Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

VIỆT NAM ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ỨNG PHÓ VỚI CÁC THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

 An ninh phi truyền thống là một phạm trù không mới, song do tính chất phức tạp cùng với những thách thức của nó trong đời sống kinh tế - xã hội, đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, tổ chức và cộng đồng quốc tế, trong đó có Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam đã tham gia tích cực, chủ động hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức này và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Chủ trương hợp tác quốc tế về ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống và những kết quả đạt được

Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế về ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống(1) luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Các bên cần phối hợp với nhau giải quyết những vấn đề toàn cầu đang đặt ra trước tất cả các dân tộc và cộng đồng nhân loại, như bùng nổ dân số, lương thực, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường”(2). Kể từ đó, nhận thức về ý nghĩa quan trọng của các vấn đề toàn cầu của Việt Nam ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhận định: “Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng”(3). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đánh giá: “Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, thiên tai, dịch bệnh... sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp”(4). Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tổng kết: “Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới”(5). Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định nhận thức, quan điểm nhất quán về nội dung, thách thức của an ninh phi truyền thống đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đại hội nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp”(6). “Những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ”(7).Lý luận về các thách thức an ninh phi truyền thống cũng ngày càng phát triển, phù hợp với bối cảnh của thời đại, trong đó hợp tác quốc tế được quan tâm và thúc đẩy. Chủ trương hợp tác quốc tế trên các vấn đề này được Đảng và Nhà nước ta phát triển từ “tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu”, sang “tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu”, đến “tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, phối hợp cùng cộng đồng quốc tế hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất”. Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) xác định phương hướng hợp tác quốc tế là: “Tích cực đóng góp cho hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu”(8). Tiếp theo đó, Đại hội  IX của Đảng (năm 2001) nhấn mạnh: “Đẩy mạnh hoạt động ở các diễn đàn đa phương. Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu”(9). Đại hội XI của Đảng khẳng định tích cực tham gia, phối hợp cùng cộng đồng quốc tế hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất, “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(10). Tại Đại hội XII, Đảng ta chủ trương: “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác”(11). Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”(12)...; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Kịp thời đấu tranh trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với hội nhập quốc tế và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(13).

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản luật pháp ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia của Việt Nam trong hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Theo đó, Việt Nam tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác cả song phương và đa phương với nguyên tắc: 1- Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; 2- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; 3- Tôn trọng độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
4- Chủ động, tích cực tham gia, phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, khu vực nhất là tại Liên hợp quốc và các cơ chế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể; 5- Tăng cường hợp tác quốc tế cả ở cấp độ song phương và đa phương, nhất là với các đối tác có thế mạnh trên từng lĩnh vực cũng như trong vấn đề Việt Nam có thế mạnh; 6- Phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng nguồn lực từ bên ngoài cả về vốn, kỹ thuật và công nghệ phục vụ đầu tư ứng phó trên từng vấn đề, bảo đảm phát triển bền vững; 7- Tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Tinh thần tích cực, chủ động tham gia hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đã giúp Việt Nam đạt được nhiều kết quả quan trọng trong thời gian qua.

Thứ nhất, hội nhập quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần quan trọng vào thành công chung của hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, bảo đảm những lợi ích chính đáng, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển của đất nước.

Thứ hai, thông qua tích cực hợp tác với các đối tác quốc tế, các quốc gia phát triển, Việt Nam đã khai thác được nhiều thế mạnh, thu hút nguồn lực từ bên ngoài cả về vốn, kỹ thuật và công nghệ phục vụ đầu tư ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống trên từng vấn đề, bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Đơn cử như, trong vấn đề an ninh mạng, Việt Nam  đẩy mạnh hợp tác quốc tế cả ở cấp độ song phương và đa phương, nhận được sự hỗ trợ của các đối tác để xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế số. Trong vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam đã huy động được hàng trăm triệu USD từ các nhà tài trợ quốc tế, như Văn phòng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Thế giới (WB) và chính phủ các nước, như Ô-xtrây-li-a, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan và Na Uy để thực hiện nhiều dự án tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, như dự án “Thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long” hay “Chương trình Tài trợ ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng” do Đại sứ quán Ô-xtrây-li-a phối hợp tài trợ trong 3 năm (2012 - 2015) trị giá 15 triệu USD... Trong vấn đề ứng phó với thách thức an ninh lương thực, Việt Nam đã nhận được nhiều khoản viện trợ lương thực và vật tư trong lĩnh vực nông nghiệp từ các đối tác quốc tế, như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Chương trình Lương thực thế giới (WFP)... với trị giá lên tới gần 1 tỷ USD.

Thứ ba, việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật trên từng lĩnh vực, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Ví như, Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”; Kết luận số 77-KL/TW, ngày 5-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch COVID-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước”; Kết luận số 81-KL/TW, ngày 29-7-2020, của Bộ Chính trị, “Về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030”; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020...

Thứ tư, nâng cao hình ảnh, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Các phái đoàn của Việt Nam đã chủ động đề xuất nhiều sáng kiến cũng như đăng cai nhiều sự kiện quốc tế lớn về các lĩnh vực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19, Việt Nam đã thúc đẩy sáng kiến thành lập Trung tâm Y tế ASEAN để ứng phó với các tình huống y tế công cộng khẩn cấp và dịch bệnh mới nổi trong tương lai hay thúc đẩy Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày quốc tế phòng, chống dịch bệnh (ngày 27-12 hằng năm), nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, rộng rãi của cộng đồng quốc tế (được 112 quốc gia đồng bảo trợ). Trong ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực sớm đề ra lộ trình, giải pháp thực hiện Thỏa thuận Pa-ri về biến đổi khí hậu năm 2015, tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP-26), khi cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đối với vấn đề an ninh nguồn nước, Việt Nam đề xuất và triển khai nhiều chương trình hợp tác trong các khuôn khổ Ủy hội sông Mê Công quốc tế, Hợp tác tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS), hợp tác giữa các nước tiểu vùng sông Mê Công với các đối tác. Trong vấn đề an ninh biển, Việt Nam khẳng định ý nghĩa, vai trò quan trọng của việc tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 tại các diễn đàn đa phương và khu vực, khởi xướng Nhóm bạn bè UNCLOS năm 1982 tại Liên hợp quốc (hiện có trên 100 nước thành viên). Trong vấn đề an ninh lương thực, Việt Nam  tham gia mô hình hợp tác ba bên với FAO và các nước đối tác châu Phi về trồng lúa; cử nhiều chuyên gia, chia sẻ kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo và tổ chức một số sự kiện quốc tế lớn, như Hội nghị quốc tế lúa gạo lần thứ ba (năm 2010), Hội nghị toàn cầu lần thứ hai về nông nghiệp, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu (năm 2012).

Tuy nhiên, hợp tác quốc tế trong các vấn đề an ninh phi truyền thống của Việt Nam có lúc, có nơi còn thiếu chủ động, chưa theo kịp với những diễn biến của tình hình, cụ thể:

Một là, nhận thức, hiểu biết về các thách thức an ninh phi truyền thống chưa thực sự đầy đủ và  sâu, nhất là về tính chất, khía cạnh an ninh, vẫn thiên về nắm bắt diễn biến của vấn đề. Chẳng hạn, các vùng biển nói chung, Biển Đông nói riêng là môi trường gắn liền với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, như ô nhiễm môi trường biển, di cư bất hợp pháp, nạn buôn người, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia... Thế nhưng, các khía cạnh này chưa được quan tâm cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhận thức thiếu đầy đủ và chậm xây dựng chiến lược đối phó với một số vấn đề mới, như an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, rác thải nhựa đại dương...

Hai là, còn lúng túng trong việc xác định mục tiêu, biện pháp, phương thức và mức độ tham gia tại các diễn đàn đa phương cũng như những vấn đề cần thúc đẩy, vận động. Với một số vấn đề an ninh phi truyền thống mới, phức tạp, việc chưa xác định được lợi ích, nhu cầu có thể dẫn đến việc ủng hộ quan điểm không phù hợp với lợi ích hoặc rơi vào thế phải “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tập hợp lực lượng ngày càng linh hoạt, cơ hội và thời điểm phải chớp thời cơ, tranh thủ hợp tác không nhiều.

Ba là, cơ chế trao đổi thông tin, phối hợp giữa các bộ, ngành còn hạn chế; thiếu đội ngũ chuyên gia chuyên sâu về các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế. Đội ngũ cán bộ ngoại giao thuần thục kỹ năng đối ngoại và ngoại ngữ, nhưng thường thiếu chuyên môn sâu về từng lĩnh vực cụ thể, trong khi cán bộ các bộ, ngành nắm vững chuyên môn lại hạn chế về kỹ năng ngoại ngữ. Việc thiếu hụt đội ngũ chuyên gia làm việc tại các tổ chức đa phương khu vực và quốc tế cũng đồng nghĩa với việc thiếu đi các “ăng-ten” thu - phát về chính sách, chiều hướng hoạt động của các cơ chế đa phương trong lĩnh vực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Bốn là, áp lực trong xử lý các mối quan hệ hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Trong bối cảnh hợp tác, cạnh tranh quốc tế đan xen phức tạp như hiện nay, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức trong xử lý cân bằng các mối quan hệ quốc tế, cũng như giữa vấn đề đối nội và đối ngoại trong hợp tác quốc tế ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là trong vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước tại tiểu vùng sông Mê Công và an ninh biển tại Biển Đông. Đồng thời, Việt Nam cũng đối mặt với nguy cơ các nước lớn giảm cam kết hỗ trợ trong ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống khi nhiều nước đang phải ưu tiên nguồn lực để giải quyết nhiều vấn đề quốc tế khác.u hướng và một số đề xuất trong hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống của Việt Nam thời gian tới

Mặc dù nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế, song việc thiếu các hành động thiết thực, đồng bộ giữa các chủ thể khiến các thách thức an ninh phi truyền thống chưa được đẩy lùi, dự báo còn diễn biến khó lường, phức tạp hơn trong thời gian tới.

Thứ nhất, các thách thức an ninh phi truyền thống trở nên trầm trọng, phức tạp, khó dự báo hơn, với quy mô và tác động sâu rộng, đan xen phức tạp và nguy cơ ra đời của các loại hình thách thức an ninh phi truyền thống mới. Đáng quan ngại hàng đầu là nguy cơ biến đổi khí hậu khi nhiệt độ bề mặt trái đất dự báo có thể tăng 3,20C so với thời kỳ tiền công nghiệp(14), dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác, đe dọa xóa tên nhiều quốc đảo. Theo ước tính của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), tổn thất trực tiếp do thiên tai đối với kinh tế thế giới khoảng 3.000 tỷ USD trong giai đoạn 1998 - 2017 và thiệt hại gián tiếp có thể lên tới 1.000 tỷ USD/năm(15). Hàng loạt dịch bệnh nguy hiểm đã liên tục bùng phát trong hai thập niên qua, như dịch SARS tại khu vực châu Á (năm 2003), dịch MERS-CoV tại Trung Đông (năm 2012), dịch Ebola tại châu Phi (năm 2013 - 2016) và mới đây nhất là đại dịch COVID-19, tác động toàn diện, nghiêm trọng, lâu dài tới phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia.

Bên cạnh đó, các vấn đề như an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh biển, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, di cư qua các hình thức không chính thức (irregular migration) cũng ngày càng nghiêm trọng, được xem là những thách thức lớn, hiện hữu. Dự báo đến năm 2030, khoảng 50% dân số thế giới sẽ sống trong tình trạng căng thẳng cao về nước, 67% dân số có thể sống trong điều kiện thiếu nước, nhu cầu về nước của con người vượt cung tới 40%. Nạn đói hoặc tình trạng thiếu lương thực diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, khiến 2 tỷ người đang sống trong hoàn cảnh mất an ninh lương thực ở mức độ trung bình. Hoạt động khủng bố và các loại hình tội phạm xuyên quốc gia, như rửa tiền, buôn bán người, vũ khí, ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp về quy mô và phương thức, gây hậu quả nặng nề. Năm 2021, theo đánh giá của giới nghiên cứu, tội phạm sử dụng công nghệ cao đã gây thiệt hại khoảng 6.100 tỷ USD và dự kiến tăng lên 10.500 tỷ USD vào năm 2025(16). Sự phụ thuộc vào không gian mạng cũng làm nảy sinh các nguy cơ tấn công mạng vì mục đích chính trị, vấn nạn tin giả, ngôn ngữ thù địch (hate speech), các tổ chức khủng bố lợi dụng để tuyển quân, tạo thu nhập phi pháp, rửa tiền, kích động bạo lực, truyền bá tư tưởng cực đoan...

Thứ hai, các thách thức an ninh phi truyền thống tác động ngày càng lớn tới sự phát triển của các quốc gia, vùng lãnh thổ, nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển, các quốc đảo nhỏ. Do vị trí địa lý bất lợi, nguồn lực còn hạn chế, nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào môi trường, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - thương mại quốc tế, các nước đang phát triển, quốc đảo nhỏ sẽ là những chủ thể dễ bị tổn thương nhất trước tác động của các thách thức an ninh phi truyền thống. Các thách thức an ninh phi truyền thống sẽ khiến những chủ thể này ngày càng gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng và phát triển bền vững, gia tăng nguy cơ phải xử lý các cuộc xung đột, tranh chấp liên quan đến các nguồn tài nguyên trong khu vực. Bên cạnh đó, các quốc gia vừa và nhỏ cũng đối mặt với nguy cơ các nước lớn sử dụng các vấn đề an ninh phi truyền thống để can thiệp vào công việc nội bộ, tập hợp lực lượng trong cạnh tranh chiến lược nước lớn.

Thứ ba, xu thế hợp tác, cạnh tranh giữa các nước và nhóm nước xung quanh các vấn đề an ninh phi truyền thống đan xen phức tạp, song nhu cầu hợp tác quốc tế để đối phó với các thách thức này vẫn đóng vai trò chủ đạo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng khốc liệt, mở rộng về phạm vi, tạo áp lực chính trị hóa các vấn đề an ninh và phát triển, phân tuyến lợi ích, thậm chí đặt các nước đang phát triển vào thế kẹt, hay phải “chọn bên”. Ví dụ như, xung đột lợi ích giữa Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, Ấn Độ xung quanh vấn đề áp thuế nông nghiệp, trở thành một trong những nguyên chính khiến vòng đàm phán Doha bế tắc, vấn đề an ninh lương thực ngày càng xấu đi. Sự phân hóa, cạnh tranh, xung đột quan điểm giữa các nhóm nước phương Tây với Nga, Trung Quốc, các nước Phong trào Không liên kết về vấn đề tội phạm xuyên quốc gia hay đấu tranh văn kiện cứng rắn của Nga, Trung Quốc, Ấn Độ tại COP-26 về việc cắt giảm thay vì loại bỏ điện, than khiến các nỗ lực hợp tác quốc tế, giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng trầm trọng, đe dọa tới sự phát triển, tồn vong của nhiều cộng đồng, quốc gia, nền kinh tế, hợp tác quốc tế trong vấn đề này vẫn sẽ được chú trọng và đẩy mạnh. Ngày 23-2-2021, Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres đã kêu gọi đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức quốc tế để giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống, trong đó cấp thiết nhất là tình trạng biến đổi khí hậu và những vấn đề ảnh hưởng liên quan. Tại kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 76 vào tháng 9-2021, Mỹ kêu gọi thế giới phải “hợp tác ở mức chưa từng có” để giải quyết các thách thức toàn cầu, trong đó có các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng trở nên cấp bách.

Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng lớn, xu thế hợp tác quốc tế vẫn giữ vai trò chủ đạo, trên cơ sở chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục nhất quán chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống nhằm: 1- Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; 2- Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; 3- Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, tranh thủ tối đa các điều kiện và nguồn lực quốc tế; 4- Khẳng định mạnh mẽ vai trò của Việt Nam là thành viên tích cực, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, xem xét đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể. Theo đó, để thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, Việt Nam cần:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hợp tác quốc tế giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống. Việt Nam cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền cho các cấp, các ngành và nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng ngày càng tăng của hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề xã hội và các thách thức an ninh phi truyền thống trong việc góp phần nâng cao “sức mạnh mềm”, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.

Thứ hai, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả trong triển khai hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, với một số chính sách, biện pháp cụ thể, như: 1- Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chủ trương, quan điểm tại các văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam liên quan đến giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống; 2- Kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong triển khai hợp tác quốc tế, bảo đảm tính tổng thể, gắn kết, tuân thủ các mục tiêu, định hướng chung; 3- Tăng cường hợp tác và phát huy vai trò tại các diễn đàn đa phương về các lĩnh vực an ninh phi truyền thống, nhất là các vấn đề có thế mạnh, như an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu hoặc có lợi ích trực tiếp tại các cơ chế đa phương, như ASEAN, Liên hợp quốc, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); 4- Tổ chức thực hiện thực chất, hiệu quả các điều ước, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia; 5- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống theo hướng chuyên nghiệp, có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ và kỹ năng trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa; 6- Bảo đảm ngân sách, cơ chế tài chính phù hợp và linh hoạt để triển khai các hoạt động hợp tác, phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể.

Thứ ba, phối hợp thúc đẩy nghiên cứu, dự báo chiến lược, xây dựng chủ trương ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống một cách toàn diện, tổng thể và liên ngành, trong đó xác định rõ lập trường, nội hàm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong tham gia xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan tại các diễn đàn khu vực, quốc tế và trong quan hệ với các đối tác quốc tế, trước mắt ưu tiên trong ứng phó và khôi phục kinh tế - xã hội hậu COVID-19, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, sạch, giảm phát thải ròng, ngoại giao vắc-xin...

Thứ tư, tăng cường huy động mạng lưới các cơ quan đại diện, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc tìm hiểu, hỗ trợ cung cấp thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, kinh nghiệm của các nước cũng như hỗ trợ tham gia các diễn đàn đa phương, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện chủ trương vừa hợp tác, vừa đấu tranh, phân biệt rõ đối tác, đối tượng trong hợp tác quốc tế ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, tránh bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm can thiệp vào công việc nội bộ, chủ động phòng ngừa “từ sớm, từ xa” các âm mưu xấu, tận dụng hiệu quả hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

ST

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi "từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực" mới đi đến thành công

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, người kiến tạo Nhà nước Việt Nam dân chủ nhân dân theo thể chế cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á. Người thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mãi mãi là một Đảng đạo đức và văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là "hạt nhân lãnh đạo" và là "người đầy tớ thật trung thành" của nhân dân. Với tầm nhìn sâu sắc, Người chỉ ra tham ô, tham nhũng "là những xấu xa của xã hội cũ", là những căn bệnh của quyền lực và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại tàn dư của chế độ cũ - chế độ người bóc lột người. Chính vì thế, với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thành lập sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết đặt vấn đề đấu tranh với thứ giặc rất nguy hiểm này. Người chỉ ra bản chất của tham ô là hành vi "ăn cắp của công, của riêng của người ta, hay của nhân dân", "lấy của công làm của tư", là gian lận, tham lam", "là không tôn trọng của công". "Của công" chính là "mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra" để phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Của công là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta. Cho nên, mọi hành vi lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư đều là tham ô, "là hành động xấu xa của con người", "là tội lỗi đê tiện trong xã hội". Ở đây Người xác định rõ chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước, mà cả người dân bình thường, nếu "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" cũng là chủ thể của hành vi tham ô: "Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế". Trên cơ sở chỉ ra tham ô là gì và phân tích các biểu hiện cụ thể của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời xác định nguyên nhân của tệ nạn tham ô là từ đâu. Người kết luận: "Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra tham ô hủ hóa", "bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô lãng phí nảy nở. Như vậy, để tẩy sạch nạn tham ô thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu và chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là sự tham lam (tiền tài, của cải, quyền lực, thậm chí là sắc đẹp). Đã tham là "bất liêm". Đã "bất liêm" thì không là đạo đức. Chính vì lòng tham đó, trong những trường hợp nhất định, cá nhân thường sinh ra mù quáng về vật chất, "chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở" cho nên "không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra". Đánh giá tác hại của tệ tham ô đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân dân vào vai trò của Đảng cầm quyền và tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng lưu ý, cảnh tỉnh chúng ta về mức độ nguy hiểm của loại kẻ thù này. Người nhấn mạnh: Nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì "nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta" và dù cố ý hay không nó cũng là "bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Thực tế, tham ô là nguyên nhân trực tiếp làm thâm hụt ngân sách nhà nước, làm suy yếu các nguồn lực phát triển và là mối đe dọa đến sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "chống tham ô là dân chủ" nghĩa là phải hết sức dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ và hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Đồng thời Người nhấn mạnh, công cuộc này đòi hỏi "từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực", "chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy". Muốn vậy, chúng ta "ắt phải chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên", phải dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô; phải đánh thông tư tưởng, phải làm cho mọi người hiểu được tác hại của tham ô, tránh ý nghĩ sai lầm, coi nhẹ tác dụng xấu của tham ô...

Đằng sau con số gần 52 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động

 


“Nguyên nhân là do suy thoái của kinh tế toàn cầu quá lớn, bắt đầu từ năm 2021. Do có độ trễ nên kinh tế Việt Nam đã và đang phải đón nhận ảnh hưởng từ cuối năm 2022, đầu năm 2023. Tôi cho rằng, từ giờ đến cuối năm 2023, sẽ còn nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn như thế. Vì hiện chúng ta vẫn chưa xác định được đến lúc nào sẽ chạm đáy của suy thoái”, ông Bằng nói.

Nói rõ hơn về những khó khăn của doanh nghiệp, ông Bằng cho biết, hiện lãi suất ngân hàng tăng cao, trong khi doanh nghiệp cũng rất khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Do vậy, muốn đầu tư để thay đổi lúc này cũng khó, bắt buộc doanh nghiệp phải co cụm lại, thu hẹp quy mô.

Ông Bằng cũng dẫn chứng về doanh nghiệp của mình. Hiện doanh nghiệp vận tải này đối diện tình trạng người dân hạn chế đi lại, hạn chế đi du lịch để thắt chặt hầu bao. Trong khi nguồn thu giảm sút thì doanh nghiệp vẫn phải trả chi phí cho lương, bảo hiểm xã hội, các nguồn chi phát sinh hàng ngày, hàng giờ khác.

“Bây giờ, doanh nghiệp cố gắng trụ lại bằng cách thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm chi phí để gắng gượng vượt qua cảnh này. Chúng tôi kiến nghị Chính phủ, Ngân hàng hàng Nhà nước kiềm chế lãi suất của ngân hàng để hỗ trợ doanh nghiệp”, ông Bằng nói.

Không chỉ lĩnh vực vận tải, nhiều doanh nghiệp khác cũng đồng loạt nêu khó khăn, nhất là các doanh nghiệp bất động sản. Đại diện nhiều doanh nghiệp cho biết, tuy đã "cắn răng" cắt lỗ dự án tới 30 - 40% nhưng vẫn không có thanh khoản, không có nhà đầu tư. 

Ông Trần Hữu Nam, một cán bộ có kinh nghiệm lâu năm về bán các dự án chung cư, biệt thự của tập đoàn lớn nói: “Trước đây, các doanh nghiệp bất động sản hay phát hành trái phiếu, huy động vốn để làm dự án. Nhưng bây giờ thị trường trái phiếu bị đóng băng khiến nguồn vốn bị cạn kiệt, gây ách tắc khi triển khai dự án. Trong khi vừa phải đối diện với khó khăn về dòng tiền, doanh nghiệp còn phải đối đầu với chi phí lãi suất ngân hàng tăng cao, cùng với thị trường trầm lắng vì nhà đầu tư hạn chế giao dịch. Do vậy, các doanh nghiệp có dự án nào đang bán sẽ phải cố gắng bán hết, hạ giá bán để thu dòng tiền về. Các dự án sắp ra được pháp lý thì triển khai bán luôn, thậm chí phải chấp nhận bán bớt tài sản, bán bớt các dự án cho chủ đầu tư khác”.

Cũng theo ông Nam, để giảm bớt khó khăn, từ đầu năm đến nay, không ít doanh nghiệp phải cắt giảm nhân sự, thu hẹp quy mô nhằm tránh cảnh phá sản. Do đó, con số doanh nghiệp rời thị trường tăng là điều dễ hiểu và phù hợp với thực trạng hiện nay.

Mới đây nhất, Sở Xây dựng TP.HCM công khai thông tin hoạt động của các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn. Theo đó, 9 sàn giao dịch công bố chấm dứt hoạt động. Các sàn này bao gồm: Sàn giao dịch bất động sản Vieland của Công ty TNHH Dịch vụ bất động sản Vieland (quận 3), thành lập tháng 4/2021; Sàn giao dịch bất động sản Goland của Công ty CP Đầu tư Phát triển quỹ đất Goland (quận 1), thành lập tháng 3/2019; Sàn giao dịch bất động sản Kim Cúc Land của Công ty CP Đầu tư Kim Cúc Land (quận Bình Thạnh), thành lập tháng 5/2022.

Sở Xây dựng TP.HCM cho biết, sự trầm lắng của thị trường bất động sản trong nhiều tháng qua đã khiến các sàn môi giới phải tìm nhiều cách xoay xở, thậm chí giải thể dù vừa mới thành lập được 8 tháng.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tình hình cũng không khả quan hơn. Ông Nguyễn Ngọc Quang, Tổng giám đốc Công ty TNHH thép Vina Kyoei nói: “Từ giữa năm 2022 cho đến bây giờ, khó khăn liên tục đeo bám doanh nghiệp. Lượng tiêu thụ quá thấp, trong khi lượng thép trong nước đang dư thừa. Để kích cầu tiêu dùng, các doanh nghiệp buộc phải giảm giá bán trong khi nguyên liệu đầu vào vẫn cao nên dẫn tới thua lỗ. Cùng với đó là lãi suất ngân hàng tăng cao, tỷ giá ngoại tệ cũng cao…Những yếu tố này tác động tiêu cực tới ngành thép, bởi nguyên liệu sản xuất thép trong nước chủ yếu nhập từ nước ngoài bằng đồng ngoại tệ”.

Ông Quang cho biết thêm: “Trong tháng 1 vừa qua, doanh nghiệp chỉ hoạt động sản xuất được 20% công suất, tháng 2 hoạt động được 50% và dự báo tháng 3 hoạt động cũng chỉ đạt 50%. Như vậy, với số lượng 650 công nhân viên, người lao động buộc phải nghỉ luân phiên”.

Ông Quang dự báo, năm 2023 này vẫn còn khó khăn, trong khi kịch bản phục hồi kinh tế tích cực nhất được đưa ra cũng phải đến hết nửa năm 2023 mới phát huy kết quả.

“Công ty Vina Kyo của tôi làm thép xây dựng, thép bê tông. Nếu thị trường bất động sản không được gỡ khó thì nguồn vốn sẽ không lưu chuyển được, ngành xây dựng sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo khó khăn của doanh nghiệp thép”, ông Quang nói.

Trong khi đó, ông Võ Văn Phục, Tổng giám đốc Công ty CP Thủy sản sạch Việt Nam (VINA CLEANFOOD) cho biết, doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cũng gặp khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, cuộc chiến Nga - Ukraina đã tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu và xu hướng của người tiêu dùng. Ông Phục cũng cảnh báo, những khó khăn do việc tăng lãi suất của các ngân hàng, khó tiếp cận vốn vay, thị trường tiêu thụ hạn hẹp…sẽ còn kéo dài.

Nói riêng về doanh nghiệp của mình, ông Phục cho biết, trong 2 tháng qua, số lượng đơn hàng giảm 30%. Doanh nghiệp đã phải cho người lao động nghỉ luận phiên và giảm hơn 40% giờ làm, kéo theo giảm 40% thu nhập của người lao động. Doanh nghiệp cũng phải giảm hơn 1.000 lao động trong số hơn 4.000 lao động của doanh nghiệp.

“Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải chấp nhận mức tăng trưởng thấp và giảm, đồng thời thực hiện tái cấu trúc. Cùng với đó, doanh nghiệp phải tự tìm được giải pháp để vượt qua khó khăn bằng việc áp dụng khoa học công nghệ với chi phí thấp, chất lượng và hiệu quả cao. Với những doanh nghiệp sản xuất thật, kinh doanh thật sẽ cơ bản vượt qua khó khăn, còn những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ gặp khó khăn về vốn, nguy cơ bất ổn và phá sản rất cao”, ông Phục nói.

Bà Trương Thị Mai làm Thường trực Ban Bí thư

 

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai được Bộ Chính trị phân công giữ chức Thường trực Ban Bí thư thay ông Võ Văn Thưởng đã được bầu làm Chủ tịch nước.

Theo Văn phòng Trung ương Đảng, tại cuộc họp xem xét công tác cán bộ ngày 6/3, Bộ Chính trị quyết định ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thường trực Ban Bí thư khóa 13 thôi giữ chức Thường trực Ban Bí thư.

Bộ Chính trị phân công bà Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương giữ chức Thường trực Ban Bí thư khóa 13, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Bà Trương Thị Mai 65 tuổi; thạc sĩ Hành chính công, cử nhân Sử, cử nhân Luật; quê xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Bà là Ủy viên Bộ Chính trị hai khóa 12, 13; Ủy viên Trung ương Đảng bốn khóa liên tiếp từ 10 đến 13; đại biểu Quốc hội 6 khóa từ 10 đến 15; Phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Bà Mai là nữ Thường trực Ban Bí thư đầu tiên từ năm 1976 đến nay.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa) và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chúc mừng Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai, chiều 6/3. Ảnh: TTXVN

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa) và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chúc mừng Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai, chiều 6/3. Ảnh: TTXVN

Bà Trương Thị Mai bắt đầu sự nghiệp trong vai trò giáo viên Trường thực hành, Cao đẳng sư phạm Đà Lạt; sau đó là cán bộ tỉnh đoàn, Phó bí thư Thường trực Tỉnh đoàn, Bí thư Tỉnh đoàn Lâm Đồng.

Trong gần 10 năm công tác tại Trung ương đoàn (1993-2002), bà giữ các vị trí Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Mặt trận Trung ương Đoàn; Phó tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Bí thư Trung ương Đoàn, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Từ năm 2002 đến 2016, bà Mai công tác ở Quốc hội, giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, rồi Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội (nay là Ủy ban Xã hội).

Tháng 1/2016, bà được bầu vào Bộ Chính trị, sau đó được phân công tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Dân vận Trung ương.

Tại Đại hội Đảng 13 đầu năm 2021, bà Mai tái đắc cử Trung ương và được bầu vào Bộ Chính trị. Sau đó, bà được Bộ Chính trị phân công tham gia Ban Bí thư, làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương cho đến nay.

Bà Trương Thị Mai. Ảnh: Hoàng Phong

Bà Trương Thị Mai. Ảnh: Hoàng Phong

Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương thành lập, gồm Tổng bí thư, một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công và Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu.

Ban Bí thư lãnh đạo công việc hàng ngày của Đảng, gồm: Chỉ đạo công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; chỉ đạo phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; quyết định một số vấn đề về tổ chức, cán bộ và một số vấn đề khác theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương; chỉ đạo hoặc kiểm tra việc chuẩn bị các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và quyết định.

Sân bay Điện Biên đóng cửa từ ngày 1/4

 

Sân bay Điện Biên sẽ đóng cửa trong 6 tháng, bắt đầu từ ngày 1/4 để thực hiện dự án mở rộng, nâng cấp.

UBND tỉnh Điện Biên vừa thống nhất với Cục Hàng không Việt Nam việc đóng cửa tạm sân bay Điện Biên, theo đề xuất của Cục. Tại cuộc họp đầu tháng 2, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV - chủ đầu tư) cam kết hoàn thành dự án trước ngày 1/10. ACV cho biết sẽ thi công hàng rào an ninh đến tháng 6, sau đó xây dựng đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ máy bay.

Trước đó tháng 1/2022, ACV đã khởi công dự án mở rộng sân bay Điện Biên. Dự án gồm mở rộng đường băng 35-17 kích thước 2.400x45 m trên nền đường băng hiện tại, đảm bảo khai thác máy bay A320/A321 và tương đương; xây lề đường băng rộng mỗi bên 7,5 m, đường lăn và hệ thống đèn tiếp cận đồng bộ.

Nhà ga hành khách được thiết kế hai tầng, tầng một là khu vực hành khách đi và đến; tầng hai là phòng chờ, phòng khách thương gia, dịch vụ thương mại và phụ trợ. Nhà ga được nâng công suất từ 300.000 lên 500.000 khách mỗi năm.

Dự án có tổng đầu tư 1.467 tỷ đồng từ nguồn vốn của ACV. Ngoài ra, công tác giải phóng mặt bằng chi phí 1.555 tỷ đồng được bố trí từ ngân sách tỉnh Điện Biên. Công trình dự kiến hoàn thành vào quý III/2023.

Trong 6 tỉnh biên giới Tây Bắc, duy nhất Điện Biên có sân bay, giữ vị trí xung yếu đối với công tác phòng thủ, bảo vệ khu vực, phát triển kinh tế địa phương và kinh tế vùng. Sân bay được người Pháp xây dựng, sau năm 1954 phục vụ cả dân sự và quân sự.

Lợi - hại khi giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu

 

Người lao động đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) ít năm thì mức lương hưu sau này cũng thấp, Quỹ hưu trí đối diện nguy cơ cạn kiện.

Chủ trì soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất giảm số năm đóng BHXH làm điều kiện hưởng lương hưu từ 20 xuống 15 với kỳ vọng mở rộng lưới an sinh, hạn chế người rút BHXH một lần.

Nguyên Thứ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân cho biết, đề xuất này không mới, bởi Luật Bảo hiểm xã hội 2006 (thực thi từ 2008) đã quy định lương hưu hàng tháng của lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH đủ 15 năm. Sau đó thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2% đối với nam, 3% đối với nữ cho đến khi lương hưu đạt tối đa 75%.

Năm 2015, khi sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội (hiệu lực từ năm 2016), cơ quan chủ trì đã nâng điều kiện hưởng lương hưu từ 15 lên 20 năm nhằm cân đối Quỹ hưu trí, bởi số năm đóng của lao động quá ngắn nhưng thời gian hưởng lại dài

Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2015 cho thấy số người đóng BHXH ngày càng ít đi và nguy cơ cạn kiệt Quỹ hưu trí nếu không thay đổi chính sách. Cụ thể, năm 1996 có 217 người đóng BHXH thì có một người hưởng lương hưu; năm 2000 số người đóng giảm xuống 34, năm 2009 còn 11 và giai đoạn 2015-2016 còn 9 người.

Trong khi đó bình quân lao động đóng BHXH 28 năm với tỷ lệ 22% vào Quỹ hưu trí và tử tuất, hưởng lương hưu bình quân 25 năm với tỷ lệ 70,1%. Nếu duy trì cách đóng - hưởng như vậy thì đến năm 2020, mức thu quỹ bằng mức chi. Kết dư quỹ giảm dần và đến năm 2037 sẽ phải lấy ngân sách bù vào.

Nhìn rõ bất lợi của số năm đóng BHXH ít, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã tăng lên 20 năm đóng. Tuy nhiên, quy định này lại khiến nhiều người rời bỏ hệ thống an sinh. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thống kê giai đoạn 2016-2020 bình quân mỗi năm gần 750.000 lao động rút BHXH một lần. Khoảng 10% trong số đó có thời gian đóng BHXH từ đủ 10 năm trở lên.

Giai đoạn 2016-2020 mỗi năm có thêm khoảng 120.000 người hưởng lương hưu. Đến cuối năm 2020, cả nước có khoảng 3,2 triệu người nhận lương hưu và trợ cấp, bao phủ 35% tổng số người sau tuổi nghỉ hưu và còn khoảng 9 triệu người chưa được lưới an sinh bao bọc.

Việc tính toán rút xuống 15 năm như đề xuất lần này theo nguyên Thứ trưởng Huân "tạo nên một vòng luẩn quẩn" và chỉ xử lý được khoản lương hưu cho lao động gia nhập hệ thống muộn, có thời gian đóng BHXH ngắn. Trong khi mục tiêu sâu xa hơn của Luật sửa đổi là hạn chế người rút hoặc để lao động về một cục khi quay lại hệ thống có thể tích lũy đủ số năm đóng nhằm hưởng lương hưu.

Ông Huân phân tích, số năm đóng ít thì mức hưởng thấp, lao động cần chấp nhận vì không có phương án hài lòng tất cả. Người lao động cần tính toán tham gia lâu dài hơn để tỷ lệ hưởng lương hưu cao dần lên. Các chính sách về việc làm cần đồng bộ với thay đổi về hưu trí để làm giá đỡ cho lao động khi tham gia thị trường. Cụ thể, Luật Việc làm sửa đổi cần mở rộng chính sách trợ cấp thất nghiệp hỗ trợ tốt hơn cho lao động trước khi họ nghĩ đến rút BHXH một lần.

PGS.TS Nguyễn Đức Lộc, Viện Nghiên cứu đời sống xã hội, đánh giá hạ năm đóng BHXH nhưng tuổi nghỉ hưu đang tăng theo lộ trình đã tạo nên khoảng trống từ khi lao động nghỉ làm cho đến khi được lĩnh lương hưu (nam 62 tuổi vào năm 2028 và nữ 60 tuổi vào năm 2035).

Thực tế tuổi nghề và tuổi hưu của lao động đang có khoảng cách lớn, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày. Công nhân nữ tuổi 40 bị thu hẹp việc làm hoặc phải chuyển nghề. Khi tuổi nghề hết, tuổi hưu chưa tới thì lao động thà rút BHXH một lần rồi tính tiếp chứ không chờ đến lúc lĩnh lương hưu.

"Giải bài toán lương hưu trong bối cảnh này thực sự khó khi nguyên tắc vận hành của quỹ là đóng - hưởng, đóng ít thì số tiền nhận được không đáng kể", ông nói, góp ý việc sửa luật cần có sự đồng bộ để bao phủ rộng khắp các nhóm thụ hưởng, tránh giải quyết cấp bách cho nhóm này nhưng lại để thiệt thòi cho nhóm khác.

Không phủ nhận ưu điểm giảm năm đóng để lao động sớm hưởng lương hưu, đảm bảo an sinh lâu dài và có thể thu hút thêm người tham gia BHXH, song ông Lê Đình Quảng, Phó ban chính sách pháp luật, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, lại băn khoăn với mức hưởng. Làm sao để lao động về già sống được bằng lương hưu, nếu không rất dễ gây bức xúc, càng khó mở rộng bao phủ.

Tiền lương hưu hiện phụ thuộc rất nhiều vào tiền đóng BHXH hàng tháng. Dù luật quy định đóng BHXH trên nền lương và các khoản bổ sung, nhiều doanh nghiệp đang đóng BHXH cho lao động chỉ nhích hơn lương tối thiểu vùng, dao động 4-5 triệu đồng. Nền đóng thấp thì tiền hưu trí không thể cao.

Trước nguyện vọng hạ tuổi hưu thay vì giảm dần năm đóng BHXH, ông Quảng cho rằng khó khả thi bởi lộ trình tăng tuổi hưu thực hiện theo Bộ luật Lao động mới có hiệu lực từ năm 2021. Lao động nghỉ việc, đóng đủ 15 năm BHXH vẫn phải chờ đến tuổi mới được hưởng lương hưu. Việc thiết kế chính sách hưu trí đa tầng, tính tới khoản trợ cấp hàng tháng làm giá đỡ là cần thiết. Tới đây, Tổng liên đoàn sẽ tổ chức các hội thảo, khảo sát lấy ý kiến lao động góp ý cho đề xuất này.

Sửa đổi chế độ phụ cấp ưu đãi cho công chức, viên chức ngành y tế

 

Về tình trạng một số cán bộ, nhân viên cơ sở y tế công lập xin nghỉ việc, các ý kiến tại cuộc họp chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu như thu nhập thấp so với các cơ sở y tế tư nhân sẵn sàng đưa ra mức thu nhập cao; áp lực công việc cao khi cường độ làm việc của nhân viên y tế rất lớn trong phòng, chống dịch COVID-19...

Thủ tướng nhấn mạnh, vấn đề nhân lực ngành y phải có giải pháp đồng bộ, tổng thể, toàn diện, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cân đối, hài hòa với các lĩnh vực, ngành nghề khác.

Thủ tướng giao Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp rà soát quy định về số lượng người làm việc, cơ cấu, tổ chức, bộ máy của các đơn vị trong ngành y; hoàn thiện các chính sách, xây dựng khung pháp lý rõ ràng hơn cho hợp tác công tư, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, thu hút y tế tư nhân tham gia nhiều hơn vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân; củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.

Thứ hai, khẩn trương thực hiện Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định; sớm rà soát, tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Bọ Y tế, Bộ Nội vụ khẩn trương hướng dẫn thành lập các trạm y tế theo theo kết luận của Bộ Chính trị là không tổ chức trạm y tế theo đơn vị hành chính, mà theo quy mô dân số, khi số dân của một số phường tương đương một huyện.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Y tế sớm đánh giá tình trạng mất cân đối về nhân lực, dự báo nhu cầu sắp tới, có phương án chủ động phù hợp để cân đối giữa các địa bàn, giữa các tuyến xã, huyện, tỉnh, giữa khám chữa bệnh và y tế dự phòng, giữa các chuyên ngành khác nhau…

Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nội vụ bố trí đủ người làm việc đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nguyên tắc là "ở đâu có bệnh nhân ở đó phải có người chữa bệnh" trên cơ sở tính toán khoa học, hợp lý, hiệu quả.

Thủ tướng giao các cơ quan nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Nghị định 56/2011/NĐ-CP về chế độ phụ cấp ưu đãi cho công chức, viên chức ngành y tế, bảo đảm tuân thủ quy định của Đảng; sớm ban hành chính sách hỗ trợ nhân viên y tế bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Bộ Y tế xây dựng phương án tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế để tăng nguồn thu cho các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, trên cơ sở khoa học và thực tiễn, tầm nhìn dài hạn.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế tiếp tục động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ, khen thưởng, biểu dương những người tốt, việc tốt, đồng thời tập trung sửa chữa, khắc phục những việc chưa làm được; đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang được Đảng ta triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan báo chí để cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân theo tinh thần "dân biết, dân hiểu, dân tin, dân theo, dân làm".

"Tôi rất chia sẻ với Bộ Y tế, ngành y tế. Bình thường đã rất nhiều việc, khi chống dịch lại càng nhiều việc, khi hết dịch lại phát sinh nhiều việc khác, cộng với các công việc thường xuyên, các công việc tồn đọng. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao những kết quả, thành tựu của ngành y tế, Bộ Y tế thời gian qua, đóng góp lớn trong kiểm soát dịch bệnh, phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Còn với những việc chưa được thì phải xử lý, khắc phục, nhưng không vì thế mà thiếu ý chí, trách nhiệm với tính mạng, sức khỏe người dân. Ngành y tế cần nhanh chóng kiện toàn các chức danh, rà soát các quy định để làm tốt hơn, tránh tâm lý lo ngại, sợ sai, không dám làm. Tình hình càng khó khăn, càng phức tạp thì càng phải bình tĩnh, giữ đúng nguyên tắc, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ tập thể, lắng nghe ý kiến của nhau để cùng nhau xử lý", Thủ tướng phát biểu.

Thủ tướng một lần nữa khẳng định, sai thì phải xử lý, đúng thì phải bảo vệ. Nếu các cơ quan, cá nhân thực sự vô tư, trong sáng, minh bạch, công khai và chống tiêu cực trong đấu thầu, mua sắm thì các cấp, các cơ quan sẽ bảo vệ.

Bộ Y tế cần nâng cao tinh thần trách nhiệm hơn nữa

 

Các ý kiến tại cuộc họp đã phân tích kỹ các nguyên nhân dẫn tới tình trạng thiếu thuốc và vật tư y tế ở một số nơi. Trong đó, có nguyên nhân khách quan do dịch bệnh làm đứt gãy chuỗi cung ứng, trong đó có thuốc; giá cả đầu vào nguyên liệu tăng cao trên thế giới… Cùng với đó, sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại các đơn vị trong 6 tháng đầu năm 2022 tăng cao so với thời gian trước khoảng 20-30%, ảnh hưởng đến việc xác định nhu cầu và triển khai kế hoạch mua sắm thuốc, hóa chất, vật tư y tế của các cơ sở y tế.

Tuy nhiên, các đại biểu cũng khẳng định, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Bên cạnh những việc đã làm được, Bộ Y tế cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực, cố gắng nhiều hơn nữa.

Cụ thể, việc đấu thầu tập trung triển khai chậm, chưa kịp thời, chưa thực sự nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan. Các cơ quan cũng chưa thật tích cực đàm phán giá thuốc sát với tình hình thực tế. Thủ tướng cho rằng phải tích cực hơn nữa, "lăn lộn với thực tế" để có giá thuốc phù hợp thị trường và người dân chấp nhận được trong bối cảnh hiện nay.

Cùng với đó, việc gia hạn các loại thuốc chậm; công tác kiểm tra, thúc đẩy việc mua sắm chưa tích cực; việc phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và với địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả. Đặc biệt, nhiều cán bộ còn sợ trách nhiệm, không dám chịu trách nhiệm.

Về giải pháp, Bộ Y tế cho biết đã chủ động đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị tăng cường năng lực, hiệu quả công tác mua sắm, đấu thầu; đẩy mạnh cấp phép, quản lý giá thuốc, trang thiết bị y tế, cấp phép nhanh nhất khi có đề nghị của các cơ sở nhập khẩu, cơ sở khám chữa bệnh đối với các thuốc hiếm về nguồn cung, sử dụng cho bệnh hiếm, nhu cầu điều trị của bệnh viện; đẩy nhanh tiến độ các gói thầu đối với các thuốc thuộc danh mục đấu thầu tập trung cấp quốc gia và danh mục thuốc đàm phán giá...

Với mục tiêu chăm sóc, bảo vệ tính mạng, sức khỏe người dân là trên hết, trước hết, Thủ tướng đề nghị trước mắt Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát tổng thể các quy định hiện hành liên quan việc mua sắm thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế, trên cơ sở đó chủ động, tích cực xử lý, ban hành các văn bản theo thẩm quyền, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp có thẩm quyền, chỉ rõ các nội dung vướng mắc, nằm ở đâu, ai giải quyết.

Bộ Y tế khẩn trương triển khai các nội dung trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội dành cho ngành y tế với kinh phí khoảng 14.000 tỷ đồng. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trực tiếp chỉ đạo Bộ Y tế và các bộ triển khai theo đúng tinh thần các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ.

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các bộ ngành liên quan báo cáo Chính phủ các nội dung vượt thẩm quyền, xây dựng dự thảo nghị quyết để Chính phủ có nghị quyết chỉ đạo ngay về vấn đề này.

Bộ Y tế rà soát, cùng các cơ quan tổ chức thực hiện nghiêm các quy định hiện hành về đấu thầu tập trung tại Trung ương và địa phương, nếu có vướng mắc thì tham khảo ý kiến các bộ, ngành, bảo đảm cung ứng thuốc đầy đủ cho các cơ sở y tế, trên tinh thần  công khai, minh bạch, rõ ràng, chống tiêu cực.

Bộ Y tế rà soát lại, chỉ đạo tăng cường quản lý nhà nước tại các đơn vị vị liên quan tới lĩnh vực dược, bảo đảm không chậm trễ cấp phép thuốc, kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định, cắt giảm, đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính, trên tinh thần "bảo đảm an toàn cho người dân, người bệnh là trên hết, trước hết", theo các quy luật của cơ chế thị trường, góp phần giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm.

Bộ Y tế, các cơ quan đẩy mạnh phân cấp mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế trên cơ sở ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, quy trình, nâng cao năng lực cán bộ thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát; quy định rõ ràng, minh bạch danh mục mua sắm tập trung và mua sắm phân cấp để các cấp, các đơn vị liên quan dễ thực hiện.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành liên quan phối hợp với Bộ Y tế xem xét, bổ sung các văn bản, quy định liên quan theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, như quy định về đấu thầu, giá cả… hướng dẫn cụ thể, chặt chẽ để người thực hiện yên tâm, khuyến khích người dám nghĩ dám làm và xử lý nghiêm người trục lợi; vận dụng hết công cụ quản lý giá để phục vụ mua sắm, đấu thầu và chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Nỗ lực khơi thông điểm nghẽn mua sắm thiết bị y tế

 

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ cùng sự vào cuộc của các bộ ngành, những bất cập về chính sách mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế dần được tháo gỡ.

Chia sẻ những khó khăn của ngành y tế Thủ đô, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Trần Thị Nhị Hà cho biết, những vướng mắc trong các quy định về đấu thầu dẫn đến tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao, hóa chất xét nghiệm…

“Điều đó không chỉ gây khó khăn trong công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, mà còn là sự thiệt thòi cho người dân khi sử dụng dịch vụ y tế”, bà Trần Thị Nhị Hà nói.

Thực tế, những tuần gần đây, không chỉ các bệnh viện của Hà Nội, mà tuyến Trung ương cũng đối mặt với tình trạng thiếu trang thiết bị, vật tư y tế. Do ‘cạn’ vật tư, nên từ 1/3, Bệnh viện Việt Đức giảm các ca mổ, chỉ ưu tiên mổ cấp cứu và các ca rất nặng.

Hồi cuối tháng 2, GS.TS Trần Bình Giang, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Hà Nội) cho biết, các bệnh viện lớn trên toàn quốc hầu như đã hết vật tư y tế để dành cho chăm sóc người bệnh, các hóa chất xét nghiệm cũng hết.

Thực tế, tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế đã được đại biểu Quốc hội ngành y cảnh báo từ giữa năm 2022. Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan (Trưởng ban Quản lý an toàn thực phẩm TP.HCM) cho biết, bà không ngạc nhiên trước tình trạng thiếu thuốc vì trong ngành đã nhiều lần phản ánh về bất cập trong cơ chế cung ứng, đấu thầu thuốc, trang thiết bị vật tư y tế.

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận, nguyên nhân thiếu thuốc, vật tư, thiết bị y tế là do sau dịch bệnh, nguồn cung khan hiếm, giá cả biến động, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân sau dịch bệnh tăng nhiều. Ngoài ra còn do nhiều gói thầu không tìm được nhà thầu cung ứng. Bên cạnh đó có tâm lý e ngại trong việc đấu thầu mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc.

Trước tình trạng trên, ngày 25/2, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã làm việc với lãnh đạo Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, một số bệnh viện Trung ương về tháo gỡ vướng mắc liên quan đến mua sắm trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao, thuốc chữa bệnh…

Theo Phó Thủ tướng, y tế là lĩnh vực đặc biệt, vì vậy, Bộ Y tế phải chủ động đề xuất chính sách đặc biệt, cách làm đặc biệt. Với nỗ lực của Bộ Y tế, các bộ ngành, sự quan tâm đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, các vấn đề của ngành y tế sẽ sớm được giải quyết căn cơ, sớm nhất.

"Các bộ, ngành phải nhận thức được tinh thần, trách nhiệm cùng với Bộ Y tế giải quyết những điểm nghẽn, bức xúc liên quan đến bảo đảm thuốc, hoá chất, vật tư, trang thiết bị y tế. Đây không phải là việc của riêng ngành y tế, mà rất sát sườn với từng người dân", Phó Thủ tướng nói.

Ngày 3/3, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã ký ban hành Nghị định 07 nhằm khơi thông các vướng mắc, giải quyết các tồn tại, hạn chế, bất cập phát sinh trong thời gian vừa qua trong lĩnh vực trang thiết bị y tế.

Theo Nghị định 07, giấy phép nhập khẩu trang thiết bị y tế và số lưu hành trang thiết bị y tế được tiếp tục sử dụng đến cuối tháng 12/2024. Tổ chức đã được cấp giấy phép nhập khẩu, số lưu hành trang thiết bị y tế phải đáp ứng các điều kiện theo quy định và phải chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng, số lượng, chủng loại, mục đích sử dụng của trang thiết bị y tế.

Nghị định 07 xác định quan điểm chỉ đạo của Chính phủ từ năm 2025 sẽ chuyển từ hình thức tiền kiểm sang hậu kiểm, số lưu hành có giá trị không thời hạn gắn với trách nhiệm của doanh nghiệp về thông tin trang thiết bị y tế và trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong tổ chức thanh tra, kiểm tra.

Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế từ nay đến hết năm 2024 tập trung thực hiện việc cấp giấy phép lưu hành để thay thế hoàn toàn cho các giấy phép nhập khẩu.

Đến ngày 4/3, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái ký ban hành Nghị quyết 30 về việc tiếp tục thực hiện các giải pháp bảo đảm thuốc, trang thiết bị y tế.

Nghị quyết cho phép các cơ sở y tế được áp dụng thí điểm hướng dẫn về xây dựng giá gói thầu trong năm 2023. Trường hợp cùng 1 chủng loại trang thiết bị y tế nhưng có nhiều hãng sản xuất khác nhau, chủ đầu tư xem xét, quyết định việc giao Hội đồng khoa học xây dựng tính năng, cấu hình kỹ thuật theo yêu cầu chuyên môn của đơn vị.

Nghị quyết 30 sửa đổi khoản 4 Nghị quyết 144, trong đó cho phép tiếp tục thanh toán bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ kỹ thuật thực hiện bằng máy do nhà thầu cung cấp sau khi trúng thầu vật tư, hóa chất theo kết quả lựa chọn nhà thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Theo nghị quyết, nhà thầu trúng thầu vật tư, hóa chất có trách nhiệm cung cấp trang thiết bị để sử dụng vật tư, hóa chất theo yêu cầu của chủ đầu tư, nếu hồ sơ mời thầu có đặt ra quy định trên.

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn, Chính phủ đã ban hành các chính sách quan trọng để khơi thông điểm nghẽn về tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị y tế.

Xây dựng bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hó


Quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam đã có những bước tiến tích cực và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng cho biết, một số hạn chế trong vận dụng giá trị và nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa vẫn đang tồn tại khiến cho các quan điểm xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp chưa được triển khai mạnh mẽ, chưa thực sự thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân.

Công tác cán bộ của lĩnh vực văn hoá (quản lý văn hoá, đội ngũ văn nghệ sỹ) chưa được quan tâm đúng mức, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành, cơ quan các cấp, giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân chưa chặt chẽ. Môi trường văn hóa có lúc, có nơi chưa lành mạnh, có mặt xuống cấp...

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng cho rằng cần kiên trì thực hiện quan điểm đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý từ “làm văn hóa” sang “quản lý Nhà nước về văn hóa”. 

Ông phân tích, phát triển con người gắn với chăm lo và đề cao văn hóa gia đình; đề cao văn hóa trong nhà trường; đề cao văn hóa trong xã hội, lan tỏa những giá trị truyền thống, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu” “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực”.

Phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, định hướng phát triển nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ. 

Lãnh đạo Bộ VHTT&DL đề nghị, xây dựng bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hóa và triển khai ứng dụng định kỳ để đo lường, đánh giá và giám sát sự đóng góp và tăng trưởng của lĩnh vực văn hóa trong tổng thể phát triển quốc gia. Không để tụt hậu và từng bước đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá, du lịch.

Kiên quyết chống lại mọi sự xâm lăng về văn hóa

 

Ngày 27/2, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ VHTT&DL, Hội đồng Lý luận Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức hội thảo cấp quốc gia “80 năm Đề cương về văn hoá Việt Nam (1943-2023) – Khởi nguồn và đồng lực phát triển”.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Uỷ viên Bộ Chính trị, GĐ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa; Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà tham dự hội thảo.  

Hội thảo gồm 2 phiên "Giá trị lý luận và thực tiễn của Đề cương về văn hóa Việt Nam" và  "Văn hóa, con người Việt Nam - Nền tảng tinh thần, động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới".

Những chân lý bất diệt

Khai mạc hội thảo, GĐ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng cho biết, Đề cương về văn hóa Việt Nam ra đời năm 1943 do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng.

Đề cương về văn hóa khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa mới trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, được thấm nhuần, kết tinh trong những chủ trương, đường lối của Đảng, được kiểm chứng bằng những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, Đề cương về văn hóa Việt Nam đã toả sáng những giá trị cốt lõi của một văn kiện mang tầm Cương lĩnh.

Ông Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, với chủ trương “Văn hoá, nghệ thuật cũng là một mặt trận, văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy”, Đảng đã tập hợp được đông đảo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ yêu nước, nhiều người đã từ bỏ con đường “vinh thân, phì gia” sát cánh cùng mọi tầng lớp nhân dân, dấn thân theo cách mạng.

Bản Đề cương đã góp phần hình thành nên những chân lý bất diệt, như: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ", “Văn hoá còn thì dân tộc còn. Văn hoá mất thì dân tộc mất”, xây dựng một nền văn hóa mới “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”,…. 

Theo ông Nguyễn Xuân Thắng, những chân lý này trở thành kim chỉ nam soi đường, dẫn lối dân tộc ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kì, vĩ đại và trong công cuộc kiến thiết, xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc sau ngày hoà bình, thống nhất. 

Khởi nguồn từ tư tưởng “nghệ thuật vị nhân sinh” của bản Đề cương, ngày nay, Đảng ta đã hình thành quan điểm phát triển con người phải được đặt vào vị trí trung tâm và là mục tiêu của quá trình phát triển văn hóa. 

Văn hóa lành mạnh là bức tường thành bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

 

Môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú là bức tường thành vững chắc trước sự tấn công của những yếu tố phi văn hóa, bảo vệ văn hóa dân tộc và nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Sáng 3/3, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam tổng kết 30 năm thực hiện Cuộc vận động Xây dựng môi trường văn hóa và sơ kết 2 năm thực hiện Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam.

Ngày 12/5/1992, Tổng cục Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 143 về thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội. Tiếp đó, ngày 24/11/2020, Bộ Quốc phòng ban hành quyết định số 3672 về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

Sau 30 năm triển khai thực hiện cuộc vận động đã trở thành một trong những nội dung, nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”. Toàn quân đã xuất hiện nhiều mô hình, cách làm hiệu quả được phổ biến, nhân rộng.

Từ cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa đã thúc đẩy các phong trào thi đua của Quân đội ra đời, tạo ra nhiều giá trị văn hóa cao, góp phần xây dựng nhân tố chính trị tinh thần trong Quân đội, xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. 

"Môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú là bức tường thành vững chắc trước sự tấn công của những yếu tố phi văn hóa, bảo vệ văn hóa dân tộc và nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội", Trung tướng Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh.

Trung tướng Trịnh Văn Quyết nhận định, sau 30 năm triển khai thực hiện cuộc vận động và 2 năm thực hiện Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong toàn quân đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần xây dựng tổ chức, xây dựng con người trong Quân đội vững mạnh toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội thực sự tốt đẹp, lành mạnh, phong phú.

Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới đang đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao. Việc xây dựng môi trường văn hóa, thực hiện Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội cũng đặt ra những đòi hỏi mới cao hơn. 

Trung tướng Trịnh Văn Quyết cho biết, tại hội nghị tổng kết sẽ đánh giá toàn diện, sâu sắc kết quả đạt được và những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; qua đó, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp, của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong toàn quân...

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ có những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra trực diện và gay gắt hơn. Nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang, khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng.

Tình hình kinh tế, xã hội trong nước đạt được nhiều thành tựu to lớn, tuy nhiên tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, mặt tiêu cực của internet, mạng xã hội và những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, mở cửa, giao lưu quốc tế; cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đã và đang tác động trực tiếp đến công tác xây dựng Đảng bộ và xây dựng Quân đội trong giai đoạn mới.

Lãnh đạo Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam khẳng định, Quân đội cần tiếp tục là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; mẫu mực, đi đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Quân đội cần xung kích trong phòng, chống có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. 

Không thể phủ mờ những nỗ lực trong bảo đảm bình đẳng giới ở Việt Nam

 

Không thể phủ mờ những nỗ lực

trong bảo đảm bình đẳng giới ở Việt Nam

 

 

Lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam, trong đó xuyên tạc vấn đề bình đẳng giới là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Trong dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, các luận điệu này lại được dịp “bung nở” trên nhiều diễn đàn, mạng xã hội của các tổ chức, đối tượng chống phá.

Khắc ghi Sáu điều Bác Hồ dạy trong tiềm thức, trái tim, khối óc và hành động thực tiễn

 

Khắc ghi Sáu điều Bác Hồ dạy trong tiềm thức, trái tim, khối óc và hành động thực tiễn

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, mỗi CBCS CAND phải xây dựng cho mình phong cách ứng xử trong các mối quan hệ "với tự mình", "với đồng sự", "với Chính phủ và nhân dân", "với đối tượng, đối tác và kẻ địch", phải coi đây là việc làm thường xuyên, khắc ghi trong tiềm thức, trong trái tim, khối óc và hành động thực tiễn công tác, chiến đấu hàng ngày của mình.

Thủ đoạn lợi dụng ChatGPT để xuyên tạc, chống phá

 

Thủ đoạn lợi dụng ChatGPT để xuyên tạc, chống phá

 

Mặc dù mới chỉ ra mắt vào cuối năm 2022, phần mềm ChatGPT của OpenAI đã thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng mạng. Ngoài những tác động tích cực mà ChatGPT mang lại thì đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ để các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng ứng dụng để cắt ghép, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị của đất nước. 

NHÂN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     Mục tiêu của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch là nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, các thế lực thù địch không trừ thủ đoạn nào, đặc biệt, chúng lợi dụng sự phát triển của Internet, thường xuyên vu khống, xuyên tạc, bôi đen nhiều sự kiện của Việt Nam trên mạng xã hội.
     Thủ đoạn đê hèn là một nguyên tắc "bất di bất dịch" của chủ nghĩa đế quốc là phải xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới. Vì thế, chiến lược diễn biến hòa bình của chúng là chưa và không dừng lại. Nhất là hiện nay, chúng đang tấn công mạnh mẽ vào các "thành trì" chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Cu ba… Và chúng chỉ kết thúc chiến lược diễn biến hòa bình khi thủ tiêu chủ nghĩa xã hội hiện thực, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
     Thủ đoạn để thực hiện mục tiêu trên rất đa dạng, vừa trắng trợn, vừa tinh vi, vừa công khai, vừa lén lút. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường dùng các thủ đoạn như xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng Cộng sản, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội, tuyên truyền tư tưởng tư sản và tô hồng, ca tụng xã hội tư sản hiện đại; bao vây, cô lập về kinh tế; đồng thời, sử dụng viện trợ để gây sức ép, thao túng, làm chuyển hóa nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng đặc biệt lợi dụng các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, các vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, gây mâu thuẫn nội bộ, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn, bất đồng quan điểm để chống phá chủ nghĩa xã hội, xây dựng và cài cắm lực lượng chống chủ nghĩa xã hội từ trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa.
     Đó là những thủ đoạn khá tinh vi, rất cần mỗi chúng ta cần nâng cao cảnh giác và kịp thời tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về Đảng, chính quyền nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội./.


Yêu nước ST.

CẢNH BÁO - TẨY CHAY, LÊN ÁN HÀNH VI ĐĂNG TẢI, SỬ DỤNG TRANG PHỤC LÍNH “VIỆT NAM CỘNG HÒA” TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 


❗Lợi dụng các mạng xã hội phổ biến như Facebook, TikTok, Youtube…, người sử dụng mạng hiện nay có thể dễ dàng tìm kiếm, đăng ký theo dõi hoặc gia nhập các nhóm mua bán, tuyên truyền, cổ súy việc sử dụng trang phục lính “Việt Nam Cộng Hòa”. Hoạt động của các nhóm này khá sôi nổi, các thành viên tự hào khi sở hữu những món đồ “độc”, “lạ” là những món đồ lính Mỹ, Ngụy đã qua sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Xuất xứ, lai lịch của món đồ, chủ nhân cũ của món đồ càng “oanh liệt” có nhiều thành tích chống Cộng, hại dân lành… thì lại càng có giá trị sưu tập. 


❗Mượn danh “hội yêu đồ lính”, các thành viên ngông nghênh đi khắp nơi, ngang nhiên đưa lên mạng xã hội hình ảnh của mình trong các sắc phục lính từ mũ nồi đỏ, mũ nồi xanh, đến biệt động, thủy quân lục chiến… Hoặc lôi nhau vào rừng dựng cảnh vác súng, đánh trận, bị thương… rồi cắt ghép minh họa cho các bài hát ca ngợi “quân lực Việt Nam Cộng hòa”. 


❗Vậy nên, việc diễn “thời trang lính Việt Nam Cộng hòa” là hành vi phản cảm, tạo thành dư luận xấu, trào lưu độc hại cần được tẩy chay, lên án:


- Một là, bằng việc phổ biến hình ảnh mặc đồ lính Việt Nam Cộng hòa và đăng tải trên mạng xã hội, người dân yêu màu áo lính nhưng thiếu hiểu biết lịch sử, biến đây thành một trào lưu cho một bộ phận mù quáng thiếu hiểu biết. 


- Hai là, khi đã khơi gợi sự đam mê và cuốn theo trào lưu này, không ít người từ đam mê quần áo lính sẽ có cái nhìn thiện cảm về lính Việt Nam Cộng hòa, xóa nhòa ranh giới của một đội quân đã một thời chống lại Tổ quốc mình.


❗Tại một số trang cá nhân của người được coi là thủ lĩnh của các hội nhóm này, có thể thấy được nhiều tư tưởng, nhìn nhận về đất nước khá cực đoan, thiếu niềm tin và bất mãn với chế độ chính trị. Các thành viên khác cũng cho thấy sự lệch lạc về nhận thức cũng như cảm tính cá nhân mà quy chụp nhiều vấn đề một cách tiêu cực, không cần biết phải, trái, đúng sai. 


✅✅✅ Vì vậy, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động nhận diện, phát hiện và cùng tẩy chay, lên án với những hoạt động, hành vi phản cảm, gây bức xúc dư luận xã hội nêu trên./.

PBVN ST 

CẦU NỐI GIẢM KHÁC BIỆT, GIA TĂNG HỢP TÁC!

     Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để giảm khác biệt, gia tăng hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền với phương châm “Tôn trọng và Hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả quyền con người cho tất cả mọi người” - Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang nhấn mạnh tại Phiên họp Cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 27.2 tại Geneva, Thuỵ Sĩ.

Vinh dự và ý thức sâu sắc về trách nhiệm
     Phát biểu tại Phiên họp Cấp cao, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang khẳng định, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới (UDHR) và Tuyên bố và Chương trình Hành động Vienna về quyền con người (VDPA) là những khuôn khổ vững chắc để cộng đồng quốc tế cùng tăng cường nhận thức và hành động nhằm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và đã đạt được những thành tựu quan trọng qua nhiều thập kỷ.
     Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang cho biết: "Việt Nam cảm ơn các nước đã tín nhiệm bầu chúng tôi làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2035. Đây là vinh dự lớn, đồng thời chúng tôi cũng ý thức sâu sắc về trách nhiệm nặng nề trước sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế".
     "Hành trang của Việt Nam đến với Hội đồng Nhân quyền là lịch sử hào hùng của dân tộc, những thành tựu đáng tự hào trong đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, là chủ trương luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong quá trình phát triển, cùng với quyết tâm gánh vác các trọng trách quốc tế trên cơ sở đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế" - Phó Thủ tướng nói thêm.
     Với tư cách là thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Phó Thủ tướng thông báo về quyết tâm, những nỗ lực, đồng thời đề cao những thành tựu của Việt Nam trong đổi mới, phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt là duy trì mức tăng trưởng cao, mức bao phủ của bảo hiểm y tế rộng khắp, có tỉ lệ phụ nữ tham chính trong nhóm dẫn đầu thế giới, có chỉ số phát triển con người liên tục tăng và được xếp vào nhóm cao.
     Nêu bật phương châm của Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang nhấn mạnh: Là thành viên của nhiều cơ chế đa phương quan trọng, Việt Nam cam kết mạnh mẽ với chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc, sẵn sàng làm cầu nối để giảm khác biệt, gia tăng hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền với phương châm “Tôn trọng và Hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả quyền con người cho tất cả mọi người".

4 chia sẻ chủ đạo và sáng kiến của Việt Nam
     Trong bài phát biểu, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang kêu gọi các nước cần thông hiểu và tôn trọng những đặc thù riêng của nhau. "Vì vậy, cần thông hiểu và tôn trọng những đặc thù đó để cùng tìm ra mẫu số chung, thay vì chính trị hóa, áp đặt, can thiệp" - ông nói.
     Phó Thủ tướng nhấn mạnh, không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết những vấn đề toàn cầu ngày nay. "Đối thoại và hợp tác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc chính là phương cách tốt nhất để tìm kiếm tiếng nói chung, xác định ưu tiên, chia sẻ nguồn lực, cùng hiện thực hóa những mục tiêu đề ra trong Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững và các cam kết liên quan đến đối phó với biến đổi khí hậu, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển" - ông lưu ý.
     Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang chỉ ra, quyền con người mang tính phổ quát và có mối liên hệ mật thiết qua lại, tạo nên chỉnh thể thống nhất, đòi hỏi cần có cách tiếp cận tổng thể. Cần chú trọng bảo đảm tốt hơn việc thụ hưởng các quyền thiết thân, cơ bản nhất như quyền được sống trong hòa bình, quyền phát triển, quyền được tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, chống phân biệt đối xử, thúc đẩy công bằng xã hội.
     Để bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền con người trên phạm vi toàn cầu, theo Phó Thủ tướng, Hội đồng Nhân quyền cần khẳng định vai trò trung tâm trong thúc đẩy đối thoại trên tinh thần xây dựng, bình đẳng và hợp tác hiệu quả giữa các quốc gia, trên cơ sở tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.
     Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã đưa ra sáng kiến về việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình Hành động Vienna bằng một văn kiện của Hội đồng Nhân quyền nhằm khẳng định lại những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của các Tuyên ngôn và Tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế vì toàn thể nhân loại. "Với ý thức và quyết tâm cao của một thành viên Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam sẽ đóng góp với tinh thần trách nhiệm cao nhất cho công việc của Hội đồng Nhân quyền, vì một tương lai tốt đẹp hơn của nhân loại" - Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang khẳng định.
     "Một Hội đồng Nhân quyền hoạt động hiệu quả, tích cực, khách quan, hòa hợp trong đa dạng, không chính trị hóa, không chia rẽ sẽ là hạt nhân kết nối cộng đồng quốc tế" - phát biểu của Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang tại Phiên họp Cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 27.2 tại Geneva, Thuỵ Sĩ./.
Yêu nước ST.