Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

 

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Xuyên tạc tình hình tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng.

Gần như đã trở thành thông lệ, ngày 21/4/2021, RSF lại đưa ra cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” và được RFI, VOA, BBC, RFA,… các trang mạng phi pháp hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF. Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger”.

Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn.

Trên khía cạnh pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,… Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân. Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới, mà còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Để đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến phát triển internet. Đến nay, Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới, với 68,7% người sử dụng, cao hơn mức trung bình của thế giới (51,4%). Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, internet đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư; những tiện ích mang lại từ hệ thống internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức, cá nhân. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị trong những năm gần đây đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; trong đó, công tác xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử đã có bước tiến mạnh mẽ, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2016 - 2020 để tạo ra nền tảng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2021 - 2030. Đánh giá của Liên hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á. Vị trí xếp hạng về các chỉ số thành phần của Việt Nam năm 2020 có sự thay đổi tương đối lớn: Chỉ số hạ tầng viễn thông xếp thứ 69, tăng 31 bậc so với năm 2018; chỉ số nguồn nhân lực xếp thứ 117, tăng 3 bậc so với năm 2018, v.v.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp. Cùng với đó, thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ để tung lên mạng (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…). Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm tất yếu, vừa đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc RSF cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là “vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng mỹ miều “Phóng viên không biên giới”! Tự do là tuân thủ pháp luật, ở đâu có dân chủ thì ở đó có tự do và Việt Nam là một đất nước như thế. Không ai có thể phủ nhận điều đó, chỉ những tổ chức, cá nhân lòng dạ không trong sáng như RSF mới không thấy.

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID 19 Ở VIỆT NAM

Trong những ngày gần đây cả nước đang tập trung mọi nỗ lực để kiểm soát và xử lý có hiệu quả các nguồn lây lan do dịch Covid – 19 gây nên. Lợi dụng sự kiện này trên mạng xã hội, các đối tượng thù địch đã liên tục xuyên tạc, phát tán những thông tin sai lệch gây hoang mang dư luận về công tác phòng, chống dịch bệnh của chúng ta.

1.Sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về tình hình dịch bệnh và những nỗ lực phòng chống dịch covid – 19 ở Việt Nam. Nhiều tổ chức phản động ở ngoài nước như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ… đã cấu kết với những phần tử chống đối ở trong nước, lợi dụng triệt để mạng xã hội để đăng tải những thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh và kết quả phòng chống Covid-19 ở trong nước. Chúng đã đăng hàng loạt bài viết và rất nhiều hình ảnh được cắt ghép chứa đựng thông tin sai sự thật do chúng tạo ra như: số người mắc bệnh, sự lây lan tốc độ nhanh trong cộng đồng lớn gấp nhiều lần so với con số chính thức do Chính phủ Việt Nam công bố. Đặc biệt là chúng đã dựng chuyện về số ca tử vong do dịch bệnh lên tới hàng chục ngàn người và ngày càng gia tăng,…

Khi Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg các thế lực thù địch đã xuyên tạc rằng: đây là Chỉ thị mang tính áp đặt vi phạm dân chủ, nhân quyền của người dân,…từ đó làm cho một bộ phận nhân dân hiểu sai lệch về quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong công tác chống dịch. Chúng còn trắng trợn xuyên tạc quy chụp cho rằng: Trong đợt dịch lần này, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện là một chính phủ yếu kém và thất bại thảm hại, ngay việc xử lý đơn giản là phân phối mặt hàng nông sản cho bà con gặp trở ngại ngay tâm dịch, đem đi tiêu thụ mà cả hệ thống chính phủ không thể làm được. Việc chính quyền áp đặt biện pháp phong toả cứng rắn, nhưng không có những giải pháp thỏa đáng nhằm ổn định cuộc sống của người dân… Rõ ràng, làn sóng dịch lần này với các chủng virus mới, sự lây lan nhanh chóng dẫn đến việc sàng lọc, kiểm soát cũng rất khó khăn. Các hoạt động thông thương hàng hóa, hỗ trợ người dân đã được Chính phủ rất quan tâm, đặc biệt là đời sống của từng hộ dân, kịp thời hỗ trợ để bà con các vùng tâm dịch được yên tâm, không hoang mang, lo lắng, nhưng phải đảm bảo được sự an toàn tuyệt đối trong phòng, chống dịch bệnh. Việc sử dụng các biện pháp phong tỏa là cần thiết nhằm kiểm soát và hạn chế triệt để dịch lây lan, bùng phát sang các địa phương khác…

Tất cả các thông tin của các thế lực thù địch tuyên truyền ở trên là nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoài nghi, hoang mang trong nhân dân về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam. Qua đó làm xáo trộn mọi mặt của đời sống xã hội, gây nghi ngờ, tạo sự đối lập, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đồng thời tạo sự hoài nghi, làm mất lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Đây là âm mưu hết sức thâm độc để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước trong xử lý dịch Covid-19. Vì vậy, chúng ta cần phải đấu tranh bác bỏ.

2.Mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, bác bỏ mọi thông tin xuyên tạc về tình hình phòng chống dịch covid-19 ở Việt Nam. Theo thông tin mới nhất của Bộ Y tế, thì tất cả các ca mắc mới đều nằm ở trong khu cách ly và khu phong tỏa, tình hình dịch Covid – 19 đã cơ bản được kiểm soát chặt chẽ và có phương án xử lý hiệu quả, kịp thời. Vì vậy, mỗi người dân cần phải thận trọng trong tiếp nhận và chia sẻ thông tin. Theo dõi cập nhật các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả phòng chống Covid – 19 được đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thống của Nhà nước cũng như trên Cổng Thông tin điện tử của các cơ quan chức năng. Chấp hành nghiêm các quy định của Chính phủ, sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn về công tác phòng, chống dịch. Đồng thời, mọi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những thông tin bịa đặt, không đúng về tình hình dịch bệnh. Kịp thời phát giác và phản ánh với cơ quan chức năng khi phát hiện thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh đăng tải trên các phương tiện thông tin nhất là mạng xã hội.

Trong quá trình tiếp nhận thông tin cần phải có chọn lọc, không tiếp cận nguồn thông tin ở những trang không chính thống. Mỗi người dân cần tự trang bị cho mình những kiến thức hiểu biết cần thiết về pháp luật, xã hội đủ điều kiện để nhận diện rõ được các thông tin xuyên tạc, giả mạo của các thế lực thù địch. Khi tiếp nhận một thông tin lạ cần phải được kiểm chứng cơ sở nguồn tin, xem thông tin đó đến từ nguồn nào, thông tin không rõ ràng cần phải loại bỏ. Chúng ta có thể kiểm tra tên miền của trang mạng, những thông tin xuyên tạc, giả mạo thường là những trang mạng có tên miền nước ngoài (.com, .org), không có đuôi “.vn”. Các trang mạng chính thống của Việt Nam có tên miền “.vn” và có địa chỉ, thông tin đăng ký cụ thể rõ ràng trên trang. Trước khi đọc cần kiểm tra tên tác giả và đọc kỹ nội dung để xác định thông tin thật, hay giả. Những tin tức giả thường hay bị lỗi chính tả, có bố cục lộn xộn, các hình ảnh, video thường bị chỉnh sửa, cắt ghép, thay đổi nội dung, ngày tháng của sự kiện. Do vậy, chúng ta cần tỉnh táo, không tham gia đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục văn hóa của dân tộc, hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của tổ chức và cá nhân; thông tin trái với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hoạt động vi phạm pháp luật, hoặc thông tin mà chưa rõ nguồn gốc, chưa xác định được tính chính xác thông tin.

Mỗi người dân cần chấp hành nghiêm pháp luật, đặc biệt là Luật An ninh mạng. Đẩy mạnh thông tin tích cực, có ý nghĩa trong cuộc sống, đấu tranh, phê phán lên án hành vi sai trái vi phạm trên mạng xã hội. Để chung tay chống lại dịch bệnh Covid – 19, cần có sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nêu cao tinh thần cảnh giác, lên án và phản bác những hành vi tuyên truyền thông tin sai sự thật, góp phần loại bỏ thông tin tiêu cực, xây dựng một không gian mạng lành mạnh, hữu ích cho phát triển đất nước.

 

 

 

 

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC BẢN CHẤT DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trên bloger của Baotiengdan có đăng bài viết của Phạm Phú Khải: “Đấu tranh vì dân chủ, hay vì sống còn”, có nội dung cổ súy cho bài viết của TS “đa cấp” Nguyễn Đình Thắng và con buôn dân chủ Jackhammer Nguyễn, cho rằng ở Việt Nam hiện nay đang mất dân chủ, người dân chỉ muốn ăn nên làm ra, muốn có công ăn việc làm tốt không biết đấu tranh đòi quyền dân chủ cho mình. Đây là chiêu trò quen thuộc của Phạm Phú Khải để xuyên tạc bản chất dân chủ và thực tiễn dân chủ đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nội dung cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Từ ngày thành lập tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh quyền làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “người dân làm chủ”, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là động lực của cách mạng. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của nhân dân, không có sự đoàn kết, sáng tạo của quần chúng nhân dân thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Dân chủ chính là biểu hiện quan điểm giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, là nhân tố tạo ra sự ổn định, phát triển và thịnh vượng.

Thứ hai, thành tựu của sự nghiệp cách mạng sau 35 năm đổi mới đã khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng – an ninh được quốc tế ghi nhận. Năm 2020, một năm đầy khó khăn của kinh tế thế giới do ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19 nhưng chính sức mạnh của phát huy dân chủ đã làm nên những điều kì diệu, GDP Việt Nam vẫn tăng trưởng 2,91%; quy mô kinh tế đạt 343 tỷ USD, đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, tương đương và vượt qua một số nền kinh tế lớn trong khu vực, kể cả một số “Con hổ” châu Á. Việt Nam là hình mẫu về chống dịch COVID -19 để các nước khác học và làm theo. Ngày 16/12/2020 tại Hà Nội, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố Báo cáo Phát triển Con người toàn cầu năm 2020. Theo đó, Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam là 0,704, lọt vào danh sách các nước phát triển con người cao và được xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2021 (World Happinesss Report) của Liên Hợp Quốc công bố ngày 19/03/2021, Việt Nam tăng hạng từ thứ 83 lên 79 trong tổng số 149 quốc gia được khảo sát. Có được thành tựu đó là do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là chủ”, “dân là gốc”; nhân dân là trung tâm, là chủ thể công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta đã khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần lao động tích cực, sáng tạo, trách nhiệm của toàn dân.

Trải qua 91 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là mục tiêu và động lực của cách mạng. Đó cũng chính là bài học quý báu để Đảng ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bài học đó giữ nguyên giá trị trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới và hội nhập toàn cầu hiện nay. Giữ vững và phát huy thành quả đã đạt được, trước mắt và lâu dài, dân chủ ở Việt Nam tiếp tục được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

 

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI ĐLDT VÀ CNXH CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA

Các thế lực thù địch luôn coi đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta là mục tiêu chống phá. Thực hiện mục tiêu ấy, chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bác bỏ, chống phá. Mặc dù “lý lẽ” đã cũ rích, nhưng chúng vẫn không từ bỏ, luôn rêu rao rằng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin “đã sai lầm”, “lỗi thời”, “lạc hậu”, thể hiện ở sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Chúng dẫn ra các hiện tượng, hình thức, trái với bản chất để mê hoặc, lôi kéo những người thiếu hiểu biết khoa học, như “lý sự” rằng: “đã kinh tế thị trường thì đâu còn là chủ nghĩa xã hội”; “chủ nghĩa xã hội không phải là cái đích của loài người đi tới”; “chủ nghĩa tư bản là trường cửu”; Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam “bảo thủ” duy trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “trái với quy luật”, “không phù hợp với thời đại mới” v.v và v.v.. Chúng cố lờ đi những cơ sở khoa học, tính khách quan của quy luật phát triển xã hội là chỉ có kết hợp giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc và giải phóng con người thì cách mạng mới đạt được kết quả trọn vẹn. Chúng không thấy con đường đổi mới, hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ là sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta để đưa đất nước ngày càng phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chúng gây nên hoài nghi vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc những đặc điểm, đặc trưng, mô hình xã hội mà chúng ta xây dựng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận giá trị những thành tựu đạt được trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước. Chúng cố tình quên đi những biện pháp, con đường, hình thức, bước đi, nhiệm vụ trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội đầy sáng tạo của nhân dân ta. Tất cả những điều đó với âm mưu của chúng nhằm đẩy người nghe rơi vào tâm trạng hoài nghi, thất vọng, suy giảm niềm tin, rồi đi đến xa rời, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng gieo rắc tâm lý trông chờ, dựa dẫm, cầu mong sự giúp đỡ của nước ngoài, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì giàu nhanh hơn, sung sướng hơn một cách ảo tưởng, hoài vọng.

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHIA RẼ KHỐI ĐOÀN KẾT TRONG ĐẢNG, TRONG NHÂN DÂN

Các thế lực thù địch luôn tấn công hòng phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, khối đồng thuận xã hội, gây nên sự ly tán, chia rẽ, suy giảm sức mạnh của Đảng, của nhân dân. Chúng chia rẽ nội bộ Đảng, giữa cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, bịa đặt về sự hình thành “phe này”, “phái nọ” để gây hoang mang trong nhân dân. Chúng lợi dụng việc thực hiện công khai, minh bạch của Đảng trong đấu tranh chống tham nhũng và xử lý nghiêm minh một số cán bộ, đảng viên vi phạm để chia rẽ nội bộ. Chúng xuyên tạc rằng “đây chỉ là sự thanh trừ phe này, phe nọ”, không thấy đây chính là quá trình làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có tính quy luật trên đường phát triển, là việc làm phù hợp với lòng dân, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình ủng hộ. Chúng ra sức kích động chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo; giữa cán bộ và nhân dân; giữa đảng viên và quần chúng... Chúng thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên rồi đi đến khái quát một cách hàm hồ, nói xấu Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động gây bất ổn chính trị - xã hội; lợi dụng các bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời để kích động tụ tập đông người gây mất trật tự, an ninh, xung đột xã hội, làm cho nhân dân không tin cán bộ, đảng viên, dẫn đến không tin Đảng, tìm “con đường khác”, “cách sống khác” do chúng vẽ ra. Đây là âm mưu, thủ đoạn phá hoại ta từ bên trong, từ trong nội bộ, từ trong lòng dân, từ trong tư tưởng, tình cảm của con người trong xã hội.

Xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc từ văn hóa

 

Tạo thay đổi trong nhận thức về văn hóa

Rõ ràng, trong mỗi một thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam, ba nguyên tắc quan trọng này đã có những nội hàm cụ thể để thể hiện được tính thời đại, định hướng cho sự phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu của bối cảnh xã hội lúc đó.

Nếu như văn hóa kháng chiến là sự kết tinh của tinh thần yêu nước nồng nàn, quyết tâm giải phóng dân tộc, diệt giặc ngoại xâm, diệt giặc đói, giặc dốt, thì trong thời bình, hội nhập quốc tế, đó lại là khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, văn hóa làm nên sức mạnh mềm, bản lĩnh và sự tự tin Việt Nam. Kết tinh thành các giá trị quốc gia, giá trị văn hóa, giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, dẫn dắt sự phát triển của mỗi con người và toàn dân tộc, lan tỏa niềm tin và sự tự hào Việt Nam, đó là những gì được bắt đầu từ cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng về văn hóa: Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943.

Đề cương được ra đời trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, trước khi chúng ta tiến hành khởi nghĩa, giành độc lập cho dân tộc, trong hoàn cảnh văn hóa nước nhà, về hình thức là thuộc địa, về nội dung là tiền tư bản, đang gặp rất nhiều khó khăn, lại càng khó khăn hơn với chiến tranh thế giới lần thứ hai làm cho tính chất phong kiến, nô dịch trong văn hóa mạnh lên, Đề cương về văn hóa Việt Nam ra đời, trở thành một bản cương lĩnh về văn hóa, bổ sung cho cương lĩnh chính trị của Đảng, ở đó, Đảng ta quyết tâm cải tạo xã hội bằng văn hóa, thông qua cải cách, đổi mới về tư tưởng, học thuật và nghệ thuật. Lần đầu tiên, Đảng ta công bố quan niệm của mình về văn hóa theo quan điểm Mác xít, văn hóa (cùng với mặt trận chính trị và kinh tế) được xác định là một trong ba mặt trận mà người cộng sản phải đấu tranh, từ đó tạo nên thay đổi mang tính cách mạng trong nhận thức về văn hóa trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, và sau này là bảo vệ và xây dựng đất nước.

Sau năm 1943, được truyền cảm hứng từ Đề cương, Đảng ta đã tổ chức Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946), lần thứ hai (1948), cùng với đó là sự ra đời của các hội văn hóa cứu quốc, các hội văn học nghệ thuật với các triển lãm, hội nghị, hội thảo thường xuyên được tổ chức… đã lan tỏa những thông điệp tích cực từ văn hóa, nghệ thuật để ý nghĩa của bản Đề cương theo suốt chiều dài lịch sử đất nước. Trong cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc, văn hóa là một lực lượng quan trọng để hình thành nên sức mạnh tinh thần cho đất nước, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, san bằng mọi cách biệt về kinh tế, quân sự. Từ việc tạo nên tinh thần yêu nước, xác định “văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, dẫn đến “tiếng hát át tiếng bom”, đến xác định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” để hình thành quyết tâm diệt giặc dốt. Từ đó đã hình thành nên một nền văn hóa cách mạng đáng tự hào, trở thành tấm gương tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giành độc lập cho toàn thế giới.

Nội hàm và sức sống mới

Trong bối cảnh đất nước hiện nay, những quan điểm, nguyên tắc xây dựng văn hóa của Đề cương vẫn còn nguyên giá trị, đồng thời mang nội hàm và sức sống mới. Ở thời kỳ hội nhập quốc tế, khi sự xâm lăng văn hóa với hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé” không chỉ xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, mà còn nghiêm trọng hơn trong lĩnh vực văn hóa, thì giữ gìn văn hóa dân tộc, chủ quyền văn hóa quốc gia trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Kế thừa nguyên tắc dân tộc hóa trong Đề cương, chúng ta xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới làm giàu có hơn cho bản sắc dân tộc. Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”…

Nhằm phát huy hơn nữa giá trị của bản Đề cương về Văn hóa Việt Nam 1943 trong bối cảnh ngày hôm nay, bên cạnh việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa của Đề cương nói riêng, sự nghiệp phát triển văn hóa nói chung, nhất thiết chúng ta cần cập nhật những nội dung mới, phù hợp với bối cảnh xã hội đương đại. Để kế thừa và bổ sung những giá trị của bản Đề cương, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, văn kiện nhằm phát triển văn hóa, đáng lưu ý nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII), Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (Khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 (Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI) và đặc biệt là bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021.

Các văn kiện này đã cụ thể hóa ba nguyên tắc phát triển văn hóa Việt Nam của Đề cương. Qua các lần bổ sung ấy, những nội dung mới như nguyên tắc dân tộc hóa đã được bổ sung những giá trị của thế giới để trở thành nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ở đó, “Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Đối với nguyên tắc khoa học hóa, chúng ta cần hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân-thiện-mỹ; nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập trở thành nhiệm vụ xuyên suốt qua các Nghị quyết của Đảng về văn hóa.

Bên cạnh đó, quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng là sự bổ sung cho nguyên tắc đại chúng hóa trong phát triển văn hóa của Đảng, trong đó nhấn mạnh: “Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa”. (Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc).

Đến năm 2021, Hội nghị Văn hóa toàn quốc đã thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân trong chấn hưng văn hóa dân tộc, để văn hóa đồng hành với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Ở đó, văn hóa cần phải được đặt ở vị trí trung tâm, là hệ điều tiết sự phát triển bền vững, tạo nên sự tự tin, khát vọng cho dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong bài Kết luận Hội nghị của Tổng Bí thư, sáu nhiệm vụ trọng tâm cho phát triển văn hóa được nêu ra, đặc biệt là khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp; phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa; Đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa; Chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức; Xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư... đã trở thành sự cập nhật, bổ sung những nguyên tắc của Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943.

Giờ đây văn hóa có vị trí rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một chủ trương mang tính đột phá để văn hóa lan tỏa sức mạnh của mình sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là kinh tế. Quan điểm “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 (Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI) một lần nữa khẳng định tinh thần của bản Đề cương “văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)”, để sức sống mới của văn hóa tạo nên mục tiêu và động lực cho sự phát triển bền vững đất nước.

Luôn là chỗ dựa vững chắc

Văn hóa ngày hôm nay đã có nhiều khác biệt so với bối cảnh của những năm 1940 của thế kỷ trước. Đời sống văn hóa đa dạng và phong phú hơn. Nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân cao hơn. Tác động của văn hóa thế giới đến văn hóa Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn. Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiều điều kiện hơn trong chăm sóc đời sống văn hóa cho nhân dân. Thuận lợi và thách thức đan xen trong phát triển văn hóa, con người Việt Nam khiến chúng ta cần tìm những giải pháp phù hợp để phát triển văn hóa vì sự phát triển bền vững đất nước. Trong đó, những giá trị trường tồn của Đề cương về Văn hóa Việt Nam chính là một trong những chỗ dựa vững chắc, đã được kiểm chứng qua thời gian, giúp chúng ta khẳng định sức mạnh văn hóa Việt Nam.

Bối cảnh xã hội hiện thời càng cần phát huy hơn nữa vai trò của văn hóa để hình thành nên hệ điều tiết cho sự phát triển kinh tế-xã hội, tạo ra hành trang, bản lĩnh và sự tự tin để đất nước hội nhập tốt hơn vào một thế giới toàn cầu hóa sâu rộng. Vì văn hóa liên quan đến toàn bộ xã hội, nên những nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa cần phải được thẩm thấu vào trong toàn bộ hệ thống luật pháp, trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả đất nước và từng địa phương. Điều đó giúp lan tỏa sức sống lâu bền của Đề cương về Văn hóa Việt Nam 1943 với sự phát triển đất nước trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

* Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN * 

Lợi dụng quyền dân chủ để chống phá chế độ


Thực hiện Nghị quyết số 671/NQ-UBTVQH15 ngày 23/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 170/NQ-CP ngày 23/12/2022 của Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi), hiện nay việc lấy ý kiến đang diễn ra rộng rãi trên quy mô cả nước. Ðiều này không chỉ nhằm phát huy quy chế dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, mà còn là sự huy động trí tuệ tập thể, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng với việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi).

Trên cơ sở yêu cầu việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành một cách dân chủ, khách quan, khoa học, công khai, minh bạch, thực chất, lựa chọn hình thức phù hợp, thuận lợi cho nhân dân, thời gian qua việc tổ chức lấy ý kiến người dân cho dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) được triển khai rộng rãi.

Cụ thể 9 nội dung trọng tâm để lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phát triển quỹ đất; giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận và các thủ tục hành chính, dữ liệu, thông tin đất đai; cơ chế, chính sách tài chính, giá đất; chế độ quản lý, sử dụng các loại đất; phân cấp, giám sát, kiểm soát quyền lực trong quản lý đất đai; quy định về hộ gia đình quản lý sử dụng đất.

Sau gần 2 tháng triển khai (từ ngày 3/1/2023 đến nay), việc lấy ý kiến đã thu được những kết quả rất tích cực. Nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, thể hiện ý thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đã được gửi đến ban tổ chức. Hầu hết các ý kiến đóng góp đều nhận định, dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) có phạm vi mở rộng hơn, cụ thể hơn, những nội dung quy định trong bản dự thảo là khá hợp lý, sát với thực tiễn; phù hợp với lợi ích và đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân.

Nhiều ý kiến của các độc giả trên các trang mạng xã hội, báo điện tử bày tỏ sự ủng hộ, đồng thuận với các quy định trong dự thảo; đồng thời thể hiện sự tin tưởng vào tính đúng đắn, khoa học, vì lợi ích nhân dân của bản dự thảo, thể hiện sự tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước.

Bên cạnh đó, trên tinh thần xây dựng, có ý kiến hướng tới việc cần thống nhất nhận thức, tránh phát sinh những bất cập, khiếu kiện trong quá trình thực hiện pháp luật về đất đai; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người sử dụng đất, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người dân.

Cụ thể, liên quan đến quy định thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, có ý kiến cho rằng cần làm rõ mục đích, tiêu chí những trường hợp phải thu hồi, nên có quy định cho những trường hợp cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương để địa phương chủ động thực hiện; cần thể chế hóa các quy định nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi; xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất; việc bồi thường thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, kịp thời và đúng quy định; cần nghiên cứu, bổ sung các loại đất về đất công trình cấp nước sạch, thoát nước mưa và nước thải cũng như rà soát, bổ sung trong nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các loại đất của các công trình này; chỉ rõ quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất của các công trình xây dựng ngầm trong dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi)... Ðây là những góp ý thể hiện rất rõ tinh thần trách nhiệm, ý thức làm chủ của người dân đối với vấn đề đất đai.

Tuy nhiên, bên cạnh những góp ý mang tính tích cực với tinh thần xây dựng đã xuất hiện một số ý kiến lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc, gây rối, cố tình làm "trầm trọng hóa" các vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến đất đai nhằm thực hiện mưu đồ đen tối. Trên mạng xã hội xuất hiện một số luận điệu tuy mang danh "góp ý" song cố tình xuyên tạc rằng "Nhà nước Việt Nam tiến hành sửa đổi Luật Ðất đai là để thao túng thị trường đất đai, nhằm mang lại lợi ích cho những cá nhân hay nhóm lợi ích nhất định chứ không phải vì lợi ích của nhân dân".

Ðể chứng minh cho quan điểm của mình, các đối tượng đã viện dẫn, cắt gọt, xuyên tạc phát ngôn của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, coi đó là "bằng chứng để tố cáo"; đồng thời cho rằng, "trên thực tế hàng chục năm qua có sự cài cắm lợi ích cục bộ vào trong luật" cho nên dù luật Việt Nam có nhiều lần sửa đổi thì "do các nhóm lợi ích chi phối nên từ luật pháp đến thực thi có nhiều trở ngại và vướng mắc" dẫn đến "xây dựng luật chắp vá, phải sửa đổi, bổ sung thường xuyên... Nhất là Luật Ðất đai không rõ ràng, các địa phương mỗi nơi áp dụng mỗi kiểu...".

Qua đó, các đối tượng muốn hướng lái người dân tới quan điểm dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) lần này là một sản phẩm "chắp vá", "không rõ ràng" "ảnh hưởng của lợi ích nhóm"… và ngụ ý rằng, việc "lấy ý kiến góp ý" cho dự thảo này chỉ là "hình thức", là "chiêu bài mị dân" của Việt Nam. Ðồng thời, chúng cố tình xuyên tạc mục đích tốt đẹp của việc sửa đổi Luật Ðất đai nói riêng và các bộ luật khác của Việt Nam nói chung.

Trên các trang mạng xã hội, các trang thông tin điện tử, báo điện tử, các thế lực thù địch liên tục lập những "nick ảo", tài khoản giả mạo người dân để tham gia "bình luận", "chia sẻ" những thông tin, bài viết liên quan đến các vụ việc về đất đai với góc nhìn lệch lạc, tiêu cực, nhằm kích động người dân, tạo tâm lý hoang mang, mất niềm tin đối với luật pháp và chính quyền.

Thực chất những luận điệu mà các đối tượng chống phá đưa ra không mới, vẫn là "bổn cũ soạn lại" nhưng nhân danh "góp ý dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi)" với mục đích làm cho nhân dân không tin tưởng vào việc lấy ý kiến, bất hợp tác với chính quyền. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn thực hiện âm mưu chống phá việc lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) bằng hình thức gián tiếp.

Các đối tượng muốn hướng lái người dân tới quan điểm dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) lần này là một sản phẩm "chắp vá", "không rõ ràng" "ảnh hưởng của lợi ích nhóm"… và ngụ ý rằng, việc "lấy ý kiến góp ý" cho dự thảo này chỉ là "hình thức", là "chiêu bài mị dân" của Việt Nam. Ðồng thời, chúng cố tình xuyên tạc mục đích tốt đẹp của việc sửa đổi Luật Ðất đai nói riêng và các bộ luật khác của Việt Nam nói chung.

Cụ thể, những đối tượng này liên tục đăng tải những bài viết liên quan đến câu chuyện đất đai như các chính sách gây tranh cãi, những sai phạm về đất đai, thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng... nhằm tạo ấn tượng, hình ảnh xấu và cái nhìn tiêu cực, bất mãn trong nhân dân. Họ "đào xới" lại những câu chuyện, hình ảnh "bi thương" của người dân, của vùng đất mà theo họ là "nạn nhân" từ các sai phạm về thu hồi đất.

Ðây là một hình thức chống phá khá thâm độc, khó nhận diện bởi không trực tiếp nhằm vào việc góp ý dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) lần này nhưng việc cố tình đăng tải các câu chuyện liên quan đến những tiêu cực về đất đai trong thời điểm hiện tại chính là nhằm gây ác cảm cho người dân đối với việc góp ý dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi), từ đó không tích cực tham gia góp ý, thậm chí bất hợp tác, không tin tưởng vào hiệu quả của việc lấy ý kiến cho dự thảo.

Trên thực tế, việc lấy ý kiến dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi lẽ Luật Ðất đai không chỉ là một đạo luật quan trọng, phức tạp, giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống pháp luật về đất đai mà còn có mối quan hệ và ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực thi các chính sách quy định trong rất nhiều luật khác do đó rất cần huy động sự đóng góp trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân nhằm hoàn thiện dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi).

Việc tham gia góp ý cho dự thảo cũng chính là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động trí tuệ, tâm huyết, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; tạo sự thống nhất và đồng thuận của nhân dân đối với chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đất đai; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động không ngừng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, với những hình thức khác nhau để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Ðảng, chống phá chủ trương, chính sách, đường lối và pháp luật của Ðảng và Nhà nước.

Ðặc biệt, mỗi khi đất nước có sự kiện quan trọng diễn ra, ngay lập tức các đối tượng nêu trên sẽ dùng mọi thủ đoạn để chống phá, trong đó có việc dùng những bài viết, thông tin trái chiều, tiêu cực, xuyên tạc… liên quan đến sự kiện, hòng kích động, gây hoang mang dư luận. Với các thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi, khó nhận diện, ẩn mình dưới vô vàn những vỏ bọc khác nhau, những đối tượng này triệt để lợi dụng quyền "tự do ngôn luận", thực hiện "quyền dân chủ" để chống phá chế độ. Do đó mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải luôn tỉnh táo, cảnh giác để không bị lôi kéo, dẫn dắt, tin, nghe theo các thông tin xấu độc.

Việc lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) đã đi được hơn một nửa chặng đường, đây cũng chính là thời điểm chúng ta cần tiếp tục tăng cường thông tin chính thống, kịp thời có sự định hướng đúng đắn về những kết quả đã đạt được, giải đáp thắc mắc, phản hồi những góp ý, ý kiến còn bức xúc của nhân dân liên quan đến các vấn đề đất đai.

Ðồng thời cần kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu lợi dụng việc "góp ý" để gây rối an ninh trật tự, chống phá chế độ, xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; xuyên tạc mục đích của việc lấy ý kiến nhân dân cho dự thảo lần này.

Ðây là những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết góp phần để việc lấy ý kiến người dân vào dự thảo Luật Ðất đai (sửa đổi) được hiệu quả, thực chất, có tính khả thi, đồng thời góp phần bảo vệ chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, và chế độ xã hội chủ nghĩa./.

TS. NGÔ THỊ NỤ (nhandan.vn)

Giám sát nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 

Giám sát là việc làm cần thiết đối với mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội, đặc biệt là đối với chính đảng của giai cấp vô sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. 


ĐỔI MỚI, CHỦ ĐỘNG, KỊP THỜI

Để lãnh đạo đúng, trước hết Đảng “phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng". Tuy nhiên, lãnh đạo đúng để đi đến thành công còn cần “Phải tổ chức sự thi hành cho đúng.... " và “Phải tổ chức sự kiểm soát..."(1). Quy trình lãnh đạo này nhằm biến lý luận thành thực tiễn, đường lối, chính sách, nghị quyết đi vào cuộc sống. Mặt khác, nói về kiểm soát, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”(2) và “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi"(3). Kiểm soát ở đây chính là kiểm tra và giám sát, một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng.

Trong giám sát có nhiều hình thức khác nhau, ngoài sự giám sát từ trên xuống và từ dưới lên, giám sát trực tiếp và gián tiếp còn có giám sát từ trong ra và từ ngoài vào. Giám sát từ trong ra là sự giám sát trong nội bộ Đảng, trong nội bộ tổ chức, là sự tự giám sát chính mình. Giám sát từ ngoài vào là kết hợp với vai trò quản lý của Nhà nước, sự tham gia giám sát của các đoàn thể chính trị và nhân dân.

Trong thực hiện giám sát từ ngoài vào, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự tham gia giám sát của nhân dân. Người khẳng định: “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”(4) hay “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là: người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân”(5).

Theo Hồ Chí Minh, giám sát của nhân dân không chỉ giúp cho lãnh đạo nắm chắc chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; kịp thời ngăn ngừa những khuyết điểm, sai lầm và giúp đỡ họ sửa chữa mà còn khơi dậy được tính tích cực, sức mạnh to lớn của nhân dân, củng cố uy tín của Đảng trước quần chúng. Thực hiện công tác giám sát trong Đảng một cách nghiêm ngặt kết hợp với giám sát bên ngoài của nhân dân sẽ góp phần làm cho Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Người viết:

"- Một mặt trong có Đảng kiểm tra đôn đốc.

- Một mặt có anh em ngoài kiểm tra đôn đốc.

Như thế đảng viên và cán bộ ngoài Đảng cùng được giáo dục. Nếu đảng viên không gương mẫu, người ngoài Đảng có thể nói là không xứng đáng. Hoặc anh em ngoài gương mẫu thì có thể đề nghị Đảng công nhận là đảng viên(6).

Ngay khi Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công, chính quyền vừa mới được thành lập, Hồ Chí Minh đã nhận thấy một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện lên mặt làm quan cách mạng, cậy có chức quyền nhũng nhiễu nhân dân. Người đã đề nghị nhân dân tích cực tham gia giám sát, giúp đỡ Đảng, Chính phủ. Người chỉ rõ: “Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia ... Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(7)Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việcphần “Cách lãnh đạo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề ra cho dân thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(8).

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giám sát có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng không những trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc mà còn trong công tác xây dựng Đảng giai đoạn hiện nay. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giám sát, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn nhận thức và phát huy vai trò to lớn của giám sát trong công tác xây dựng Đảng. Công tác giám sát đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng; thúc đẩy xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng.

Trong thời gian gần đây, công tác giám sát có nhiều đổi mới, chủ động và kịp thời hơn, bám sát yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Hoạt động kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp được đẩy mạnh, đạt kết quả khá toàn diện, nhất là ở cấp Trung ương. Qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên”(9).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giám sát vẫn còn tồn tại những khuyết điểm, hạn chế cần sớm được khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, một số cơ sở, công tác giám sát chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ, còn mang tính hình thức, chưa quyết liệt, còn có hiện tượng nể nang, né tránh, đùn đẩy, trông chờ vào sự chỉ đạo của cấp trên... Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm…; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời”(10).

ĐỀ CAO VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng chính là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng thật sự có hiệu quả thì không thể thiếu sự tham gia đóng góp của nhân dân. Thực tiễn những năm vừa qua đã chứng minh, có nhiều vụ việc tiêu cực xảy ra trong nội bộ Đảng là do quần chúng nhân dân phát hiện. Đặc biệt, năm 2023 được xác định là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, càng đòi hỏi sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm cao hơn nữa của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác giám sát của Đảng nhất thiết phải dựa vào dân, phát huy cao nhất sự tham gia, đóng góp của nhân dân. Đảng phải tạo mọi điều kiện và có thiết chế để nhân dân thực hành quyền giám sát hoạt động của Đảng; nội dung giám sát phải toàn diện bao gồm mọi hành vi liên quan đến phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên...


Thấm nhuần hơn nữa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giám sát từ ngoài vào, đặc biệt là vai trò giám sát của nhân dân, cần tiếp tục thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần phải tuyên truyền, giáo dục nhân dân về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của mình trong xây dựng Đảng thông qua hoạt động giám sát. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về giám sát của nhân dân trong cuộc vận động chống tham ô, lãng phí, quan liêu của cán bộ, đảng viên: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(11). Mặt khác, “dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”(12), người cán bộ phải nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của nhân dân, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng chậm tiến, lạc hậu để họ thực hiện tốt vai trò, quyền và trách nhiệm giám sát đối với Đảng. Cần tránh thái độ thờ ơ, lảng tránh hoặc qua quýt cho xong việc hoặc thái độ lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên đề công kích, phá hoại tổ chức Đảng, hạ thấp uy tín của đảng viên.

Thứ hai, trong thực hiện giám sát phải phát huy dân chủ trong nhân dânDân chủ thể hiện quyền của người dân và nghĩa vụ của người dân: Nhân dân là chủ và Nhân dân làm chủ. Quyền và nghĩa vụ đó được quy định trong Hiến pháp, pháp luật. Nhưng để quyền đó được thực thi trong thực tế, để người dân có thể thực hiện quyền đó một cách thường xuyên, cần có những quy định rõ ràng cụ thể, có cơ chế thực hiện. Theo Hồ Chí Minh, muốn dân chúng tham gia bày tỏ ý kiến, cán bộ phải quan tâm, phải khéo léo khơi gợi cho người dân nói lên tiếng nói của mình, từ đó, gom góp lại, sắp đặt lại cho có thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm chuyên môn của mình. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần phải chú trọng phát huy vai trò của nhân dân thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau, nhất là qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm kịp thời phát hiện ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cần tạo cơ chế để người dân nói lên tiếng nói của mình trong giám sát Đảng mà không sợ bị trả thù, trù úm, đồng thời cũng cần đấu tranh chống các thủ đoạn lợi dụng diễn đàn dân chủ để tuyên truyền cho những tư tưởng, mục đích cá nhân, gây hại cho Đảng và cho xã hội

Thứ ba, phát huy vai trò tích cực của dư luận xã hội. Dư luận xã hội là “luật bất thành văn” có tác động trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, giáo dục, giám sát, tư vấn, phản biện và giải tỏa tâm lý xã hội. Dư luận xã hội chính là một kênh thông tin thể hiện sự quan sát, đánh giá của nhân dân đối với Đảng và cán bộ, đảng viên, góp phần vào việc xây dựng, củng cố Đảng; phòng chống nguy cơ suy thoái trong cán bộ, đảng viên. Sự nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội góp phần giám sát các hoạt động của các tổ chức đảng và Nhà nước, các cán bộ của Đảng và Nhà nước, buộc họ phải làm việc phù hợp với lợi ích chung của xã hội, các quy định của Đảng và nhà nước. Trước các hiện tượng tiêu cực, các hành vi phạm và “lệch chuẩn” của cán bộ, đảng viên, thái độ phản ứng của dư luận xã hội tạo ra sức ép lớn đến suy nghĩ, hành động của mỗi người và có tác động nhất định trong việc thay đổi nhận thức, hành vi của họ.

Trong điều kiện hiện nay, cần định hướng cho dư luận xã hội về sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần chú ý đấu tranh, loại bỏ những dư luận có tác động tiêu cực, bảo thủ, kìm hãm hành vi tích cực và sự sáng tạo, nhất là dư luận tiêu cực xuất phát từ mục tiêu tự bào chữa của những phần tử cơ hội, tham nhũng, tiêu cực tạo nên hoặc thủ đoạn của các thế lực trong tạo dư luận xấu đề gây kích động trong nhân dân.

Thứ tư, Đảng và cán bộ, đảng viên phải thực sự tôn trọng nhân dân, phải nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình, thường xuyên lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, nghiêm túc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm trước nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng, người lãnh đạo, quản lý phải yêu dân, kính dân thì dân mới dành sự yêu kính cho mình. Dựa vào quyền lực để lãnh đạo và quản lý nhất thời có thể đạt được mục đích nhưng về lâu dài có thể làm cho nhân dân e ngại, lo sợ, dẫn đến xa lánh và khinh ghét, không giành được sự tin tưởng, yêu mến, kính phục của họ. Hơn nữa, nhân dân là những người trí tuệ, thông minh, tài giỏi… Dân chúng “nhiều tai, nhiều mắt, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy”. Làm theo cách quần chúng, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng để lãnh đạo là đúng đắn. Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn trở thành chi bộ “bốn tốt”, trước hết đảng viên phải gương mẫu, làm đúng chính sách, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, lắng nghe ý kiến của quần chúng thì mới được dân tin, dân phục, dân yêu(13).

Có thể nói, phát huy vai trò giám sát của nhân dân chính là thực hiện tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, nhằm tổ chức, động viên nhân dân tham gia giám sát tổ chức đảng, đảng viên góp phần đưa công tác giám sát đi vào chiều sâu và thực chất và đạt hiệu quả cao./.

TS. Trần Thị Hợi
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh