Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023
NGHỊ LỰC CỦA NHỮNG BÓNG HỒNG GIỮ KHO
Trên chặng đường đã qua, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta đã được thực tế lịch sử kiểm nghiệm như thế nào?
Trong gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta, cách mạng nước ta đi theo con đường CNXH đã đi từ thắng lợi lịch sử này đến thắng lợi lịch sử khác, đạt được những thành tựu đáng tự hào.
Với ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, Việt Nam đã ghi tên mình vào lịch sử thế giới với tư cách là dân tộc đầu tiên trong lịch sử các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa “một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” khi giành thắng lợi vẻ vang trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự đúng đắn của con đường ấy tiếp tục được minh chứng trong 30 năm tiếp theo (1945-1975) và được đánh dấu bằng thắng lợi vĩ đại của Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Một lần nữa, lịch sử lại chứng minh rằng, con đường của chúng ta đi là đúng đắn, khoa học. Thắng lợi vĩ đại này cũng mở ra một kỷ nguyên mới cho nước ta - thời kỳ xây dựng CNXH trên phạm vi toàn quốc.
Sau hai cuộc trường chinh đầy máu lửa, từ năm 1975, chúng ta bước vào thời kỳ tái thiết và hàn gắn vết thương sau chiến tranh với bộn bề khó khăn, thiếu thốn, từng bước quá độ lên CNXH trong hoàn cảnh đất nước bị tàn phá nặng nề, bị bao vây, cấm vận, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, khó khăn chồng chất khó khăn. Cũng vì vậy, mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, công nghiệp, nông nghiệp đã có những bước tiến rõ rệt, nhưng khi tổng kết, đánh giá 10 năm (1976-1986), Đảng ta đã thẳng thắn nhận định, kết quả đó là chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống nhân dân.
Đảng ta đã phân tích một cách khách quan, khoa học các sự kiện đã xảy ra, nhìn thẳng vào sự thật, thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, vạch đúng nguyên nhân, tìm ra giải pháp khắc phục, kiên quyết đổi mới và đổi mới có nguyên tắc để vừa không xa rời định hướng XHCN, lại vừa đúc kết những bổ sung mới cho lý luận về CNXH để vững vàng đưa con thuyền cách mạng Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, hơn 35 năm qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, đưa nước ta vượt qua tình trạng kém phát triển, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết: “nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm... trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng 17 lần, lên mức 3.512 USD”. “Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016”. “Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua”(6). “Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020”. “Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao nhất thế giới”. “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là những minh chứng khách quan, không thể phủ nhận về những thành tựu của Đảng và nhân dân ta trên con đường phát triển đất nước theo định hướng XHCN.
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới những năm qua cũng chính là sự bác bỏ đanh thép đối với những lời “tiên tri” mà thực chất chỉ là những mơ tưởng ngông cuồng, hão huyền của một số ít người đã phản bội sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta.
Đến thời điểm hiện tại, nhân dân ta vẫn đang vững bước trên con đường XHCN, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước với một vị thế và tư thế mới - vị thế và tư thế của những người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình. Với những định hướng, chủ trương và những giải pháp lớn, nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng đã đưa ra, nhân dân Việt Nam vững tin hướng tới tương lai. Ngọn cờ độc lập và CNXH do Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao đã và đang đem lại cho dân tộc ta, nhân dân ta tư thế mới, sự tự tin và sức mạnh mới.
Cần phải làm rõ rằng, những người cộng sản không e ngại nhìn thẳng vào những vấp váp, sai lầm, sẵn sàng cầu thị và tiếp thu những ý kiến đóng góp xác đáng. Nhưng, yêu sách phải thay đổi, xóa bỏ con đường đi lên CNXH để chuyển sang con đường TBCN thì dù lý giải cách gì, cũng chỉ tỏ rõ là âm mưu phá hoại về mặt chính trị, chỉ là những luận điệu vô căn cứ./.
Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội?
Những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc, sai trái trên cần phải nhớ lại sự thật lịch sử và tính tất yếu khách quan mà thời cuộc đưa đến; không thể chà đạp lên sự thật, bóp méo chân lý; phủ nhận khát vọng cháy bỏng của cả một dân tộc thiết tha yêu chuộng hòa bình, muốn được sống trong độc lập, tự do, sống yên bình, ấm no, hạnh phúc.
Từ đầu thế kỷ XX, trước khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước, tiêu biểu như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế, cuộc vận động chống thuế Trung Kỳ, phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, các phong trào Đông du do các sỹ phu yêu nước khởi xướng. Đây đều là những phong trào sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, các lãnh tụ của những phong trào này không thiếu quyết tâm và nhiệt huyết. Tuy nhiên, tất cả đều lâm vào bế tắc và đi đến thất bại.
Đó chính là sự thất bại, bế tắc và khủng hoảng về đường lối cứu nước, do họ không được dẫn dắt bởi một hệ tư tưởng tiên tiến nên không thể có một đường lối chính trị khoa học, họ càng không thể xây dựng được lực lượng và tổ chức có cơ sở bền vững từ những thành phần cơ bản trong xã hội. Mục tiêu của những phong trào đó đều không phản ánh xu thế vận động hợp quy luật của lịch sử và thời đại, không thể đem lại tính chất triệt để cách mạng cho sự phát triển của xã hội Việt Nam đương thời.
Như vậy, tất cả các phương án chính trị, con đường đấu tranh của các giai cấp, từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến đường lối theo lập trường của giai cấp nông dân, hay lập trường tiểu tư sản, tư sản... đều đã được đưa ra và được thực tế lịch sử cách mạng dân tộc kiểm nghiệm, kết quả là, “tình hình đen tối như không có đường ra”.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm đường cứu nước đã tiếp thu, giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản, xác định được con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và truyền bá vào Việt Nam. Độc lập dân tộc là điều được Người khẳng định trên hết, trước hết, sau khi giành độc lập hoàn toàn, Việt Nam sẽ định hướng phát triển theo con đường đi lên CNXH. Điều này đã được khẳng định vững chắc trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Trong đó xác định rõ con đường đấu tranh làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập để đi tới xã hội cộng sản. Trong Luận cương chính trị (tháng 10-1930), Đảng ta xác định cụ thể, cách mạng Việt Nam “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”(2). Vậy là, ngay từ thời điểm này, CNXH đã được xác định như một xu hướng vận động tất yếu của cách mạng Việt Nam, là phương thức phát triển của xã hội Việt Nam.
Độc lập dân tộc và CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là nét chủ đạo và cốt lõi của con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nó cũng là nét chủ đạo và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng từ khi thành lập đến nay. Quan điểm của Đảng ta về CNXH cũng như toàn bộ đường lối cách mạng XHCN đều dựa vững chắc trên nền tảng đó, được kiểm nghiệm qua thực tế lịch sử với hàng loạt những thắng lợi liên tiếp mang tính kỳ tích của cách mạng Việt Nam. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử với những giai đoạn, bước đi khác nhau, đối mặt với rất nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng cho đến nay, chưa bao giờ xảy ra sự chệch hướng, xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Như vậy, nhìn lại lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, chúng ta càng thấy rằng, sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta, nhân dân ta là hoàn toàn chính xác, xuất phát từ điều kiện cụ thể và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam, cũng như xu thế phát triển của thời đại, là một tất yếu khách quan về mặt lôgíc, hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Do vậy, luận điệu phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên CNXH là những luận điệu phi lịch sử, phản nhân dân, phản dân tộc, cần phải được loại bỏ./.
Các thế lực phản động, thù địch đã xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam như thế nào?
Các thế lực thù địch, phản động đang tìm cách phê phán, đả kích, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng, đẩy chúng ta đi lệch quỹ đạo của CNXH. Đặc biệt, các thế lực thù địch xoáy sâu vào sự đổ vỡ của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, lợi dụng cơ hội để ra sức xuyên tạc, bác bỏ CNXH. Các thế lực thù địch không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn và rêu rao về “chiến thắng không cần chiến tranh”, về “sự cáo chung của lịch sử”.
Với những phân tích hàm hồ, chúng phê phán, bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường đi lên CNXH, phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam. Không những thế, các thế lực phản động, thù địch còn đòi “lựa chọn lại” con đường mà Đảng ta, chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; “tô son”, “trát phấn”, ca ngợi hết lời CNTB, rêu rao rằng “CNTB là vĩnh hằng, còn CNXH thì có trăm ngàn khuyết tật, không dân chủ, thiếu nhân quyền, nhân đạo”; rằng “CNXH chính là bước quá độ tiến tới CNTB”(!), “những ước mơ của CNXH thì chính CNTB đã thực hiện rồi”(!)...
Những luận điệu này mặc dù đều là phi lịch sử, phản động, phản khoa học và vô căn cứ nhưng vẫn có tác động nhất định đối với một số người nhẹ dạ, cả tin. Mục đích, âm mưu thâm độc của những kẻ tung ra luận điệu trên là rất rõ ràng, đó là nếu chưa thể xóa bỏ được CNXH, lái nước ta đi theo con đường khác - con đường TBCN thì cũng làm cho một bộ phận nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy, cần thiết phải lý giải cặn kẽ hơn về quá trình “tìm đường”, “chọn đường” và con đường đi lên CNXH của Việt Nam để khẳng định rằng, không một thế lực nào có thể quay ngược lại bánh xe lịch sử./.
HAI ANH EM RUỘT CÙNG NHẬP NGŨ
Tác phong làm việc, phong cách của một nhà lãnh đạo đối với đồng chí Nguyễn Chí Thanh
Quá trình hoạt động cách mạng, công tác của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã để lại dấu ấn, hình ảnh đậm nét về một chiến sĩ cách mạng, một cán bộ lãnh đạo luôn tận tâm, tận lực vì công việc. Với đồng chí, phải luôn đặt hiệu quả của công việc lên hàng đầu. Bản thân đồng chí luôn tiên phong trong mọi hành động, là người có nhiều sáng kiến trong công tác. Ở vị trí nào đồng chí cũng luôn suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển, nổi bật là điển hình “Đại Phong” khi công tác ở lĩnh vực nông nghiệp và phong trào “Ba Nhất” khi công tác trong quân đội.
Cuộc đời của đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn gắn bó với những công việc hệ trọng, gian nan, vất vả, nhưng đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trao cho, luôn xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh là người cộng sản có lý tưởng sống cao đẹp, luôn quyết tâm hành động để đạt được mục tiêu đề ra; kiên quyết đấu tranh loại bỏ những tư tưởng bảo thủ, bàn lùi, những người hoài nghi, dao động về tư tưởng, lập trường. Đồng chí từng nói: “Người cộng sản mà không chăm lo đến lợi ích sống còn của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, lợi ích của giai cấp và của nhân dân mà chỉ lấy mức hưởng thụ làm điều kiện để phấn đấu thì tức là đã thoái hóa về mặt tư tưởng, không thấm nhuần đạo đức cộng sản chủ nghĩa”. Từ đó, đồng chí yêu cầu: “Cán bộ, đảng viên ta lấy lý tưởng cộng sản chủ nghĩa làm mục tiêu phấn đấu của mình, thì lại càng nâng cao tinh thần hy sinh phấn đấu, đem hết sức mình cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp cách mạng”.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là hình ảnh của một nhà lãnh đạo luôn tâm huyết vì nhiệm vụ, vì công việc. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ tư lệnh trong lễ tang Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nêu: “Đồng chí đã tỏ ra là một người lãnh đạo xuất sắc, đem hết tài năng và nghị lực phấn đấu để thực hiện thắng lợi đường lối chính trị và quân sự của Đảng”.
Sinh ra trên mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, giàu lòng yêu nước và đậm nghĩa tình đã góp phần hình thành nên những đức tính, phẩm chất tốt đẹp trong con người đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ thuở thiếu thời. Để rồi, những đức tính đó phát triển, hình thành nên một chiến sĩ cách mạng Nguyễn Chí Thanh sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, phong cách trong công tác cũng như trong đời sống hằng ngày. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, từ người nông dân nghèo đến lãnh đạo xuất sắc của tỉnh Thừa Thiên cho đến khi trở thành vị tướng tài ba, lãnh đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Nguyễn Chí Thanh là tấm gương của một nhà hoạt động cách mạng suốt đời vì lý tưởng cộng sản, sẵn sàng cống hiến cho cách mạng, cho dân tộc. Trong Điếu văn đồng chí Nguyễn Chí Thanh ghi nhận: “...dù hoàn cảnh khó khăn phức tạp đến đâu, đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh trao cho; đồng chí xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, được nhân dân và Quân đội ta vô cùng yêu mến”./.
Tư tưởng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Chí Thanh
Tham gia hoạt động cách mạng, nhờ quá trình tự học, tự nghiên cứu và được các nhà hoạt động cách mạng đi trước bồi dưỡng, huấn luyện, đồng chí Nguyễn Chí Thanh với tư chất thông minh đã có sự phát triển nhanh chóng về trình độ cũng như lý luận cách mạng, phương pháp hoạt động, được cử làm Bí thư Chi bộ ở huyện Quảng Điền (tháng 11-1937) và sau đó là Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên (đầu năm 1938). Đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn bám sát địa bàn, gần dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, củng cố tổ chức đảng, đồng thời, tích cực tuyên truyền trong quần chúng nhân dân địa phương về Đảng Cộng sản Đông Dương.
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã truyền bá hệ tư tưởng vô sản của Đảng, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng và chứng minh rằng những quyết sách đó là hoàn toàn sáng suốt, đúng đắn, để quần chúng nhân dân thấy được mục đích cao nhất của Đảng là lãnh đạo đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; muốn làm được điều đó thì phải đoàn kết đấu tranh giành lấy chính quyền. Những hoạt động tích cực của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã góp phần nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân, để rồi tập hợp, vận động, phát động họ hăng hái đấu tranh cách mạng hoặc giúp họ nhiệt thành tham gia cách mạng khi có điều kiện.
Quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhiều lần bị địch bắt, bị tù đày ở các nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Trong lao tù đế quốc, đồng chí luôn là người tiên phong trong tư tưởng cũng như hành động, bảo vệ anh em tù chính trị, đấu tranh chống lại bọn quản ngục. Trong thời gian bị tù đày ở Huế, Nguyễn Chí Thanh và Tố Hữu là hai đồng chí tích cực, đóng vai trò quan trọng trong công tác huấn luyện cho các đồng chí đảng viên, người hoạt động yêu nước bị giam ở nơi đây. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh huấn luyện về công tác xây dựng Đảng, về tiêu chuẩn đảng viên, cách thức kết nạp đảng viên, công tác bí mật, công tác vận động quần chúng…
Trong thời gian bị tù đày ở Buôn Ma Thuột, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn thể hiện bản lĩnh của một chiến sĩ cách mạng có tư tưởng chính trị vững vàng, lý tưởng kiên trung. Đồng chí tích cực triển khai công tác xây dựng Đảng, cụ thể đã góp phần quan trọng trong đào tạo, huấn luyện các chiến sĩ cách mạng, đảng viên về lý luận, đạo đức của người cách mạng, về phương pháp hoạt động cách mạng, như: phải tuyệt đối bí mật, cách viết, in, rải truyền đơn, cách diễn thuyết trước quần chúng, cách đối phó với mật thám lúc không may bị chúng bắt, xét hỏi, tra trấn... Dù trong tù, nhưng đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã bồi dưỡng, kết nạp, huấn luyện được rất nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động trong tù có lý luận sắc bén, bản lĩnh kiên cường, phương pháp hoạt động cách mạng nhạy bén, linh hoạt.
Thời gian làm lãnh đạo trong Quân đội, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã luôn chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về CNCS, CNXH, đặc biệt là giáo dục về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cách mạng. Đồng chí luôn nêu cao, yêu cầu các đảng viên, chiến sĩ quân đội phải đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đồng chí đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của công tác tư tưởng với quan điểm công tác tư tưởng phải sát với thực tiễn, với tình hình thực tế đang diễn ra. Trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn cán bộ cao và trung cấp quân đội vào ngày 12-5-1957, đồng chí nhận định: “Cuộc đấu tranh giai cấp của ta đã chuyển sang một hình thái mới, do đó cuộc đấu tranh tư tưởng giữa tư tưởng giai cấp vô sản và tư tưởng giai cấp tư sản và các giai cấp phi vô sản khác trong nội bộ Đảng ta, quân đội ta đã trở thành một vấn đề thời sự trọng yếu của công tác tư tưởng”.
Khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ trần, trong bài “Vô cùng thương tiếc đồng chí Nguyễn Chí Thanh” đăng trên Báo Nhân dân có đoạn viết: “Đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo rất quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho cán bộ và chiến sĩ mà chính bản thân đồng chí là một tấm gương sáng ngời”.
Đồng chí góp phần bổ sung, làm rõ, vận dụng lý luận cách mạng vào điều kiện cụ thể
Qua các bài nói, bài viết, tác phẩm của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, có thể thấy đồng chí là nhà hoạt động cách mạng có lý luận sắc bén, đã vận dụng, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng vào các lĩnh vực công tác mà đồng chí được phân công. Đồng chí đã cụ thể hóa, góp phần bổ sung làm rõ đường lối cách mạng của Đảng trong cách mạng giải phóng miền Nam, vận dụng sáng tạo để đưa phong trào cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí, cách mạng miền Nam đã giành được những thắng lợi vẻ vang, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn quan tâm công tác văn hóa, văn nghệ nói chung và công tác văn hóa, văn nghệ trong Quân đội nói riêng. Xem đây là phương thức quan trọng để qua đó tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cách mạng, ca ngợi về Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu trong quân đội, động viên tinh thần sáng tạo của các chiến sĩ. Khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ trần, Xã luận báo Quân đội nhân dân đã viết: “Đồng chí Nguyễn Chí Thanh là một trong những đồng chí cán bộ lãnh đạo rất quan tâm đến công tác văn hóa, văn nghệ trong quân đội. Đồng chí đã chú ý giáo dục anh chị em làm công tác văn nghệ nâng cao lập trường giai cấp vô sản, nắm vững đường lối văn nghệ của Đảng, rèn luyện đạo đức, tác phong cách mạng, kiên quyết chống lại mọi quan điểm và biểu hiện sai lầm trong văn nghệ”.
Xây dựng Đảng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ cách mạng
Đóng góp quan trọng của đồng chí Nguyễn Chí Thanh trong công tác xây dựng Đảng được thể hiện trên cả ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức. Đồng chí luôn tích cực truyên truyền, truyền bá về CNXH, về CNCS, về đường lối cách mạng của Đảng đến với cán bộ, đảng viên, trong quân đội và với quần chúng nhân dân.
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí luôn đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương của Đảng trong mọi hoàn cảnh. Đồng chí nêu rõ: “Tư tưởng của giai cấp vô sản là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho cách mạng, còn tư tưởng của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thì đầy rẫy tính ích kỷ, bần tiện của chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết đến mình, quan tâm đến lợi ích của mình”. Với đồng chí, bảo vệ Đảng là luôn tin tưởng vào chủ trương, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng; đấu tranh chống các biểu hiện dao động, tư tưởng tiểu tư sản, phong kiến. Đồng chí luôn quán triệt: “Phải kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh ở trong Đảng, biểu hiện cụ thể của tư tưởng tiểu tư sản, đồng thời phải chống ảnh hưởng tư tưởng tư sản”.
Đồng chí nêu rõ, trong quá trình hoạt động, các tổ chức đảng, đảng viên không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận để khắc phục, sửa chữa; phải đặc biệt coi trọng công tác đấu tranh bảo vệ tư tưởng của Đảng: “Để khắc phục những sai lầm, phát huy những tư tưởng đúng, chúng ta phải đặc biệt coi trọng việc giáo dục và đấu tranh tư tưởng”.
Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm sự phân công nhiệm vụ của cấp trên
Quá trình hoạt động cách mạng, dù được phân công nhiệm vụ gì, ở Trung ương hay địa phương, ra Bắc hay vào Nam, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn chấp hành nghiêm túc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Năm 1967, Xã luận báo Quân đội nhân dân đã viết về đồng chí Nguyễn Chí Thanh: “Đồng chí đã nêu một tấm gương trong sáng về lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng về lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, về lập trường giai cấp kiên định, về tinh thần cách mạng triệt để, tiến công kiên quyết và liên tục vào mọi kẻ thù giai cấp và dân tộc, chiến đấu không mệt mỏi để giành thắng lợi cho cách mạng, để bảo vệ Đảng, bảo vệ chân lý, không lùi bước trước bất cứ nguy hiểm khó khăn nào, luôn luôn nêu cao khí phách kiên cường của người chiến sĩ Mácxít - Lêninnít”.Đồng chí luôn khẳng định: “Đối với đường lối của Đảng, cán bộ, đảng viên ta đều nhất trí, song điều quan trọng hơn nữa là phải kiên quyết bảo vệ và phấn đấu đến cùng thực hiện đường lối của Đảng”./.
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - GIÁ TRỊ HIỆN THỰC KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Thực hiện mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tiến hành mọi thủ đoạn nhằm xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của Cuộc cách mạng công nghiệp được thực hiện trước tiên ở nước Anh (vào cuối thế kỷ XVIII), đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản – một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Cuộc đấu tranh đó đã đặt ra yêu cầu khách quan: phải có lý luận dẫn đường. Và, chủ nghĩa Mác ra đời để đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời, chính thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đã trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chủ nghĩa Mác.
Gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại nước Đức, được V.I. Lênin kế tục và phát triển tại nước Nga, điều đó càng khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Bởi, nó không những chỉ ra bản chất bóc lột, phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu nhất tồn tại trong lòng chế độ tư bản - nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, mà còn dự báo chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế - xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Đồng thời, vạch ra cho giai cấp vô sản phương pháp cách mạng để giải phóng giai cấp, đưa xã hội loài người tiến lên.
Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều bị thất bại vì không có đường lối phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết là phải khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trong đó, tập trung trước hết vào việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng. Và ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một sự kiện đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Thành tựu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”1. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, nhằm thực hiện mưu đồ thay đổi đường hướng chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi đời sống chính trị - tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng bằng các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá rất đa dạng:
Về tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để phủ nhận, xuyên tạc. Trước hết, họ phủ nhận tài năng kiệt xuất của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin; đồng thời, cho rằng: C. Mác và V.I. Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép sống sượng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và triết học cổ điển Đức; là sản phẩm lai tạo hỗn hợp mang tính chủ quan, áp đặt được tua lại nhiều lần. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ và có chủ đích của các thế lực thù địch. Cần thấy rằng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin được đúc rút, khái quát nhờ tài năng kiệt xuất của cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin trong thực tiễn hoạt động chính trị sôi động của các ông. Nhờ đó mà các ông đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lý luận, xác lập một thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét và cải tạo hiện thực, từ đó xây dựng nên Học thuyết của mình. Nhìn vào thực tiễn lịch sử, nếu không có những bộ óc vĩ đại, với một thế giới quan khoa học, cách mạng thì không thể đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử.
Đối với những quan điểm, nguyên lý có tính chất nền tảng, là những phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, họ tập trung xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận các nội dung: học thuyết hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết giá trị thặng dư; học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ còn phê phán quan điểm của C.Mác về luận điểm đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội; cho rằng: những luận điểm này làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích hận thù, cổ vũ cho chiến tranh, độc quyền, độc đoán, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên không phù hợp với xu thế của thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển, v.v. Các thế lực thù địch, phản động không chỉ tìm cách phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về mặt lý luận mà dựa vào sự sụp đổ của mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX), họ rêu rao: đó là do sự sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin, cho nên đó là sự sụp đổ đã báo trước. Đây là thể hiện của nhận thức phiến diện, thiếu khách quan và khoa học trước sự vận động và phát triển của các mô hình xã hội. Nói về sự sụp đổ, tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu và càng không phải là sai lầm của học thuyết Mác. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”2. Do đó, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao.
Về vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, họ dựa vào bối cảnh thời gian, không gian ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin để phủ nhận, xuyên tạc với luận điệu: chủ nghĩa Mác – Lênin không nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn đầy đủ, nó chỉ phù hợp với các nước châu Âu; trong khi đó, ở châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác các nước châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin đối với Việt Nam chỉ là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống, văn hóa dân tộc, việc vận dụng vào Việt Nam là khiên cưỡng. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra những quy luật vận động chung của lịch sử loài người và các ông cũng đều nhấn mạnh việc vận dụng những quy luật chung ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước cũng phải có những cải biến trong những vấn đề chi tiết cho phù hợp với đặc điểm của quốc gia, dân tộc. Bản thân các ông cũng không hề coi lý luận của mình là tối cao, tuyệt đỉnh, mà cần phải có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa vào từng điều kiện lịch sử cụ thể: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”3. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong quá trình vận dụng những quy luật chung, những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, của chủ nghĩa cộng sản, phải chú ý đến đặc thù của dân tộc mình. Người khẳng định: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”4. Do đó, việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.
Về vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch cho rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời vào thế kỷ XIX trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí nên chỉ hợp với thời điểm đó, cùng lắm là thế kỷ XX, còn hiện nay loài người đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn. Vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản là “bóc lột”; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như: mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động vẫn tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng, v.v. Điều đó càng chứng tỏ thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn và có ý nghĩa thời đại như thực tiễn đã và đang minh chứng: Cải cách chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc (từ năm 1978), đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) và các quá trình tương tự ở các nước xã hội chủ nghĩa khác được triển khai với các nguyên tắc đúng đắn; vừa toàn diện, đồng bộ; vừa có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, giải pháp phù hợp; vừa kiên định và sáng tạo, kế thừa và phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, gắn quốc gia với thế giới. Nhờ vậy, Trung Quốc đã trở thành cường quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; Cuba hiên ngang trước bao vây cấm vận, kiên định xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền, dân chủ, thịnh vượng và bền vững; các nước xã hội chủ nghĩa khác đều có nhiều thành công trong xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Đây thật sự là một quá trình cải cách, đổi mới thành công cả về tư duy lý luận, nhận thức, tầm nhìn và thực tiễn, chủ trương, chính sách, khẳng định xung lực của chủ nghĩa xã hội trước mọi sóng cồn, gió cả của thời cuộc.
Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thủ đoạn tấn công trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh không có tư tưởng riêng, mà chỉ là ảo tưởng do Đảng Cộng sản nghĩ ra. Hơn thế, họ còn đưa ra luận điệu: tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay và cho rằng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến đấu tranh dân tộc, theo chủ nghĩa dân tộc nên chỉ có giá trị trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc chứ không có giá trị đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác – Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.
Thực hiện mưu đồ phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiến hành thủ đoạn vô cùng nham hiểm, đó là tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc, nhằm làm đứt gãy từng bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ biện luận rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ phù hợp với phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Điển hình là việc Hồ Chí Minh không bao giờ “bê nguyên xi” chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, mà đều có sự thay đổi. Do đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua chủ nghĩa Mác – Lênin” hay “chỉ cần chủ nghĩa Mác – Lênin là đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam”. Họ còn cho rằng: “chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Việc tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở để các thế lực thù địch, phản động tiến thêm một bước nữa đòi lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế cho chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam. Từ đó, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam và cũng gián tiếp phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác – Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như những luận điệu của thế lực thù địch rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu, kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, vận dụng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Giá trị và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với nhân loại nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng là không thể phủ nhận. Do vậy, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, đòi hỏi phải kết hợp giữa kiên định và phát triển; trung thành và vận dụng sáng tạo; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tổng kết với bổ sung, phát triển; giữa bảo vệ và đấu tranh, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn và mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam./.
ST
SỰ SAI TRÁI CỦA LUẬN ĐIỂM “CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG KHÔNG CHỐNG ĐƯỢC THAM NHŨNG”
Để xuyên tạc, phủ nhận những tiến bộ trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho luận điểm “chế độ một đảng cầm quyền không thể chống được tham nhũng”(!). Đây là luận điểm rất sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.
Những năm qua, với quan điểm “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh này. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì, công khai, minh bạch, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành một cách bài bản, đạt được những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng các trang mạng xã hội và kênh truyền thông không thiện chí với Việt Nam để lan truyền những thông tin xuyên tạc, bóp méo tình hình chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. Một mặt, họ cho rằng các hoạt động phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay “chỉ là để mị dân”, hay “Đảng Cộng sản Việt Nam không thật sự quyết tâm chống tham nhũng”(!). Mặt khác, trước kết quả phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, hoặc xử lý hình sự do tham nhũng, họ lại cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ chính trị ở Việt Nam”(!) và “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều, bởi đó là căn bệnh kinh niên của thể chế chính trị một đảng cầm quyền”(!). Từ đây, họ kêu gọi phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có thể chống được tham nhũng. Cổ súy cho khuynh hướng này, ngày 24/6/2022, Đài Á châu tự do (RFA) đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế” xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta; trong đó, họ nêu câu hỏi mang tính kích động chính trị, rằng: “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”(!). Từ đó đưa ra “lời khuyên”: Việt Nam nên từ bỏ chế độ chính trị hiện hành để chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa mới chống được tham nhũng. Những luận điểm kiểu này thực sự nguy hiểm, dễ làm cho người dân lầm tưởng tham nhũng gắn liền với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa và do chế độ một đảng cầm quyền gây ra; qua đó, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và gây nên nguy cơ bất ổn về chính trị trong xã hội.
Cần khẳng định dứt khoát rằng, luận điểm coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, một mặt, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Trên phương diện thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Mới đây, Phó Tổng thống Argentina, 01 Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu cũng bị cáo buộc dính vào tham nhũng. Chẳng thế mà Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) hằng năm đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, chủ yếu là các nước, vùng lãnh thổ đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2021 (công bố đầu năm 2022) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, khác nhau chỉ ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt 88 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong 10 năm qua (kể từ năm 2012), 23 quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, trong đó có các nước như Australia, Canada và Mỹ. Điều đó cho thấy tham nhũng ở những nước này trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng.
Thực tiễn ở nước ta cũng cho thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết liệt lên án những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước trong không ít cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Người coi tham ô, tham nhũng là thứ “giặc nội xâm”. Người viết: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”1. Người yêu cầu: “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”2, phải kiên quyết đấu tranh, quét sạch. Với cương vị là Đảng cầm quyền, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chưa bao giờ buông lỏng nhiệm vụ chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định tham nhũng, tiêu cực là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cần phải quyết liệt xóa bỏ. Để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng có bước đột phá, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Với cơ chế đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bài bản, quyết liệt, đồng bộ, có bước đột phá, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.
Để khắc phục những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện bước đi rất bài bản bằng việc ban hành và đưa vào tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực3, nhằm “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện một cách quyết liệt, công khai, minh bạch. Theo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 6/2022, đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao gấp 04 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII); trong đó, có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Hoạt động phòng, chống tham nhũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước và sang cả lĩnh vực chống tiêu cực. Nhờ đó, tình trạng tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.
Những kết quả cụ thể đó đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; đồng thời, là bằng chứng thuyết phục bác bỏ mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch. Con số 93% người dân được hỏi trong cuộc điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành thời gian qua, bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã nói lên điều đó. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam còn nhận được sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã tăng hơn 30 bậc về chỉ số CPI, năm 2021 tăng 03 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2020. Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế tại Việt Nam là Hướng tới Minh bạch (TT) cũng khẳng định: “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong phòng, chống tham nhũng nhờ nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước”. Trước những kết quả mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, đại diện nhiều doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cũng có những đánh giá tích cực. Ông Thomas Bo Pedersen, Tổng Giám đốc Công ty Mascot Việt Nam và Lào nhận xét: “Điều này cho thấy Đảng và Chính phủ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống. Tôi cho rằng, đây là động thái đúng đắn và cho tôi hy vọng rằng tham nhũng, tiêu cực sẽ không diễn ra khi thấy Đảng và Chính phủ xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt như thế cũng như nhìn thấy hậu quả nếu tham nhũng, tiêu cực”. Ông Kenneth Atkinson, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham Vietnam) nhấn mạnh: “Tôi cho rằng những hành động mạnh mẽ này của Việt Nam rất đáng hoan nghênh, đặc biệt lần này là với ngay cả những quan chức cấp cao. Đây là một động thái tích cực và hy vọng rằng sẽ được duy trì”.
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực nhà nước, nên không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Đó là điều mà cả thế giới đều nhận thấy. Ở nước ta, mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với ý chí, quyết tâm và trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; những luận điệu sai trái cho rằng “Đảng ta không có quyết tâm chống tham nhũng”, hoặc “cơ chế một đảng lãnh đạo cầm quyền không chống được tham nhũng” nhất định sẽ không còn chỗ đứng./.
ST
Đấu tranh phòng, chống cơn lốc ma túy 'thế hệ mới' trong giới trẻ Việt Nam hiện nay
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG THỜI KỲ MỚI
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tìm kiếm, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân tài, quy tụ được trí tuệ, tài năng, đạo đức của từng cá nhân, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đó là bài học vô giá, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng để phát triển đất nước nói chung, nền công nghiệp quốc phòng nói riêng trong tình hình mới.
Kế thừa, phát triển quan điểm trọng dụng nhân tài trong lịch sử đất nước, với tư tưởng chủ đạo: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận rõ vai trò đặc biệt quan trọng của nhân tài, Người cho rằng: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”1, “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”2. Vì vậy, Người đã dành nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm, phát hiện, thu phục nhân tâm, quy tụ những người tài năng, thuyết phục nhiều nhân sĩ, trí thức cả trong và ngoài Đảng, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, động viên, khích lệ họ đem hết tài năng, đức độ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong số rất nhiều những nhân tài được Chủ tịch Hồ Chí Minh quy tụ, có những cá nhân đã đóng góp quan trọng vào phát triển ngành Quân giới. Đó cũng là nền tảng quan trọng, định hướng xuyên suốt trong thu hút, trọng dụng nhân tài, góp phần vào sự phát triển không ngừng của ngành Công nghiệp quốc phòng Việt Nam gần 80 năm qua.
Hiện nay, Đảng ta xác định: “Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trong đó phát huy nội lực là yếu tố quyết định; gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia”3. Để đạt mục tiêu này, nhân tố hàng đầu, yêu cầu cơ bản và cấp thiết là phải có được nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài nói chung, trong xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng nói riêng có ý nghĩa then chốt. Qua đó, thu hút, trọng dụng nhân tài và phát huy tốt nhất vai trò cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật, công nghệ, cán bộ chủ trì các đơn vị công nghiệp quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam thời kỳ mới. Để đạt được điều đó cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn tư tưởng trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thu hút, trọng dụng nhân tài. Trọng dụng nhân tài theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là việc sử dụng người tài vào các chức vụ quan trọng, công việc trọng yếu, mà còn được phản ánh bằng hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhân tài. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”4. Vì vậy, để xây dựng phát triển nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, hiện đại và lưỡng dụng trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, cần tập trung đột phá vào nhiệm vụ xây dựng và ban hành Luật Công nghiệp quốc phòng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, bảo đảm tính đồng bộ, đổi mới và hiệu quả; có sự phân công, phân cấp chặt chẽ trong quản lý công nghiệp quốc phòng từ Chính phủ tới các bộ, ngành, địa phương. Xây dựng và cụ thể hóa mạnh mẽ các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài tham gia xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Cùng với đó, cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng về: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững”5. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức vì nhân dân phục vụ của đội ngũ cán bộ theo Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa vụ với quyền lợi, lý tưởng với sự thụ hưởng; kết hợp giáo dục rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức với thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng, công bằng, tạo môi trường thông thoáng, lành mạnh để nhân tài phấn đấu vươn lên, cống hiến hết mình cho sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng thời kỳ mới.Hai là, trọng dụng nhân tài phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, bảo đảm tính đồng bộ, lâu dài, bền vững. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Ðảng”6. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, vấn đề chăm lo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, rèn luyện đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” luôn là sự quan tâm hàng đầu của Người. Trong bản Di chúc, Người nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”7. Vì vậy, trọng dụng nhân tài phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với thực hiện quan điểm, mục tiêu đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo. Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, nâng cao lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên của thế hệ trẻ; quan tâm xây dựng lực lượng kế cận, kế tiếp; phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh, khát vọng vươn lên của học sinh, sinh viên, nhất là con em cán bộ, đảng viên trong Quân đội, trong ngành Quân giới - Công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong nước với đào tạo cán bộ ở nước ngoài; vừa coi trọng nâng cao chất lượng đào tạo trong các nhà trường Quân đội, vừa quan tâm thu hút những sinh viên tài năng ở các trường ngoài Quân đội có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong Quân đội, sẵn sàng cống hiến cho xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Đào tạo cán bộ, bồi dưỡng trí thức, phát triển nhân tài phải công phu, tỉ mỉ, thật sự khoa học, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội; thực sự trân trọng, tin yêu, tạo điều kiện tốt nhất để cán bộ, trí thức tài năng ngày càng trưởng thành, phát triển. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ khoa học giỏi, giàu kinh nghiệm trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự để bồi dưỡng, đào tạo số cán bộ khoa học mới.
Ba là, thực hiện tốt công tác cán bộ. Trong sử dụng con người nói chung, nhân tài nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”8. Trong khi đó, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có nhiều nhân tài là cán bộ chiến lược đủ tầm tham mưu, đề xuất chủ trương, giải pháp, hoàn thiện thể chế, chính sách bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia. Phấn đấu có nhiều nhân tài là cán bộ chủ trì chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm về công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Bám sát các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn về công tác cán bộ, nhất là Nghị quyết số 283-NQ/ĐU, ngày 24/10/2016 của Đảng ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng về “Lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, thực hiện công tác cán bộ đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học có số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao. Tổng cục và các viện nghiên cứu cần chú trọng lựa chọn những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, được đào tạo cơ bản, chuyên sâu trong và ngoài nước, có trình độ và năng lực nghiên cứu để bố trí, sắp xếp bổ sung vào đội ngũ cán bộ khoa học. Chủ động rà soát, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng những tài năng khoa học trẻ. Các viện nghiên cứu bám sát tiêu chuẩn chức danh chuyên môn, kỹ thuật, kịp thời cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ phù hợp với từng chức danh, làm cơ sở, căn cứ để xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học. Có chính sách ưu đãi phù hợp đối với những cán bộ có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu có kết quả xuất sắc được ứng dụng, góp phần trực tiếp nâng cao năng suất, hiệu quả trong nghiên cứu, chế tạo và sản xuất, kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ, thiết thực để họ tiếp tục cống hiến cho Ngành, cho Quân đội.
Bốn là, tập trung nghiên cứu, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài. Đây là nhiệm vụ quan trọng, chìa khóa mở đường, tạo cơ sở khoa học vững chắc và động lực mạnh mẽ để quy tụ, tập hợp lực lượng, khơi dậy và phát huy các nguồn lực cho tìm kiếm, tạo nguồn, tuyển chọn, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong thời kỳ mới. Mục tiêu xuyên suốt là tạo sự chuyển biến đồng bộ, vững chắc về số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn lực nhân tài phục vụ Quân đội, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng; hình thành, phát triển được nhiều nhân tài là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị công nghiệp quốc phòng nòng cốt; thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân tài là nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật, công nghệ, nhất là đội ngũ công trình sư, tổng công trình sư, thiết kế trưởng, kỹ sư trưởng, công nghệ trưởng thực sự tiêu biểu về bản lĩnh, lập trường, mẫu mực về đạo đức, lối sống, có trình độ, khả năng ngang tầm với nhiệm vụ. Yêu cầu cơ bản, quan trọng đối với nghiên cứu, quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài là làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, kịp thời cung cấp luận cứ khoa học, góp phần tạo nền tảng vững chắc để Đảng, Nhà nước xây dựng, hoàn thiện chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài, mở ra một thời kỳ mới, mang tính bước ngoặt cho xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Tư tưởng trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng, còn nguyên giá trị, cần được các cấp, các ngành nghiên cứu, vận dụng hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển lâu dài, vững bền của nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong thời kỳ mới./.
ST
XÂY DỰNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI “TRÍ TUỆ, BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG, NHÂN ÁI”, XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” THỜI KỲ MỚI
Thấm nhuần lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”1 và trên cơ sở phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Quân đội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, hăng hái vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Với lực lượng khá đông đảo, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực công tác và ở các đơn vị trong toàn quân; dù ở cương vị, chức trách nào, các nữ quân nhân cũng không quản ngại khó khăn, gian khổ, nỗ lực phấn đấu để không ngừng tiến bộ, hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó. Cùng với việc nhận và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị, Phụ nữ Quân đội còn hoàn thành tốt thiên chức của người phụ nữ, thực sự là những người giữ lửa hạnh phúc gia đình, là hậu phương vững chắc; luôn xứng đáng “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” và phẩm chất tốt đẹp mà Quân ủy Trung ương khen tặng “Yêu nước, đoàn kết, sáng tạo, trung hậu, đảm đang”.Trước yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy vững mạnh về chính trị và tiêu chí, chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm cơ sở, Chương trình hành động của Phụ nữ Quân đội 05 năm (2021 - 2026) xác định tập trung xây dựng người Phụ nữ Quân đội: “Trí tuệ, bản lĩnh, kỷ cương, nhân ái”, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, người phụ nữ Việt Nam thời đại mới.
Người phụ nữ Quân đội “trí tuệ” cần có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần tích cực học tập, huấn luyện, nghiên cứu nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng cần thiết, nhất là về lĩnh vực quân sự, quốc phòng; có tư duy lý luận tốt, năng lực tổ chức thực tiễn phong phú; nhận thức đúng đối tượng, đối tác của cách mạng; đối tượng tác chiến của Quân đội ta. Tập trung rèn luyện, xây dựng tác phong, phương pháp làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc, trách nhiệm; phát huy tốt tiềm năng, sức sáng tạo và đạt hiệu quả công tác cao (tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí nhưng đạt và vượt yêu cầu về năng suất, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ), đóng góp xứng đáng vào phong trào thi đua của phụ nữ và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị. Tích cực nghiên cứu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội phụ nữ. Đồng thời, luôn gương mẫu chấp hành nghiêm các quy định về văn hóa công sở, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng với các giá trị chân - thiện - mỹ. Thường xuyên, tích cực nâng cao kiến thức, kỹ năng tổ chức tốt cuộc sống gia đình, xây dựng gia đình đạt các tiêu chí “5 không, 3 sạch”2 và đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”.
Sự dũng cảm, kiên cường, bất khuất, dám nghĩ, dám làm, làm những gì mà bản thân đặt niềm tin, dám đối mặt với thực tế, không ngại thách thức và sẵn sàng chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ là “bản lĩnh” Người nữ quân nhân - “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là tiêu chí quan trọng, là thước đo kết quả trong học tập và làm theo Bác. Bởi vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần phải phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị luôn vững vàng, động cơ phấn đấu trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong sinh hoạt, công tác phải luôn mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nghiêm khắc với bản thân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của đơn vị, của nhân dân và quốc gia, dân tộc. Thường xuyên nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo; không vụ lợi dưới mọi hình thức, không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị.
Để không ngừng nâng cao sức mạnh của Quân đội, việc thực hiện tốt hệ thống các quy định, tính kỷ luật chặt chẽ là một trong những yêu cầu tất yếu và ngày càng cao, bởi kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi quân nhân nói chung và quân nhân nữ cũng không phải là ngoại lệ. Do vậy, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội đều phải tự giác rèn luyện và đặt tiêu chí “kỷ cương” lên hàng đầu. Tiêu chí này thể hiện rõ tính đặc thù trong phấn đấu rèn luyện của hội viên phụ nữ Quân đội so với phụ nữ các lực lượng khác trong hệ thống Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Để thực hiện được nội dung tiêu chí kỷ cương, đáp ứng yêu cầu về chấp hành pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, mỗi hội viên phụ nữ Quân đội cần chủ động nghiên cứu, học tập nắm chắc những nội dung, kiến thức pháp luật, kỷ luật; tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, điều lệ, kỷ luật Quân đội, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên; nền nếp chế độ công tác, sinh hoạt, học tập, rèn luyện, lao động sản xuất của đơn vị; các quy định, nội quy nơi cư trú và những nơi sinh hoạt cộng đồng; không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy của Quân đội. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở; phát huy tốt dân chủ của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân về quân sự - chuyên môn, chính trị, kinh tế - đời sống.
Quan điểm “vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một triết lý nhân sinh cao cả, kết tinh từ những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại, là một định nghĩa đầy đủ, sâu sắc nhất về khái niệm “nhân ái”. Học tập Bác, mỗi cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội cần nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, phương châm “mình vì mọi người”, bằng những hành động, việc làm cụ thể. Thường xuyên giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; quan hệ bình đẳng, thân ái, đồng cam, cộng khổ, lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn của đồng chí, đồng đội. Đặc biệt, phải thấm nhuần quan điểm gần dân, trọng dân, tin dân, sẵn sàng xả thân vì nhân dân. Phát huy tốt truyền thống “Trung hậu, đảm đang” của Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Quân đội, tích cực tổ chức, tham gia các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, “nhân đạo, từ thiện”, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; các phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Quân đội chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” giai đoạn 2021 - 2025, chương trình “Mẹ đỡ đầu” do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động. Đồng thời, luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình; tích cực quảng bá văn hóa và du lịch Việt Nam, tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, chia sẻ những kinh nghiệm, thành tựu của Việt Nam và sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực an ninh truyền thống (hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, tái thiết đất nước,…), cũng như an ninh phi truyền thống (ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh, di cư an toàn,…); kiên quyết đấu tranh chống lại các hoạt động phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Cùng với sự tự giác, nỗ lực rèn luyện phấn đấu của cá nhân hội viên phụ nữ Quân đội theo các tiêu chí “Trí tuệ, bản lĩnh, kỷ cương, nhân ái”, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và người phụ nữ Việt Nam thời đại mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy và tổ chức phụ nữ các cấp trong toàn quân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; truyền thống tốt đẹp của Quân đội, của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Quân đội; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình thực hiện, cần đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền, bảo đảm phong phú, đa dạng, hiệu quả. Thường xuyên làm tốt công tác xây dựng, nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt trong giữ gìn, phát huy và rèn luyện các phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Quân đội trong học tập và làm theo Bác. Thực hiện tốt phong trào thi đua “Phụ nữ Quân đội trí tuệ - bản lĩnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào Thi đua Quyết thắng tại cơ quan, đơn vị bằng các chỉ tiêu, biện pháp phù hợp, có tính khả thi cao; coi đây là một biện pháp tích cực để không ngừng trau dồi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống cho mỗi cán bộ, hội viên, góp phần xây dựng Hội Phụ nữ vững mạnh. Hằng năm tổ chức cho hội viên phụ nữ đăng ký phấn đấu, đạt các tiêu chuẩn của phong trào thi đua; các tiêu chí của người phụ nữ Quân đội thời kỳ mới. Đồng thời, tích cực nghiên cứu, xây dựng và triển khai các mô hình mới phù hợp, chú trọng các mô hình cải tiến lề lối làm việc, mô hình tiết kiệm theo gương Bác, mô hình rèn luyện các phẩm chất đạo đức và xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức hội thường xuyên quan tâm coi trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời rút kinh nghiệm, điều chỉnh hình thức, phương pháp, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần để cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội luôn tỏa sáng phẩm chất cao đẹp người phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Quân đội nói riêng, xứng đáng là người “giữ ngọn lửa ấm” hạnh phúc trong mỗi gia đình; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới./.
ST