Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

NHỮNG VẦN THƠ CỦA BÁC HỒ CA NGỢI PHỤ NỮ VIỆT NAM

 Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ, dành cho phụ nữ có những nét riêng phù hợp tâm lý, tình cảm và nguyện vọng của phụ nữ Việt Nam.

Đầu xuân 1968, sau cuộc họp giao ban tuyên truyền buổi sáng, nhà báo Huỳnh Văn Tiểng, Phó Tổng biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) nhắc tôi đến Phòng Tư liệu chỗ ông Phạm Gia tìm những bài thơ của Bác Hồ: “Phụ nữ ca”, “Công nhân ca” , “Quốc tế ca” có câu Hỡi ai nô lệ trên đời/ Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên… từ trước Cách mạng tháng 8/1945, rồi chuyển cho chị Châu Loan, Hồng Lê hát Vè Huế; hoặc chị Kim Đức, Như Hoa hát Tróng quân, Cò Lả… để thêm tiết mục trong chương trình Dân ca.
Tôi đến Phòng Tư liệu, ông Phạm Gia sau khi đưa cho tôi 3 bài thơ ấy, còn đưa một tập đánh máy những bài thơ khác của Hồ Chủ tịch viết về Phụ nữ. Càng đọc chúng tôi càng khâm phục ngòi bút tuyên truyền cổ động của Bác Hồ trong thời kỳ cách mạng còn nhiều khó khăn.
Ngoài 22 bài thơ chúc Tết ngày Xuân hàng năm của Người, thì khối lượng lớn thơ cổ động tuyên truyền được sáng tác liên tục dọc theo đời hoạt động của Bác dành cho nhiều đối tượng, trong đó phụ nữ. Những bài thơ Bác viết về phụ nữ là những bài thơ đặc sắc, xúc động.
Trong những nét chung thơ tuyên truyền cổ động của Bác giản dị, thiết thực, dễ hiểu, có lý, có tình, đậm đà tính chất dân tộc, phù hợp tâm lý, nếp nghĩ nếp cảm và trình độ của đông đảo công chúng nông dân Việt Nam trước cách mạng. Thơ Bác viết về phụ nữ, dành cho phụ nữ lại có những nét riêng phù hợp tâm lý, tình cảm và nguyện vọng của phụ nữ. Tình cảm chân thành, sự cảm hiểu, trân trọng. Đặc biệt là giọng điệu tâm tình vừa khuyên nhủ, vừa khích lệ khiến những bài thơ của Bác có sức truyền cảm và tác động trực tiếp, mạnh mẽ, sâu đậm trong đông đảo giới phụ nữ.
Trong bản diễn ca Lịch sử nước ta, dài 210 câu viết năm 1942, ngợi ca những trang sử hào hùng của dân tộc từ thời dựng nước, qua 4.000 năm lịch sử, Bác đã dành những vần thơ sảng khoái, đầy trân trọng ca ngợi truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường – Đánh đông dẹp bắc làm gương để đời”.
Công đức của Bà Trưng, Bà Triệu được trân trong khắc ghi cùng những tấm gương anh hùng của dân tộc: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Phan Đình Phùng…
Hai Bà Trưng có đại tài
Phất cờ khởi nghĩa đánh người tà gian
Ra tay khôi phục giang san
Tiếng thơm ghi tạc đá vàng nước ta
Tỉnh Thanh Hóa có một bà
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi
Tài năng dũng cảm hơn người
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu hương
Một sự công bằng như vậy để đánh giá, khẳng định vị trí, tài đức và phần đóng góp quý giá của người phụ nữ Việt Nam. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, những lời thơ ấy có tác động không nhỏ đối với đông đảo các thế hệ phụ nữ.
Sau khi Mặt trận Việt Minh chính thức được thành lập, bám sát mười chính sách của mặt trận, Bác sáng tác bài ca dài 212 câu, nhằm tuyên truyền những chính sách mới, tiến bộ về chương trình hoạt động của Việt Minh, trong đó có hai câu thơ ngắn, gọn, dung dị:
Đàn bà cũng được tự do
Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.
Bác đã dõng dạc khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội: Bình đẳng trong cả quyền lợi và nghĩa vụ. Sau bao năm lầm lụi sống trong lễ giáo phong kiến “Trọng nam, khinh nữ”, hai câu thơ của Bác mang ý nghĩa “tuyên ngôn nhân quyền” cho giới phụ nữ, một sự thanh toán sòng phẳng với quá khứ gò bó, trói buộc, để họ có thể tự tin và hồ hởi đi lên cùng dân tộc.
Ngoài những bài ca chung, ở đó phụ nữ được Bác nói như một “giới mạnh”, Bác còn dành viết những bài ca riêng về phụ nữ. Ví như bài thơ “Ca phụ nữ” (đăng báo Việt Nam độc lập, số 4 ngày 1/9/1941) là bài ca đặc sắc. Bài ca khơi gợi truyền thống anh hùng với những cống hiến, hy sinh lớn lao của phụ nữ Việt Nam từ thời tiền sử đến những tấm gương anh dũng tuyệt vời “lòng vàng gang sắt nào đà kém ai?”, rồi trong thời kỳ trứng nước của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: Kìa như chị Nguyễn Minh Khai/ Bị làm án tử đến hai ba lần.
Và những người phụ nữ mới đang hồ hởi gánh vác những nhiệm vụ lịch sử trọng đại, vừa thiết thực của dân tộc: “Đánh Tàu, đuổi Nhật, cứu dân, cứu nhà”. Bằng giọng tâm tình, Bác vừa khích lệ, vừa đồng thời nhắc nhở trách nhiệm của người phụ nữ; phải kế tiếp được truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam và của cả dân tộc: “Làm cho rõ mặt con Rồng, cháu Tiên”.
Không chỉ đòi hỏi ở phụ nữ sự hy sinh, cống hiến chịu đựng, những vần thơ của Bác cũng đồng thời đề cập tới quyền lợi thực tế của người phụ nữ. Quyền lợi ấy nằm trong và được đặt trong quyền lợi chung của cả dân tộc. Bác phân tích thấu lý đạt tình: “Trước giúp nước, sau giúp mình”. Cái chung và cái riêng, quyền lợi và nghĩa vụ, tình và lý…
Sự hòa quyện tuyệt diệu, nhuần nhị ấy khiến thơ Bác, do vậy không chỉ dừng lại ở sự kêu gọi, tuyên truyền mà có sức nặng của những chân lý cụ thể và thiết thực. Thơ có sự thấm đậm sâu trong suy tư, tình cảm và có sức gọi khơi, nhân dậy tiềm năng đóng góp của phụ nữ. Sức thuyết phục và khả năng động viên, giục giã đó là sức mạnh đặc biệt tiềm ẩn trong thơ tuyên truyền của Bác.
Là trung tâm của gia đình, sức mạnh của người phụ nữ không chỉ là sức mạnh của riêng họ mà còn là sức mạnh vô biên, tiềm ẩn có thể nhân dậy sức mạnh ở chồng, ở con, ở cháu… một sức mạnh của “hậu phương”. Người lính ra trận sẽ chỉ thực sự yên lòng, chỉ thực sự có sức mạnh khi hậu phương của mình vững chãi. An ủi, động viên, làm ấm lòng người đi chiến đấu, không ai có thể thay thế được vị trí ấy của người vợ, người mẹ.
Ý thức sâu sắc về vị trí đặc biệt và sức mạnh tuyệt diệu đó của phụ nữ, Bác luôn có ý thức thông qua phụ nữ để tuyên truyền, vận động các giới, các đối tượng khác. Với bài “Thơ vợ gửi chồng đi làm cách mạng”, sức nặng thơ Bác được nhân lên qua tình cảm và lời nhắn nhủ thủ thỉ, thân thương, thấm thía của người vợ: “Em xin anh chớ phiền lòng/ Em tuy hèn yếu quyết thay chồng tranh đấu đến nơi”.
Sự tự nguyện ấy chỉ có được khi người phụ nữ hiểu thấu ý nghĩa công việc chồng chị đang gánh vác: “Vì anh tranh đấu mấy phen/ Vì anh mong giải phóng cho cháu Tiên, con Rồng”, chỉ có được khi chị đã thấy tương lai. Cái đích ở chặng cuối của những hy sinh, chịu đựng ấy là sự chiến thắng, là cuộc sống sum họp, hạnh phúc: “Mai sau anh trở lại nhà/ Ánh trăng càng tỏ, màu hoa càng nồng”.
Tình cảm cách mạng mới mẻ, chân thành, sự phân tích thấu lý đạt tình đã có sức chuyển tải cả một nội dung mới, không khí đời sống mới, tâm tư tình cảm của những người phụ nữ mới trong những vần thơ dung dị nôm na. Bài thơ, do vậy, từ những câu đầu rất gần với hơi thơ Chinh phụ ngâm: “Anh hỡi anh, chồng hỡi chồng/ Từ ngày ly biệt thiếp nay trông, mai chờ/ Cha già, mẹ yếu, con thơ/ Nuôi già dạy trẻ em cậy nhờ vào đâu?…
Đến cuối bài, đã bừng trỗi dậy những tình cảm cách mạng trong trẻo, khỏe khoắn không ngờ.
Mượn những gì đã đến và bắt rễ sâu trong đời sống tinh thần của dân tộc, truyền thống thơ ca dân gian, để truyền đạt trực tiếp, để chuyển tải những nội dung mới của cách mạng, những vần thơ của Bác do vậy có thể tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới quần chúng bằng con đường ngắn nhất.
Ngồi nghe lại những bài thơ tuyên truyền của Bác Hồ được các nghệ sĩ quen thuộc hát theo các làn điệu dân ca ba miền Bắc Trung Nam phát trên sóng Đài TNVN, tôi càng thấm thía thêm về nghiệp vụ báo chí mà mình đã và đang theo đuổi, dù thời gian và không gian có khác nhau.
Làm thơ vốn không phải là mục đích duy nhất và cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng, hiểu rõ tác động mạnh mẽ của thơ ca, dùng thơ ca làm một phương tiện tuyên truyền, phục vụ cho cách mạng, kháng chiến, đó lại là ý thức thường trực của Bác, là mục đích quán xuyến của thơ Bác.
Đó cũng là nét riêng độc đáo trong toàn bộ thơ ca cổ động, tuyên truyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta./.
Nhạc sĩ Dân Huyền
Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cán bộ cơ quan TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ở Việt Bắc, tháng 2/1949.

CỰU BINH MỸ BẬT KHÓC KHI MANG CUỐN NHẬT KÝ LƯU GIỮ GẦN 60 NĂM VỀ VIỆT NAM!

         Vừa đặt chân đến TPHCM, vợ chồng ông Peter Mathews cùng bật khóc nức nở. Hành trình trở lại Việt Nam lần đầu sau 56 năm kể từ thời tham chiến của cựu binh Mỹ mang nhiều cảm xúc đặc biệt...
     8h30, ông Peter Mathews (cựu chiến binh Mỹ) ra khỏi Nhà ga quốc tế Sân bay Tân Sơn Nhất (TPHCM) sau 30 phút làm thủ tục nhập cảnh.
     Được tiếp đón chu đáo, thân tình bởi những người Việt Nam, ông Peter không khỏi bồi hồi, xúc động.
     Ông chia sẻ đây là lần đầu tiên đặt chân đến TPHCM, sau gần 60 năm đi qua cuộc chiến tranh. "Tôi nhẹ lòng, hạnh phúc vì thấy người Việt Nam đang được sống trong hòa bình. Đất nước các bạn, so với thời chiến tranh, thực sự mọi thứ đã thay đổi nhanh chóng", ông Peter nói.
     Mệt mỏi sau chuyến bay dài gần 24 tiếng, bà Christina Mathews (vợ ông Peter Mathews) phải ngồi xe lăn, nhờ sự hỗ trợ từ nhân viên mặt đất tại sân bay Tân Sơn Nhất.
     Trong thời gian đợi làm thủ tục tiếp tục chuyến bay đến Vinh để vào Hà Tĩnh, ông Peter Mathews mang ra, lật giở từng trang cuốn nhật ký đã sờn tróc vỏ ngoài của liệt sĩ Cao Văn Tuất. Được biết, cuốn sổ được ông tìm thấy trong balo của người lính Việt Nam, rơi dưới chân đồi 724, trong trận Đăk Tô, Tây Nguyên vào 11/1967.
     Ông Peter lật giở tới những trang nhật ký đẹp nhất mà ông đã từng choáng ngợp khi mở ra, dù không hiểu được nội dung viết trong đó. Người cựu binh Mỹ đã giữ cuốn sổ suốt 56 năm, trong chiếc hòm tại gác mái ngôi nhà, với nhiều day dứt trong lòng. Trong đó, chủ yếu là những ca khúc, bài thơ, lời tự sự của liệt sĩ Cao Văn Tuất, thể hiện tinh thần lý tưởng, tự nguyện lên đường chiến đấu để bảo vệ tổ quốc.
     Dù khá mệt, ông Peter Mathews liên tục quan tâm, hỏi han vợ. Ông rút một bông hồng từ bó hoa được tặng trao cho bà Mathews. Ông chia sẻ, bà là người động viên ông đối mặt với quá khứ, khuyến khích ông tìm kiếm chủ nhân cuốn nhật ký và đồng hành cùng ông trong hành trình đến Việt Nam để trao trả cuốn sổ, một hành trình của tỉnh thức, của hóa giải lương tâm./.



Môi trường (Yn) ST.

KHAI THÁC MẶT TÍCH CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI!

         Hiện nay MXH đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và bùng nổ ở Việt Nam. Mạng xã hội tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chi phối không nhỏ đến tâm tư tình cảm và suy nghĩ của mỗi người. Bên cạnh mặt tích cực MXH cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực.
     MXH mang lại nhiều giá trị tích cực, cho phép người dùng tìm kiếm thông tin, thể hiện bản thân trải nghiệm cuộc sống vv …Nếu chúng ta biết khai thác một cách tỉnh táo, tuân thủ luật pháp thì MXH mang lại lợi ích và niềm vui vô bờ bến. Ngược lại nếu thiếu hiểu biết thiếu văn hoá, ảo tưởng quyền lực mạng thì những hậu quả gây hại cho xã hội và bản thân là vô cùng nghiêm trọng. 
     MXH có sức Lan tỏa khủng khiếp nên sự tác động vô cùng lớn mạnh... Khi tham gia KGM chúng ta cần trang bị cho mình những kiến thức căn bản về luật pháp, luật An Ninh Mạng. Đừng nghĩ mạng là ảo muốn nói gì thì nói làm gì thì làm. MXH cũng như cuộc sống bên ngoài, cuộc sống thì muôn màu, không hoàn toàn màu xám cũng không chỉ có màu Hồng mà là bức tranh xen kẽ hài hoà giữa tông màu tối sáng, nó trở nên tiêu cực hay tích cực là do ở chúng ta..
     Khi tham gia mạng xã hội chúng ta cần hết sức tỉnh táo có văn hoá. Việc đấu tranh để chống lại cái xấu xa tiêu cực trong xã hội là trách nhiệm của mỗi công dân. Tuy nhiên chúng ta cần phải trung thực thận trọng, đừng nặng đầu óc bè phái, định kiến, kỳ thị; việc có nói có, không nói không. Muốn xã hội văn minh thì dùng mạng phải văn hoá đấu tranh phải đúng cách…
     Hãy tích cực chia sẻ những thông tin đáng tin cậy từ những tờ báo chính thống, những câu chuyện đẹp với phương châm “ Lấy cái đẹp đè bẹp cái xấu”, nhằm tạo ra xu hướng tích cực trên mạng xã hội. Cá nhân mỗi người khi được tiếp nhận nhiều thông tin tốt, hình ảnh và câu chuyện đẹp sẽ giúp con người ghi sâu vào tâm trí, qua đó định hướng được nhận thức và thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực như những gì đã được tiếp nhận.
     Để MXH trở thành thế mạnh cho công cuộc phát triển mọi mặt của đởi sống xã hội nhà nước cần sâu sát hơn nữa. Là người dân khi tham gia MXH chúng ta cần phải thận trọng hơn cả cuộc sống ngoài đời, phải là người có trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng. Biết tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền lợi của người khác. 
     Trước thông tin ồ ạt, nhiễu loan đa dạng phức tạp trên KGM đồi hỏi người dùng phải tỉnh táo để suy sét! nhìn nhận và lý giải thấu đáo trước khi quyết định like, chia sẻ, bình luận hay đăng tải clip, livetream trên MXH. Ứng xử nhân văn, phù hợp để không làm tổn thương đến mình và những người sử dụng MXH
     Tôi luôn khai thác những điểm mạnh mặt tích cực mà KGM mang lại, tìm kiếm những thông tin chính thống đáng tin cậy để đọc. Viết lách hay sưu tầm những bài viết mang tính nhân văn, nên bản thân yên tâm thoải mái vui vẻ khi tham gia MXH. Từ ngày có mạng cảm thấy cuộc sống thú vị hơn rất nhiều …
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH LOẠI BỎ THÔNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Trong điều kiện hiện nay khi mà cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển “với cấp số nhân”, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với mọi người dân. Bất kỳ ai, chỉ cần có trong tay một thiết bị thông minh (điện thoại, máy tính bảng, laptop….) có kết nối internet đều có thể tham gia vào mạng xã hội, trên những nền tảng khác nhau (như: facebook, youtube, zalo, twitter…). Bên cạnh những tác dụng to lớn, người dùng mạng xã hội đã và đang phải đối diện với nhiều nguy cơ, trong đó có vấn nạn tin giả. Tin giả trong “xã hội ảo” nhưng gây hại sâu sắc, nguy hiểm đến “thế giới thực”. Nhận diện, đấu tranh với thông tin giả trên mạng xã hội trở thành vấn đề nóng bỏng hiện nay.

Hàng ngày, hàng giờ người dùng internet có thể tiếp cận muôn vàn thông tin trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như: facebook, youtube, zalo, twitter… Chỉ cần gõ một “từ khóa” người dùng có thể nhận về hàng ngàn, hàng vạn thông tin liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống xã hội. Sự linh hoạt, thuận tiện của các nền tảng mạng xã hội là không thể phủ nhận. Bên cạnh việc tiếp cận thông tin, người dùng có thể chia sẻ, bày tỏ quan điểm cá nhân về những vấn đề mình quan tâm. Người dùng không chỉ tiếp cận một chiều mà hoàn toàn có thể phát triển tư duy và sự sáng tạo của bản thân, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại. Tuy nhiên, trên các nền tảng mạng xã hội, tri thức, dữ liệu được tạo ra trên từng giây, trong số đó có rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu, độc, thách thức người dùng.

Tin giả (fake news) – theo cách hiểu thông thường là những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, kiểm duyệt, xuất hiện sai lệch về nội dung và được phát tán rộng rãi, với tốc độ vô cùng nhanh trên Internet và các phương tiện truyền thông. Có thể đó là những thông tin hoàn toàn không chính xác được cố tình đăng tải, lan truyền vì một mục đích nào đó; có thể là những thông tin có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác do người viết không kiểm chứng toàn bộ sự thật trước khi đăng tải, chia sẻ hoặc có thể họ phóng đại một phần của câu chuyện đó. Dù ở thể loại, cấp độ nào thì đây hoàn toàn là những thông tin không đáng tin cậy, nhưng xuất hiện với “cường độ” lớn, “mật độ” dày đặc trên nhiều nền tảng mạng xã hội, dễ gây nên những nhận thức sai lầm trong dư luận xã hội. Thậm chí, tạo nên những nhận thức và hành động sai lầm, lệch lạc của một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết, cả tin.

Thực tế  từ giữa tháng 01 đến giữa tháng 02 năm 2023 trên không gian mạng xuất hiện 426500 tin, bài viết, video, thu hút gần 36 triệu lượt tương tác, trong đó có khoảng 1800 tin, bài viết, video tiêu cực, chủ yếu nằm trong các trang phản động như Việt Tân, Chân trời mới Media, Nhật ký yêu nước, Thân hữu Việt Tân Úc châu, Đài Châu Á tự do, Tiếng Dân News, Đông Lào tự do…

Vì vậy nhận diện, đấu tranh và loại bỏ thông tin giả, thông tin xấu độc trên mạng xã hội hiện nay về phía người dùng mạng xã hội, cần thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân trên những nội dung sau:

Một là, cần nhận thức rõ trách nhiệm công dân khi tham gia các hoạt động trên môi trường không gian mạng. Khi tham gia các nền tảng mạng xã hội, bên cạnh việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cá nhân, mỗi công dân cần ý thức rõ việc thiết lập “vùng an toàn” trong khuôn khổ pháp luật; để một mặt bảo đảm sự an ninh, an toàn cho cá nhân, mặt khác bảo vệ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng. Tham gia vào các nền tảng mạng xã hội người dùng vừa là người tiếp nhận thông tin, vừa là người tạo nên thông tin. Với tư cách tiếp nhận thông tin, mỗi người dùng mạng xã hội phải luôn cảnh giác, tiếp nhận thông tin một các có chọn lọc, có sự so sánh, đối chiếu giữa thông tin trên mạng xã hội với các thông tin trên phương tiện thông tin truyền thông chính thống (như: đài truyền hình quốc gia, các trang báo của cơ quan ngôn luận Trung ương…) để phân biệt, đánh giá mức độ đúng – sai của các thông tin. Tuyệt đối không tiếp nhận thông tin một cách cảm tính, theo tâm lý “đám đông”, dễ tin, cả tin theo các luồng thông tin trên mạng xã hội. Với tư cách người tạo nên thông tin, khi viết, truyền tải bất kỳ một thông tin nào trên các nền tảng mạng xã hội cần nghiêm túc cân nhắc, ý thức rõ phạm vi ảnh hưởng của những thông tin đưa lên mạng. Phải luôn răn mình: “suy nghĩ rồi mới nói”, đừng “nói trước khi suy nghĩ”; bởi hệ lụy từ những thông tin mình tạo ra trên mạng xã hội đôi khi khôn lường.

Hai là, cảnh giác đấu tranh, loại bỏ những thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Khi tham gia mạng xã hội, người dùng hoàn toàn có thể nhận diện, “chỉ mặt, đặt tên” những thông tin sai sự thật. Bởi với sự hỗ trợ “đắc lực” của các công cụ tìm kiếm (như: google) người đọc sẽ nhanh chóng tìm thấy sự so sánh, đối chiếu đơn giản, dễ dàng tìm ra “chân lý” của sự việc. Vấn đề ở chỗ, người dùng không được dễ dãi, không cho phép mình “dễ dãi”, tin ngay những thông tin vừa nghe, vừa đọc. Ý thức công dân và sự nhạy bén chính trị cần được đặt lên hàng đầu. Câu hỏi tại sao? Mục đích gì ẩn đằng sau? Thông tin này có lợi hoặc có hại cho ai?… phải luôn thường trực trong đầu mỗi người dùng mạng xã hội. Tuyệt đối không để “ma trận” thông tin trên mạng xã hội “điều khiển” nhận thức và hành vi của bản thân. Đây là vấn đề khó nhưng không phải không thực hiện được, nếu mỗi người dùng mạng xã hội nêu cao ý thức công dân, sự tự tôn, tự trọng của cá nhận. Mỗi người phải luôn răn mình: xã hội ảo nhưng hệ lụy thật, nếu không cảnh giác trong hiện tại sẽ nhận về những hậu quả khôn lường trong tương lai.

Ba là, hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong đấu tranh, loại bỏ thông tin giả trên mạng xã hội. Hiện nay hành lang pháp lý và các công cụ kỹ thuật hoàn toàn cho phép người dùng mạng xã hội phát hiện, tố giác với các cơ quan chức năng về những thông tin giả mạo. Luật Hình sự, Luật An ninh mạng… đều có những điều khoản quy định cho phép công dân tố cáo những hành vi đưa tin sai sự thật, lừa đảo trên mạng internet. Đặc biệt, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam đã cung cấp số điện thoại, email, webside để tiếp nhận những thông tin giả mạo liên quan đến các lĩnh vực: Chính sách, pháp luật;  Kinh tế, tài chính; Lĩnh vực y tế (sản phẩm y tế liên quan đến sức khỏe con người); Thiên tai, dịch bệnh; An ninh quốc gia, trật tự an toàn – xã hội; Tài khoản giả mạo; Đường link lừa đảo; và các lĩnh vực khác. Do đó, khi người dùng mạng xã hội phát hiện thông tin giả mạo, cần chủ động liên hệ với các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý kịp thời.

Tóm lại, thông tin giả đã và đang tồn tại khá nhiều trên các nền tảng mạng xã hội. Những thông tin này luôn “ẩn mình” trong “ma trận” để đánh lừa mỗi người dùng. Do đó, khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội, mỗi cá nhân hãy chủ động tìm kiếm từ các trang báo chí, thông tin chính thống để so sánh, đối chiếu. Nếu không xác định được nguồn gốc, động cơ, mục đích của thông tin và người chia sẻ thông tin, cần bình tĩnh, thận trọng khi bình luận, phát tán thông tin. Bên cạnh đó, cần xây dựng cho bản thân thái độ tích cực, thể hiện rõ trách nhiệm công dân, phối hợp cùng các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống, loại bỏ thông tin giả trên mạng xã hội./.

KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

 Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.Tác động qua lại của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh

Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.

Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh - Từ góc độ quản lý nhà nướcTừ yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đạt được những kết quả khá toàn diện.

Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).

Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”(1), tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.

Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.

Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.

Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninhĐể phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển KTTT đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.

Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền KTTT, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng. Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(2).

Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:

Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đ­ường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.

Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTTT, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế  - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ(3); đồng thời, nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.

Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp. Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp. Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.

ST


PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, QUỐC HỘI VIỆT NAM QUA BẦU CHỦ TỊCH NƯỚC!

Vinh dự lớn, trách nhiệm cao trước Tổ quốc và Nhân dân
Kỳ họp bất thường lần thứ 4 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức vào sáng 2–3-2023, tại Hà Nội, đã bầu Chủ tịch nước bằng hình thức bỏ phiếu kín. Với 487/488 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 98,38% tổng số đại biểu Quốc hội có mặt, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư khóa XIII đã trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Tại Lễ Tuyên thệ nhậm chức, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng đã trân trọng cảm ơn đồng bào, đồng chí, cử tri cả nước và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin cậy tiến cử đồng chí đảm nhận cương vị Chủ tịch nước và đồng chí đã hứa sẽ cố gắng hết mình “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Những luận điệu lạc lõng, sai trái cần bác bỏ
Đi ngược lại tâm nguyện, niềm vui, sự phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, các thế lực thù địch, phản động và “những kẻ theo đuôi” chúng, nhất là những phần tử cơ hội, bất mãn, bất đồng chính kiến, thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quốc hội Việt Nam đã trắng trợn xuyên tạc sự kiện chính trị trọng đại này. Chúng đã tỏ rõ thái độ, hành vi sai trái, phản cảm là vào hùa với nhau, phát ngôn, viết tin, bài, dàn dựng các video clip có nội dung xấu, độc, tung lên mạng xã hội và tán phát các tài liệu phản động để xuyên tạc sự thật, làm xấu xí xã hội Việt Nam trước, trong và sau Tết Quý Mão 2023, đặc biệt là thời điểm diễn ra phiên họp bất thường lần thứ tư của Quốc hội khóa XV ngày 2-3-2023, tô vẽ thành một bức tranh đầy gam màu xám, cốt để bôi đen tình hình chính trị – xã hội Việt Nam. Cùng với đó, là công kích, xuyên tạc bản chất một số hội nghị bất thường của Đảng, của Quốc hội về miễn nhiệm và bầu Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như một số nhân sự có liên quan. Đằng sau các việc làm sai trái này là hướng tới sự chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Thái độ và những hành vi lợi dụng các sự kiện chính trị của đất nước như việc Quốc hội họp phiên bất thường để kiện toàn công tác nhân sự là trò chơi “không bình thường” của những kẻ thiếu trách nhiệm, gây hại cho nước, cho dân. Chúng đã chà đạp lên dư luận xã hội, bất chấp đạo lý, pháp lý; đã nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; cố tình chia rẽ Đảng với Nhà nước và Quốc hội; Đảng, Nhà nước, Quốc hội với Nhân dân. Việc làm sai trái ấy là đáng lên án, phải cực lực phản đối, vạch trần bộ mặt “giả nhân giả nghĩa” của chúng, những người “ném đá giấu tay”, chơi trò “chọc gậy bánh xe”, gây rối loạn môi trường chính trị Việt Nam…

Những luận điệu lừa bịp, xảo trá của chúng không chỉ làm phức tạp thêm tình hình đất nước, mà còn chà đạp thô bạo lên uy tín, phẩm giá, danh dự của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. Đáng buồn cho những kẻ “thay mặt đổi lòng”, “cõng rắn cắn gà nhà”, luôn hằn học, bực tức khi chứng kiến những thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Nhân dân ta.

Người có lương tri, danh dự không bao giờ chấp nhận các luận điệu sai trái đang gieo rắc trong lòng xã hội ta, đã biến “trắng thành đen”, “phải thành trái”, “thật thành giả”, “đúng thành sai”, khi chúng phát tán tài liệu, tung ra tin giả, các bài viết có quan điểm ngang ngược, sặc mùi phản động, thể hiện sự thù địch và cuồng vọng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Chúng ta cần vạch trần các luận điểm sai trái; đó là: “Bầu Chủ tịch nước chỉ là “màn kịch dân chủ giả tạo” do Đảng Cộng sản Việt Nam đạo diễn”, “Bầu cử Chủ tịch nước của Quốc hội Việt Nam chỉ là hình thức”, “cả bảy phiên họp bất thường, gồm bốn phiên họp Quốc hội, ba phiên họp Trung ương Đảng diễn ra trong một thời gian ngắn là hết sức phi lý, có “một không hai” trong lịch sử Việt Nam vì nó tiêu tốn quá nhiều tiền thuế của dân, làm lãng phí thời gian, công sức, gây rối loạn xã hội”.

Chúng cáo buộc rằng” “Đảng và Quốc hội Việt Nam phải họp các hội nghị bất thường là vì thượng tầng kiến trúc Việt Nam đang rất bất thường”, “chứng tỏ xã hội Việt Nam bất ổn về chính trị”, “nội bộ lục đục”. Hơn thế, chúng còn võ đoán rằng, “các phe cánh trong Đảng, Nhà nước tranh giành quyền lực”, “đấu đá, thanh trừng lẫn nhau”, “chia ghế ngồi của giới chóp bu cộng sản không công bằng nên nảy sinh chuyện”, v.v..

Cùng với đó, chúng tung tin rằng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng còn quá trẻ, lại “chưa có công cán gì”, “chưa từng trải qua các cương vị quản lý nhà nước”, “chỉ làm công tác Đảng”, “dân lý luận suông”; còn ít kinh nghiệm để đảm đương chức vụ Chủ tịch nước – một vị trí quan trọng trong “tứ trụ”. Đó là nỗi lo của dân tộc! Hơn thế, chúng còn cho rằng, đồng chí Võ Văn Thưởng giữ chức Chủ tịch nước là “gỡ thế bí cho Đảng”, là cách “chia nhau lợi ích giữa các phe phái miền Bắc, miền Trung và miền Nam”. Giọng điệu của chúng lố bịch hết chỗ nói!

Nhân dân ta đều đã rõ: Đồng chí Võ Văn Thưởng 53 tuổi đời, đã trải qua nhiều cương vị công tác. Là công dân Việt Nam biết chữ, chỉ cần xem bản lý lịch của đồng chí Võ Văn Thưởng sẽ rõ ngọn ngành. Nếu không có đủ phẩm chất và năng lực thì làm sao đồng chí được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết lúc 36 tuổi; Ủy viên Trung ương Đảng ba khóa liên tiếp từ khóa XI đến khóa XIII; đại biểu Quốc hội ba khóa XII, XIV, XV; Ủy viên Bộ Chính trị hai khóa XII, XIII; được phân công tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, giữ chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; sau đó là Thường trực Ban Bí thư khóa XIII. Đó là sự thật, tự nó đủ sức bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền sai trái về đồng chí Tân Chủ tịch nước. Ai đó “lộng ngôn”, “sang mồn” phán xét, “nói cho sướng miệng” khi tung ra lời lẽ khiếm nhã, như đồng chí Võ Văn Thưởng “còn non” và “còn xanh”; không đủ sức gách vác trọng trách Chủ tịch nước là nhảm nhí. Chẳng nhẽ, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta lựa chọn nhầm lẫn, giao phó cho người thiếu tin tưởng?

Chúng ta cực lực phản đối sự cáo buộc vô lý của chúng, rằng “đặc sản của Việt Nam là chơi trò vừa thiết kế, vừa dàn dựng, vừa thực hiện kịch bản đảng cử – dân bầu”. Ở Việt Nam: “họp Quốc hội chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử” theo kiểu “một mình một chợ”, “một mình một bàn cờ”…

 Sự phao tin đồn nhảm của chúng là hết sức phi lý, khi chúng cho rằng, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn đó, vẫn lãnh đạo các cuộc bầu cử”; “Cuộc bầu cử hay miễn nhiệm của Quốc hội Việt Nam chỉ là hình thức quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe cánh” của Đảng “chia chác’, “sắp đặt sẵn”, đã “thỏa hiệp” nên “an bài”, “không thể đảo ngược”, v.v..

Tệ hơn, chúng còn xuyên tạc lời chúc, điện mừng; phủ nhận thiện chí, lòng tốt của bè bạn quốc tế; đã cáo buộc rằng, Tổng thống Nga Pu tin là một trong những nguyên thủ quốc gia đầu tiên trên thế giới gửi điện chúc “đồng chí Võ Văn Thưởng” được bầu làm Chủ tịch nước với danh xưng “đồng chí”… Từ đó, chúng trắng trợn xuyên tạc: “Việt Nam theo phe Nga”; ủng hộ “cuộc xung đột quân sự của Nga chống Ucraina”. Các câu chuyện hoang đường cũng từ sự thâm thù của chúng đã xuất hiện để kích bác Đảng ta “ủng hộ Nga xâm lược Ucraina”. Đó là sự điên rồ, thật phi lý, đầy ác ý; không thể chấp nhận.

Nguyên tắc lãnh đạo
và thượng tôn pháp luật
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, tin theo; được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.

Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Điểm này đã được Điều 69, Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đúng vậy! Để Quốc hội khóa XV bầu Chủ tịch nước thành công, một ngày trước phiên họp bất thường lần thứ 4 của Quốc hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp phiên bất thường lần thứ 3 ngày 1-3-2023 để dân chủ thảo luận và quyết định giới thiệu đồng chí Võ Văn Thưởng để Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2021 – 2026 thay đồng chí Nguyễn Xuân Phúc vừa miễn nhiệm.

Sự thật là rõ ràng, rất khách quan, cần tôn trọng

Những kẻ xuyên tạc sự kiện này là nhằm mục đích hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam. Chúng đã cố tình làm ngơ sự thật đang diễn ra ở Việt Nam, đã thêu dệt các tình tiết bằng việc chắp nối, cắt dán, lắp ghép các thông tin, làm cho nó “mới lạ, giật gân”, gây sự tò mò, tăng sự hiếu kỳ của người dân để tuyên truyền những thông tin xấu, độc, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan trong xã hội Việt Nam.

Ai cũng biết sự thống nhất giữa sự lãnh đạo của Đảng và quy định bầu cử chức danh Chủ tịch nước của Quốc hội thể hiện rõ nguyên tắc, trên những vấn đề cơ bản nhất: Xác định rõ tiêu chuẩn đối với ứng viên Chủ tịch nước về phẩm chất và năng lực; đức và tài, đủ các điều kiện “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Điều đó thể hiện rõ tính dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch. Chẳng nhẽ gần 500 đại biểu Quốc hội dự họp lại làm ngơ để sai trái diễn ra? Chẳng nhẽ hằng trăm nhà báo tham dự, đưa tin, đã phản ánh sai sự thật diễn ra ở Hội trường Diên Hồng, tòa Nhà Quốc hội? VTV1 đã truyền hình trực tiếp Lễ Tuyên thệ của Tân Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Nhân dân cả nước đều chứng kiến sự thật ấy; cớ sao lại có người nhẫn tâm nói xấu, xuyên tạc sự kiện quan trọng này (!)

Thực tế chỉ ra rằng, các nước khác nhau, có thể chế chính trị khác nhau nhưng đều có đảng chính trị lãnh đạo. Sự thật này thể hiện rõ ở các nước TBCN, họ có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nên các đảng chính trị đều đã lãnh đạo các cuộc bầu cử ở đó. Nghĩa là, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v.. Hãy nhìn xem các cuộc bầu cử ở nước Mỹ, nước Anh sẽ rõ điều này. Hà cớ gì ai đó lại cho rằng chỉ ở Việt Nam “Đảng cử – dân bầu”, “đại biểu Quốc hội chỉ là nghị gật”?

Rõ ràng là, trên thế giới, nhất là phương Tây, đều “đảng cử – dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai, ai “cử”. Đối với Việt Nam, người được cử và trúng cử phải là người có đủ phẩm chất, năng lực; đức và tài; có uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, biết cái gì có lợi cho dân thì gắng làm, làm cho bằng được, cái gì có hại cho dân thì kiên quyết tránh, tránh cho bằng được.

Tại sao vẫn còn có những kẻ thích đùa với chính trị; không phải phận sự của mình lại hay xía vào chọc ngoáy, phê phán Đảng ta thế này, thế kia, cho rằng tại sao Đảng lại lãnh đạo bầu cử? Rõ ràng là Đảng Cộng sản Việt Nam giới thiệu đồng chí Võ Văn Thưởng làm Chủ tịch nước là đúng thẩm quyền, đúng chức năng, nhiệm vụ; “làm đúng bài, tròn vai”.

 Ở đây cần nói lại cho rõ rằng: Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi nước có quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điều quan trọng nhất trong bầu cử là phải tuân theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Việc đại biểu Quốc hội bầu Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng là đúng ý Đảng, hợp lòng dân; bảo đảm ý chí của Nhân dân, phù hợp với tâm nguyện và khát vọng hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Cớ sao lại có kẻ thêu dệt, đơm đặt, nói sai ý Đảng, lòng dân; chống lại Đảng, Nhà nước, đi ngược lại điều Nhân dân mong muốn?

 Cần nhắc lại là ý chí của Nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước; đã thể hiện qua Hội nghị bất thường lần thứ tư của Quốc hội khóa XV; đã bầu được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng với số phiếu gần như tuyệt đối. Kết quả này là chân thực, khách quan vì nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín đã được hệ thống máy tính điện tử kiểm định công khai, nhanh, gọn, chính xác. Những kẻ xuyên tạc sự thật này liệu có ngượng mặt, nhói lòng?

Sự thật nói lên tất cả! Phẩm giá khẳng định niềm tin! Hỡi những ai còn cấn cá, theo đuôi kẻ xấu, hãy tĩnh táo lại đi, đừng mơ tưởng hảo huyền nữa; đừng học đòi, làm theo thói xấu “ngựa quen đường cũ” (!) Sự lươn lẹo, chống phá của các người chẳng thể làm gì được đâu. Hãy mau mau thức tỉnh nếu còn chút lương tâm, con biết mình là một con người./.
Yêu nước ST.

 TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC TỎA RA MỘT NỀN VĂN HÓA TƯƠNG LAI

Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại được bàn nhiều, sâu và rộng như hiện nay. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy; văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất như Đại văn hào Mácxim Goócky đã nói. Điều có ý nghĩa chân lý đó bị chúng ta bỏ quên quá lâu. Hãy trở về với Hồ Chí Minh, con người đã tỏa ra một nền văn hóa tương lai.

Nền tảng để xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam

“Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa tương lai”. Nhận xét đó là của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam năm 1923, lần đầu tiên được tiếp chuyện chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Một trăm năm trôi qua, quan điểm của Ôxíp Manđenxtam vẫn vẹn nguyên giá trị, ngày càng được kiểm chứng rộng rãi, đúng đắn ở Việt Nam và trên toàn cầu.

Từ giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Chúng thống trị về chính trị đồng thời đè nén, nô dịch về văn hóa. Đất nước độc lập trở thành thuộc địa, mất độc lập tự do. Nhân dân không có một chút quyền tự do, dân chủ nào. Nền văn hóa dân tộc vẫn tồn tại nhưng len lỏi trong sự bủa vây, áp bức của kẻ thù, không thể phát triển.

Cách mạng Tháng Tám thành công, đó không chỉ là một cuộc cách mạng về chính trị mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, một kỷ nguyên mới được mở ra cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhân dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.

Hồ Chí Minh đã kiến tạo một hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Theo Người văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại; có cái gì tốt của văn hóa xưa và nay, Đông và Tây thì ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa thuần túy Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Đó là một nền văn hóa của Hồng Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, của con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên. Người nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Hồng Bàng là tổ nước ta/ Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”.

Hệ giá trị văn hóa Việt Nam đặt “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Giá trị hạt nhân, cốt lõi của văn hóa Việt Nam là yêu nước. Với lòng yêu nước, quyết không chịu nô lệ, nên dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn chúng ta cũng quyết giành cho kỳ được độc lập tự do. Chính nhờ lòng yêu nước mà khi nền tự do độc lập của dân tộc bị uy hiếp, cả dân tộc vùng lên, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính nhờ dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước mà khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, cuộn dâng, quét phăng đi lũ cướp nước và lũ bán nước. Giá trị dân tộc của văn hóa Việt Nam được xác định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh tỏ rõ yêu nước là giá trị hàng đầu trong bảng thang giá trị văn hóa Việt Nam; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Nó không chỉ là động lực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cũng là động lực trong xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

Hồ Chí Minh đã tạo dựng, xây đắp, vun bồi nền văn hóa dân chủ - dân chủ trong Đảng, dân chủ trong nhân dân và trong xã hội. Đây là một trong những nét khác biệt nhất của nền văn hóa tương lai trong suy tư, trăn trở và hành động của Hồ Chí Minh. Theo Người, dân chủ được hiểu dân là chủ và dân làm chủ. Đó hoàn toàn không phải và xa lạ với dân chủ hình thức, dân chủ trang trí. Văn hóa dân chủ theo Hồ Chí Minh là làm sao cho người dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm, có quyền làm, có quyền nói; dân chủ là phải dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Người chỉ rõ, chỉ có một nền Cộng hòa Dân chủ thì mới dám khẳng định và thực hiện bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Người chỉ rõ, đối với dân ta đừng làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy, bởi làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành, làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước dân chủ. Mà Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ.

Chỉ có Đảng chân chính cách mạng, một Đảng mà đảng viên của Đảng không phải vào Đảng để làm quan phát tài mà phải hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì mới sẵn sàng làm trâu ngựa, tôi tớ của nhân dân theo tinh thần của Lỗ Tấn: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Nền văn hóa tương lai mang tầm vóc thời đại

Nền văn hóa tương lai tỏa ra từ Hồ Chí Minh mang chở những giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa đối với dân tộc vừa mang tầm vóc thời đại. Đó là những giá trị nhân văn, hợp tác, trách nhiệm.

Hồ Chí Minh là con người mang chở một chủ nghĩa nhân văn sâu nặng, trong sáng, cao cả. Những năm hai mươi Người nghĩ nhiều đến những người cùng khổ, và đến tận cuối đời, Người dặn lại đầu tiên là công việc đối với con người. Ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp, người Mỹ đã tử vong, Hồ Chí Minh thổ lộ trước lòng bác ái rằng máu nào cũng đều là máu, người nào cũng đều là người. Người yêu Tổ quốc và đồng bào mình, cũng yêu Tổ quốc và nhân dân các nước. Đó là một trong những cội nguồn khiến Người muốn đoàn kết, hợp tác với mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai. Với Người không chỉ đoàn kết trong nước mà còn phải nhận thức và hành động theo tinh thần chúng ta đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình đồng thời cũng mong các dân tộc khác giành được độc lập, bởi “quan sơn muôn dặm một nhà/ Vàng, đen, trắng, đỏ, bốn phương vô sản, bốn biển đều là anh em”.

Hồ Chí Minh là con người luôn đề cao và gắn chặt trách nhiệm với dân tộc và nhân loại. Với dân tộc, Người nhấn mạnh bổn phận chỉ có mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Với nhân loại, Người luôn mong muốn một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, tiến bộ và phát triển. Đây là hạt nhân, lõi cốt của văn hóa tương lai, là xu thế lớn của nhân loại. Thế giới nói đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nói tới một người giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do. Với nhân dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh là con người của hòa bình, hòa giải, công bằng, bình đẳng, luôn đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Được ghi nhận, tôn vinh là một nhân vật quan trọng và kiệt xuất, Hồ Chí Minh hội tụ nhiều tư tưởng, thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự tăng cường, hiểu biết lẫn nhau. Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề văn hóa một cách có ý thức. Người tìm thấy điểm tương đồng, mẫu số chung của Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên là mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, bởi Người góp phần to lớn trong việc chia sẻ sự đa dạng văn hóa, vừa tôn trọng vừa thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau, xóa bỏ những hiểu lầm, định kiến, rào cản giữa các nền văn hóa khác nhau. Với Người, trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa là công cụ hữu hiệu nhất để kiến tạo hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nhân loại nói về Hồ Chí Minh với tư cách là một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa của một thế giới hội nhập.

Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai chính là hệ giá trị văn hóa Việt Nam mà chúng ta đang nghiên cứu, xác định, triển khai xây dựng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nó vừa thuần túy Việt Nam vừa hợp với tinh thần của thời đại./.

 LIÊN HỢP QUỐC ĐÁNH GIÁ CAO LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HOÀ BÌNH VIỆT NAM

Tại Trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở New York đã diễn ra cuộc họp đầu tiên trong năm 2023 của Hội đồng Bảo an LHQ với đại diện 79 quốc gia cử binh sĩ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan (UNMISS).

Dưới sự chủ trì của nước Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ Mozambique, cuộc họp đã nghe báo cáo cập nhật của UNMISS, thảo luận về tình hình sở tại và hoạt động của Phái bộ.

Theo TTXVN, phát biểu tái khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với sứ mệnh của UNMISS tại Nam Sudan, Đại sứ Đặng Hoàng Giang - Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lòng tin giữa các bên liên quan, gồm cả giữa Phái bộ và chính quyền, người dân sở tại, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho bầu cử và quá trình xây dựng hiến pháp của Nam Sudan. Việt Nam sẵn sàng tiếp tục đóng góp cho nỗ lực này thông qua việc triển khai và tham gia các hoạt động hỗ trợ, gắn kết với cộng đồng sở tại, trong đó có vai trò rất quan trọng của các nữ chiến sĩ gìn giữ hòa bình.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang đã chia sẻ những nỗ lực cũng như sự sáng tạo trong triển khai nhiệm vụ của các cán bộ, chiến sĩ quân y và cảnh sát gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Nam Sudan, nhất là trong việc chăm lo đời sống, an toàn và sức khỏe của người dân sở tại, qua đó tăng cường sự gắn kết, lòng tin của người dân với Phái bộ gìn giữ hòa bình của LHQ. Đại sứ Đặng Hoàng Giang cho rằng đây là những bài học thành công cần được nhân rộng để UNMISS phát huy vai trò hỗ trợ tái thiết, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển ở Nam Sudan.

Đặc phái viên của Tổng Thư ký LHQ về Nam Sudan kiêm Trưởng Phái bộ UNMISS Nicholas Haysom trong trao đổi với Đại sứ Đặng Hoàng Giang đã đánh giá rất cao đóng góp hiệu quả, sự sáng tạo, ý thức kỷ luật cao của các cán bộ, chiến sĩ quân y Bệnh viện dã chiến cấp 2 và cảnh sát gìn giữ hòa bình Việt Nam tại UNMISS. Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định Việt Nam cam kết tiếp tục triển khai lực lượng quân đội và cảnh sát tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ nói chung và UNMISS nói riêng trong thời gian tới./.

 TÔN VINH NỮ CÁN BỘ, ĐOÀN VIÊN CÔNG ĐOÀN THỦ ĐÔ XUẤT SẮC.

Tối 5/3, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua 'Giỏi việc nước, đảm việc nhà' năm 2022 và 'Chương trình nghệ thuật tri ân nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn Thủ đô xuất sắc'.

Đây là một trong những hoạt động ý nghĩa của Liên đoàn Lao động thành phố, nhằm thiết thực chào mừng kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3; chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, hướng tới Đại hội XVII Công đoàn thành phố.

Đồng thời, thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nữ cán bộ, đoàn viên Công đoàn Thủ đô; tri ân, động viên khích lệ nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn xuất sắc trong công tác, lao động, sản xuất và hoạt động Công đoàn…

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội Phạm Quang Thanh, cho biết: Với hơn 390 nghìn người, chiếm 57% tổng số công nhân, viên chức, lao động, nữ công nhân, viên chức, lao động có mặt trên mọi lĩnh vực công tác, từ tham gia công tác quản lý đến chuyên môn và trực tiếp sản xuất.

Nối tiếp truyền thống của phụ nữ Việt Nam được vun đắp qua nhiều thế hệ, nữ công nhân, viên chức, lao động Thủ đô không ngừng phát huy vai trò và năng lực, sức sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của Thủ đô và đất nước.

Với truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, tổ chức Công đoàn cũng thấy được trách nhiệm của mình trong xây dựng đội ngũ nữ công nhân, viên chức, lao động Thủ đô trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, những người phát triển toàn diện cả về trí lực, thể lực và tâm lực, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Đồng chí Phạm Quang Thanh cũng cho biết, trong những ngày tháng 3 này, các cấp Công đoàn thành phố đều dành những hoạt động hướng đến nữ công nhân, viên chức, lao động. Phối hợp, đề nghị chuyên môn, người sử dụng lao động hỗ trợ nguồn lực, để chăm lo thiết thực hơn, hiệu quả hơn cho nữ công nhân, viên chức, lao động, giúp chị em thêm tin tưởng, gắn bó với công đoàn.

Liên đoàn Lao động thành phố đã dành những tình cảm, sự sẻ chia, trao hỗ trợ đến 1.793 nữ đoàn viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền gần 1,8 tỷ đồng. Vận động ủng hộ, trao tặng áo dài cho nữ công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn trong Chương trình “Tặng áo dài - Trao yêu thương - Giữ gìn nét đẹp truyền thống”.

Đặc biệt, Chương trình nghệ thuật như một lời tri ân của tổ chức Công đoàn Thủ đô đối với những đóng góp, trách nhiệm, tâm huyết của đội ngũ cán bộ chủ chốt Công đoàn các cấp và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn Thủ đô, qua đó, tạo động lực để nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn tiếp tục có những đóng góp, cống hiến tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Dịp này, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội trao thưởng cho tập thể, cá nhân, đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" năm 2022.