.
Thực tế, có làm thì có khả năng xảy ra sai sót, làm càng nhiều thì nhiều nguy cơ mắc sai lầm, nhất là trong hoàn cảnh người đứng đầu liên tục phải đưa ra những quyết định đòi hỏi sự nhanh chóng, chính xác. Nhưng không phải khi nào, không phải ai cũng luôn giữ được sự tỉnh táo, mẫn tiệp, kín kẽ, ai cũng có sự uyên thâm sâu rộng, sự hiểu biết đa lĩnh vực.
Đặc biệt, trước những tình huống mới xuất hiện, những việc chưa có tiền lệ, sự bảo đảm an toàn tuyệt đối trong các quyết định đưa ra là rất khó. Những rủi ro, sai lầm là nhiều lúc, nhiều khi khó có thể tránh khỏi nhưng quan trọng là người đứng đầu dám dũng cảm đối diện với những tình huống nảy sinh từ quyết định của mình và sẵn sàng đứng ra nhận trách nhiệm với những điều không mong muốn xảy ra.
Dám chịu trách nhiệm cũng chính là sự thể hiện lòng tự trọng của mỗi con người, là sự chính trực cần thiết phải có. Người đứng đầu càng cần thể hiện rõ nét điều này, có như thế ngay cả khi tự nguyện nhận trách nhiệm, xin từ chức, mất đi vị trí thì vẫn luôn nhận được sự tôn trọng của cấp dưới nói riêng, xã hội nói chung.
Tất nhiên, việc tự giác chịu trách nhiệm của người đứng đầu không dễ dàng trở thành văn hóa công vụ, bởi chưa nhiều người đủ dũng cảm thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của bản thân cũng như đơn vị do mình quản lý; hoặc tự cho mình là yếu kém, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, cho đến khi có sai phạm và bị pháp luật “gọi tên”. Bên cạnh đó, sự tự giác cũng chưa thật ăn sâu, thấm đẫm trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Với không ít người, trách nhiệm thực sự là “gánh nặng”, không dễ gì đón nhận. Một số người không muốn từ chối quyền lợi, sẵn sàng “phủi tay” trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác, không dám đối diện, thừa nhận những việc mình đã làm sai. Thực tế này đòi hỏi việc thượng tôn pháp luật phải được chú trọng, đề cao, những cơ chế kiểm soát quyền lực cần phải được thực thi nghiêm minh, sát, đúng để việc “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trở thành nếp sống thường xuyên hằng ngày của tất cả mọi cán bộ, đảng viên trong cả nước.
Tạp chí Mặt Trận

1

NHỚ LỜI BÁC DẠY NĂM XƯA


“Nếu không kiên quyết chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô, thì nó sẽ cản trở, phá hoại ta tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
Lời nói trên được Hồ Chí Minh nói tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn quân ngày 5 tháng 3 năm 1960. Người nhắc nhở cán bộ thanh tra luôn phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, trong đó phải kiên quyết chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô của cán bộ các cấp.
Việc phát hiện ra lãng phí, tham ô, chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ giải quyết mà còn phải giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra được những biện pháp để chủ động, tích cực phòng chống. Nước ta đang trong quá trình tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; không xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân và cán bộ cấp dưới; ra sức học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất, trình độ; kiên quyết tẩy trừ quan liêu vì nếu mắc phải sẽ sinh ra bệnh mệnh lệnh, thích ra các chỉ thị mệnh lệnh mang tính hách dịch, cửa quyền, sinh ra bệnh lãng phí, tham ô... Tất cả loại bệnh này nếu không được sớm phát hiện và kiên quyết loại bỏ thì trở thành kẻ thù phá hoại con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta ngày càng khẳng định rõ năng lực và bản lĩnh, trí tuệ lãnh đạo đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức tiến nhanh trên con đường hội nhập khu vực và quốc tế. Tuy nhiên những biểu hiện của mặt trái nền kinh tế thị trường mở cửa đang trở thành vấn nạn xã hội nhức nhối, thậm chí đang là thách thức lớn đối với việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước. Chống quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô, tham nhũng không còn là vấn đề riêng của bất kì quốc gia nào, nó đang là cuộc chiến quyết liệt mang tính toàn cầu. Vì vậy, đấu tranh chống quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô và tiêu cực xã hội là nhiệm vụ hàng đầu đang được Đảng, Nhà nước thực hiện quyết liệt. Đấu tranh chống quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô phải đi đôi với việc triển khai sâu rộng cuộc vận động học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Mỗi cán bộ, đảng viên Quân đội cần phải thường xuyên thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh; phải nâng cao đạo đức cách mạng, thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị phải có những biện pháp đồng bộ, tăng cường công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô; nêu cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm túc 19 điều quy định của đảng viên nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'