Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản “hướng tới tương lai, vươn tầm thế giới”

 

Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản “hướng tới tương lai, vươn tầm thế giới”

Trên tinh thần chung là Việt Nam - Nhật Bản sẽ cùng “hướng tới tương lai, vươn tầm thế giới”, tin tưởng quan hệ hai bên sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên nền tảng chân thành, tin cậy đặc biệt, không ngừng thúc đẩy quan hệ thương mại đầu tư giữa hai nước trên tinh thần hai bên cùng có lợi, bổ trợ lẫn nhau.

Đó là khẳng định của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội thảo kinh tế cấp cao Việt Nam - Nhật Bản. Sự kiện diễn ra ngày 7/3, tại Hà Nội, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam và Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản (KEIDANREN) đồng tổ chức. Đây cũng là sự kiện khởi đầu cho chuỗi các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản và 20 năm triển khai thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản.

Tại sự kiện, Thủ tướng gửi tới các đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Đồng thời, Thủ tướng một lần nữa gửi lời cảm ơn chân thành đến Chính phủ Nhật Bản và toàn thể các tổ chức kinh tế, các nhà đầu tư, doanh nghiệp, nhân dân Nhật Bản đã hỗ trợ, giúp đỡ hiệu quả, thiết thực đối với cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 và có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian qua.

Thủ tướng bày tỏ tin tưởng quan hệ hai bên sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên nền tảng chân thành, tin cậy. Đồng thời khẳng định, quan hệ Việt Nam và Nhật Bản đã được kế thừa và phát huy từ lâu đời, đặc biệt, với điểm nhấn cách đây 50 năm, ngày 21/9/1973, Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Từ đó tới nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Quan hệ chính trị, ngoại giao; hợp tác trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng ngày càng được tăng cường, củng cố, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Hoạt động văn hóa, giao lưu nhân dân đã trở thành một nền tảng quan trọng cho mối quan hệ ngày càng gắn bó và tin cậy giữa hai nước. Đặc biệt, hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư luôn được đặc biệt chú trọng, đẩy mạnh toàn diện. Hai bên đã xây dựng nhiều khuôn khổ pháp lý quan trọng cho quan hệ song phương; đồng thời cùng là thành viên của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Đây chính là những hành lang quan trọng thúc đẩy quan hệ thương mại đầu tư giữa hai nước trên tinh thần hai bên cùng có lợi, bổ trợ lẫn nhau.

Thủ tướng chia sẻ thêm, Việt Nam và Nhật Bản đã có nhiều nỗ lực với quyết tâm cao, kiên trì để có được CPTPP và đến nay thực tế đã chứng minh điều này là đúng, phù hợp với lợi ích của hai nước, cộng đồng doanh nghiệp hai nước và phù hợp với mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và thế giới, nhiều nước, kể cả các nước lớn, muốn tham gia hiệp định này.

“Chúng tôi đánh giá cao sự quyết tâm, nghiêm túc, hiệu quả của các nhà đầu tư Nhật Bản khi hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Đồng thời, tôi cảm nhận được sự chia sẻ, tin tưởng và cam kết đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Chúng ta đến với nhau và cảm nhận được sự tin cậy, chân thành, đây là điều có ý nghĩa rất quyết định để hợp tác thành công; khi chúng ta chân thành và tin cậy lẫn nhau thì các khó khăn giải quyết dễ dàng hơn và hiệu quả cao hơn” - Thủ tướng chia sẻ.

Theo Thủ tướng, là một trong những cường quốc trong ngành công nghiệp, dịch vụ của thế giới, Nhật Bản đã đạt được những thành tựu to lớn với nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, sở hữu công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới và là một trong những nước đi đầu về ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam có độ mở cao, đang duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sở hữu nguồn nhân lực trẻ dồi dào và có nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất công nghiệp.

Từ một nước trải qua nhiều năm chiến tranh và cấm vận, sau gần 40 năm đổi mới, mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 409 tỷ USD, GDP bình quân đầu người tăng 25 lần; thu nhập bình quân đầu người tăng đạt trên 4.100 USD. Đến nay, Việt Nam đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với trên 60 nước, vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường lớn nhất trên thế giới và ngày càng đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, các chuỗi cung ứng. Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển; Việt Nam không chọn bên mà chọn công lý và lẽ phải, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các nước. Với những vấn đề mang tính toàn cầu, toàn dân, cần cách tiếp cận đề cao chủ nghĩa đa phương, đoàn kết quốc tế, dựa trên luật lệ. Việt Nam quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với tích cực, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, thực chất, hiệu quả; lấy nội lực (với 3 thành tố chính là con người, thiên nhiên, truyền thống lịch sử - văn hóa), là cơ bản, chiến lược, quyết định, lâu dài, ngoại lực là quan trọng, đột phá.

Năm 2022, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm (thu - chi, xuất nhập khẩu, bảo đảm lương thực thực phẩm, cân đối năng lượng, cung cầu lao động). Tăng trưởng GDP 2022 đạt trên 8%; kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt trên 732 tỷ USD; vốn FDI thực hiện đạt khoảng 22,4 tỷ USD, cao nhất trong 05 năm qua. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phòng chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh, được người dân và các nhà đầu tư.

 

Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản là một trong những kênh đối thoại hiệu quả, góp phần tích cực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

 

Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản là một trong những kênh đối thoại hiệu quả, góp phần tích cực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Phát biểu tại sự kiện, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng thông tin, Việt Nam và Nhật Bản đã luôn đồng hành và phối hợp tích cực trong triển khai thực hiện tốt 8 giai đoạn của Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản suốt 20 năm qua. Với 497/594 hạng mục đã hoàn thành tốt và đúng tiến độ, chiếm 84% tổng số hạng mục hai bên thực hiện, Sáng kiến chung là một trong những kênh đối thoại hiệu quả, góp phần tích cực vào cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Từ đó, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Nhật Bản yên tâm đầu tư và mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Nhân dịp này, để phát huy hơn nữa vai trò của Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đề xuất cần tập trung vào 4 nhóm nội dung cụ thể,

Một là, với mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, Việt Nam đang chú trọng tới việc ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế trí thức.

Hai là, tới đây, Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản không chỉ là kênh đối thoại giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp Nhật Bản, mà thông qua đó, phía Nhật Bản sẽ tham gia sâu hơn vào quá trình tham mưu, đề xuất việc xây dựng chính sách của Việt Nam, tập trung vào các nhóm vấn đề chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo...

Ba là, trong 8 giai đoạn vừa qua, đã có nhóm công tác tập trung phát triển năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam như nhóm công tác về lao động hay công nghiệp hỗ trợ. Do đó, các giai đoạn tới, phía Nhật Bản sẽ cần có giải pháp cụ thể hơn nữa và bổ sung nguồn lực để tăng cường kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực và sức cạnh tranh, tham gia sâu vào chuỗi giá trị, gia tăng hiệu quả hợp tác đầu tư thông qua các đề án, chương trình cụ thể. Bộ KH&ĐT kiến nghị xây dựng Chương trình doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vào 3 lĩnh vực: (i) chuyển đổi số; (ii) phát triển công nghiệp hỗ trợ; (iii) đào tạo nhân lực.

Bốn là, bên cạnh việc tham gia vào quá trình xây dựng, hoạch định chính sách, mong muốn phía Nhật Bản sẽ tăng cường và tham gia sâu vào quá trình triển khai các cơ chế chính sách. Đề nghị các nhóm công tác phía Nhật Bản phối hợp với các bộ ngành liên quan của Việt Nam và các địa phương nghiên cứu triển khai, có thể thông qua việc đề nghị Chính phủ Nhật Bản đưa ra các gói hỗ trợ phù hợp (gói viện trợ không hoàn lại) để có chương trình hành động và đề án cụ thể nhằm hiện thực hóa các ý tưởng và kế hoạch đề ra. Đồng thời, đề nghị các nhóm kỹ thuật phía Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục trao đổi, thống nhất để báo cáo lãnh đạo hai bên xem xét nội dung của giai đoạn tiếp theo.

Cũng qua đây, Bộ trưởng cam kết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ, ngành sẽ tiếp tục đồng hành với cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, đem lại hiệu quả hợp tác đầu tư cho cả hai bên, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, làm sâu sắc hơn mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Nhật Bản, vì sự thịnh vượng chung của hai dân tộc.

Trong khuôn khổ Hội thảo, Thứ tưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương nhấn mạnh, thời gian qua, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản đã đạt được nhiều kết quả tích cực, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân hai nước. “Hai bên còn nhiều dư địa để tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại và đầu tư. Nhiệm vụ của chúng ra là cùng phối hợp chặt chẽ để tiếp tục duy trì và phát triển hợp tác giữa hai bên; cùng tìm kiếm, mở ra những cơ hội hợp tác mới phù hợp với nhu cầu và thế mạnh của mỗi bên, tạo ra thành quả hợp tác tương xứng với tiềm năng to lớn của Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản”- Thứ trưởng Phương cho biết.

 

Tổng Bí thư chủ trì họp Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật một số cán bộ

 

Tổng Bí thư chủ trì họp Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật một số cán bộ

Ngày 7-3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật các ông: Nguyễn Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; nguyên Phó Bí thư Thị ủy, nguyên Chủ tịch UBND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn Hải, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh; Hà Công Thẻ, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy, nguyên Chủ tịch UBND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Theo TTXVN, sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư nhận thấy các ông: Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Văn Hải, Hà Công Thẻ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tiêu cực; vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất, tài sản, gây hậu quả rất nghiêm trọng, bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cơ quan quản lý nhà nước.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo Quy định của Đảng về kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật Khai trừ ra khỏi Đảng các ông: Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Văn Hải, Hà Công Thẻ.

Đề nghị các cơ quan chức năng kỷ luật về hành chính đối với các cá nhân trên đồng bộ, kịp thời với kỷ luật đảng.

Trước đó, tại kỳ họp thứ 26 diễn ra trong 2 ngày 20 và 21-2-2023, sau khi xem xét đề nghị của Ban Chấp hành Đảng bộ các tỉnh Hòa Bình và Bắc Ninh về thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy các ông: Hà Công Thẻ, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư Huyện ủy Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; Nguyễn Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, nguyên Phó Bí thư Thị ủy, nguyên Chủ tịch UBND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và ông Nguyễn Văn Hải, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương.

Căn cứ quy định của Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật các ông Hà Công Thẻ, Nguyễn Xuân Thanh và Nguyễn Văn Hải.

 

Nghiên cứu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ chiến dịch, chiến lược

 


Học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và cách mang, là cơ sở lý luận để chúng ta nhận thức vấn đề giai cấp công nhânsứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay. Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, giai cấp công nhân Việt Nam phải tự vươn lên về mọi mặt đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ mới, với yêu cầu cao của qua trình hội nhập, giai cấp công nhân Việt Nam phải là giai cấp vững mạnh về mọi mặt, là lực lượng tiên phong đi đầu trên mọi lĩnh vực, vì vậy, phải không ngừng đổi mới về nội dung, biện pháp, cách thức trong xây dựng, tỏ chức, quản lý để giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh. Đối với cán bộ cấp chiến dịch- chiến lược phải nhận thức đầy đủ và có trách nhiệm chính trị trong xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam và xây dựng bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

 

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh

 


Phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, kế thừa những giá trị nhân loại làm cho hệ giá trị, lối sống và tác phong của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị chủ đạo của xã hội Việt Nam…là những nhiệm vụ cơ bản trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của xã hội mới. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, phẩm chất cộng sản…để Đảng Cộng sản đảm bảo quyền lãnh đạo và uy tín chính trị trong quá trình lãnh đạo thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

 

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội

 


Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của mỗi công nhân. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức để làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc…chính là những biện pháp để tạo ra cơ sở chính trị - xã hội cho quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam.

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam phát triển cả về số lượng, chất lượng

 


Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam phát triển cả về số lượng, chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trí tuệ hóa và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế. “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”[1]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XIII, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, H2021, tI, tr.166.

Chiến lược giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

 


Chiến lược giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng vừa tạo ra điều kiện phát triển mới, vừa tạo nhiều áp lực cạnh tranh và tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của công nhân. Theo đó, cần phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội bền vững, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, của doanh nghiệp và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của người lao động.

Nội dung chính trị- xã hội của sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam

 


Để hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp và đại đoàn kết toàn dân tộc, cần tiếp tục: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng; xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nhằm phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bảo vệ Tỏ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước…cần phải được coi là những nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách.

Nội dung kinh tế của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

 


Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”[1] Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực, các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế, công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh cao trong hội nhập quốc tế…“Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, cing nghệ và đổi mới sáng tạo”[2], xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Đẩy mạnh nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và thế giới. Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số.



[1], 2  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H2021, t I, tr.120,122.

 

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên phong, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp đi đầu, đi tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Giai cấp công nhân là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân Việt Nam đang từng bước phát triển, đóng vai trò đầu tàu cho sự phát triển đất nước. Giai cấp công nhân Việt nam là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhân sỹ yêu nước theo các xu hướng chính trị khác nhau, những đều thất bại, do sự bất cập của các xu hướng chính trị đó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh giành và bảo vệ nền độc lập và sự nghiệp đổi mới. Điều đó, khẳng định sứ mệnh lịch sử, vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

Công nhân Việt Nam hiện nay đang lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đa dạng về trình độ công nghệ, về thành phần kinh tế và lợi ích.

 


Bên cạnh những quan tâm về việc làm, thu nhập, mức sống thì giai cấp công nhân Việt Nam còn là giai cấp đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đây là vinh dự và cũng là trọng trách của công nhân nước ta. Theo đó xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cần phải chú ý về chính sách trên hai phương diện: lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, vị thế người lao động và vị thế người làm chủ đất nước…Nếu như trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nước với hai loại hình là sở hữu kinh tế toàn dân (các nhà máy nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay, họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế. Công nhân cũng khác nhau về trình độ tiếp cận công nghệ, lợi ích hay phần được hưởng từ quá trình sản xuất kinh doanh và qua tái phân phối thành quả của đổi mới…Những sự khác biệt này khiến cho cơ cấu công nhân khá đa dạng và cần những chính sách ngày càng cụ thể, phù hợp hơn với từng đối tượng. Với vai trò là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa hướng tới kinh tế trí thức và gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, giai cấp công nhân nước ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng và nghị lực lớn, mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ mới, đóng góp xứng đáng vào thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới.

 


Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam với các tiêu chí: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; công nghiệp hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế. Với những yêu cầu kinh tế- xã hội ấy, công nhân - sản phẩm xã hội của quá trình công nghiệp hóa nước ta hiện nay, thể hiện ra như một lực lượng lao động tiên tiến nhất và phát triển khá nhanh. Nhận thức chiến lược của Đảng là: “Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H2008, tr.47.

Đặc điểm quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Sinh ra và lớn lên từ một nước có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc. Dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận và giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam (từ sau khi các phong trào cứu nước theo lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại). Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, chịu ảnh hưởng tích cực của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và cách mạng tháng Mười Nga. Do đó, nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, đã sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng triệt để. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam như một tất yếu trong sự trưởng thành của chính giai cấp công nhân, làm cho phong trào cách mạng nước ta có sự phát triển nhảy vọt về chất.  Do xuất thân từ nông dân và các tầng lớp lao động, bị thực dân phong kiến bóc lột, bần cùng hóa nên giai cấp công nhân nước ta có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, liên minh giai cấp đã trở thành động lực và là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc. Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam luôn phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại. Quá trình “trí thức hoá” giai cấp công nhân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam. Việc hình thành giai cấp công nhân trí thức không có nghĩa đơn thuần chỉ là sự bổ sung vào lực lượng giai cấp công nhân những công nhân có trình độ cao mà là giai cấp công nhân được nâng cao về trình độ và có sự thay đổi về tính chất lao động - lao động điều khiển những công nghệ tự động hoá của nền kinh tế tri thức.

Giai cấp công nhân Việt Nam và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay


Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào đặc điểm của thời đại và đội ngũ công nhân nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đưa ra định nghĩa: "Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các hình thức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp[1]. Nội hàm quan niệm của Đảng ta về giai cấp công nhân nước ta hiện nay thể hiện trên 3 vấn đề cơ bản sau: Một là, Giai cấp công nhân nước ta hin nay là một lực lượng xã hội to lớn, đang trong quá trình phát triển cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và xu thế phát triển kinh tế tri thức. Hai là, giai cấp công nhân nước ta hiên nay gồm những người lao động chân tay và trí óc, có thu nhập chính là tiền lương. Đây là tiêu chí để phân biệt với những người không phải thuộc giai cấp công nhân như chủ doanh nghiệp tư nhân...Ba là, giai cấp công nhân nước ta hiện nay là những người đang làm việc trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, như: chuyển giao công nghệ, giới thiệu việc làm, tiếp thị...

 



[1] Đảng Công sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,2008, tr.43. 

Chủ nghĩa tư bản, đang có sự điều chỉnh, nhưng vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra

 


Ngày nay chủ nghĩa tư bản đang “tự điều chỉnh”, “tự thích nghi” để đi lên chủ nghĩa xã hội, không cần sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, v.v…cần hiểu rõ rằng: cho dù chủ nghĩa tư bản hiện đại đang tự điều chỉnh để thích nghi, đời sống của công nhân và lao động trong nhiều nước tư bản phát triển đã được cải thiện đáng kể, nhưng không phải vì thế mà cho rằng: bản chất của chủ nghĩa tư bản đã thay đổi; chủ nghĩa tư bản vẫn là một xã hội bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người; một xã hội bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Khẳng định điều này, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới’ trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra…”[1]. Do vậy, chỉ có giai cấp công nhân - với sứ mệnh lịch sử của mình mới giải quyết được triệt để tất cả những mâu thuẫn đó và mới xây dựng được một xã hội mới nhân văn, tiến bộ và thực sự vì con người. Thực tiễn lịch sử cách mạng thế giới gần một thế kỷ qua đã chứng minh rất rõ chân lý này.



[1] Xem Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (bài viết nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 vào ngày 23-5-2021.

Giai cấp công nhân phải là một tổ chức tiên phong vững mạnh trong công cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay

 


Hiện nay, sau sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, cùng những tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu giai cấp công nhân theo hướng giảm số lượng công nhân truyền thống, gia tăng đội ngũ công nhân trí thức. Tình hình đó khiến cho một số người vội vã kết luận rằng: Giai cấp công nhân không đủ trình độ để giữ vai trò lãnh đạo, hoặc đang “biến mất”, do vậy, sứ mệnh lịch sử của họ không còn nữa. Trên thực tế ở nhiều nước hiện nay, cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, đội ngũ công nhân ở mỗi nước cũng như trên phạm vi thế giới ngày càng phát triển về số lượng và tăng lên về chất lượng trên nhiều phương diện, nhất là đội ngũ công nhân trí thức. Tuy nhiên điều quyết định việc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chủ yếu không phải là số lượng, mặc dù số lượng là cần thiết, mà trên thực tế, sức mạnh của giai cấp công nhân lớn hơn nhiều so với số lượng nếu họ có một tổ chức tiên phong vững mạnh, thống nhất được nội bộ giai cấp mình và thực hiện được sự liên minh chặt chẽ với quần chúng lao động bị áp bức.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan

 


 Kể từ khi mới xuất hiện đến nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân luôn là tiêu điểm bị phản bác, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Chủ nghĩa Mác- Lênin đã luận giải một cách khoa học về địa vị kinh tế - xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp công nhân. Theo đó sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định một cách khách quan do sự vận động nội tại của những mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội tư bản, do yêu cầu phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, chứ hoàn toàn không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Với tính cách như vậy, giai cấp công nhân là lực lượng quyết định xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

 

Vai trò của công nghiệp hóa đối với sự phát triển của giai cấp công nhân và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phát triển hiện nay

 


Cái cốt vật chất cho chủ nghĩa xã hội như khẳng định của chủ nghĩa Mác-Lênin là nền công nghiệp lớn theo hướng ngày càng hiện đại. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bắt đầu từ nền đại công nghiệp, và hiện nay, đây là nhiệm vụ trung tâm của các nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ từ đó mới có một lực lượng sản xuất hiện đại, mới có cơ sở vật chất cho quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng lối sống mới và định hình hệ giá trị của giai cấp công nhân trong đời sống xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất hiện đại, vai trò to lớn của cách mạng khoa học công nghệ, hướng tới kinh tế tri thức và Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, cụ thể hơn là xu thế đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa trong cơ chế thị trường đang là một thực tế ở rất nhiều quốc gia. Xu thế này là bước tiến lớn của văn minh nhân loại, song nếu không xác định được một mô hình và cách thức công nghiệp hóa, hiện dại hóa phù hợp thì lại bộc lộ nguy cơ tụt hậu cả về công nghệ và nguồn nhân lực của nhiều quốc gia đang phát triển. Tính thực dụng của kinh tế thị trường khiến cho người ta có thể vì lợi ích ngắn hạn mà bỏ qua những yêu cầu khách quan về xã hội và môi trường trong phát triển. Lịch sử còn xác nhận rằng, chất lượng, quy mô và tốc độ công nghiệp hóa còn phụ thuộc vào chế độ chính trị, tư duy của giai cấp lãnh đạo. Những quốc gia hiện nay chưa công nghiệp hóa xong không chỉ lạc hậu về kinh tế mà còn phải đối diện với khá nhiều vấn đề về chế độ và thể chế chính trị. Con đường phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, bất công và bất bình đẳng xã hội từ mặt trái của kinh tế thị trường, những bất bình đẳng của toàn cầu hóa…đang là những yếu tố cản trở đói với quá trình công nghiệp hóa và tiến bộ xã hội. Với chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó có thể đưa ra và thực hiện được một kiểu công nghiệp hóa mới, toàn diện, nhân bản và bền vững. Theo đó, với các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa còn là một điều kiện chính trị quan trọng để thực hiện đầy đủ các nội dung của sứ mệnh lịch sử.