Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

 

Các yếu tố văn hóa - tâm lý trong quản lý và giải tỏa xung đột xã hội*

(LLCT) - Quá trình quản lý xung đột xã hội chịu tác động của nhiều yếu tố như: môi trường xã hội và văn hóa, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, năng lực của chủ thể quản lý, mức độ căng thẳng của xung đột, tâm thế của các chủ thể quản lý, tâm trạng xã hội, sự đầy đủ của các phương tiện và nguồn lực, trong đó không loại trừ các công cụ bạo lực. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố văn hóa - tâm lý. Các yếu tố này vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tận dụng tốt vai trò của yếu tố này trong bối cảnh xung đột xã hội, sẽ góp phần cho việc quản lý xung đột hiệu quả hơn.


Xung đột xã hội luôn tồn tại trong quá trình phát triển xã hội, nhưng mỗi loại xung đột cụ thể lại do những nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, quá trình quản lý, giải tỏa xung đột không chỉ là giải quyết những nguyên nhân đó mà còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác. Trong đó, yếu tố văn hóa - tâm lý đóng vai trò đặc biệt.

- Các giá trị, các chuẩn mực, các quy tắc ứng xử và các biểu tượng của văn hóa

Xã hội bao giờ cũng là một chỉnh thể chứa đựng trong bản thân nó toàn bộ các mối quan hệ: con người - thiên nhiên, con người - con người, cá nhân - cộng đồng, nhà nước - công dân...và các cấu trúc mang tính tổ chức: các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội; các giai cấp, tầng lớp, các cộng đồng, các nhóm... mà ở đó luôn tồn tại các mâu thuẫn: nhận thức, nhu cầu, lợi ích, vị thế và quyền lực, v.v.. 

Các mâu thuẫn đó có thể dẫn đến xung đột, xung đột tồn tại như là một cách thức giải quyết mâu thuẫn, và được dẫn dắt bởi văn hóa, diễn ra trong một không gian (môi trường) văn hóa nhất định. Mỗi dân tộc (nation), tộc người (ethnic) có một nền văn hóa và một bản sắc văn hóa riêng; trên nền tảng văn hóa và bản sắc đó, lại hình thành một “tiểu văn hóa” của các nhóm nhỏ hơn, như các địa phương, các cộng đồng, nhóm người, các chủ thể quản lý và tham gia quản lý xung đột, trong đó có đội ngũ công chức nhà nước...

Văn hóa được cụ thể hóa thành hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quy tắc ứng xử, các biểu tượng... mà các cá nhân, cộng đồng, tộc người, dân tộc... theo đuổi, tuân thủ, tôn trọng. Vì vậy, văn hóa có sức mạnh đặc biệt đối với tư duy và hành động, nhận thức và hành vi của cá nhân, cộng đồng trong các bối cảnh xung đột. Xung đột xã hội vừa có nội dung văn hóa, bởi nó là thuộc tính của quá trình vận động và phát triển của xã hội; vừa có nội dung phi văn hóa, vì trong những những tình huống xung đột, thường có những hành vi vượt ra ngoài chuẩn mực pháp luật và đạo đức, chuẩn mực và quy tắc ứng xử trong đời sống văn hóa. Tính phi văn hóa tăng lên, khi xung đột xã hội chỉ xuất phát từ những mâu thuẫn, những đối lập có tính chủ quan, tưởng tượng hoặc ảo tưởng (phi thực tế), nhằm thực hiện những đòi hỏi, yêu sách phi lý, không hợp pháp, không chính đáng. Những hành vi phi văn hóa sẽ giảm đi, sẽ được kiềm chế tối đa trong xung đột, nếu biết tạo ra một bối cảnh văn hóa của xung đột, định hướng tới tính phổ quát Chân, Thiện, Mỹ.

Trong quá trình quản lý và giải tỏa xung đột xã hội, việc phân loại xung đột và xác định đúng diễn biến, các giai đoạn phát triển của xung đột xã hội có ý nghĩa rất lớn. Phân loại đúng đắn hay không phụ thuộc vào năng lực quản lý xung đột, tức nhờ vào tri thức, kỹ năng và thái độ của các chủ thể xung đột và quản lý xung đột. Năng lực quản lý xung đột xã hội, như là một trình độ của văn hóa chính trị, khi nó giúp cho việc xác định kịp thời các loại hình xung đột, từ tính chất, quy mô cho đến các lĩnh vực và mức độ. Trên cơ sở đó, có thể áp dụng các phương thức quản lý, giải tỏa phù hợp. Chủ thể quản lý xung đột xã hội được coi là có năng lực, khi nhận thức được tính chất, đặc điểm của các loại hình, các quy mô của xung đột; nắm chắc diễn biến, tính chất của các giai đoạn xung đột: từ giai đoạn ngấm ngầm đến giai đoạn công khai, căng thẳng, đối đầu, không tương dung giữa các bên xung đột; có kỹ năng giải tỏa phù hợp, hiệu quả, với một thái độ khoa học, khách quan.

Văn hóa nói chung, văn hóa chính chính trị nói riêng, cung cấp cho nhà quản lý xung đột các chỉ báo về mức độ căng thẳng của xung đột xã hội, làm cơ sở cho việc lựa chọn các phương pháp quản lý. Trong một tình huống xung đột, nhờ quan sát và đánh giá được sự xói mòn, vi phạm, xúc phạm, coi thường, đảo lộn các giá trị (dân chủ, pháp quyền, chủ quyền quốc gia...), các chuẩn mực các quy tắc ứng xử (thượng tôn pháp luật, lợi ích quốc gia trên hết, bình đẳng sắc tộc và tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận...) các biểu tượng (quốc ca, quốc kỳ...) bị xúc phạm, bị đảo lộn, bị coi thường, bị bỏ qua... mà nhà quản lý có thể đánh giá được xung đột đang ở giai đoạn nào?  

Các phương pháp quản lý và giải tỏa xung đột đúng, có ý nghĩa quyết định thành công của quản lý và giải tỏa xung đột xã hội. Cách biểu hiện của văn hóa trong các xung đột có tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn các phương thức quản lý. Chỉ có sự thấu hiểu văn hóa, chúng ta mới có thể chọn các phương thức phù hợp. Văn hóa chính trị đề cao chủ nghĩa cá nhân và văn hóa chính trị đề cao chủ nghĩa cộng đồng sẽ ảnh hưởng lớn đến cách lựa chọn phương thức quản lý xung đột. Giá trị văn hóa hiện đại, dưới tác động của chủ nghĩa duy lý, khoa học và công nghệ cao, hội nhập và bao dung văn hóa... sẽ làm nền tảng và nhân lõi cho suy nghĩ đúng và hành động hợp lý của chủ thể quản lý và giải tỏa xung đột.

- Tâm trạng xã hội là trạng thái tinh thần của xã hội, là hệ thống các phẩm chất tâm lý - xã hội đặc thù (cá nhân, cộng đồng, v.v..), thể hiện thông qua chất lượng, số lượng, cường độ các xúc cảm, ý chí, niềm tin...Tâm trạng xã hội được hình thành một cách trực tiếp trên cơ sở các bản sắc văn hóa, và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ kinh tế, chính trị, thông tin, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội... Quan trọng nhất khi nhận biết tâm trạng xã hội là các khuynh hướng hành vi và sắc thái cảm xúc của xã hội: Tích cực, tiêu cực; lạc quan, bi quan; ổn định, rối loạn... 

Tâm trạng xã hội có khả năng gợi mở, xác định và phán xét các đặc tính ẩn giấu trong thế giới tinh thần của các chủ thể xung đột và tạo điều kiện cho việc lý giải các loại hình tinh thần đặc biệt của chủ thể. Cuối cùng, nó giải thích phương thức hành vi và hoạt động đặc thù của chủ thể xung đột. Nó quyết định tính chất đặc biệt tích cực hoặc tiêu cực, tính khuynh hướng của xung đột xã hội.

Tâm trạng xã hội có được, nhờ sự kết nối và tương tác liên cá nhân các xúc cảm và sự đánh giá xung đột, thông qua nhiều kênh thông tin, từ tin đồn, mạng xã hội, truyền thông xã hội, đến các kênh, các cơ quan phát ngôn chính thức của nhà nước... Sự tương tác liên cá nhân đó, một mặt, giúp chúng ta biết được thực chất nguyên nhân, động cơ, mục đích của xung đột; nó cũng là công cụ đo lường các mức độ căng thẳng cũng như hiệu quả quản lý, giải tỏa xung đột, nhất là của các cuộc xung đột cường độ cao (các “điểm nóng”). Mặt khác, nó cảnh báo về tâm trạng “đám đông”, hoặc quá khích, do sự liên kết này tạo nên.

Nếu như văn hóa có thể cung cấp các chỉ báo về mức độ căng thẳng của xung đột, thì tâm trạng là hàn thử biểu thông qua sự hài lòng của các bên liên quan, đo lường xu hướng phát triển của xung đột và hiệu quả của quản lý, giải tỏa xung đột. Nếu các bên xung đột có được một tâm trạng xã hội tích cực, khi xung đột xảy ra, bản thân các chủ thể xung đột, ở mức độ nào đó, cũng có thể tự quản lý, giải tỏa xung đột.

- Tâm thế xã hội(1) là tổng hợp các yếu tố tri thức, niềm tin, bản lĩnh và cảm xúc... từ đó tạo nên một tầm nhìn và cách thức ứng xử của các chủ thể xã hội (một cá nhân, nhóm, hay cộng đồng).

Trước một hiện tượng xã hội nói chung, xung đột xã hội nói riêng, mỗi dân tộc, cộng đồng, mỗi cá nhân đều có cách ứng xử khác nhau. Trong các cách ứng xử khác nhau đó, bao giờ cũng có một cách ứng hợp lý, hợp tình, ứng xử tối ưu. Muốn có cách ứng xử tối ưu phải có được “tâm thế” để có thể quyết định hoặc đánh đổi giữa điểm mạnh và điểm yếu, giữa “được” và “mất”. Tâm thế lúc đó biểu hiện ra như các chuẩn mực văn hóa tối ưu, mang tính sáng suốt, minh triết. Nó xuyên qua những “cái có thể”, như bất hợp lý trong sự hợp lý, mất cân đối trong sự hài hòa, tạm thời trong lâu dài... để tìm ra một giải pháp mang tính sáng suốt, đúng nhất, phù hợp nhất với bối cảnh xung đột. Như vậy, tâm thế xã hội là kết quả tổng hợp của các hoạt động sáng tạo tinh thần của con người. 

Tâm thế xã hội giúp định hình chuẩn mực hành vi của các chủ thể xung đột, hoặc các chủ thể tham gia quản lý, giải tỏa xung đột. Tâm thế xã hội phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh văn hóa và “tiểu văn hóa” của môi trường xã hội, nơi xung đột đang diễn ra.

Trên thực tế, cùng một điều kiện vật chất, kinh tế, kỹ thuật và nguồn lực như nhau, nhưng tâm thế xã hội khác nhau đã thúc đẩy các hành động khác nhau và cho kết quả hoàn toàn khác nhau. Cũng trên một cơ sở văn hóa nền tảng, trong cùng một bối cảnh, nhất là bối cảnh thách thức, khó khăn, phức tạp, bất lợi... người có tâm thế, thường có khả năng xây dựng cho mình nền tảng tri thức rộng, niềm tin vững chắc, bản lĩnh vững vàng, xúc cảm chân thực... để đề ra các mục tiêu bao quát, có tầm, hướng thiện, có giá trị; vạch ra các phương châm và cách thức hành động hiệu quả, thiết lập các chuẩn mực hành vi rõ ràng. Vì thế, họ dễ dàng hơn khi vượt qua khó khăn, dễ dàng hơn trong việc đạt được các mục tiêu.

Khi một tâm thế tiêu cực chi phối, một quốc gia, một cộng đồng, một nhóm xã hội hay một cá nhân, thường có thái độ tự ti, thiếu tự tin, tiêu cực, cô lập, dao động... không giám suy nghĩ và hành động, từ đó, tự vô hiệu hóa, hoặc thu hẹp vai trò của mình trong đời sống xã hội nói chung, trong tình huống xung đột nói riêng; không phát huy hết các lợi thế vốn có về năng lực và nguồn lực để đạt mục tiêu. Tâm thế có thể gợi mở các tiềm năng, có khả năng phát hiện đặc điểm của tính tích cực, tìm ra đáp án tối ưu cho các câu hỏi: Tại sao lại xảy ra hành động của cá nhân, tập thể này? Tại sao hành động này mang tính chất này? Tại sao chủ thể xung đột lại lĩnh hội các hiện tượng, hành động bằng cách kia? Tại sao người ta lôi kéo được đông đảo quần chúng tham gia xung đột? Tại sao lại nảy sinh những yêu sách quá đáng? Tâm thế xã hội cung cấp các cách thức có tính tối ưu cho các chủ thể quản lý xung đột nhận biết những vấn đề của xung đột và lựa chọn, áp dụng các phương pháp quản lý phù hợp: Đối thoại, hợp tác, đàm phán, trung gian hòa giải, hay sử dụng bạo lực...

Nhờ có tâm thế xã hội, các chủ thể quản lý, mới có thể thấy rằng, cho dù vẫn tồn tại những bất đồng về quan điểm, lợi ích... chính các giá trị văn hóa là những yếu tố rõ ràng và mạnh mẽ nhất, kết nối các bên đối lập của xung đột. Từ đó, có thể mở đường cho những hiểu biết lẫn nhau, đối thoại và xây dựng cơ chế giải tỏa xung đột.

Khi có tâm thế, các chủ thể quản lý xung đột có điều kiện hiểu được những nét đặc sắc, nắm được chỗ yếu, chỗ mạnh, những đòi hỏi riêng tư, những góc khuất sâu xa của xung đột xã hội. Nắm được toàn bộ tình hình đó, có nghĩa là đã nắm được bí mật của những xung đột xã hội. Nó giúp cho các chủ thể quản lý và giải tỏa xung đột xã hội nắm được toàn cục, xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và phương tiện, thực hiện quy trình quản lý phù hợp.

Trong quản lý xung đột, có được tâm thế, tức có được tầm nhìn toàn diện, có kiến thức phong phú, sâu sắc về tâm trạng, về lối sống; nhạy cảm trước độ “nóng” hay mức độ, căng thẳng gay gắt, các cách phản ứng, các yêu sách của chủ thể xung đột. Từ đó định hình các tác nhân của xung đột, bản chất của xung đột, ngăn chặn sự nảy sinh xung đột, làm chủ tình hình khi tình huống xung đột nổ ra; kiểm soát được những ý đồ, hành vi quá khích của các bên, không để xung đột lây lan, căng thẳng thêm.

- Động cơ của các chủ thể tham gia xung đột

Hoạt động của con người bao giờ cũng do động cơ thúc đẩy nhằm thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích nhất định. Không có một hoạt động nào của con người mà không có động cơ. Các nhu cầu của con người tạo ra động cơ cho họ hành động, nhằm thỏa mãn các nhu cầu từ thấp đến cao. Có thể hiểu được động cơ của con người thông qua những mong muốn và mục đích hành động của họ. Động cơ của các chủ thể tham gia xung đột là lực thúc đẩy trực tiếp đến hành vi xung đột của các chủ thể xung đột và có thể đạt được một mục đích thông qua xung đột hoặc giải tỏa xung đột. Động cơ của các chủ thể tham gia xung đột biểu hiện rất khác nhau:

Thứ nhất, động cơ tích cực là động cơ của những người có mong muốn, dự định, kế  hoạch, cách thức hành động cụ thể nhằm làm cho các mối quan hệ xã hội thoát khỏi tình trạng trì trệ yếu kém, muốn cho mọi mặt hoạt động trong cộng đồng có hiệu quả cao hơn, bầu không khí tâm lý lành mạnh hơn. Động cơ tích cực có thể dẫn đến xung đột khi gặp phải sự cản trở của những nhân tố tiêu cực.

Thứ hai, động cơ tiêu cực là những xung đột chủ yếu xuất phát từ các mục đích ích kỷ, cục bộ, vụ lợi, phi thực tế, thường được biểu hiện dưới dạng cơ bản như tranh giành ảnh hưởng, lợi ích, quyền, vị thế cá nhân, nhóm...mà không tính tới sự tương quan với cá nhân và nhóm khác, thậm chí coi thường và xâm phạm đến lợi ích, quyền và vị thế của cá nhân khác, nhóm khác.

- Tính cách của chủ thể tham gia xung đột

Tính cách là sự kết hợp độc đáo, cá biệt những đặc điểm tâm lý tương đối ổn định, bền vững của cá nhân, cộng đồng và được thể hiện một cách có hệ thống trong các hành vi, hành động, cử chỉ của con người. Tính cách còn là sự biểu hiện cụ thể của thế giới quan và nhân sinh quan, là bộ mặt đạo đức của con người. Thực tiễn cho thấy sự khác biệt quá lớn về những nét tính cách giữa các cá nhân trong nhóm, hoặc các cộng đồng trong xã hội có thể là nguyên nhân gây ra xung đột tâm lý trong mối quan hệ giữa họ.

Tính cách của các chủ thể tham gia xung đột biểu hiện rất khác nhau thông qua hệ thống thái độ, hành vi của các bên đối với phía bên kia và đối với chính mình trong xung đột. Thái độ đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Nếu chủ thể tham gia xung đột có những bất đồng, mâu thuẫn về nhận thức, quan điểm, động cơ, mục đích, lợi ích... nhưng vẫn thể hiện thái độ hành vi tích cực đối với đối phương như: tôn trọng đối phương, mong muốn giúp đỡ đối phương thay đổi nhận thức và quan điểm; có lòng độ lượng, vị tha; sẵn sàng thỏa hiệp, nhượng bộ khi cần thiết (tâm thế tích cực)...  thì có thể làm giảm bớt cường độ của xung đột cũng như rút ngắn thời gian diễn ra xung đột. Ngược lại nếu chủ thể tham gia xung đột là người cố chấp,  ích kỷ, có tư tưởng cục bộ, tự cao, tự đại, không tôn trọng lợi ích và giá trị của đối phương, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của đối phương bằng mọi giá, nhằm giành phần thắng trong các cuộc xung đột (tâm thế tiêu cực) thì xung đột xã hội, dưới những tác động của yếu tố tâm lý, không những bị tăng cường về cường độ và tính chất gay gắt của xung đột, mà còn làm kéo dài về thời gian, khó có thể giải tỏa.

- Năng lực của các chủ thể tham gia xung đột

Ở trên, chúng ta đã đề cập đến năng lực như là một biểu hiện của trình độ phát triển văn hóa. Ở đây, năng lực trong cách tiếp cận tâm lý học, là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, của cộng đồng hoặc tổ chức phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. Năng lực của con người luôn ảnh hưởng tới quá trình xung đột và quản lý xung đột. Năng lực của con người được biểu hiện ở nhiều mặt nhưng chủ yếu được biểu hiện tập trung ở tri thức, kỹ năng và thái độ. Trong quản lý xung đột xã hội, năng lực các bên tham gia xung đột chính là sự hiểu biết của họ về tình huống xung đột, tri thức về quản lý xung đột, kỹ năng tương tác giữa các bên trong quản lý xung đột và thái độ đối với việc quản lý giải tỏa xung đột đó.

Việc nắm vững tình huống xung đột, tri thức về quản lý xung đột sẽ giúp cho con người hiểu rõ công việc, nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ và đạt hiệu quả cao trong mọi nhiệm vụ quản lý xung đột mà nhóm đặt ra. Mặt khác, việc hiểu rõ con người, nắm chắc được đặc điểm tâm, sinh lý, nhu cầu, nguyện vọng của họ sẽ giúp cho người lãnh đạo có những cách tác động phù hợp nhằm tạo dựng lòng tin, gây quan hệ thiện cảm với mọi người, qua đó hạn chế tối đa các va chạm, mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân. Quản lý và giải tỏa xung đột xã hội là một quá trình xã hội phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng thông thường, đặc biệt và đặc thù. Thái độ công bằng, khách quan, khoa học, không vụ lợi là đòi hỏi nghiêm túc đối với các chủ thể quản lý, giải tỏa xung đột.

- Cảm xúc của các chủ thể tham gia xung đột

Bất cứ một xung đột xã hội nào cũng gây ra ở các cá nhân những cảm xúc tiêu cực như buồn rầu, phiền muộn, khổ tâm, ghen tức, giận dữ, sợ hãi, tuyệt vọng... Ở trong các trạng thái cảm xúc tiêu cực, sự suy nghĩ và hành động của con người trở nên hẹp hòi, ích kỷ, chủ quan, thiếu tế nhị, thậm chí thô bạo trong tương tác xã hội. Lúc này con người ta dễ tỏ ra nhẫn tâm, dễ có hành vi bạo lực, xúc phạm tới nhân cách người khác...

Những cảm xúc, tình cảm lạc quan, vui vẻ, yêu đời của các chủ thể trong xung đột không chỉ sẽ tạo ra sự phối hợp giữa các bên trong nhận thức và giải tỏa xung đột, mà còn tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực chung, giúp cho việc giải tỏa xung đột hiệu quả. Ngược lại, có thể làm tăng thêm mâu thuẫn, va chạm.

- Tổn thương tâm lý của các bên trong xung đột xã hội

Tác động tiêu cực về mặt tâm lý do các xung đột xã hội mang lại ảnh hưởng đến cả bên chiến thắng lẫn bên thất bại. Các kết quả của xung đột xã hội có thể để lại hậu quả trực tiếp, gián tiếp và dài hạn. Khi xung đột xảy ra, mỗi bên sẽ nỗ lực để làm thiệt hại tối đa các giá trị cả vật chất và tinh thần của đối thủ. Quá trình tìm kiếm các cách thức và phương tiện, công cụ để đạt được mục tiêu đó (hay chống lại việc đạt được mục tiêu đó của phe đối lập) có thể dẫn đến bất đồng chính kiến, ngay trong nội bộ mỗi bên, tạo ra sự chia rẽ và phân rã sức mạnh của các bên, tạo ra áp lực và ức chế lớn ngay cả khi giành chiến thắng.

Nếu một bên trong xung đột bị thất bại, bên đó sẽ bị tổn thương nặng nề về tâm lý tùy theo mục tiêu và tính chất cuộc đấu tranh. Nhưng ngay cả khi bên giành chiến thắng, các phương tiện được sử dụng trong cuộc đấu tranh, có thể để lại hậu quả cho chính người sử dụng. Kết cục của bên thất bại cũng là một điều ám ảnh đối với bên thắng lợi. Điều này đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp xung đột đã ở mức độ cao (đối đầu, không tương dung). Dù việc sử dụng các phương tiện cưỡng chế, thậm chí bạo lực được biện minh là để phục vụ cho mục tiêu chung, nhưng hậu quả về tâm lý để lại cho cả bên thắng lợi và bên thất bại đều sẽ rất nặng nề. Những trải nghiệm đó có thể ảnh hưởng đến quan điểm, thậm chí thế giới quan của những người liên quan.

- Mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa - tâm lý trong quản lý xung đột xã hội.

Rõ ràng, các yếu tố văn hóa, tâm lý có mối quan hệ lẫn nhau. Chúng có thể làm tiền đề cho nhau, thâm nhập và giao thoa vào nhau, tạo nên một nhân tố mang tính tích hợp văn hóa - tâm lý. Sự phân chia các yếu tố văn hóa, tâm lý và các yếu tố cấu thành của chúng cũng chỉ tương đối.

Nếu như giá trị văn hóa chính là trình độ tiên tiến của cuộc sống, của lối sống, chúng là cẩm nang và công cụ cho chủ thể quản lý và giải tỏa xung đột hiểu đúng và sâu đời sống hiện tại của các bên xung đột, thì tâm trạng xã hội giúp nắm bắt được suy nghĩ, mong muốn, đặc biệt là động cơ, cảm xúc, tính cách của chủ thể xung đột. Trong các mâu thuẫn, xung đột, khi các bên cùng chia sẻ các giá trị văn hóa, người ta hiểu biết nhau hơn, thông cảm với nhau hơn, từ đó đi đến đồng thuận. Trên cơ sở tâm thế, các chủ thể làm nhiệm vụ giải tỏa xung đột mới có thể hành động với tầm văn hóa của mình, tránh được các động cơ thiên vị, nhỏ nhen, ích kỷ... mới có thể khách quan, công minh, đấu tranh cho công lý và chân lý. Không có văn hóa thì cũng không có tâm thế; không thể nói đến động cơ, tâm trạng, tính cách, cảm xúc...Làm sao có thể có thỏa hiệp, đồng thuận, thông cảm cho nhau giữa các bên xung đột nếu không có những giá trị văn hóa chung, không có năng lực và cảm xúc?

Kết luận:  Có thể nói, nắm vững yếu tố văn hóa - tâm lý trong giải tỏa xung đột là cần thiết. Tùy tính chất, quy mô loại hình xung đột để xác định vai trò chính yếu hay thứ yếu của nó trong quản lý, giải tỏa xung đột. Yếu tố văn hóa - tâm lý có sức mạnh đặc biệt trong việc nắm bắt suy nghĩ và quản lý hành vi con người, và có sức mạnh lâu dài, được lựa chọn trước hết, hơn là giải pháp vũ lực. Hệ giá trị văn hóa sẽ là vũ khí lợi hại trong quá trình quản lý và giải tỏa xung đột xã hội, nhất là đối với những xung đột xã hội mà các bên xung đột đều có văn hóa cao.

Khi văn hóa xã hội đã chuyển từ văn hóa áp đặt, mệnh lệnh, hành chính từ phía các cơ quan công quyền và văn hóa bất phục tùng, tùy tiện từ phía công dân sang văn hóa đối thoại, văn hóa hòa giải, thì việc quản lý xung đột xã hội sẽ rất hiệu quả. Lúc đó, tâm trạng xã hội trong tình huống xung đột chủ yếu sẽ bao trùm sự tin tưởng vào hệ thống quản lý, vào hệ thống pháp luật, vào nhà nước pháp quyền và công lý. Với một tâm trạng xã hội tích cực như vậy, tâm thế của các chủ thể xung đột và quản lý xung đột chắc chắn sẽ khách quan, công minh và sáng suốt hơn. Việc quản lý giải tỏa xung đột xã hội sẽ hiệu quả hơn.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2020

* Bài báo này và bài Chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa và phát triển (số 5-2019) là kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp nhà nước: “Quản lý xung đột xã hội và điểm nóng chính trị - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, Mã số 13/17 CTDT 16-20, do GS, TSKH Phan Xuân Sơn làm Chủ nhiệm.

(1) Có thể tìm khái niệm tự trong tiếng Anh mentality, tiếng Nga: Менталитет. Xem thêm: Gubanov N.I và Gubanov N.N  (2014), trên tạp chí : Историческая психология и социология истории. Том 7, номер 2, https://www.socionauki.ru/journal.

nguồn : GS, TSKH Phan Xuân Sơn

TS Nguyễn Thị Thanh Dung

Viện Chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Những cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

(LLCT) - Là một đảng mácxít - lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã luôn kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam để xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn...Nhờ đó, Đảng ta luôn làm tròn sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; đồng thời còn có những đóng góp to lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Từ khóa: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngay tại Hội nghị thành lập Đảng, Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã xác định cách mạng Việt Nam liên hệ mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới: “Trong khi khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp thế giới”(1). Trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng nêu rõ: “Cách mạng An Nam không bị cô lập, trái lại nó được giai cấp vô sản thế giới nói chung và giai cấp vô sản Pháp nói riêng ủng hộ”(2).

Chính sự “kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân” đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam không những làm tròn sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc, mà còn có những đóng góp to lớn đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, thể hiện cả về lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:

1. Đóng góp về lý luận

Xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời phát triển, bổ sung lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nêu ra một số luận điểm đã được Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển và bổ sung vào kho tàng lý luận Mác - Lênin như:

Phát triển lý luận Mác - Lênin về con đường cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản giai đoạn tự do cạnh tranh, C. Mác dự báo rằng, cách mạng vô sản trước hết sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở một loạt các nước tư bản phát triển tiên tiến nhất ở châu Âu. Khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, đế quốc, V.I. Lênin cho rằng, cách mạng vô sản không nhất thiết nổ ra ở những nước tư bản phát triển nhất, mà “có thể thắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa”(3). Bên cạnh đó, V.I.Lênin còn khẳng định, khi mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc trở thành một mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay, cách mạng vô sản không chỉ là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản, mà “đó sẽ là cuộc đấu tranh của tất cả các thuộc địa và tất cả những nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, của tất cả các nước phụ thuộc chống lại chủ nghĩa đế quốc quốc tế”(4). Do vậy, giai cấp vô sản ở các nước tư bản chính quốc cần phải liên minh với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Từ đó, V.I.Lênin phát triển khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” của C.Mác thành “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Với góc nhìn của người dân thuộc địa, lại chứng kiến các phong trào yêu nước Việt Nam lần lượt thất bại, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước mới cho dân tộc mình sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về những vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin (7-1920). Tin theo V.I. Lênin vì cho rằng đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”(5), Người còn khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6). Không những tin tưởng vào sự đúng đắn của lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa sau khi hoàn thành sẽ từng bước đi tới xã hội cộng sản. Cương lĩnh của Đảng năm 1930 do Hồ Chí Minh soạn thảo đã chỉ rõ tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản(7). Thực tế cách mạng Việt Nam đã đi theo đúng tiến trình được Hồ Chí Minh vạch ra là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống thực dân, đế quốc, phong kiến, đi thẳng lên CNXH, bỏ qua chủ nghĩa tư bản với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội.

Phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về mối liên hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc. Do những hạn chế của bối cảnh lịch sử, C.Mác, Ph.Ăngghen chưa bàn về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và mối liên hệ của nó với cách mạng vô sản thế giới. V.I.Lênin là người đầu tiên đặt ra mối quan hệ hữu cơ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Tuy nhiên, V.I.Lênin cho rằng, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa cần sự giúp đỡ của cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển. Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản (3-1919) cũng cho rằng, công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể thắng lợi khi cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước chính quốc thắng lợi.

Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, từ tình hình cách mạng thế giới và từ kinh nghiệm hoạt động phong phú và với nhãn quan sắc bén của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm mới về mối quan hệ này. Một mặt, Người xem sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản như con đỉa hai vòi, một vòi bám vào giai cấp vô sản chính quốc, vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa(8). Và do đó, trong cuộc đấu tranh của mình, cách mạng vô sản chính quốc và cách mạng giải phóng thuộc địa tất yếu có mối liên hệ gắn bó mật thiết, thúc đẩy lẫn nhau như “hai cánh của một con chim”. Mặt khác, Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa có tính độc lập, bình đẳng, không phụ thuộc hoàn toàn vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà thậm chí “vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa...”(9). Vì vậy, Người cho rằng, cách mạng ở thuộc địa không được thụ động, trông chờ vào cách mạng ở chính quốc mà cần tự lực cách sinh, cần tiến hành chủ động, độc lập, sáng tạo, tự đứng lên giải phóng mình và cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng giành thắng lợi ở một nước thuộc địa, trước cách mạng vô sản ở chính quốc và qua đó góp phần thúc đẩy cách mạng vô sản ở chính quốc. Ngay trong bản Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa năm 1921, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định công cuộc giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực của bản thân họ(10). Sau đó, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (1927), Người một lần nữa chỉ rõ: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(11). Với tư tưởng đó, trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc giải phóng và kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi trọng trước hết việc phát huy tinh thần độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(12). Đây thực sự là một bổ sung, phát triển có giá trị của Hồ Chí Minh đối với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thắng lợi của cách mạng ở một số nước thuộc địa càng khẳng định sự cống hiến của Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. 

Phát triển lý luận Mác - Lênin về xử lý mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc, giữa giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc trong công cuộc giải phóng ở các nước thuộc địa. Trong học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp vô sản được đặt lên hàng đầu, coi giải phóng giai cấp là điều kiện, tiền đề cho giải phóng các dân tộc, còn vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc được nhìn nhận như hệ quả của giải phóng giai cấp, phụ thuộc vào kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp vô sản. Theo C.Mác, “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”(13). Tuy nhiên, chính các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cũng đã cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản là mang tính thế giới, nhưng cuộc đấu tranh ấy lại gắn với quốc gia dân tộc cụ thể, và vì thế giai cấp vô sản phải hoàn thành sứ mệnh với dân tộc mình trước đã. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”(14). Do vậy, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(15).

Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, học thuyết Mác được xây dựng trên bối cảnh lịch sử cụ thể của châu Âu, mà châu Âu thì “chưa phải là toàn thể nhân loại”(16). Người phê phán sự máy móc, giáo điều trong nhận thức học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác “mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(17). Hồ Chí Minh cho rằng, lý luận mácxít về đấu tranh giai cấp và mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc khi vận dụng vào các xã hội thuộc địa phương Đông cần phải được bổ sung, phát triển “bằng dân tộc học phương Đông”(18). Theo đó, Người chỉ ra sự cần thiết phải xem xét sự khác nhau cơ bản giữa phương Tây với phương Ðông về điều kiện kinh tế và kết cấu xã hội - giai cấp. Ở các nước thuộc địa, phong kiến phương Đông, giai cấp công nhân còn nhỏ yếu, mâu thuẫn giữa giai cấp giữa tư sản và vô sản chưa rõ rệt, nổi bật, trong khi mâu thuẫn chính, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân, đế quốc và thế lực phong kiến tay sai bán nước. Vì vậy, nhiệm vụ trung tâm, đặt lên hàng đầu cho cách mạng ở các nước thuộc địa là giải quyết mâu thuẫn dân tộc, đó là đấu tranh chống đế quốc, thực dân xâm lược để giải phóng đất nước, giành độc lập cho dân tộc. Về vấn đề này, theo Hồ Chí Minh: “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi bộ phận, giai cấp đến vạn năm sau cũng không đòi lại được”(19). Tuy vậy, Người cũng nhấn mạnh, cuộc đấu tranh dân tộc đó gắn với cuộc đấu tranh giai cấp, là một bộ phận của cách mạng vô sản, dựa trên ý thức hệ của giai cấp công nhân, do đội tiên phong của nó là đảng cộng sản lãnh đạo, có sự liên hệ chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới, với giai cấp vô sản ở chính quốc và khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải phát triển thành xã hội chủ nghĩa thì cuộc cách mạng mới giành được thắng lợi hoàn toàn(20).  

- Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bổ sung và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về đảng cách mạng và lực lượng cách mạng trong bối cảnh cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Bàn về quy luật ra đời của các đảng mácxít, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của các nước tư bản châu Âu, V.I.Lênin đã khái quát công thức: Đảng cộng sản = Chủ nghĩa Mác + Phong trào công nhân. Tuy nhiên, xuất phát từ bối cảnh xã hội - giai cấp đặc thù của Việt Nam và của các nước thuộc địa phong kiến, nơi mà phân hóa giai cấp, đấu tranh giai cấp chưa rõ rệt, nơi mà giai cấp công nhân còn nhỏ bé về số lượng, non yếu về chất lượng, nơi mà chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước, Hồ Chí Minh cho rằng, việc ra đời của các Đảng Cộng sản ở các dân tộc thuộc địa vì thế phải là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước mang tính dân tộc của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân để giải phóng đất nước. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng, đảng vừa đại diện cho lợi ích giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Với cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, và “quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một”(21). Năm 1961, một lần nữa Người khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”(22). Những luận điểm về sự ra đời của đảng vô sản và mối quan hệ giữa đảng với dân tộc là sự bổ sung, phát triển rất đặc sắc của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam cho học thuyết về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở các nước thuộc địa và phụ thuộc và đây cũng là một cống hiến về lý luận cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế.

2. Đóng góp về thực tiễn

2.1. Có thể khẳng định rằng, cống hiến lớn đầu tiên và bao trùm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế về mặt thực tiễn là bài học sâu sắc về phương pháp nhận thức, học tập, tiếp thu và thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin. Đối với những người cộng sản và cách mạng chân chính, trong khi học tập và thực hành lý luận mácxít phải luôn sáng tạo, đổi mới và phát triển, không ngừng làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tránh rơi vào giáo điều xơ cứng, không rơi vào lập trường tả khuynh, hữu khuynh hay tuyệt đối hóa, thần thánh hóa C.Mác, V.I.Lênin. Việc nhận thức giáo điều, tả khuynh, thậm chí là độc quyền chân lý trong nhận thức và thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin ở một số người cộng sản và một số đảng cộng sản là nguyên nhân chính dẫn đến sự bất hòa, chia rẽ trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế những năm 50-70 thế kỷ XX. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến chủ nghĩa Mác, CNXH hiện thực trở nên xơ cứng, thiếu động lực để phát triển và hệ quả là sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Tấm gương tiếp thu và thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là bài học lịch sử, vừa có ý nghĩa thời đại sâu sắc đối với những người cách mạng trong bối cảnh phong trào cộng sản, công nhân quốc tế hiện nay.

2.2. Một cống hiến khác về thực tiễn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế là việc tìm ra con đường cứu nước và chỉ ra phương pháp cách mạng đúng đắn cho các dân tộc thuộc địa bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải phóng, hiện thực hóa thành công lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào bối cảnh của một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam. Những thành quả vĩ đại, mang tầm vóc thời đại của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là những kinh nghiệm có ảnh hưởng lan tỏa rộng lớn và sâu sắc tới cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức, góp phần thức tỉnh, khơi dậy, thúc đẩy, cổ vũ các phong trào yêu nước, cách mạng ở các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ở Á-Phi-Mỹ Latinh đứng lên giải phóng mình, giành lấy tự do và độc lập dân tộc, dẫn tới sự tan rã và sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa mà chủ nghĩa thực dân cũ đã tồn tại hàng trăm năm, góp phần to lớn làm thay đổi sâu sắc bộ mặt thế giới trong thế kỷ XX.

2.3. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi phong trào cách mạng thế giới nói chung, phong trào cộng sản, công nhân quốc tế nói riêng đang tạm thời lâm vào thoái trào, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện tình đoàn kết quốc tế của mình, tiếp tục có những đóng góp cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Trong khi triển khai đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: “củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các Đảng Cộng sản và Công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, với các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới”. Trong 4 phương châm chỉ đạo xử lý các vấn đề quốc tế thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định phương châm đầu tiên là: “Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân”.

Trung thành với của nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt kể từ đầu thập niên 90 trở lại đây, bằng các hoạt động cụ thể của mình nhằm góp phần khôi phục phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ trên thế giới đấu tranh thực hiện mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tuy tình hình thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh diễn biến phức tạp và môi trường hoạt động của từng Đảng Cộng sản ở mỗi nước là không giống nhau, nhưng với tư cách đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam và các Đảng Cộng sản, Công nhân trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế luôn thể hiện sự thống nhất với nhau trong nhiều vấn đề về tư tưởng, chính trị trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên trì đấu tranh vì những mục tiêu mang tính thời đại, cùng hướng tới mục tiêu, lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, xây dựng CNXH. Chính sự thống nhất về cơ bản tư tưởng chính trị và mục tiêu chiến lược là tiền đề khách quan thuận lợi tạo nên mối quan hệ hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Cộng sản, Công nhân trong phong trào cộng sản quốc tế trước đây cũng như ngày nay, thể hiện tính tất yếu và sự trong sáng của chủ nghĩa quốc tế vô sản của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã chứng minh rằng, mỗi thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam chống thực dân đế quốc trước đây, trong sự nghiệp đổi mới để từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH hiện nay không chỉ là nguồn động viên, cổ vũ đối với các lực lượng cộng sản trên thế giới mà còn là một cống hiến quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế vì mục tiêu của thời đại.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới (1986) cũng là thời điểm CNXH hiện thực đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng gay gắt nhất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Trong điều kiện phong trào cách mạng lâm vào thoái trào, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục được củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và mục tiêu CNXH, không ngừng nâng cao vị thế và ảnh hưởng quốc tế của mình là một minh chứng sinh động về sự đóng góp của Đảng ta đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Việc trụ vững của Đảng Cộng sản Việt Nam và việc kiên định mục tiêu XHCN là nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Không những thế, việc Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, trước hết là lý luận Mác - Lênin, trên cơ sở đó mà xây dựng đường lối chiến lược, sách lược để từng bước quá độ lên CNXH, thích ứng với những biến đổi của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam được xem như là bước đột phá góp phần tăng cường sức sống của CNXH, có ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào cộng sản, công nhân quốc tế.

Tuy mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, sự thể hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân của Đảng ta mang những hình thức có khác nhau, nhưng về tổng thể, sự đoàn kết, hợp tác trên tinh thần đồng chí anh em với các Đảng Cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế được xác định như một nguyên tắc cốt yếu trên mặt trận đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự hiện diện đông đảo đại biểu các Đảng Cộng sản của nhiều nước trên thế giới tại các Đại hội VII, VIII, IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc Đảng ta tổ chức đăng cai Hội nghị lần thứ 17 các Đảng Cộng sản và Công nhân năm 2016 cũng như sự tham dự của đoàn đại biểu Đảng ta tại các đại hội của nhiều Đảng Cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế là một biểu hiện cụ thể chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Không những thế, trong những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam còn tích cực tham gia các cuộc gặp gỡ quốc tế thường niên giữa các Đảng Cộng sản, Công nhân như ở Aten (Hy Lạp), ở Síp, ở Beclin, hoặc các cuộc hội thảo khoa học, diễn đàn Sao Paolô của các lực lượng cánh tả Mỹ

Latinh và thế giới... Thông qua đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bày tỏ quan điểm, lập trường đối với nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra trước những người cộng sản cũng như đối với toàn bộ phong trào cộng sản, công nhân quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Cùng với những vấn đề lý luận mang tính phố biến, việc Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề đặt ra đối với cách mạng Việt Nam như về thời kỳ quá độ và con đường đi lên CNXH từ một nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam; về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; về kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế... đều là những kinh nghiệm quý báu mà các Đảng Cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế có thể tham khảo và vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước mình, đồng thời cũng là nguồn bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin.

90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Có được những thắng lợi đó, ngoài nhân tố mang tính quyết định là sức mạnh nội lực, còn có sự đóng góp quan trọng của nhân tố quốc tế - thời đại, trong đó có sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân của các Đảng Cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, với tư cách là một mácxít-lêninnít chân chính và là một đảng cầm quyền lãnh đạo cả nước quá độ lên CNXH, hơn lúc nào hết, Đảng ta cần thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân của mình trong việc hợp tác, giúp đỡ các Đảng Cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2020

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr.5, 16.

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, t.26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.447.

(4) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.370.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.289.

(6), (9), (16), (18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.9, 295, 510, 510.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.93-95.

(8) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 320.

(10) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.138.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.320.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.596.

(13), (14), (15) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 624, 611, 623-624.

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.312.

(19) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.113.

(20) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.392.

(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.41.

(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.275.

nguồn : PGS, TS Phan Văn Rân

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ với Cách mạng Việt Nam và quê hương Long An

(LLCT) - Nhân dịp kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Hữu Thọ (10/7/1910 - 10/7/2020), nguyên Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, sáng 6-7-2020, tại Trung tâm phục vụ Hội nghị tỉnh Long An, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Quốc hội và Tỉnh ủy Long An tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia:“Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Long An” . Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng trích đăng bài phát biểu Đề dẫn Hội thảo của GS, TS NGUYỄN XUÂN THẮNG, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.



Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, (bí danh Ba Nghĩa), sinh ngày 10-7-1910 trong một gia đình công chức tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Tiếp thu truyền thống yêu nước của các anh hùng dân tộc trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, như: Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân... đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã tích cực tham gia các phong trào đấu tranh vì độc lập của dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Trải qua gần 50 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã được giao đảm trách nhiều chức vụ lãnh đạo quan trọng của Nhà nước, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trên mọi cương vị công tác, đồng chí luôn thể hiện tinh thần cách mạng tiến công, làm việc tận tụy, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Đồng chí là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương đạo đức mẫu mực: tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - một nhân cách lớn, tiêu biểu cho giới trí thức Việt Nam.

Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác; được Nhà nước Liên Xô tặng Giải thưởng quốc tế V.I. Lênin và Huân chương Hữu nghị vì sự nghiệp củng cố hòa bình giữa các dân tộc; Nhà nước Cuba tặng Huân chương Đoàn kết - chiến đấu; Nhà nước Bungari tặng Giải thưởng Đimitrốp; Hội đồng hòa bình thế giới tặng Huân chương Joliot Curie.

...

Những hoạt động và cống hiến của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đối với cách mạng Việt Nam là rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực. Tại Hội thảo khoa học hôm nay, đề nghị các quý vị đại biểu, các nhà khoa học tập trung thảo luận, làm sâu sắc thêm một số nội dung chủ yếu sau đây.

1. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Tấm gương một trí thức yêu nước nhiệt thành

Sinh ra trên vùng đất Long An - quê hương của những anh hùng dân tộc, đặc biệt là Nguyễn Trung Trực, với câu nói nổi tiếng: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì dân Nam mới hết người đánh Tây". Phát huy truyền thống anh dũng, kiên cường của các bậc tiền nhân, với nhiệt huyết yêu nước, mong muốn học hành để phục vụ đất nước, khi mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương sang du học tại Pháp. Sau nhiều năm miệt mài học tập, năm 1932, Nguyễn Hữu Thọ tốt nghiệp Cử nhân Luật hạng ưu. Có tài năng và trí tuệ hơn người, ông được nhiều trường đại học và văn phòng luật sư danh tiếng ở Pháp mời làm việc. Nhưng với mong muốn đem kiến thức giúp dân, giúp nước, sau hơn 12 năm tu nghiệp, Nguyễn Hữu Thọ đã trở về Tổ quốc; hoạt động luật sư và trở nên nổi tiếng khắp Nam Kỳ.

Trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (11-1940), tận mắt chứng kiến  sự đàn áp dã man của chính quyền thực dân đối với những người yêu nước và nhân dân vô tội, càng khâm phục lòng yêu nước, tinh thần hy sinh anh dũng, ý chí kiên cường và lý tưởng cao đẹp của những người cộng sản; đồng thời, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ càng nhận rõ bản chất thâm độc, tàn bạo, tội ác man rợ của chính quyền thực dân. Những tấm gương hy sinh anh dũng của các đảng viên cộng sản và đồng bào ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã tác động mạnh mẽ đến tâm tư tình cảm của một trí thức yêu nước nhiệt thành.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Là người trí thức yêu nước, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ hân hoan chào đón ngày độc lập và sẵn sàng đóng góp sức lực, trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam mới. Nhưng thực dân Pháp chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đã nổ ở Sài Gòn và nhanh chóng lan ra khắp Nam Bộ.

Là người được đào tạo bài bản trong các nhà trường của Pháp, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được chính quyền thực dân ưu ái bằng chức quyền, tiền bạc, nhằm mua chuộc, lôi kéo, để phục vụ nhà nước Pháp(1). Nhưng tiếng gọi trái tim và tình cảm của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã dành cho đồng bào ruột thịt của mình. Bước ngoặt trong cuộc đời và hoạt động cách mạng của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là chuyến đi thăm “bưng biền” (năm 1946), Luật sư đã gặp gỡ và bị thuyết phục bởi những bạn bè cùng giới trí thức tham gia kháng chiến và các tầng lớp nhân dân đã dũng cảm hy sinh vì nền độc lập, tự do của đất nước... Kể từ đây, toàn bộ trí tuệ, sức lực hoạt động, cống hiến của Luật sư gắn liền với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc.

Năm 1947, theo sự phân công của Đảng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã từ chức Chánh án Tòa án dân sự tỉnh Vĩnh Long, lên Sài Gòn hoạt động trong Ban trí vận của Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí đã trực tiếp tham gia các phong trào đấu tranh yêu nước của giới trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn do Mặt trận Liên Việt lãnh đạo, tiêu biểu là sự kiện gửi Bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn (4-1947), làm dấy lên một phong trào đòi hòa bình của giới trí thức và các tầng lớp nhân dân ở Việt Nam và Pháp. Vừa đấu tranh công khai, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vừa trực tiếp làm luật sư bào chữa cho nhiều cán bộ cách mạng, điển hình là vụ biện hộ thành công vụ án những người trong tổ chức Liên - Việt Thành phố Sài Gòn(2), bảo vệ công lý và chính nghĩa cho tinh thần yêu nước nhiệt thành của những chiến sỹ cách mạng. Nói về tinh thần yêu nước của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quả là một nhà trí thức yêu nước vĩ đại”; là người "tiêu biểu cho lòng yêu nước nồng nàn và dũng cảm của trí thức miền Nam"(3).

2. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, người cộng sản kiên trung, mẫu mực - Nhà lãnh đạo tài năng của cách mạng Việt Nam

Cuối năm 1949, tại Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Theo sự phân công của Đảng, đồng chí tiếp tục ở lại nội thành Sài Gòn, tận dụng vị trí hợp pháp để hoạt động công khai trong lòng địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Sài Gòn, đồng chí đã tích cực vận động giới nhân sĩ, trí thức tham gia phong trào đấu tranh đòi mở rộng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Sài Gòn và các địa phương ở Nam Bộ. Đặc biệt, sau sự kiện kẻ địch đàn áp cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên Sài Gòn - Chợ Lớn, (tháng Giêng năm 1950), giết hại học sinh Trần Văn Ơn, đồng chí đã vận động giới nhân sĩ, trí thức Sài Gòn đứng ra phát động cuộc đấu tranh rộng khắp trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên miền Nam và cả nước lên án hành động khủng bốcủa chính quyền địch, đòi tự do, dân chủ. Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Ban Trí vận, các giới đồng bào đã có cuộc biểu tình quy mô lớn, đấu tranh phản đối sự có mặt của 2 tàu chiến Mỹ neo đậu ở cảng Sài Gòn. Đây là cuộc đấu tranh chính trị đầu tiên của nhân dân ta phản đối xâm lược Mỹ ở miền Nam.

Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đối với nhân sĩ, trí thức và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, thực dân Pháp nhiều lần dụ dỗ, mua chuộc, mời Luật sư tham gia làm Bộ trưởng trong chính quyền thân Pháp, nhưng đều bị đồng chí từ chối. Thấy không hiệu quả, chính quyền thực dân đã ra lệnh bắt Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đưa về giam ở bót Catina, rồi chuyển sang Khám Lớn (Sài Gòn). Sau đó, kẻ địch đưa Luật sư Nguyễn Hữu Thọ ra tòa xét xử, nhưng trước những lập luận đanh thép của Luật sư và những người biện hộ, tòa án thực dân hoàn toàn đuối lý, phải trả tự do cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và những người cùng bị bắt.

Biết rõ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng, ngày 13-4-1950, dù không đủ chứng cứ, cảnh sát Sài Gòn vẫn ra lệnh bắt Luật sư tại nhà riêng và đưa Luật sư đi đày biệt xứở tại bản Giẳng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - nơi có khí hậu khắc nghiệt, bốn bề núi đá, giao thông cách trở, hòng cách ly Luật sư với nhân dân, làm nhụt ý chí người trí thức yêu nước. Tuy nhiên, mưu đồ thâm độc của chính quyền thực dân không lay chuyển được ý chí cách mạng của người đảng viên cộng sản. Sau hơn 2 năm ở bản Giẳng, chính quyền địch đưa Luật sư về giam ở Sơn Tây. Đến tháng 11-1952, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được trả tự do và ngay lập tức, đồng chí lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng. Lo sợ ảnh hưởng ngày càng lớn của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đối với phong trào cách mạng miền Nam, nhất là đối với giới nhân sĩ trí thức, ngày 15-11-1954, chính quyền Sài Gòn lại bắt giam và đưa đồng chí đi lưu đày ở miền núi Củng Sơn, (Tuy Hòa, Phú Yên).  

Trong hơn 10 năm bị bắt, bị giam cầm trong các nhà tù và nơi giam giữ của chính quyền địch, cho dù kẻ thù dùng đủ mọi thủ đoạn mua chuộc, cám dỗ, kết hợp với tra tấn, đánh đập dã man... nhưng đồng chí vẫn tỏ rõ tinh thần kiên trung, bất khuất, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ khí tiết của người đảng viên cộng sản; giữ vững niềm tin ở thắng lợi cuối cùng.

Sau khi được bí mật giải thoát ra vùng giải phóng (11-1961), tại Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (2- 1962), đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đến tháng 6-1969, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cử làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bằng uy tín và tài năng, luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã quy tụ, tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức, tôn giáo và các tầng lớp nhân dân miền Nam đi theo cách mạng; hình thành nên “lực lượng thứ ba”, tích cực đấu tranh cho mục tiêu: hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời, quân và dân miền Nam giành nhiều thắng lợi to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi đất nước thống nhất, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 6-1976); Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4-1980); Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 7-1981); Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (11/1988). Trên các cương vị lãnh đạo, đồng chí yêu cầu các cấp lãnh đạo chính quyền, đoàn thể phải sâu sát thực tiễn, có phương pháp làm việc dân chủ; mở rộng và phát huy dân chủ XHCN song phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Là người lãnh đạo cao nhất của Quốc hội, với trí tuệ uyên bác, sự am hiểu trên nhiều lĩnh vực, nhất là tinh thông ngành Luật, đồng chí đã có đóng góp to lớn trong việc chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và nhiều bộ luật quan trọng của Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới. Theo đồng chí: "Pháp luật xã hội chủ nghĩa không chỉ là sản phẩm của ý định cai trị, mà còn phải chứa đựng trong lòng nó những nhân tố hiện thực mà chính cuộc sống tới mức độ nào đó mới đủ sức đặt ra với ý nghĩa là điều cam kết trong quá trình sản xuất và đời sống cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên"(4).

Đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi đã 78 tuổi, nhưng đồng chí Nguyễn Hữu Thọ vẫn dành nhiều thời gian, tâm huyết trong các buổi tiếp xúc với giới trí thức, tôn giáo; đi xuống nhiều tỉnh trung du, miền núi trong cả nước để thăm hỏi bà con các dân tộc ít người và tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, từ đó tập hợp, vận động họ tham gia các đoàn thể quần chúng. Cùng với việc nắm bắt tình hình, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn trong công tác Mặt trận, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ còn kịp thời đề xuất với Đảng và Nhà nước đổi mới cơ chế, chính sách và giải pháp xây dựng, củng cố Mặt trận ngày càng vững mạnh. Với tầm nhìn xa, trông rộng, với tư duy sắc bén của một trí thức uyên bác và tâm trong sáng, hết lòng vì nước, vì dân, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã có đóng góp xứng đáng vào việc vun đắp, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng và phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới.

3. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Người học trò trung thành và kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Do điều kiện chiến tranh nên chưa một lần được gặp Bác Hồ, nhưng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ luôn dành sự kính trọng đặc biệt với Chủ tịch Hồ Chí Minh - người thầy cách mạng vĩ đại của mình. Đồng chí nói: "Trong cuộc đời mỗi người có những điều may mắn khác nhau. Với tôi, điều may mắn cũng là điều hạnh phúc lớn nhất là được đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người dẫn dắt từ khi lớp thanh niên trí thức chúng tôi còn bàng hoàng trước ngã ba đường trong đêm dài nô lệ"(5); “... tư tưởng sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn thắp sáng trong tâm hồn tôi, soi đường cho tôi hoạt động cách mạng"(6).

Lòng kính yêu, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đồng chí Nguyễn Hữu Thọ mài dũa ý chí, nghị lực và niềm tin để vượt qua những ngày gian khổ trong tù đày, cũng như những giờ phút khó khăn, nguy hiểm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Xuất phát từ lòng yêu nước, thương yêu đồng bào, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đã đến với con đường cách mạng vô sản,độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - con đường mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, trở thành một nhà cách mạng chân chính - một đảng viên cộng sản ưu tú, một nhà lãnh đạo tài năng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Mặt trận, người học trò trung thành, người kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

4. Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - người con ưu tú của quê hương Long An

Là một người con của vùng sông nước Vàm Cỏ và miệt vườn Bến Lức - Long An, những phẩm chất cao đẹp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được nuôi dưỡng bởi truyền thống trung dũng, kiên cường của quê hương. Dù phải xa quê, đi du học từ rất sớm, nhưng quê hương đối với đồng chí Nguyễn Hữu Thọ là một phần máu thịt, mỗi vùng quê, mỗi tên làng, tên đất, tên sông, luôn hiện hữu trong ký ức của người con xa xứ. Sau này, khi nhắc lại kỷ niệm về quê hương,gia đình, đồng chí nói: "Trong những năm du học bên Pháp, tôi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ dòng sông, con kênh, nhớ tiếng còi tàu, còi hang xáng âm vang sớm chiều... Trên đất Pháp, sống bên cạnh những ông Tây bà đầm sang trọng, tôi càng trăn trở với câu hỏi: Vì sao quê hươngmình còn nghèo quá, đồng bào mình còn khổ quá như vậy? Tôi tự nhủ mình ráng học cho giỏi rồi đem hiểu biết của mình làm một điều gì có ích cho nước, có lợi cho dân"(7).

Truyền thống quê hương đã nuôi dưỡng, giáo dục, góp phần hình thành nhân cách đạo đức cách mạng, hướng đồng chí Nguyễn Hữu Thọ đi theo con đường cách mạng đấu tranh cho độc lập, tự do, thống nhất đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, tên tuổi, sự nghiệp và nhân cách cao đẹp của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - một trí thức yêu nước, một người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng, đãcó những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, góp phần tô đậm, làm rạng danh thêm những trang lịch sử hào hùng của vùng đất Long An trung dũng kiên cường. Nói về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một người đồng chí, một người con của Nam Bộ thành đồng đã khẳng định: "Đồng chí là sự kết hợp tuyệt vời giữa phẩm chất hiên ngang, hào hiệp và giản dị của người con vùng đất Nam Bộ với đức tính cần trọng, khiêm nhường của một nhà trí thức chân chính"(8).

Học và làm theo tấm gương đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Đảng bộ và nhân dân Long An đang nỗ lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, thi đua lập nhiều thành tích, tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, nhất là Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020-2025), tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

...

Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Đồng chí là hiện thân của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc; một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; có tác phong, lối sống giản dị, khiêm tốn; suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng ta khẳng định: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là một trí thức yêu nước, một nhà hoạt động chính trị và xã hội mà tiếng tăm vươn khỏi ranh giới quốc gia, là một luật sư tài năng, một ngọn cờ tập hợp quần chúng đầy uy tín, một người Việt Nam trung hiếu, một nhân cách khả kính”(9). Tấm gương đạo đức sáng ngời, sự nghiệp hoạt động cách mạng vẻ vang và công lao to lớn đối với Đảng và dân tộc ta của đồng chí Nguyễn Hữu Thọ xứng đáng được ghi nhớ, tôn vinh, học tập và noi theo bởi các thế hệ hôm nay và mai sau.

__________________

(1) Như việc chính quyền thực dân Pháp đã bổ nhiệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chánh án tòa án dân sự tỉnh Vĩnh Long

(2) Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã trực tiếp biện hộ cho các đồng chí Hoàng Xuân Bình, Kỹ sư Trương Công Phòng, Dược sư Phạm Hữu Hạnh (Chủ tịch Mặt trậnLiên Việt Sài Gòn - Chợ Lớn) và 22 nhà trí thức trong Ban Chấp hành Liên Việt ở Sài Gòn.

(3) Đánh giá của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, in trong sách:Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Người con tận trung với nước, tận hiếu với dân, Sđd, tr.376.

(4) Luật sư Nguyễn Hữu Thọ:Gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng, Sđd, 258.

(5), (6) Nguyễn Hữu Thọ:Theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hình tượng Bác Hồ trong Gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng, Sđd, tr.17; 32

(7) Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Hành trình yêu nước. Sđd,  tr. 51.

(8)Võ Văn Kiệt: Điếu văn..., Sđd, tr.16.

(9) Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, do Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

 

Lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người và phát triển con người toàn diện gắn với thực hành dân chủ, pháp quyền

(LLCT) - Ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của C.Mác về con người, quyền con người, phát triển con người toàn diện để giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người và phát triển con người toàn diện gắn với thực hành dân chủ, pháp quyền nhằm giữ gìn, phát huy pháp chế, kỷ cương xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.



1. Tư tưởng của C.Mác về con người, quyền con người và phát triển con người toàn diện

Với việc xác lập phạm trù con người hiện thực là điểm xuất phát cho các quan điểm, học thuyết của mình,  C. Mác đã thấy rõ vị trí chủ thể xã hội của con người trong đời sống xã hội. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm, học thuyết về con người trong lịch sử tư tưởng, C.Mác đã đi tới một tư tưởng thống nhất về con người, quyền con người và phát triển con người toàn diện gắn với thực hành dân chủ - giữ gìn pháp chế, kỷ cương xã hội ở những khía cạnh chính như sau:

Một là, xuất phát từ những cá nhân hiện thực để tìm hiểu về con người và sự tha hóa của nó

Theo C.Mác, trước tiên phải có cách tiếp cận hiện thực về con người. Ông khẳng định không thể hiểu được con người bằng những quan niệm duy tâm tư biện và trừu tượng theo kiểu “ý niệm tuyệt đối” của G.W.F.Hêghen (1770-1831); hay xem con người là “cái phát sinh của Thượng đế” của L.Phoiơbắc (1804-1872). C.Mác đã nhận thấy khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy tâm và duy vật trước đó là không thấy đời sống con người có tính chất thực tiễn. Theo ông, “chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là phải chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình. Sự tranh cãi về hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy”(1). Hoạt động thực tiễn “không phải là tiền đề tùy tiện, không phải là những giáo điều;... những tiền đề ấy có thể kiểm nghiệm được...”(2). Nó có thể tạo lập được sự phù hợp giữa những thay đổi của hoàn cảnh với biến đổi ý thức con người và là yếu tố cần thiết để con người “làm cho hoàn cảnh có tình người”.

C.Mác cho rằng, con người là một tồn tại sinh động, đa diện; vừa là con người nhục thể, vừa là con người tinh thần. Con người hiện thực hay con người xã hội, trước tiên là con người đang lao động sản xuất ra của cải vật chất. Bản chất con người, kể cả mặt tự nhiên và xã hội của nó, được biểu hiện rõ nhất trong quá trình lao động, đặc biệt là lao động công nghiệp. Theo ông, cần xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của con người mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy(3).  Con đường thật sự dẫn đến “con người hiện thực” là phải xuất phát từ cái “tôi” cá nhân mang tính kinh nghiệm, nhưng không phải để dẫm chân ở cái tôi thể xác bằng xương bằng thịt ấy, mà phải rút ra cái phổ biến; và chỉ trên cơ sở đó, các cá nhân mới không đơn giản là các cá nhân cá thể, mà trở thành cá nhân con người hiện thực với đúng nghĩa của nó(4).

Theo C.Mác, những vấn đề thực tế về quyền con người chỉ xuất hiện khi hình thành chủ nghĩa tư bản; “... giai cấp tư sản đã bắt đầu nền thống trị của nó. Nhân quyền không chỉ tồn tại trên lý luận nữa”(5). Quyền con người “droits de L’homme, khác với droits du citroyen (quyền công dân) chẳng qua chỉ là những quyền của thành viên xã hội công dân, nghĩa là của con người vị kỷ tách khỏi bản chất cộng đồng người”(6).  Dưới chủ nghĩa tư bản (CNTB), quyền sở hữu tư nhân được phát triển thành nhân quyền(7). CNTB đã “quy con người, một mặt, thành thành viên của xã hội công dân, thành cá nhân vị kỷ, độc lập,  và mặt khác, thành công dân của nhà nước, thành pháp nhân”(8).  

Từ đó, C.Mác phê phán quan điểm của G.F.Hêghen về mô hình cá nhân - nhà nước trong xem xét quyền công dân. Bởi lẽ, về nguyên tắc, quyền của cá nhân và quyền của xã hội phải thống nhất với nhau. Muốn xem xét và đánh giá quyền của cá nhân cần phải thông qua quyền của xã hội. C.Mác viết: “Hiển nhiên khi những cá nhân là những người mang chức năng về quyền lực nhà nước thì những cá nhân đó phải được xem xét căn cứ theo phẩm chất xã hội của họ, chứ không phải căn cứ theo phẩm chất tư nhân của họ”(9). Như vậy, phương thức hợp lý để thực hiện nhân quyền ở đây là phương thức hay mô hình nhân quyền cá nhân - xã hội. Có thể nói đây là mô hình nhân quyền tổng quát, khả thi để triển khai và đánh giá các quyền cụ thể của cá nhân cũng như của xã hội trong thực tế cuộc sống. Cho nên, theo C.Mác, trước tiên phải thực hiện sự giải phóng chính trị, để con người không chỉ không chỉ quan hệ với nhà nước, mà hướng đến  “xã hội công dân” hay xã hội loài người.

Hai là, bản chất con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội và trong hoàn cảnh nào cũng không thể tách khỏi cộng đồng, xã hội

Với quan điểm đó, C.Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(10). Bởi vì, bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với con người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một  khâu liên hệ con người với con người, mới là tồn tại của con người đối với người khác và tồn tại của người khác đối với người đó, mới là nhân tố sinh hoạt của hiện thực con người; chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới biểu hiện ra như là cơ sở của tồn tại có tính chất người của bản thân con người(11).

Phương diện tự nhiên của con người không chỉ giới hạn ở việc xem xét nguồn gốc của loài người, mà nó thẩm thấu vào tính cá thể và cả tính loài người trong thể thống nhất hữu cơ tự nhiên - xã hội - con người. Như vậy, hai phương diện tự nhiên và xã hội tồn tại trong tính thống nhất với nhau, quy định lẫn nhau tạo thành cơ sở hiện thực cho sự tồn tại của mỗi con người. Nhưng với tư cách là người, con người xác lập phương diện xã hội của mình ngày càng rõ hơn và bền vững hơn. Bởi lẽ, trong quá trình lao động, con người phải cải biến giới tự nhiên và sáng tạo ra những điều kiện đảm bảo cho sự sinh tồn của bản thân mình và thể hiện sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên. Con người tiến hành lao động sản xuất không phải với tư cách những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là những thành viên của cộng đồng và xã hội. Con người dù trong hoàn cảnh nào cũng không thể tách khỏi cộng đồng và xã hội, vì “con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”(12). 

Ba là, con người vừa là sản phẩm của quan hệ xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử trong quá trình giải phóng, phát triển con người toàn diện

Con người là sản phẩm của những hoàn cảnh, nhưng con người cũng làm thay đổi hoàn cảnh. C.Mác khẳng định: “Toàn bộ cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo của con người, kinh qua lao động của con người, sự sinh thành tự nhiên cho con người”(13). “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy”(14).

Tính tích cực của con người, theo quan điểm duy vật lịch sử, nhìn chung không thoát ly khỏi tính quy định của tồn tại hiện thực của con người. Tính tích cực của con người đối với tồn tại xã hội chỉ được phát huy khi con người được giải phóng và phát triển. Giải phóng, phát triển con người, như C.Mác nhấn mạnh, là giải phóng người lao động thoát khỏi lao động bị tha hóa(15);  là “bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ nó trả thế giới con người, những quan hệ của con người về với bản chất con người, những quan hệ của con người về với bản thân con người”(16).

Bốn là, quyền con người không phải là bẩm sinh mà được sản sinh ra trong lịch sử và “giành lấy dân chủ” để từng bước bảo đảm quyền con người cho đại đa số thành viên xã hội nhằm phát triển con người toàn diện

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quyền con người tư sản và phê phán các tư tưởng về quyền con người trong xã hội tư sản, như thuyết nhân quyền tự nhiên,  thuyết nhân quyền thực chứng và tư tưởng của CNXH không tưởng về quyền con người, C.Mác đã xây dựng thế giới quan khoa học mới về quyền con người là chủ nghĩa duy vật biện chứng nhằm xem xét một cách thống nhất giữa thuộc tính tự nhiên và xã hội của bản chất con người cũng như giữa lý luận và thực tiễn của quyền con người và phát triển con người toàn diện.

C.Mác khẳng định: phương thức sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng kinh tế và làm phát sinh, phát triển các mối quan hệ xã hội của con người, như đạo đức, chính trị, nhà nước, pháp luật và quyền con người. Từ đó, ông đánh giá cao quan điểm của Hê-ghen cho rằng, “nhân quyền không phải là bẩm sinh mà được sản sinh ra trong lịch sử”(17).  Theo C.Mác, quyền con người chẳng qua chỉ là những quyền của thành viên xã hội công dân, nghĩa là của con người vị kỷ tách khỏi bản chất cộng đồng người(18). Quyền con người được luật pháp hóa thì thành quyền công dân theo nguyên tắc: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”(19). “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định”(20); tương ứng với những thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì có quyền khác nhau. Nghĩa là, quan niệm về quyền con người không bất biến, mà có tính lịch sử và biến đổi trong lịch sử.

Nhưng dưới CNTB, quyền sở hữu tư nhân được phát triển thành nhân quyền(21); và tính giai cấp của quyền con người được bộc lộ ra một cách sâu sắc. Quyền con người trước tiên là “ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật pháp”. Đồng thời, quyền con người cũng là kết quả phát triển trong xã hội và thành tựu đấu tranh của con người được nhà nước và xã hội thừa nhận dưới hình thức pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Quyền con người dưới CNTB là một tiến bộ lớn trong lịch sử nhân loại, nhưng mới chỉ là các quyền vị kỷ gắn với cá nhân con người, là sự giải phóng con người về chính trị, nhưng chưa toàn diện và chưa triệt để. Do sự hạn hẹp của “pháp quyền tư sản”, nên quyền con người chỉ là đặc quyền của một thiểu số thành viên xã hội.

Để bảo đảm một cách thực tế và toàn diện quyền con người, C.Mác khẳng định phải lấy con người làm trung tâm theo quan điểm: “Xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho một cá nhân riêng biệt”(22), do đó phải đấu tranh cho dân chủ nhằm bảo đảm quyền cho mỗi cá nhân; và coi việc “giành lấy dân chủ”, đặc biệt quyền lực nhà nước, là mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng XHCN. Khi giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trở thành giai cấp thống trị, sẽ đẩy mạnh xã hội hóa các quan hệ sản xuất và thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ, để từng bước bảo đảm các quyền con người cho đại đa số thành viên xã hội. Đây là tiền đề bắt buộc để từng bước thực hiện mục tiêu cao nhất của xã hội loài người là phát triển con người toàn diện nhằm bảo đảm “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(23).

2. Về thực hiện mối quan hệ giữa lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người và phát triển con người toàn diện gắn với thực hành dân chủ, pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn phát triển của thế giới và đất nước, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội giữ vai trò trực tiếp thúc đẩy sự kết nối giữa việc “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm quyền con người với phát triển con người toàn diện.

Sở dĩ như vậy là vì phát triển kinh tế - văn hóa dựa trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, có khả năng huy động các nguồn lực vật chất, tinh thần cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Do đó, mối quan hệ này liên quan chặt chẽ với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chủ trương “giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển” mà Đảng xác định là tương thích nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, bao trùm cũng như định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Vì thế việc thực hiện tốt mối quan hệ này cũng tức là hoàn thành nhiều mục tiêu cơ bản và quan trọng được đặt ra trong Cương lĩnh 2011, như(24): (i) “...Kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; (ii) “Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”; (iii) “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững”; (iv) “hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”.

Thực tế trong thời gian qua, việc giải quyết mối quan hệ này đã được tích cực triển khai trên thực tế thông qua việc ban hành và thực hiện các luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình và chính sách phát triển về kinh tế thị trường định hướng XHCN, tăng cường tạo việc làm mới, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, trên cơ sở trao nhiều quyền sản xuất - kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới - sáng tạo,... cho doanh nhân, người lao động, nhất là thanh niên, phụ nữ ở cả nông thôn và đô thị, nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa gắn với phát triển con người dựa trên quyền con người. Văn hóa truyền thống, văn hóa của các dân tộc thiểu số được chú trọng bảo tồn và đầu tư phát triển, góp phần tích cực vào khẳng định giá trị, bản sắc của văn hóa Việt Nam. Quyền sáng tạo và tham gia vào đời sống văn hóa, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được tôn trọng và bảo vệ trên thực tế. Một số mô hình, thiết chế, phong trào văn hóa, như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với mô hình làm giàu, khởi nghiệp, giảm nghèo bền vững,... đã được hình thành, triển khai khá sâu rộng. 

Kinh tế tăng trưởng liên tục trong hơn 30 năm qua giúp Việt Nam từ một nước kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp và đang phấn đấu đến năm 2030 thành nước có thu nhập trung bình cao với tầm nhìn đến năm 2045 thành một quốc gia phát triển hiện đại theo định hướng XHCN. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ nghèo chung cả nước còn 5,23%; cận nghèo là 4,59%; tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được giữ ở mức thấp và có xu hướng giảm dần. Mức độ bất bình đẳng tính theo hệ số Gini dựa trên chi tiêu có xu hướng giảm, đồng thời với việc tạo nhiều việc làm mới. Tiến bộ của bình đẳng giới được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực với tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội, các cấp chính quyền và doanh nghiệp khá cao. Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ tốt trong phát triển con người, với tăng trưởng trung bình của Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức 1,36% trong suốt giai đoạn 1990 - 2018. Hiện Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước về chỉ số HDI (0,63); chỉ cần thêm 0,007 điểm để ra nhập nhóm nước có HDI ở mức cao. Chỉ số đổi mới - sáng tạo liên tục tăng trong những năm vừa qua. Năm 2018 tăng 3 bậc lên vị trí 42, đứng đầu trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

Tuy vậy, việc giải quyết mối quan hệ này còn một số hạn chế, bất cập, như:  tỷ lệ tăng trưởng chưa ổn định và chưa cao để có thể tạo ra sự đột phá trong phát triển của nền kinh tế; hiệu quả sử dụng các nguồn lực, trước hết là nguồn lực nhà nước chưa cao. Bất bình đẳng thu nhập vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng giữa nhóm người giàu nhất với thấp nhất cũng như giữa đô thị với nông thôn. Tỷ lệ nghèo tính theo cách tiếp cận đa chiều vẫn ở mức cao, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; hiện còn chênh lệch về thu nhập giữa nam và nữ đối với cùng một loại công việc. Lao động nữ chiếm phần lớn trong các ngành nghề thuộc khu vực phi chính thức, nên có thu nhập thấp, môi trường làm việc chưa đảm bảo và thiếu ổn định. Từ đó dẫn đến chênh lệch ngày càng lớn giữa lao động nam và nữ trong tiếp cận đào tạo nghề, đặc biệt là ở nhóm dân tộc thiểu số. Khả năng tiếp cận giáo dục đối với trẻ em thuộc diện hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế...

Muốn thực hiện được mục tiêu phát triển con người toàn diện phải “dựa vào dân” hay “lấy con người làm trung tâm”. Nhưng nếu không có sự tham gia chủ động, tích cực của người dân thì không thể đạt được mục tiêu đó. Nói cách khác, việc bảo đảm quyền tham gia nói riêng và quyền con người nói chung của người dân là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa khâu “lấy con người làm trung tâm” với mục tiêu phát triển toàn diện của mỗi con người. Từ đó có thể khái quát quy trình giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phải là: Lấy con người làm trung tâm - Bảo đảm quyền con người - Phát triển con người toàn diện.

Tuy nhiên, thực tế vừa qua cho thấy, việc “lấy con người làm trung tâm” gắn với bảo đảm quyền con người và việc thực hành dân chủ XHCN gắn với nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước pháp quyền XHCN đang được xây dựng, hoàn thiện vẫn còn có những hạn chế, yếu kém. Hệ quả là thực thi dân chủ có biểu hiện chưa rõ về nội dung, thể chế và cách thức tổ chức thực hiện nên có nơi, có lúc trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội chưa nghiêm; cùng với những hiện tượng phức tạp, bức xúc trong xã hội và những thái độ, hành vi, thậm chí không có nhân tính ở một số người, kể cả với người thân của mình.

Từ thực tiễn thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước 10 năm qua, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cần bổ sung mối quan hệ giữa lấy con người làm trung tâm - bảo đảm quyền con người - phát triển con người toàn diện gắn bó khăng khít với mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, pháp quyền nhằm giữ gìn pháp chế, kỷ cương xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là hai mối quan hệ lớn cần phải giải quyết hiện nay và trong thời gian tới.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2020

(1), (2), (3), (10), (12), (14) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.9-10, 28-29, 22, 11, 54-55, 30.

(4) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.27, tr.22.

(5), (6), (7), (17), (18), (21) Sđd, t.2, tr.187, 176, 187, 172-173, 176, 187.

(8), (9), (15), (16) Sđd, t.1, tr.557, 553, 557, 557.

(11) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.170.

(13), (23) Sđd, t.42, tr.182, 168.

(19) Sđd, t.16, tr.25.

(20) Sđd, t.19, tr.36.

(22) Sđd, t.20, tr.406.

(24) ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

nguồn : PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn

Viện Quyền con người,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh