Thơ Bác Hồ viết về phụ nữ, dành cho phụ nữ có những nét riêng phù hợp tâm lý, tình cảm và nguyện vọng của phụ nữ Việt Nam.
Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023
NHỮNG VẦN THƠ CỦA BÁC HỒ CA NGỢI PHỤ NỮ VIỆT NAM
CỰU BINH MỸ BẬT KHÓC KHI MANG CUỐN NHẬT KÝ LƯU GIỮ GẦN 60 NĂM VỀ VIỆT NAM!
KHAI THÁC MẶT TÍCH CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI!
CẢNH GIÁC NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH LOẠI BỎ THÔNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Trong
điều kiện hiện nay khi mà cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển “với cấp số
nhân”, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với mọi người dân. Bất kỳ ai, chỉ cần có
trong tay một thiết bị thông minh (điện thoại, máy tính bảng, laptop….) có kết
nối internet đều có thể tham gia vào mạng xã hội, trên những nền tảng khác nhau
(như: facebook, youtube, zalo, twitter…). Bên cạnh những tác dụng to lớn, người
dùng mạng xã hội đã và đang phải đối diện với nhiều nguy cơ, trong đó có vấn nạn
tin giả. Tin giả trong “xã hội ảo” nhưng gây hại sâu sắc, nguy hiểm đến “thế giới
thực”. Nhận diện, đấu tranh với thông tin giả trên mạng xã hội trở thành vấn đề
nóng bỏng hiện nay.
Hàng ngày, hàng giờ người dùng internet có thể
tiếp cận muôn vàn thông tin trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như:
facebook, youtube, zalo, twitter… Chỉ cần gõ một “từ khóa” người dùng có thể nhận
về hàng ngàn, hàng vạn thông tin liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa, đời sống xã hội. Sự linh hoạt, thuận tiện của các nền tảng mạng xã hội
là không thể phủ nhận. Bên cạnh việc tiếp cận thông tin, người dùng có thể chia
sẻ, bày tỏ quan điểm cá nhân về những vấn đề mình quan tâm. Người dùng không chỉ
tiếp cận một chiều mà hoàn toàn có thể phát triển tư duy và sự sáng tạo của bản
thân, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại. Tuy nhiên, trên các nền tảng mạng
xã hội, tri thức, dữ liệu được tạo ra trên từng giây, trong số đó có rất nhiều
thông tin giả, thông tin xấu, độc, thách thức người dùng.
Tin giả (fake news) – theo cách hiểu thông thường
là những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, kiểm duyệt, xuất hiện
sai lệch về nội dung và được phát tán rộng rãi, với tốc độ vô cùng nhanh trên
Internet và các phương tiện truyền thông. Có thể đó là những thông tin
hoàn toàn không chính xác được cố tình đăng tải, lan truyền vì một mục đích nào
đó; có thể là những thông tin có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính
xác do người viết không kiểm chứng toàn bộ sự thật trước khi đăng tải, chia sẻ
hoặc có thể họ phóng đại một phần của câu chuyện đó. Dù ở thể loại, cấp độ nào
thì đây hoàn toàn là những thông tin không đáng tin cậy, nhưng xuất hiện với
“cường độ” lớn, “mật độ” dày đặc trên nhiều nền tảng mạng xã hội, dễ gây nên những
nhận thức sai lầm trong dư luận xã hội. Thậm chí, tạo nên những nhận thức và
hành động sai lầm, lệch lạc của một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết, cả tin.
Thực
tế từ giữa tháng 01 đến giữa tháng 02
năm 2023 trên không gian mạng xuất hiện 426500 tin, bài viết, video, thu hút gần
36 triệu lượt tương tác, trong đó có khoảng 1800 tin, bài viết, video tiêu cực,
chủ yếu nằm trong các trang phản động như Việt Tân, Chân trời mới Media, Nhật
ký yêu nước, Thân hữu Việt Tân Úc châu, Đài Châu Á tự do, Tiếng Dân News, Đông
Lào tự do…
Vì vậy nhận diện, đấu tranh và loại bỏ thông
tin giả, thông tin xấu độc trên mạng xã hội hiện nay về phía người dùng mạng xã
hội, cần thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân trên những nội dung sau:
Một là, cần nhận thức rõ trách nhiệm công dân
khi tham gia các hoạt động trên môi trường không gian mạng. Khi tham gia các nền
tảng mạng xã hội, bên cạnh việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cá nhân, mỗi
công dân cần ý thức rõ việc thiết lập “vùng an toàn” trong khuôn khổ pháp luật;
để một mặt bảo đảm sự an ninh, an toàn cho cá nhân, mặt khác bảo vệ quyền lợi của
quốc gia, dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên không
gian mạng. Tham gia vào các nền tảng mạng xã hội người dùng vừa là người tiếp
nhận thông tin, vừa là người tạo nên thông tin. Với tư cách tiếp nhận thông
tin, mỗi người dùng mạng xã hội phải luôn cảnh giác, tiếp nhận thông tin một
các có chọn lọc, có sự so sánh, đối chiếu giữa thông tin trên mạng xã hội với
các thông tin trên phương tiện thông tin truyền thông chính thống (như: đài
truyền hình quốc gia, các trang báo của cơ quan ngôn luận Trung ương…) để phân
biệt, đánh giá mức độ đúng – sai của các thông tin. Tuyệt đối không tiếp nhận
thông tin một cách cảm tính, theo tâm lý “đám đông”, dễ tin, cả tin theo các luồng
thông tin trên mạng xã hội. Với tư cách người tạo nên thông tin, khi viết, truyền
tải bất kỳ một thông tin nào trên các nền tảng mạng xã hội cần nghiêm túc cân
nhắc, ý thức rõ phạm vi ảnh hưởng của những thông tin đưa lên mạng. Phải luôn
răn mình: “suy nghĩ rồi mới nói”, đừng “nói trước khi suy nghĩ”; bởi hệ lụy từ
những thông tin mình tạo ra trên mạng xã hội đôi khi khôn lường.
Hai là, cảnh giác đấu tranh, loại bỏ những
thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Khi tham gia mạng xã hội, người dùng
hoàn toàn có thể nhận diện, “chỉ mặt, đặt tên” những thông tin sai sự thật. Bởi
với sự hỗ trợ “đắc lực” của các công cụ tìm kiếm (như: google) người đọc sẽ
nhanh chóng tìm thấy sự so sánh, đối chiếu đơn giản, dễ dàng tìm ra “chân lý” của
sự việc. Vấn đề ở chỗ, người dùng không được dễ dãi, không cho phép mình “dễ
dãi”, tin ngay những thông tin vừa nghe, vừa đọc. Ý thức công dân và sự nhạy
bén chính trị cần được đặt lên hàng đầu. Câu hỏi tại sao? Mục đích gì ẩn đằng
sau? Thông tin này có lợi hoặc có hại cho ai?… phải luôn thường trực trong đầu
mỗi người dùng mạng xã hội. Tuyệt đối không để “ma trận” thông tin trên mạng xã
hội “điều khiển” nhận thức và hành vi của bản thân. Đây là vấn đề khó nhưng
không phải không thực hiện được, nếu mỗi người dùng mạng xã hội nêu cao ý thức
công dân, sự tự tôn, tự trọng của cá nhận. Mỗi người phải luôn răn mình: xã hội
ảo nhưng hệ lụy thật, nếu không cảnh giác trong hiện tại sẽ nhận về những hậu
quả khôn lường trong tương lai.
Ba là, hợp tác tích cực với cơ quan chức
năng trong đấu tranh, loại bỏ thông tin giả trên mạng xã hội. Hiện nay hành
lang pháp lý và các công cụ kỹ thuật hoàn toàn cho phép người dùng mạng xã hội
phát hiện, tố giác với các cơ quan chức năng về những thông tin giả mạo. Luật
Hình sự, Luật An ninh mạng… đều có những điều khoản quy định cho phép công dân
tố cáo những hành vi đưa tin sai sự thật, lừa đảo trên mạng internet. Đặc biệt,
Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam đã cung cấp số điện thoại, email, webside để
tiếp nhận những thông tin giả mạo liên quan đến các lĩnh vực: Chính sách, pháp
luật; Kinh tế, tài chính; Lĩnh vực y tế (sản phẩm y tế liên quan đến sức
khỏe con người); Thiên tai, dịch bệnh; An ninh quốc gia, trật tự an toàn – xã hội;
Tài khoản giả mạo; Đường link lừa đảo; và các lĩnh vực khác. Do đó, khi người
dùng mạng xã hội phát hiện thông tin giả mạo, cần chủ động liên hệ với các cơ
quan chức năng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Tóm lại, thông tin giả đã và đang tồn tại
khá nhiều trên các nền tảng mạng xã hội. Những thông tin này luôn “ẩn mình”
trong “ma trận” để đánh lừa mỗi người dùng. Do đó, khi tiếp nhận thông tin trên
mạng xã hội, mỗi cá nhân hãy chủ động tìm kiếm từ các trang báo chí, thông tin
chính thống để so sánh, đối chiếu. Nếu không xác định được nguồn gốc, động cơ,
mục đích của thông tin và người chia sẻ thông tin, cần bình tĩnh, thận trọng
khi bình luận, phát tán thông tin. Bên cạnh đó, cần xây dựng cho bản thân thái
độ tích cực, thể hiện rõ trách nhiệm công dân, phối hợp cùng các cơ quan chức
năng trong đấu tranh phòng, chống, loại bỏ thông tin giả trên mạng xã hội./.
KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ TIỀM LỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH
Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.Tác động qua lại của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh
Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:
Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.
Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.
Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:
Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.
Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.
Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh - Từ góc độ quản lý nhà nướcTừ yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đạt được những kết quả khá toàn diện.
Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.
Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).
Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”(1), tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.
Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.
Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninhĐể phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển KTTT đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.
Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền KTTT, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng. Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(2).
Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:
Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.
Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.
Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.
Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTTT, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ(3); đồng thời, nghiên cứu xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.
Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp. Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp. Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.
ST
PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, QUỐC HỘI VIỆT NAM QUA BẦU CHỦ TỊCH NƯỚC!
TỪ NGUYỄN ÁI QUỐC TỎA RA MỘT NỀN VĂN HÓA TƯƠNG LAI
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại được bàn nhiều, sâu và rộng như hiện nay. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy; văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất như Đại văn hào Mácxim Goócky đã nói. Điều có ý nghĩa chân lý đó bị chúng ta bỏ quên quá lâu. Hãy trở về với Hồ Chí Minh, con người đã tỏa ra một nền văn hóa tương lai.
Nền tảng để xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam
“Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa tương lai”. Nhận xét đó là của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam năm 1923, lần đầu tiên được tiếp chuyện chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Một trăm năm trôi qua, quan điểm của Ôxíp Manđenxtam vẫn vẹn nguyên giá trị, ngày càng được kiểm chứng rộng rãi, đúng đắn ở Việt Nam và trên toàn cầu.
Từ giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Chúng thống trị về chính trị đồng thời đè nén, nô dịch về văn hóa. Đất nước độc lập trở thành thuộc địa, mất độc lập tự do. Nhân dân không có một chút quyền tự do, dân chủ nào. Nền văn hóa dân tộc vẫn tồn tại nhưng len lỏi trong sự bủa vây, áp bức của kẻ thù, không thể phát triển.
Cách mạng Tháng Tám thành công, đó không chỉ là một cuộc cách mạng về chính trị mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, một kỷ nguyên mới được mở ra cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhân dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân.
Hồ Chí Minh đã kiến tạo một hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Theo Người văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại; có cái gì tốt của văn hóa xưa và nay, Đông và Tây thì ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa thuần túy Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Đó là một nền văn hóa của Hồng Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, của con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên. Người nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam/ Kể năm hơn bốn ngàn năm/ Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa/ Hồng Bàng là tổ nước ta/ Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”.
Hệ giá trị văn hóa Việt Nam đặt “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Giá trị hạt nhân, cốt lõi của văn hóa Việt Nam là yêu nước. Với lòng yêu nước, quyết không chịu nô lệ, nên dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn chúng ta cũng quyết giành cho kỳ được độc lập tự do. Chính nhờ lòng yêu nước mà khi nền tự do độc lập của dân tộc bị uy hiếp, cả dân tộc vùng lên, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính nhờ dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước mà khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, cuộn dâng, quét phăng đi lũ cướp nước và lũ bán nước. Giá trị dân tộc của văn hóa Việt Nam được xác định “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh tỏ rõ yêu nước là giá trị hàng đầu trong bảng thang giá trị văn hóa Việt Nam; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Nó không chỉ là động lực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cũng là động lực trong xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.
Hồ Chí Minh đã tạo dựng, xây đắp, vun bồi nền văn hóa dân chủ - dân chủ trong Đảng, dân chủ trong nhân dân và trong xã hội. Đây là một trong những nét khác biệt nhất của nền văn hóa tương lai trong suy tư, trăn trở và hành động của Hồ Chí Minh. Theo Người, dân chủ được hiểu dân là chủ và dân làm chủ. Đó hoàn toàn không phải và xa lạ với dân chủ hình thức, dân chủ trang trí. Văn hóa dân chủ theo Hồ Chí Minh là làm sao cho người dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm, có quyền làm, có quyền nói; dân chủ là phải dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Người chỉ rõ, chỉ có một nền Cộng hòa Dân chủ thì mới dám khẳng định và thực hiện bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Người chỉ rõ, đối với dân ta đừng làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy, bởi làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành, làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước dân chủ. Mà Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ.
Chỉ có Đảng chân chính cách mạng, một Đảng mà đảng viên của Đảng không phải vào Đảng để làm quan phát tài mà phải hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì mới sẵn sàng làm trâu ngựa, tôi tớ của nhân dân theo tinh thần của Lỗ Tấn: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.
Nền văn hóa tương lai mang tầm vóc thời đại
Nền văn hóa tương lai tỏa ra từ Hồ Chí Minh mang chở những giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa đối với dân tộc vừa mang tầm vóc thời đại. Đó là những giá trị nhân văn, hợp tác, trách nhiệm.
Hồ Chí Minh là con người mang chở một chủ nghĩa nhân văn sâu nặng, trong sáng, cao cả. Những năm hai mươi Người nghĩ nhiều đến những người cùng khổ, và đến tận cuối đời, Người dặn lại đầu tiên là công việc đối với con người. Ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp, người Mỹ đã tử vong, Hồ Chí Minh thổ lộ trước lòng bác ái rằng máu nào cũng đều là máu, người nào cũng đều là người. Người yêu Tổ quốc và đồng bào mình, cũng yêu Tổ quốc và nhân dân các nước. Đó là một trong những cội nguồn khiến Người muốn đoàn kết, hợp tác với mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai. Với Người không chỉ đoàn kết trong nước mà còn phải nhận thức và hành động theo tinh thần chúng ta đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình đồng thời cũng mong các dân tộc khác giành được độc lập, bởi “quan sơn muôn dặm một nhà/ Vàng, đen, trắng, đỏ, bốn phương vô sản, bốn biển đều là anh em”.
Hồ Chí Minh là con người luôn đề cao và gắn chặt trách nhiệm với dân tộc và nhân loại. Với dân tộc, Người nhấn mạnh bổn phận chỉ có mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Với nhân loại, Người luôn mong muốn một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, tiến bộ và phát triển. Đây là hạt nhân, lõi cốt của văn hóa tương lai, là xu thế lớn của nhân loại. Thế giới nói đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nói tới một người giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do. Với nhân dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh là con người của hòa bình, hòa giải, công bằng, bình đẳng, luôn đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới. Được ghi nhận, tôn vinh là một nhân vật quan trọng và kiệt xuất, Hồ Chí Minh hội tụ nhiều tư tưởng, thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự tăng cường, hiểu biết lẫn nhau. Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề văn hóa một cách có ý thức. Người tìm thấy điểm tương đồng, mẫu số chung của Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên là mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, bởi Người góp phần to lớn trong việc chia sẻ sự đa dạng văn hóa, vừa tôn trọng vừa thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau, xóa bỏ những hiểu lầm, định kiến, rào cản giữa các nền văn hóa khác nhau. Với Người, trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa là công cụ hữu hiệu nhất để kiến tạo hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc. Nhân loại nói về Hồ Chí Minh với tư cách là một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa của một thế giới hội nhập.
Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai chính là hệ giá trị văn hóa Việt Nam mà chúng ta đang nghiên cứu, xác định, triển khai xây dựng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nó vừa thuần túy Việt Nam vừa hợp với tinh thần của thời đại./.
LIÊN HỢP QUỐC ĐÁNH GIÁ CAO LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HOÀ BÌNH VIỆT NAM
Tại Trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở New York đã diễn ra cuộc họp đầu tiên trong năm 2023 của Hội đồng Bảo an LHQ với đại diện 79 quốc gia cử binh sĩ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan (UNMISS).
Dưới sự chủ trì của nước Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ Mozambique, cuộc họp đã nghe báo cáo cập nhật của UNMISS, thảo luận về tình hình sở tại và hoạt động của Phái bộ.
Theo TTXVN, phát biểu tái khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với sứ mệnh của UNMISS tại Nam Sudan, Đại sứ Đặng Hoàng Giang - Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lòng tin giữa các bên liên quan, gồm cả giữa Phái bộ và chính quyền, người dân sở tại, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho bầu cử và quá trình xây dựng hiến pháp của Nam Sudan. Việt Nam sẵn sàng tiếp tục đóng góp cho nỗ lực này thông qua việc triển khai và tham gia các hoạt động hỗ trợ, gắn kết với cộng đồng sở tại, trong đó có vai trò rất quan trọng của các nữ chiến sĩ gìn giữ hòa bình.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang đã chia sẻ những nỗ lực cũng như sự sáng tạo trong triển khai nhiệm vụ của các cán bộ, chiến sĩ quân y và cảnh sát gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Nam Sudan, nhất là trong việc chăm lo đời sống, an toàn và sức khỏe của người dân sở tại, qua đó tăng cường sự gắn kết, lòng tin của người dân với Phái bộ gìn giữ hòa bình của LHQ. Đại sứ Đặng Hoàng Giang cho rằng đây là những bài học thành công cần được nhân rộng để UNMISS phát huy vai trò hỗ trợ tái thiết, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển ở Nam Sudan.
Đặc phái viên của Tổng Thư ký LHQ về Nam Sudan kiêm Trưởng Phái bộ UNMISS Nicholas Haysom trong trao đổi với Đại sứ Đặng Hoàng Giang đã đánh giá rất cao đóng góp hiệu quả, sự sáng tạo, ý thức kỷ luật cao của các cán bộ, chiến sĩ quân y Bệnh viện dã chiến cấp 2 và cảnh sát gìn giữ hòa bình Việt Nam tại UNMISS. Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định Việt Nam cam kết tiếp tục triển khai lực lượng quân đội và cảnh sát tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ nói chung và UNMISS nói riêng trong thời gian tới./.
TÔN VINH NỮ CÁN BỘ, ĐOÀN VIÊN CÔNG ĐOÀN THỦ ĐÔ XUẤT SẮC.
Tối 5/3, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua 'Giỏi việc nước, đảm việc nhà' năm 2022 và 'Chương trình nghệ thuật tri ân nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn Thủ đô xuất sắc'.
Đây là một trong những hoạt động ý nghĩa của Liên đoàn Lao động thành phố, nhằm thiết thực chào mừng kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3; chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp, hướng tới Đại hội XVII Công đoàn thành phố.
Đồng thời, thiết thực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nữ cán bộ, đoàn viên Công đoàn Thủ đô; tri ân, động viên khích lệ nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn xuất sắc trong công tác, lao động, sản xuất và hoạt động Công đoàn…
Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội Phạm Quang Thanh, cho biết: Với hơn 390 nghìn người, chiếm 57% tổng số công nhân, viên chức, lao động, nữ công nhân, viên chức, lao động có mặt trên mọi lĩnh vực công tác, từ tham gia công tác quản lý đến chuyên môn và trực tiếp sản xuất.
Nối tiếp truyền thống của phụ nữ Việt Nam được vun đắp qua nhiều thế hệ, nữ công nhân, viên chức, lao động Thủ đô không ngừng phát huy vai trò và năng lực, sức sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của Thủ đô và đất nước.
Với truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, tổ chức Công đoàn cũng thấy được trách nhiệm của mình trong xây dựng đội ngũ nữ công nhân, viên chức, lao động Thủ đô trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, những người phát triển toàn diện cả về trí lực, thể lực và tâm lực, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.
Đồng chí Phạm Quang Thanh cũng cho biết, trong những ngày tháng 3 này, các cấp Công đoàn thành phố đều dành những hoạt động hướng đến nữ công nhân, viên chức, lao động. Phối hợp, đề nghị chuyên môn, người sử dụng lao động hỗ trợ nguồn lực, để chăm lo thiết thực hơn, hiệu quả hơn cho nữ công nhân, viên chức, lao động, giúp chị em thêm tin tưởng, gắn bó với công đoàn.
Liên đoàn Lao động thành phố đã dành những tình cảm, sự sẻ chia, trao hỗ trợ đến 1.793 nữ đoàn viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền gần 1,8 tỷ đồng. Vận động ủng hộ, trao tặng áo dài cho nữ công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn trong Chương trình “Tặng áo dài - Trao yêu thương - Giữ gìn nét đẹp truyền thống”.
Đặc biệt, Chương trình nghệ thuật như một lời tri ân của tổ chức Công đoàn Thủ đô đối với những đóng góp, trách nhiệm, tâm huyết của đội ngũ cán bộ chủ chốt Công đoàn các cấp và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn Thủ đô, qua đó, tạo động lực để nữ cán bộ, đoàn viên công đoàn tiếp tục có những đóng góp, cống hiến tốt hơn nữa trong thời gian tới.
Dịp này, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội trao thưởng cho tập thể, cá nhân, đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" năm 2022.





