Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023
LẠI THÊM LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ!
ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG CÓ 2 TÂN PHÓ CHỦ NHIỆM
Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa có 2 Phó Chủ nhiệm mới là bà Trần Thị Hiền và ông Hoàng Trọng Hưng.
Bà Trần Thị Hiền và ông Hoàng Trọng Hưng là 2 trong số 19 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương được bầu tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa XIII (đầu năm 2021).
Bà Trần Thị Hiền đã được bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII vào tháng 5/2020 tại Hội nghị Trung ương 12. Trước đó bà Hiền giữ chức Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Trong khi đó, ông Hoàng Trọng Hưng trước khi được bầu vào Ủy ban Kiểm tra Trung ương, giữ chức Chánh Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương.
Vào ngày 1/3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu bổ sung thêm 3 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương là ông Nguyễn Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Địa bàn I, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương; ông Đinh Hữu Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Bình; ông Lê Văn Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Cần Thơ. Như vậy tổng số thành viên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hiện có 21 người.
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương là ông Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; Phó Chủ nhiệm Thường trực là ông Trần Văn Rón, Ủy viên Trung ương Đảng. Ngoài ra còn có 6 Phó Chủ nhiệm khác, trong đó có 2 Phó Chủ nhiệm mới.
Quốc hội bầu đồng chí Võ Văn Thưởng làm Chủ tịch nước
Đúng 8 giờ, Quốc hội làm lễ chào cờ, thông qua chương trình Kỳ họp bất thường lần thứ 4, Quốc hội khóa XV.
Tại phiên họp, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về việc bầu Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Sau đó, Quốc hội đã thảo luận tại đoàn về tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bầu Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Sau đó, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường trình bày dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc bầu Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Quốc hội đã thảo luận, biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước đối với đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XIII, đại biểu Quốc hội Khóa XV với kết quả 487/488 đại biểu Quốc hội tán thành (bằng 98,38%).
Vào lúc 10 giờ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thực hiện nghi thức Tuyên thệ trước quốc dân, đồng bào. Lễ Tuyên thệ được truyền hình, phát thanh trực tiếp. Sau đó, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã phát biểu nhậm chức.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến đã tặng hoa chúc mừng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng.
Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu kết thúc Kỳ họp bất thường lần thứ 4, Quốc hội Khóa XV./.
Nhận diện thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân
Ở nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào Khme, “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc, lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”.
Cộng đồng 54 dân
tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đều là
người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước pháp luật.
Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc. Mỗi
người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm
sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc,
không nghe theo những xúi giục, kích động của các phần tử bất mãn và các thành
phần chống phá chế độ.
Trong bối cảnh
tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng
với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm mưu, thủ
đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc tích cực
của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn
chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Nhận diện, phê phán quan điểm cổ xúy “xã hội dân sự”
Ý
đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” cũng không ngoài mục đích làm suy
yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó loại bỏ vị trí, vai trò cầm
quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi
theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.
Khái niệm “xã hội dân sự” được hiểu là không gian xã hội công cộng nằm ngoài khu vực nhà
nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các thiết
chế và thể chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện
trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã
hội...
Tuy nhiên, bản thân “xã hội dân sự” cũng tiềm ẩn những rủi ro,
nếu không nhận diện đúng, không quản lý đầy đủ sẽ dễ bị lợi dụng, trở thành
công cụ chính trị để cho những phần tử cơ hội, phản động gây ra những bất ổn
chính trị. Những kẻ cố tình cổ xúy “xã hội dân sự” thực chất là lợi dụng các
hội, nhóm, diễn đàn... để phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây
áp dụng vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị lực lượng để tiến hành các cuộc “cách
mạng màu”, chính trị hóa các tổ chức này trở thành lực lượng đối lập, cạnh
tranh trực tiếp với vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó thực
hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang”.
Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” nhằm làm suy
yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của
Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó loại bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của
Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác,
xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.
Để đạt được mục tiêu này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị
ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm phủ định Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phủ định đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam; đòi đa nguyên,
đa đảng; đòi tư nhân hóa hoạt động báo chí, xuất bản... Bên cạnh đó, chúng tích
cực tuyên truyền, cường điệu hóa vai trò của các tổ chức “xã hội dân sự” là
hiện thân của tự do, dân chủ; xuất bản, lưu hành bất hợp pháp các bài viết, tài
liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây; hô hào và
tìm cách tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn
dân chủ, phát huy đa nguyên... từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt
trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta
trong tương lai.
Các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối,
liên kết, hậu thuẫn cho những người bất đồng chính kiến trong nước, những người
bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... hoạt động theo
khuynh hướng độc lập, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” đối lập theo mô
hình của phương Tây. Thời gian qua, các tổ chức phản động lưu vong như: “Chính
phủ Việt Nam tự do”; “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng”; “Đảng nhân dân hành
động”; “Đảng dân chủ nhân dân”; “Đảng vì dân”; “Tập hợp dân chủ đa nguyên”;
“Hội đồng dân quân cứu quốc”... liên tục chỉ đạo, tài trợ, cung cấp phương tiện
cho một số đối tượng chống đối trong nước tiến hành hoạt động chống phá như:
Khiếu kiện đông người, vượt cấp, đình công, biểu tình, qua đó tạo thành các
điểm nóng về an ninh trật tự rồi tìm cách gây bạo loạn, lật đổ chính quyền.
Ngoài ra, chúng lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để
tuyên truyền, liên tục tổ chức các cuộc “phỏng vấn”, “hội thảo”, “hội luận”
nhằm vào các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan, quá
khích trong tôn giáo bàn về chủ đề “tổng nổi dậy”, “biểu tình” và “quyền thành
lập tổ chức chính trị đối lập”; tập trung tuyên truyền đòi đa nguyên, đa đảng,
xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, “phi chính hóa” lực lượng vũ trang; kích động gây chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo tâm lý hoài nghi trong quần chúng nhân dân về
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Để nguyên khí không bị tổn hao
Từ xa xưa, giới trí thức, những người học cao hiểu rộng, có chí khí được nhân dân vinh danh là kẻ sĩ. Danh xưng kẻ sĩ, ngoài ý nghĩa đề cao đạo học và nhân tài, còn là sự gửi gắm, hy vọng, đặt ra yêu cầu cao về nhân cách, cốt cách người quân tử, dù cạm bẫy, cám dỗ thế nào cũng phải luôn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng, đấu tranh bảo vệ lẽ phải. Lịch sử dân tộc qua các thời kỳ đã chứng minh, hiền tài là nguyên khí quốc gia, là vốn quý của dân tộc. Sự tồn vong của chế độ; cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước phụ thuộc rất lớn vào vai trò của tầng lớp tinh hoa trong đời sống xã hội. Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) viết: “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt/ Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên...” (Tước có 5 bậc, sĩ được dự vào bậc nhất/ Dân có 4 loại, sĩ đứng đầu...). Bất cứ triều đại nào muốn phát triển thịnh vượng cũng phải coi trọng chính sách xây dựng, trọng dụng hiền tài.
Bởi tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài nên khi đất nước gặp
họa xâm lăng, nô dịch, kẻ thù của dân tộc luôn tìm mọi cách tấn công, mua chuộc
kẻ sĩ. Mục tiêu của các thế lực xâm lăng là làm cho nguyên khí quốc gia suy yếu
để dễ bề thao túng, cai trị, biến đất nước ta thành thuộc địa, nhân dân thành
nô lệ. Với tinh thần, cốt cách của tinh hoa người Việt, các bậc sĩ phu, hiền
tài trong lịch sử dân tộc luôn đề cao tinh thần yêu nước, không bao giờ chịu
khuất phục, cúi đầu trước âm mưu, thủ đoạn của ngoại bang. Các tấm gương kẻ sĩ
với tinh thần, cốt cách như tùng, như bách, chí khí hiên ngang đã trở thành
những biểu tượng đẹp, sống mãi cùng lịch sử dân tộc, tiếng thơm lưu danh vạn
thuở.
Tuy nhiên, lịch sử dân tộc cũng ghi rõ không ít trường hợp người
tài trở cờ, phản quốc cầu vinh, để lại vết nhơ, tiếng xấu đến muôn đời. Con
đường phản quốc cầu vinh của những kẻ cơ hội mỗi thời một khác, mỗi người một
kiểu, nhưng đều xuất phát từ lòng tham, đố kỵ, cơ hội. Họ đều là những người có
tài nhưng kém đức, mang tinh thần, tham vọng của kẻ tiểu nhân, lung lay cốt
cách...
Lịch sử luôn công bằng. Người có công được vinh danh, kẻ có tội
bị trừng phạt. Trong các hình phạt đối với những kẻ phản quốc cầu vinh, sự
nguyền rủa của người đời là hình phạt nặng nề nhất. “Trăm năm bia đá cũng mòn/
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ...” là thế!
Thời đại ngày nay, đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và
đang mở ra những vận hội, thời cơ mới, tạo môi trường thuận lợi lý tưởng để
nhân tài bộc lộ phẩm chất, tài năng, khẳng định giá trị bản thân và khát vọng,
mục tiêu cống hiến. Xây dựng đất nước hùng cường, dân tộc phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc, thái bình là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đại
hội XIII xác định: “Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có
công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước
phát triển, thu nhập cao”. Với vai trò, vị thế là tầng lớp tinh hoa của xã hội,
giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ mang trọng trách, sứ mệnh cao cả với
khát vọng của quốc gia, dân tộc... Để củng cố, chấn hưng, không ngừng phát
triển nguyên khí quốc gia, giữ gìn vốn quý của dân tộc, Đảng ta đã ban hành
nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng. Việc bổ sung, từng bước hoàn
thiện chủ trương, chính sách, giải pháp khuyến khích, trọng dụng và bảo vệ hiền
tài vừa để tạo môi trường, cơ hội thuận lợi cho hiền tài phát triển, vừa
bảo đảm cho nguyên khí quốc gia không bị tổn hao trước những âm mưu,
thủ đoạn chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.
Đại hội XIII của Đảng xác định: Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ... tạo động lực mạnh mẽ cho phát
triển nhanh và bền vững... Như vậy, mục tiêu lao động và cống hiến của giới trí
thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong thời đại ngày nay là sự hòa quyện, phản
ánh chân thực và sinh động khát vọng dân tộc hùng cường. Mỗi cá nhân kẻ sĩ là
một nhân tố quan trọng cấu thành nguyên khí quốc gia, vốn quý của dân tộc. Mọi
tư tưởng, hành động của kẻ sĩ cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên
trên hết và trước hết, hướng đích đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường./.
Cảnh giác với tin giả trên không gian mạng
Tin giả có nghĩa là tin rác, tin giả mạo được tuyên truyền nhằm cố ý lừa bịp người khác. Ở Việt Nam, trong đời sống dân gian, loại tin đó được gọi nôm là “tin vịt”. Tin giả giờ đây không chỉ được lan truyền miệng từ người này sang người kia mà thông qua các hiệu ứng truyền thông, mạng xã hội, nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vì là tin bịa đặt nên được cường điệu, hàm chứa sự ly kỳ, dễ đánh vào xúc cảm, tâm lý của những người có độ “hóng” cao.
Tin giả được tạo dựng, tán phát liên quan đến
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại... gây những hệ quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống,
nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc cũng như thái độ, suy nghĩ,
hành động của người dân. Một trong những hệ quả mà các tin tức giả gây ra là
làm suy giảm niềm tin của công chúng vào các cơ quan báo chí, truyền thông,
khiến cho công chúng không xác định được đâu là những nguồn tin đáng tin cậy để
tiếp nhận. Trong điều kiện các thế lực thù địch, cơ hội, phản động đang triệt
để lợi dụng internet để tiến hành chống phá, các tin tức, hình ảnh giả mạo được
tung ra muôn hình vạn trạng. Các bằng chứng nghiên cứu khoa học cho thấy, sai
lệch niềm tin do tiếp nhận tin giả giống như dịch bệnh lây lan. Khi cá nhân
chia sẻ tin giả cũng đồng nghĩa với lây truyền niềm tin độc hại.
Thời gian qua, tình trạng tán phát tin giả,
tin sai sự thật trên Internet rất phức tạp. Các đối tượng triệt để lợi dụng các
tính năng của mạng xã hội để tuyên truyền, vu cáo, kích động chống Đảng, Nhà
nước, chính quyền các cấp, gây rối loạn về thông tin.
Thủ đoạn phổ biến là tạo lập các tài khoản cá
nhân trên mạng xã hội, mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, người đứng đầu chính
quyền các cấp, mạo danh người nổi tiếng; chỉnh sửa các thông số kỹ thuật của
tập tin thời gian để đăng tải tin giả, tin sai sự thật nhằm dẫn dắt dư luận;
lợi dụng các sự kiện nóng, các vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội để tạo
dựng thông tin giả mạo, đánh lừa dư luận.
Bên cạnh đó, xuất hiện hiện tượng một số đối
tượng xấu vì động cơ vụ lợi đã tạo dựng tin giả, tin sai sự thật, tán phát trên
mạng xã hội để thu hút người dùng tương tác nhằm thu về lợi ích từ việc bán
hàng, ủng hộ, tài trợ bằng tiền, lợi ích vật chất... gây hoang mang dư luận. Họ
tung ra tràn lan các video có nội dung nhảm nhí, giật gân trên mạng xã hội nhằm
lôi kéo người xem để kiếm tiền. Một số đối tượng tìm mọi cách để gây ảnh hưởng,
nổi tiếng trên mạng xã hội, sản xuất video có nội dung phản cảm, thiếu tính
giáo dục, giả mạo thông tin, kích động bạo lực, bôi nhọ, nói xấu Đảng, chính
quyền…
Trên thực tế, tin giả không chỉ gây tâm lý
hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện truyền thông.
Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch người đọc, người xem mà nhiều khi còn đánh
lừa cả một số phóng viên khiến báo chí cũng trở thành nạn nhân. Tin chưa được
kiểm chứng từ cá nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những phóng viên khi sử
dụng đã thiếu kiểm chứng, biến thành sản phẩm báo chí, vô tình tiếp tay cho kẻ
xấu. Do vậy, để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa,
đấu tranh hiệu quả với nạn tin giả, giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có
sự vào cuộc mạnh mẽ, liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế
phối hợp chặt chẽ nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để
xử lý nghiêm mọi cá nhân, tổ chức tung tin giả./.
Đừng để định kiến che mờ giá trị thực tại và tương lai
Trong khi cả nước đón chào năm mới, hướng tới kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng với thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực trong năm 2022 cũng như sự ghi nhận của các quốc gia, tổ chức quốc tế thì những tiếng nói trái hướng, lạc dòng vẫn cố tình bôi lem hiện thực.
Vẫn là các phát ngôn, bài viết đặt ra những
câu hỏi nghi ngờ về tính xác thực trong chỉ số phát triển, từ đó phủ nhận thành
tựu các lĩnh vực đời sống xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được
trong năm qua. Họ cho rằng các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội trong năm
2022 “chỉ là ảo”, con số tăng trưởng cao là do “Đảng thích số đẹp”! Họ xuyên
tạc rằng, người dân vẫn bần cùng, khổ cực rồi suy diễn và quy kết ở Việt Nam
“không có hạnh phúc”.
Từ đó, số này tỏ vẻ “quan ngại lo lắng cho đất
nước, nhân dân”, kêu gọi người dân muốn ấm no, muốn giàu có thì phải “dũng cảm
đấu tranh”! Bằng việc đưa ra những hình ảnh có tính đơn lẻ hoặc cắt ghép, một
số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, cho rằng đời sống người dân đang ngày
càng đi xuống, ngày càng bần cùng khổ cực, các chỉ số phát triển chỉ là “trò mị
dân”! Đây thực chất là chiêu trò tạo dựng hình ảnh đối lập giữa sự giàu có và
nghèo khổ nhằm kích động chống phá Đảng, Nhà nước, đòi xóa bỏ thể chế chính trị
ở nước ta, hướng lái đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc như
vậy là vấn đề không mới, những âm mưu, thủ đoạn được dùng đi dùng lại từ năm
này qua năm khác, thuộc về bản chất của các thế lực thù địch, tổ chức, cá nhân
phản động lưu vong ở nước ngoài. Những ngày đầu năm mới cũng là dịp cả nước kỷ
niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó những bài viết sai trái,
xuyên tạc sự thật, bôi lem tình hình đất nước, các thế lực chống phá tìm cách
hướng lái để quy kết các tồn tại, đói nghèo, tình trạng tham nhũng, tiêu cực là
“do chế độ đảng trị”, từ đó kích động tư tưởng chia rẽ, bài trừ ngay trong nội
bộ. Những bài phỏng vấn hay trò chuyện, đối thoại với “nhà bất đồng chính kiến”
cũng chỉ là trò đánh lạc hướng, mục đích nhằm phá hoại sự đoàn kết, chung tay
của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cố tình truyền đi
thông điệp sai lệch rằng, đói nghèo là do độc đảng, tham nhũng là do độc đảng,
cổ xuý tư tưởng chống phá và làm giảm vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc
tế…
Từ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta
đến thực tiễn hoạt động đều thể hiện sự quan tâm, chăm lo cho cuộc sống ấm no,
hạnh phúc nhân dân. Những con số về thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước trong các năm qua là minh chứng rõ ràng, khách quan bác bỏ những luận
điệu sai trái, xuyên tạc. Do vậy, đừng để những định kiến che mờ giá trị thực
tại và tương lai, hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm cho hạnh phúc của
mình./.
Nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái về sở hữu đất đai
Lợi dụng việc toàn dân đang đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực xấu từ bên ngoài đã tăng cường chống phá.
Họ đưa ra các quan điểm phủ nhận sạch trơn giá trị của việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và xuyên tạc rằng quy định như vậy để tạo điều kiện cho "chính quyền cướp đất của dân", là trở lực cho phát triển kinh tế. Họ cho rằng để chống tham nhũng, tiêu cực, để thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam phải thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai. Có thể thấy, việc đồng nhất vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai với thực trạng tham nhũng, tiêu cực có liên quan tới đất đai là sự đánh tráo giá trị, không đúng bản chất của vấn đề, chỉ lừa phỉnh được những người thiếu hiểu biết về vấn đề này.
Tại sao phải thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai?
Trước hết cần khẳng định rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân không phải là một thuật ngữ lý thuyết, trừu tượng, không có giá trị thực thi, không phải là sự giáo điều được du nhập từ Liên Xô vào Việt Nam như một số ý kiến trên các trang mạng, các diễn đàn đã cố ý bóp méo, gây hiểu lầm. Quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 dựa trên cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của việc xã hội hóa đất đai. Từ đó tới nay, qua một số lần sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật Đất đai, Đảng ta luôn kiên định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật qua nhiều thời kỳ. Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai 2013 đều quy định rõ vấn đề này. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về quản lý sử dụng đất và dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến toàn dân cũng một lần nữa khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã góp phần quan trọng duy trì ổn định chính trị-xã hội (CT-XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, bảo đảm sinh kế cho người nông dân. Thực tế đã cho thấy, quan điểm trên là đúng đắn, phù hợp với chế độ CT-XH, đặc điểm văn hóa, lịch sử và điều kiện tự nhiên của nước ta. Đó là vì:
Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm của Nhà nước ta là "tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân", thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của quốc gia là đất đai. Ðất đai là thành quả của sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu. Ðất đai của quốc gia dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc, của nhân dân.
Thứ hai, sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để những người lao động tiếp cận đất đai tự do. Phải tạo cơ chế công bằng ngay từ gốc, tức là người lao động phải có tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai, để lao động mưu sinh.
Thứ ba, trong điều kiện nước ta, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Bởi vì, trong chế độ sở hữu tư nhân đất đai, không ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này còn khiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đất mà không quan tâm tới lợi ích sinh tồn của phần lớn dân cư, khi cần xây dựng những công trình công cộng thì sở hữu tư nhân về đất đai sẽ gây ra những trở lực lớn. Sở hữu tư nhân đất đai còn dẫn đến kết quả không mong muốn là tập trung đất đai trong tay một số người có nhiều tiền, hệ quả là có người sở hữu quá nhiều đất, người lại không có tấc đất cắm dùi. Điều này sẽ gây bất ổn xã hội. Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp, khi phần lớn công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, thì Nhà nước có thể sửa Luật Ðất đai phục vụ mục đích chung của công dân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai do cơ chế thị trường đem lại. Nếu Hiến pháp tuyên bố sở hữu tư nhân về đất đai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đất đai sẽ không cho phép phần lớn còn lại thay đổi chế độ phân phối lợi ích từ đất đai.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thứ tư, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tránh cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn do một số người có thể đòi hỏi xem xét lại các quyết định lịch sử về đất đai. Nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai hoặc đa sở hữu về đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh chấp đòi lại quyền sở hữu nhà, đất trong quá khứ mà không cần tính đến các yếu tố lịch sử và hiện trạng, như vậy xã hội dễ lâm vào tình trạng bất ổn.
Thứ năm, nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất với tư nhân thì nguy cơ mất chủ quyền lãnh thổ từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường sẽ thành hiện thực. Đã có nhiều bài học nhãn tiền của một số nước trên thế giới về vấn đề này...
Quyền của người dân đối với đất đai được tôn trọng
Cũng có những ý kiến sai trái cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai khiến đất đai trở thành vô chủ, không được sử dụng hiệu quả và không thể trở thành vốn. Thực tế thì Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan đã trao cho người sử dụng đất khá nhiều quyền: Sử dụng (theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn... Về cơ bản, người sử dụng đất ở Việt Nam đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của quyền chủ sở hữu mà người sử dụng đất không có là: Không được tùy ý chuyển mục đích sử dụng đất; hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng. Tương ứng với mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước với tư cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nước được quy định trên các mặt sau: Quy định mục đích sử dụng cho từng thửa đất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra.
Người sử dụng đất giữ lại cho mình hầu hết quyền của người sở hữu như chiếm giữ, sử dụng, giao dịch trên thị trường đất đai, thế chấp và thừa kế. Người dân chỉ giao lại cho Nhà nước một số quyền như: Quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể sử dụng đất đai để cho hoạt động sử dụng đất đai của từng cá nhân và tổ chức không làm giảm hiệu quả sử dụng đất đai chung của quốc gia. Nhà nước phải hoàn thành nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch và giám sát tuân thủ quy hoạch, kế hoạch cho tốt. Quyền bảo vệ đất đai và môi trường để ngăn cản những hành vi vụ lợi cá nhân của người dân làm tổn hại lợi ích chung. Quyền bảo hộ quyền chính đáng của dân cư đối với đất đai đã được quy định theo luật. Quyền bảo toàn lãnh thổ quốc gia trước các hành vi xâm phạm của nước ngoài. Người dân phải cung cấp tài chính qua thuế sử dụng đất cho Nhà nước để duy trì các hoạt động của mình.
So sánh với luật đất đai của một số nước duy trì tư hữu về đất đai, quyền của người sử dụng đất của Việt Nam cũng không có chênh lệch đáng kể. Như vậy, không có sự khác biệt lớn về phương diện tạo quyền tự chủ cho người sản xuất, kinh doanh sử dụng đất hiệu quả giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta và chế độ tư hữu đất đai ở một số nước.
Sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguyên nhân của tham nhũng, tiêu cực
Về bản chất, sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguồn gốc của nạn tham nhũng, tiêu cực và thực tế phức tạp hiện nay về đất đai. Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết bắt nguồn không phải từ bản chất vốn có của sở hữu toàn dân về đất đai, mà bắt nguồn từ sự yếu kém kéo dài trong việc không hiện thực hóa thiết chế thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; bắt nguồn từ hệ lụy yếu kém trong quản lý đất đai.
Luật Đất đai năm 2013 và phương thức Nhà nước thực hiện luật nói trên có nhiều điểm chưa hợp lý cần phải khắc phục. Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở chất lượng, thái độ thực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước chưa tốt, tồn tại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục tiêu riêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích. Một số trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi đất của dân không đúng quy định của pháp luật. Sự giàu có bất thường của không ít đại gia kinh doanh bất động sản ở nước ta thời gian qua có tác động từ mức chênh lệch giá quá lớn trong các dự án chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị và giá đất đền bù cho người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân.
Những vấn đề này không thể giải quyết bằng cách chuyển toàn bộ quyền quản lý đó cho khu vực tư nhân thông qua tư hữu hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu đất đai. Vì làm như vậy thì chỉ khiến tình hình thêm phức tạp, những rủi ro khó lường hết hậu quả. Ngược lại, chỉ có thể giải quyết tốt các vấn đề này bằng việc đẩy mạnh cải cách trong các cơ quan nhà nước, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; siết chặt kỷ luật và trách nhiệm giải trình của công chức và chuyển giao cho người dân những quyền mà người sử dụng đất thực thi có lợi hơn cơ quan nhà nước.
Để hạn chế tình trạng thu hồi đất một cách tùy tiện ảnh hưởng tới lợi ích của người sử dụng đất, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã định hướng quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Tiếp tục thực hiện cơ chế tự thỏa thuận giữa người dân và doanh nghiệp trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đô thị, nhà ở thương mại.
Đồng thời, có lẽ cần nghiên cứu phân chia địa tô chênh lệch giữa xã hội (mà Nhà nước là đại diện), người có đất bị thu hồi và người nhận đất sử dụng cho mục đích mới trong giá đất thu hồi. Nhà nước cũng phải nâng cao năng lực sử dụng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với tư cách công cụ quản lý vì lợi ích quốc gia. Thực hiện được tốt những định hướng trên sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích vào lĩnh vực đất đai.
Sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để Nhà nước XHCN bảo vệ lợi ích của người dân tốt nhất. Những sai lầm và thiếu sót của cơ quan nhà nước thời gian qua trong lĩnh vực đất đai không phải là bản chất của Nhà nước XHCN và có thể sửa chữa được. Vì thế, cần tỉnh táo nhận thức rõ mưu đồ của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động, gây bất ổn môi trường CT-XH của nước ta. Từ đó, các cơ quan, bộ, ngành, đơn vị, địa phương cần vận động nhân dân tích cực đóng góp ý kiến chất lượng, hiệu quả cho dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng ý kiến sai trái. MT
Xây dựng tình đồng chí, đồng đội - trách nhiệm không của riêng ai
Tình đồng chí, đồng đội là tình cảm đặc biệt, gắn bó
những người tuy có hoàn cảnh khác nhau, nhưng có cùng lý tưởng, mục tiêu, giai
cấp, đến bên nhau bằng tình yêu thương, sự sẻ chia, để phấn đấu, hi sinh, chiến
đấu vì lý tưởng chung. Và đương nhiên, sức mạnh của tập thể sẽ tăng gấp bội nếu
tình đồng chí, đồng đội được thắt chặt và ngược lại, sẽ rất nguy hiểm nếu mối
quan hệ ấy bị xem nhẹ, áp đặt tiêu cực theo lối “bằng mặt nhưng không bằng
lòng”.
Để xây dựng mối đoàn kết
thống nhất trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội, cấp ủy, chỉ
huy các cấp phải có những biện pháp tích cực, phù hợp, hiệu quả trong giáo dục,
bồi đắp lý tưởng cách mạng, lý tưởng sống cho cán bộ, chiến sĩ, thông qua giáo
dục truyền thống, kết hợp với tập trung xây dựng môi trường sống nhân văn, lành
mạnh, có tính kỷ luật cao trong đơn vị. Trong đó, việc thực hiện hiệu quả “3
cùng, 5 nắm” trong quản lý bộ đội và “5 chủ động” trong quản lý tư tưởng
bộ đội; duy trì nghiêm chế độ ngày, tuần là biện pháp căn cốt, hàng đầu.
Đối với cán bộ các cấp, ở
trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực sự là hạt nhân đoàn kết; phải thực sự
là tấm gương trong phát huy truyền thống, sống có tình thương, giữ vững kỷ
cương, đề cao trách nhiệm để xây dựng tình đồng chí, đồng đội. Song song với
đó, cần giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng quyền và nghĩa vụ của
quân nhân; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, chống mọi biểu hiện độc đoán, gia
trưởng, quy chụp, áp đặt ý kiến cá nhân, thành kiến, trù dập hoặc e dè nể nang,
thiếu trung thực, không dám đấu tranh với những nhận thức và hành động sai trái
không chỉ trong sinh hoạt đảng, đoàn và các tổ chức quần chúng khác mà cả trong
đời sống thường nhật.
Bên cạnh việc không ngừng tăng cường các
biện pháp dự báo, phân tích, đánh giá, giải quyết để quản lý chặt chẽ tình hình
tư tưởng của bộ đội, cũng cần phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, nhạy
bén phát hiện và kịp thời báo cáo theo phân cấp, xử lý thỏa đáng, triệt để
những nảy sinh về tư tưởng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở từng đơn vị.
Tình đồng chí, đồng đội không tự nhiên
sinh ra, chẳng tự nhiên mất đi; vậy nên, để xây dựng mối tình cảm thiêng liêng
ngày càng keo sơn, gắn bó, mỗi cá nhân cần xác định rõ, nhiệm vụ, trách nhiệm,
quyền lợi và nghĩa vụ của mình để ứng xử, giải quyết các mối quan hệ cho thấu
đáo, có lý, hợp tình, góp phần tạo thành lũy tư tưởng, mối đoàn kết thống nhất
vững chắc; cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ, thách thức, hoàn thành thắng
lợi mọi nhiệm vụ được giao./.
Loại bỏ thói ganh ghét, đố kỵ
Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người với người ngày càng phức tạp, tâm lý ganh ghét, đố kỵ càng trở nên phổ biến, thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực và mọi mặt đời sống xã hội. Người ta hay so sánh mình với những người khác, thấy họ có một vài mặt nào đó hơn mình thì thường cảm thấy trong lòng lo lắng, buồn bã, so bì, tị nạnh… rồi sinh ra bực bội, căm ghét, thấy mình bị xúc phạm, muốn trả thù… Đặc biệt, sự ganh ghét, đố kỵ đang tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên công tác tại các cơ quan, đơn vị; điều dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, địa vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại giấu kín trong lòng. Họ không công tâm nhìn nhận, đánh giá năng lực, hiệu quả công việc của người khác mà còn tìm mọi cách lôi kéo người có chung suy nghĩ để soi mói, nói xấu sau lưng và tìm cách cản trở đồng chí, đồng nghiệp. Ngoài ra, họ còn tỏ ra vui sướng trước thất bại của người khác; thậm chí họ lươn lẹo “quy chụp, biến báo” người tốt thành người xấu, tâng bốc mình lên để được cấp trên ưu ái mình…
Để loại bỏ thói ganh ghét, đố kỵ trong tình hình hiện
nay, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung
ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự
suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống,
cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; chú trọng làm tốt
công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong
cấp ủy, tổ chức đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết của cơ quan, đơn vị. Xây
dựng văn hóa ứng xử lành mạnh, kết hợp hài hòa giữa phát huy dân chủ đi đôi với
giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ gìn tình yêu thương đồng chí, đồng đội.
Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, rà
soát từ trong cấp ủy đến từng đảng viên, ai có biểu hiện ganh ghét, đố kỵ, so
bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình phải chấn chỉnh, chỉ rõ cho họ thấy
để họ “tự soi”, “tự sửa”. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh “mục đích của tự phê bình và phê bình để giúp nhau tiến bộ, sửa chữa sai
lầm”, chứ không phải là để “bới lông tìm vết”, nên cách thức tiến hành phải có
lý, có tình, có tính giáo dục cao. Đồng thời, tự phê bình và phê bình phải được
làm thường xuyên, phải nêu cả ưu điểm và khuyết điểm, “phê bình việc chứ không
phê bình người” để cùng tiến bộ.
Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận
động vào thực tiễn công việc; trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, khen thưởng
phải thật sự khách quan, dân chủ, công khai và đúng thực chất, không bao che,
không ích kỷ, hẹp hòi, thành kiến cá nhân làm tổn hại đồng chí, đồng đội, hạn
chế sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể cơ quan, đơn vị… Phát huy
sự nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nói đi đôi với làm, đi đầu trong mọi
việc. Thường xuyên động viên, khen thưởng kịp thời những nhân tố điển hình tiên
tiến; ngăn chặn cái sai, cái xấu, kèn cựa địa vị, lợi ích nhóm…
Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải nhận
thức đúng và luôn rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá
nhân; nỗ lực học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ, tận tâm, tận lực với công việc, thấy đúng kiên trì bảo vệ, thấy sai kiên
quyết đấu tranh. Phải khiêm tốn lắng nghe, tự giác học hỏi cái hay, cái tốt,
cái mới của người khác mà mình chưa có; biết chia sẻ, động viên kịp thời với
kết quả, thành tích nổi bật của đồng chí, đồng đội; biết nâng niu những việc
đồng đội đã làm tốt, đã cống hiến cho tập thể; biết trân trọng, khuyến khích
những ý tưởng, hiến kế, giải pháp, sáng chế, phát minh mà người khác nỗ lực tạo
ra. Loại bỏ tư tưởng ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, hẹp hòi, ích kỷ; tạo
không khí dân chủ, đoàn kết, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD “mẫu mực
tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Chúng triệt để lợi dụng thực hiện phương thức, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, núp bóng các tổ chức tôn giáo kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, trọng điểm là địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.
Trên
địa bàn Tây Bắc, các đối tượng lợi dụng dân tộc Mông núp dưới danh nghĩa các tổ
chức tôn giáo để tuyên truyền về “Nhà nước Mông”, lôi kéo người dân vượt biên
trái phép sang Lào, Thái Lan, Myanmar... tham gia các tổ chức phản động chờ
thời cơ gây rối, bạo loạn, đòi ly khai tự trị, lập “Nhà nước Mông”.
Trên
địa bàn Tây Nguyên, dưới sự chỉ đạo của FULRO lưu vong, số đối tượng cầm đầu tổ
chức “Tin lành Đê-ga”, gần đây là “Tin lành Đấng Christ” và các đối tượng FULRO
ngấm ngầm tiếp tục lôi kéo, tập hợp lực lượng, hình thành khung chính quyền
ngầm chờ thời đòi thành lập “Nhà nước Đê-ga tự trị”, kích động quần chúng gây
rối, tạo điểm nóng, vượt biên ra nước ngoài, tạo cớ kêu gọi quốc tế can thiệp.
Còn
trên địa bàn Tây Nam Bộ, đối tượng chức sắc cực đoan trong Phật giáo Khmer
thường xuyên liên lạc, móc nối với các tổ chức Khmer Campuchia Crôm xuyên tạc
tình hình trong nước, phát tán tài liệu xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ, lôi
kéo hình thành tổ chức bất hợp pháp như “Hội văn hóa Khmer”, “Hội trí thức
Khmer”, kích động đòi ly khai, lập “Nhà nước Khmer Crôm”.
Do
đó, để đấu tranh làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, tiếp tục
thực hiện tốt công tác dân tộc trong tình hình mới, cần phải tiếp tục thực hiện
tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, nâng
cao nhận thức cho đồng bào dân tộc để tăng cường “sức đề kháng” trước những
thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên
giới quốc gia.
Đồng
thời tăng cường đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, làm cho đồng bào
dân tộc nhận diện sâu sắc các âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù. Cùng với
đó, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng đồng
bào dân tộc để nắm bắt tư tưởng của quần chúng, góp phần đưa nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Cảnh giác với các tổ chức tôn giáo tự xưng
Thời gian vừa qua, các tổ chức tôn giáo tự xưng như “Hội thánh đức chúa trời”, “Pháp môn diệu âm”, “Tâm linh Hồ Chí Minh”, “Pháp luân công”… có nhiều hoạt động tuyên truyền, lôi kéo người dân tham gia sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
– “Hội thánh của đức chúa trời” lôi kéo người
tham gia chủ yếu là phụ nữ, người già và học sinh, sinh viên hoặc những người
nhẹ dạ cả tin, có hoàn cảnh éo le, bất hạnh trong cuộc sống. Chúng thường rao
giảng với luận điệu duy tâm, phản khoa học; phản bác những lời răn dạy của bố
mẹ, anh chị em trong gia đình, trái với thuần phong mỹ tục. Đối với những ai có
ý định bỏ ngang, chúng sẽ dùng những hình phạt như “nằm trong chảo dầu”, “bị
đày đọa đau khổ” khi chết khiến nhiều người nhẹ dạ sợ hãi, nghe lời mà không
dám bỏ. Bên cạnh đó, các đối tượng còn đưa ra những mức thưởng bằng vật phẩm
hoặc tiền cho những người tham gia mời được thêm người vào Hội nhóm.
– “Pháp môn diệu âm” trao quà từ thiện cho các
đơn vị, cá nhân để ủng hộ, hỗ trợ. Thông qua đó, các đối tượng đã tán phát ảnh,
đĩa DVD về Trần Tâm và Pháp môn diệu âm; tuyên truyền rằng gạo (trong các phần
tặng quà) là gạo của “Minh sư Trần Tâm”, “Gạo của Thượng đế”, nếu ăn loại gạo
này sẽ nhận được “dòng âm lưu của Thượng đế”, có nhiều sức khỏe vượt qua bách
bệnh, thậm chí còn tuyên truyền thoát nạn diệt chủng Covid-19; các đối tượng
còn quay phim, chụp ảnh phục vụ việc tuyên truyền, công khai hóa hoạt động Pháp
môn diệu âm ở Việt Nam.
– “Tâm linh Hồ Chí Minh” lợi dụng thân thế, sự
nghiệp, niềm tin tôn kính của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh để lôi
kéo, tuyên truyền người dân tham gia; chỉ cần nghe đĩa, đọc sách sẽ được
linh ứng, linh truyền vào chén nước, uống hết nước sẽ khỏi tất cả các loại bệnh
tật, kể cả bệnh ung thư. Mặc dù lấy tư tưởng, hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
để lừa gạt nhưng chúng không biết rằng trong suốt quá trình hoạt động cách
mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần tự do tín ngưỡng, bình đẳng
giữa các tôn giáo, đồng thời kịch liệt lên án việc lợi dụng tôn giáo, tín
ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và lợi
dụng tôn giáo, tín ngưỡng để tư lợi.
Tất cả những tài liệu, video, tranh ảnh gọi là
“giáo lý”, “giáo luật” của các tổ chức tôn giáo tự xưng trên đều không có nguồn
gốc, không do tổ chức có tư cách pháp nhân phát hành. Hầu hết các tổ chức tôn
giáo tự xưng khi đã lôi kéo được người tin theo sẽ chi phối, trói buộc bằng
thần quyền, giáo luật, giáo lý trong đó có tư tưởng cố hữu tin nhất nhất làm
theo lời “giáo chủ”. Đối tượng cầm đầu các tổ chức tôn giáo tự xưng đi tuyên
truyền không xuất trình được bằng cấp, chứng chỉ đào tạo qua trường lớp về tôn
giáo, thần học. Nghiêm trọng hơn, việc truyền bá các loại tà đạo trên cơ sở lợi
dụng niềm tin của người dân là một phương thức lừa đảo tiền bạc, của cải do các
đối tượng cầm đầu hầu hết xuất thân là lao động tự do, kinh doanh thua lỗ hoặc
đã tham gia bán hàng đa cấp, không có công việc ổn định thực hiện.
Hoạt động của các tổ chức tôn giáo tự xưng, tà
đạo trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong gia đình và xã hội, ảnh
hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Khi người dân tham gia đã bỏ học, bỏ làm để
đi theo, gây mâu thuẫn gia đình (không sinh hoạt vợ chồng); gây xung đột văn
hóa (phá bỏ bàn thờ tổ tiên) và có dấu hiệu lợi dụng giáo lý để lôi kéo, trục
lợi, trích nguồn thu 10% để đóng góp vào tổ chức. Ngoài ra, chúng còn tuyên
truyền mê tín dị đoan, như tận thế, không làm mà vẫn có ăn; thậm chí sớm về
“thiên đường” để được hưởng sung sướng…
Trước hoạt động phức tạp về an ninh, trật tự
của các tổ chức tôn giáo tự xưng, cơ quan chức năng, chính quyền các cấp đã
tiến hành nhiều biện pháp để tuyên truyền, vạch rõ bản chất phản văn hóa và
trái pháp luật của các tổ chức này; đồng thời giáo dục, vận động nâng cao nhận
thức, cảnh tỉnh người dân trước các chiêu trò lôi kéo.
Người dân cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối
không tham gia các hội nhóm phản khoa học, lợi dụng lòng tin để trục lợi. Với
những tổ chức, cá nhân lợi dụng tự do tín ngưỡng để lôi kéo, ép buộc tham gia
các hoạt động truyền bá tư tưởng lệch chuẩn, thiếu khoa học, gây bất ổn xã hội,
đề nghị người dân khi phát hiện chủ động tố giác với cơ quan chức năng để xử lý
nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc vấn đề “nhân quyền” tại Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong bảo vệ, bảo đảm thực hiện nhân quyền, nhưng lại nổi lên những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ từ những tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội tại Việt Nam. Bất chấp những thành tựu Việt Nam đạt được, lá bài “nhân quyền” vẫn được các nước phương Tây cùng các đối tượng phản động, chống đối sử dụng để xuyên tạc mọi mặt của đời sống xã hội.
Các đối tượng xuyên
tạc về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay về cơ bản là những lực lượng cực hữu ở
một số nước phương Tây, lực lượng cực hữu người Việt ở nước ngoài và những cá
nhân người Việt trong nước bị các thế lực cực hữu nước ngoài mua chuộc, lợi
dụng để chống phá nền tảng tư tưởng và chế độ chính trị - xã hội tại Việt Nam.
Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
thường tập trung vào hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý
luận, thực tiễn về dân chủ, nhân quyền.
Thực tế cho thấy, các
luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền, như các bản phúc trình
toàn cầu về nhân quyền của HRW và các báo cáo của Mỹ đều dựa trên những thông
tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, mang động cơ chính trị
thực dụng nên phiến diện và không phản ánh đúng thực tiễn nhân quyền tại Việt
Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã từng rất nhiều lần phản hồi thông tin sai sự
thật, phản bác các thông tin sai trái, khẳng định lại sự thật khách quan về
tình hình tại Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến nhân quyền.
Trong tất cả những lần đó, các tổ chức cáo buộc Việt Nam đều không hề có ý kiến
phản hồi cũng như không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho
việc Việt Nam có dấu hiệu hay hành động xâm phạm đến quyền con người.
Nhìn nhận một cách khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt
Nam, công tác bảo đảm quyền con người trong hơn 35 năm đổi mới ở nước ta đã thu
được nhiều thành tựu nổi bật. Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một chủ trương
nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam và điều này được thể hiện rõ trong Bản
Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn
xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; bảo đảm và thúc đẩy
quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Trái với
những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn về nhân quyền, thực tế Việt Nam đã
và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy nhân
quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt
Nam trong việc đảm bảo quyền con người chính là một trong những minh chứng cụ
thể nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi
phạm nhân quyền. Việc lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền những luận điệu sai
trái, xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam là thủ đoạn thâm độc
của các thế lực thù nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống
đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, mỗi cán bộ,
đảng viên và quần chúng Nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết
đấu tranh với âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch.
Âm mưu chống phá nguy hiểm của các thế lực thù địch trong giáo dục, đào tạo hiên nay
Thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng các chiêu trò chống phá “hèn hạ” của mình, để thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong ngành giáo dục, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào giáo dục nước nhà, cũng là giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý, việc lên án này không được quy chụp cho cả hệ thống giáo dục, không được xuyên tạc từ một vài hiện tượng cá biệt mà bị bóp méo, quy chụp đi đến kết luận về bản chất một cách thiếu khách quan.
Có thể
thấy, các đối tượng chống phá đang ra sức lợi dụng một số vụ việc đơn lẻ
xảy ra trong ngành giáo dục từ đó đưa ra cái phiến diện nhằm phủ nhận
những thành tựu của ngành giáo dục. Và âm mưu sâu xa của chúng là sử dụng
những điều thiếu sót trong ngành giáo dục để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bọn chúng làm mọi cách, sử
dụng mọi lý lẽ xuyên tạc để người dân hiểu sai vấn đề, mâu thuẫn với ngành giáo
dục và chính quyền. Lo ngại
hơn, một số người dân do không hiểu mức độ nguy hại của việc đưa những thông
tin sai, xấu, độc nhằm câu like, a dua cho thêm vài tình tiết,... làm tăng thêm
vẻ hiếu kỳ, vô tình “góp dầu” thổi bùng lên ngọn lửa tuyên truyền không công
cho địch, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của quốc gia, dân tộc.
Đánh giá một cách khách quan tại nước ta, thời gian qua, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức xử lý một số tiêu
cực kéo dài, gây bức xúc xã hội như: Loại bỏ các tiêu chuẩn, tiêu chí có
chứa đựng bệnh thành tích; có chế tài xử lý nghiêm những vi phạm về “bệnh thành
tích” trong giáo dục; việc khen thưởng đúng đối tượng, đúng người, đúng việc,
thành tích tới đâu khen thưởng tới đó để tạo được hiệu ứng tốt; khắc phục tình
trạng dạy thêm, học thêm sai quy định; tình trạng lạm thu trong các trường phổ
thông; tình trạng xuống cấp về đạo đức của một bộ phận học sinh, giáo viên
trong các nhà trường... Hay để chấm dứt hiện tượng bạo lực học đường,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, các quy định tăng cường
quản lý, giáo dục toàn diện học sinh sinh viên, xây dựng môi trường giáo dục an
toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường.
Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản chỉ
đạo các cơ sở giáo dục, đào tạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiểm
soát và giảm thiểu các vụ việc học sinh đánh nhau trong các nhà trường. Đồng thời, chỉ đạo thực hiện
nghiêm nền nếp, kỷ cương, dân chủ trường học; phát huy trách nhiệm thủ trưởng
cơ sở giáo dục, vai trò nêu gương của cán bộ - nhà giáo trong Chỉ thị năm học
và các hướng dẫn nhiệm vụ năm học của các đơn vị thuộc Bộ. Sau hơn 3 thập kỷ đổi mới, Giáo
dục và đào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã hình thành
được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng
với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo.
Vì vậy,
mỗi người dân Việt Nam cần thật sự tỉnh táo khi tiếp
nhận thông tin trên mạng xã hội, không để những thông tin xấu, độc lợi, thừa
nước đục thả câu để thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam.

