“Giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng”
Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023
QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM LUÔN ĐƯỢC BẢO ĐẢM – SỰ THẬT KHÔNG THỂ BÁC BỎ, XUYÊN TẠC
Tại buổi họp báo do Bộ Ngoại giao tổ chức ngày 15/12/2022, khi được hỏi phản ứng của Việt Nam về việc đầu tháng 12/2022 Hoa Kỳ thông báo đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã nói rõ: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và đảm bảo quyền con người, cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân”. Chính thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ những đánh giá thiếu khách quan của các thế lực không thiện chí với Việt Nam.
Cần khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Đây là một trong những quyền cơ bản của mọi người, được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, cũng như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay khẳng định trên nguyên tắc hiến định. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.
Thế nhưng, do tư tưởng định kiến với Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch ở trong nước và ngoài nước, trong đó có Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) vẫn bất chấp những thành tựu không thể phủ nhận của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân để xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF vẫn thường xuyên sử dụng thông tin, tài liệu cũ, không chính xác từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận cùng số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để đưa vào các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu, phê phán việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”(!). Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”(!). Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”(!). Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.
Tuy nhiên, thực tiễn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam hoàn toàn khác xa với những nhận định thiếu khách quan, mang tính định kiến, xuyên tạc trên. Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế; không có chuyện Nhà nước hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và cũng không có chuyện “đàn áp tôn giáo”. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của “mọi công dân” (Hiến pháp năm 1992), bằng của “mọi người” là một bước tiến rất nhân văn. Theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng cho cả những “người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc” và “người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam”. Nhất quán với Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; (2). Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; (3). Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo; người chưa thành niên,... phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; (4). Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác”. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà chỉ nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cụ thể hóa nội dung này, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “(1). Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; (2). Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; (4). Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo mà: (a). Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; (b). Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; (c). Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; (d). Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; (5). Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi”.
Cần nhấn mạnh rằng: những quy định trên hoàn toàn tương thích với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trong luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng và không ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác và đặc biệt không được ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, môi trường, đạo đức xã hội. Chính vì vậy, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ổn định, phát triển xã hội, Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (năm 1966) đã nhấn mạnh: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định pháp luật và các giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”1. Điều 9, Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cũng khẳng định: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác”2. Luật Phân ly 1905 của nước Pháp cũng quy định: “Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do tín ngưỡng. Nó bảo đảm quyền tự do hành đạo với những hạn chế vì quyền lợi duy trì trật tự công cộng”3. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là phải có giới hạn, quyền ấy sẽ bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, môi trường, chứ không như những đòi hỏi vô lý của các thế lực phản động, thù địch, không thân thiện với chế độ chính trị ở Việt Nam. Hẳn chúng ta còn nhớ, năm 2012, cảnh sát Mỹ đã bắt giữ 07 thành viên nhóm Hutaree (Hu-ta-ri) tự xưng là “chiến binh Thiên chúa giáo” vì có âm mưu chống lại chính quyền; còn tháng 7/2018, Tòa án Tối cao Nhật Bản đã thi hành án tử hình đối với 06 thành viên giáo phái “Ngày tận thế” (Aum Shinrikyo) cùng thủ lĩnh là Giáo chủ Shoko Asahara do gây ra vụ tấn công bằng chất độc sarin năm 1995 nhằm vào hệ thống tàu điện ngầm Tokyo và các tội ác khác. Điều đó cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, ai lợi dụng quyền tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật thì cũng đều bị trừng trị; ở Việt Nam không có “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm” như các thế lực phản động, thù địch rêu rao, mà chỉ có những người lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật mới bị xử lý.
Những năm qua, ở Việt Nam, nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo đã thu hút hàng vạn tín đồ nhân dân tham dự, nổi bật như: tháng 12/2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng 7/2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai, với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công 03 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008, 2014, 2019), riêng năm 2019 tổ chức tại chùa Tam Chúc (tỉnh Hà Nam) đã thu hút sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh, v.v.
Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh. Trước năm 1990, cả nước có 06 cơ sở đào tạo tôn giáo, đến năm 2021 đã tăng lên thành 63 cơ sở đào tạo, mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp; ngoài ra, còn có hàng trăm người đang du học tại nước ngoài. Nhờ vậy, số chức sắc, nhà tu hành tăng rất nhanh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn việc đạo cho tín đồ. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hằng năm,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật.
Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (năm 2019), cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ (trong đó có nhiều kinh sách được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai), 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.
Công tác xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự của các tôn giáo cũng được quan tâm đẩy mạnh trong những năm qua. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hoạt động của các tổ chức tôn giáo, chính quyền các địa phương đã quan tâm giải quyết, cấp đất cho các tổ chức tôn giáo. Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, trong 10 năm (2012 - 2022) thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm héc ta đất để xây dựng cơ sở thờ tự, như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện thành kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; Thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 héc ta cho Giáo xứ La Vang, v.v.
Có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua là rất đa dạng, sôi động và phong phú. Những thực tiễn kể trên là minh chứng sinh động, rõ nét nhất cho tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Những thành tựu đó không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Việc Việt Nam lần thứ hai trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 với số phiếu ủng hộ của 145/189 nước đã một lần nữa khẳng định quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam nói riêng được bảo đảm tốt, không thể phủ nhận. Do vậy, những nhận định thiếu khách quan, không đúng với thực tế tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam sẽ không bao giờ có giá trị, mà chỉ làm tổn hại cho quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, cần phải được vạch trần, phê phán, bác bỏ./.
ST
NHỮNG KẺ ĐI NGƯỢC VỚI LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC CHỐNG LẠI SỰ BÌNH YÊN CỦA TỔ QUỐC LIỆU CÓ XỨNG ĐÁNG "ĐƯỢC TÔN VINH"!
BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “THAM NHŨNG, THA HÓA, BIẾN CHẤT LÀ CÁI “PHỔ BIẾN” VÀ “TẤT YẾU” CỦA CHẾ ĐỘ ĐỘC ĐẢNG”
Nhằm mục tiêu làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng”. Đây là luận điệu hoàn toàn méo mó về lý luận, lệch lạc về thực tiễn, không thể lừa dối được ai.
Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng hiếm thấy thời kỳ nào vị thế của dân tộc lại có được như bây giờ. Qua 36 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, đem đến sức vóc mới, tiếp sức cho chúng ta tiến những bước vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thành công đó là minh chứng hùng hồn về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự tin tưởng tuyệt đối của toàn dân, toàn quân ta với Đảng để đồng lòng, chung sức xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng vững mạnh, hùng cường.
Nhưng với mưu đồ chính trị, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách chống phá Đảng và chế độ ta. Khi các chiêu bài đòi “đa nguyên, đa đảng” đã hoàn toàn thất bại, họ lại dùng những thủ đoạn khác để thực hiện âm mưu đó. Trong lúc Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta kiên quyết đẩy mạnh công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và từng bước đạt được những thành công, thì những thế lực chống đối lại đưa ra luận điệu: “tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng”. Đây vẫn là thủ đoạn xảo trá quen thuộc “lấy bé xé ra to”, lấy hiện tượng quy thành bản chất để phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Song, chúng ta có đầy đủ lý lẽ và chứng cứ thực tiễn để bác bỏ luận điệu này.
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ sự nguy hại và đánh giá đúng thực trạng, tình hình tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tha hóa, biến chất là những hiện tượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tham nhũng là một trong những biểu hiện của suy thoái, tha hóa, biến chất và nó là hiện tượng nghiêm trọng nhất. Sinh thời, khi nói về sự nguy hại của tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đó là “giặc nội xâm” và Người yêu cầu phải kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch nguy hiểm này cùng với các căn bệnh khác như tha hóa, thoái hóa, biến chất. Còn Đảng ta xác định, tham nhũng cùng với tha hóa, biến chất là một trong những “nguy cơ lớn” đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.
Nhận rõ sự nguy hại của tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tại các kỳ đại hội Đảng, nhất là những đại hội gần đây, Đảng ta đã luôn đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ phòng, chống các tệ nạn này. Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”1. Đại hội XI của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”2. Đại hội XII của Đảng xác nhận: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp,... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”3. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”4.
Những đánh giá của Đảng ta là rất nghiêm túc, khách quan, khoa học, đúng thực chất mức độ và tác hại của các hiện trạng tiêu cực vẫn đang diễn biến phức tạp. Có thể thấy rằng, việc xác định một bộ phận không nhỏ là sự đánh giá định tính nhưng rất chính xác (không nhỏ nghĩa là đã có con số đáng kể, có lớn nhưng chưa phải số đông, đáng kể nhưng vẫn là thiểu số, không phải đa số). Số liệu cụ thể cho thấy, năm 2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật đối với 38 tổ chức đảng, 166 đảng viên; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kỷ luật 19 tổ chức đảng, 43 đảng viên. Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 67 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có 07 Ủy viên Trung ương Đảng, 06 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Với số lượng 67 trường hợp bị xử lý trong hàng nghìn cán bộ do Trung ương quản lý cũng như 07 trường hợp kỷ luật trong hàng trăm Ủy viên Trung ương thì không thể coi đó là “phổ biến”.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực. Nhận thức rõ tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, suy giảm quyền lực của Nhà nước và sói mòn lòng tin của Nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị cao trong việc phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Bởi vậy, việc phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”5. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”6.
Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm mới 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Tổng Bí thư cũng chỉ rõ: trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”, nhưng thực tế đã chứng minh, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế.
Thứ ba, tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất về nhân cách là “quốc tế nạn” chứ không phải ở chế độ một đảng cầm quyền. Chúng ta biết, quy luật của tự nhiên và xã hội luôn có sự phát triển không đồng đều. Trong một khu rừng, cùng một loại cây hoặc muông thú đều có cá thể mạnh, yếu và khuyết tật; trong một cây rất tươi tốt cũng có cành mục, cành khô; trong đời sống xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu và tham nhũng, suy thoái, tha hóa nhân cách cũng vậy, ở chế độ nào cũng có, nhưng không thể là cái “phổ biến”, mà chỉ là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia khi quyền lực nhà nước bị thao túng, lợi dụng để trục lợi và được coi là “quốc tế nạn” ở mọi thể chế chính trị, là căn bệnh nan y đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người. Như vậy, chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là tệ nạn rất nhức nhối, xuất hiện ở nhiều quốc gia, trong đó nhiều nhất lại là ở các quốc gia có chế độ đa đảng do giai cấp tư sản lãnh đạo. Nhiều quốc gia không phải đảng cộng sản cầm quyền, như: Hàn Quốc, Malaysia, Colombia, Brazil, Ukraine,… tham nhũng xảy ra rất nghiêm trọng. Ngay cả Nghị viện châu Âu (EP) cũng vừa vướng vào bê bối tham nhũng, cụ thể: giới chức Bỉ ngày 11/12/2022 đã bắt 04 cá nhân với cáo buộc nhận tiền và quà từ một quốc gia vùng Vịnh. Trong số 04 người này có nghị sĩ Hy Lạp Evakaili là một trong 14 phó chủ tịch EP và Francisco Giogi, cố vấn của EP. Vừa qua, cựu nghị sĩ Ukraine Kostiantyn Zhevago bị bắt ở Pháp vì bị cáo buộc tham ô gần 200 triệu USD ở quê nhà; tháng 7/2022, Thủ tướng Anh Boris Johnson buộc phải từ chức vì bê bối về nhân cách, v.v.
Những luận chứng, luận cứ trên đã khẳng định: “tham nhũng, tha hóa, biến chất” là một hiện tượng mang tính xã hội, ở chế độ xã hội nào cũng có, không thể quy thành bản chất của chế độ độc đảng. Vì thế, luận điệu: tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng - một cách nhìn méo mó về lý luận, lệch lạc về thực tiễn, cần kiên quyết bác bỏ. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quyết liệt trong điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng thuận của nhân dân, chúng ta hoàn toàn tin tưởng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất nhất định sẽ đạt nhiều thắng lợi, sự nghiệp cách mạng của chúng ta nhất định thành công./.
ST
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VẪN LÀ NGỌN CỜ, KIM CHỈ NAM CHO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA NHÂN DÂN TA
Ra đời cách đây 175 năm (tháng 02/1848) và trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi của hoàn cảnh, nhưng những nguyên lý trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta; vẫn là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới và nhân dân ta trên con đường đi tới xã hội chủ nghĩa.
1. Chủ nghĩa Mác được hình thành với sự ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Tháng 02/1848, C.Mác và Ph.Ăngghen chính thức công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do các ông soạn thảo bởi sự ủy nhiệm của Đồng minh những người cộng sản - một tổ chức công nhân quốc tế; công khai “trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, ý đồ” của những người cộng sản, đập lại “câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản” ở châu Âu mà các thế lực chống đối rêu rao.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận chủ nghĩa Mác với sự hoàn bị của ba bộ phận hợp thành: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học; trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên, kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường, biện pháp thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy là phát kiến vĩ đại và công lao to lớn của chủ nghĩa Mác.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân và chỉ rõ, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng; khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”1. Những phạm trù, những nguyên lý cơ bản, then chốt của chủ nghĩa Mác được trình bày và luận chứng một cách khoa học, rõ ràng và có hệ thống. Đó là các vấn đề: quy luật phát triển của lịch sử xã hội; giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, đưa con người đến cuộc sống tự do, hạnh phúc; cách mạng xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; Đảng Cộng sản và liên minh giai cấp; các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, gia đình, văn hóa mới,... là những vấn đề rất cơ bản về thế giới quan, phương pháp luận khoa học, lập trường cách mạng, con đường, biện pháp và điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Những phạm trù, những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn mang tính chất phổ biến cả về lý luận và thực tiễn; thực sự là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; trở thành “cuốn sách gối đầu giường” cho tất cả những người cộng sản và công nhân giác ngộ. V.I.Lênin từng đánh giá: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng ngàn bộ sách, tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thế giới giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”2.
2. Trong gần hai thế kỷ qua, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến nhận thức của nhân loại và tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Nó là cơ sở, nền tảng tư tưởng cho sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; sự ra đời của các đảng cộng sản; là kim chỉ nam cho đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân khỏi áp bức, bóc lột; hình thành nên các nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều thử thách với những thay đổi to lớn và cả biến cố lớn lao, có nhiều vấn đề rất mới về lý luận và thực tiễn đặt ra cần giải quyết, nhưng những nguyên lý cơ bản mà C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt, còn nguyên giá trị. Tuy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực - sản phẩm trực tiếp của những tư tưởng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác – Lênin có những bước thăng trầm và cả tổn thất nặng nề; song hiện nay, một số nước vẫn vững vàng, tiếp tục hành trình, đạt thành tựu to lớn trên con đường xây dựng xã hội mới, tạo diện mạo mới đầy năng động và sáng tạo. Nhiều chính khách, học giả có uy tín lớn trên thế giới vẫn xem C.Mác là nhà tư tưởng, nhà khoa học xã hội, nhân văn lớn của nhân loại; vẫn khẳng định Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là một tác phẩm bất hủ. Ngay ở nhiều nước tư bản phát triển, người ta vẫn thấy có những tiếng nói về những giá trị của Tuyên ngôn, của chủ nghĩa Mác, của học thuyết kinh tế Mác; trong những cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế, ở nhiều nước tư bản phương Tây lại thấy xuất hiện phong trào “trở về với Mác”, tìm đọc Tuyên ngôn và các tác phẩm của C.Mác.
Hiện thực sinh động đó đã cho thấy giá trị to lớn cả về phương diện lý luận, thực tiễn và sức sống bất diệt của Tuyên ngôn, của chủ nghĩa Mác với tính cách là cương lĩnh chính trị, học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân. Dù cho trong thế kỷ này, tình hình có biến đổi như thế nào chăng nữa, nhưng những nguyên lý trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta; vẫn là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trên con đường đi tới tương lai xã hội chủ nghĩa.
3. Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng hơn 90 năm qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong Tuyên ngôn; đồng thời, trực tiếp bảo vệ và phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng. Trước mỗi bước ngoặt lịch sử của cách mạng, Đảng ta luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị, kiên định, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, loại trừ mọi biểu hiện và ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, cơ hội, xét lại; tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với những nguyên lý cơ bản mà Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra. Những nguyên lý đó luôn là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Hơn chín thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã giải quyết một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được nhận thức ngày càng rõ hơn. Nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn mới đã được Đảng ta ngày càng nhận thức đúng đắn qua các kỳ đại hội và vận dụng sáng tạo vào công cuộc đổi mới, thu được những thành tựu quan trọng, trở thành “xương sống” lý luận của sự nghiệp đổi mới.
Trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển. Sau hơn 35 năm đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3. Thành tựu đó tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài, để nhân dân ta bước vào một thời kỳ phát triển mới với nhiều triển vọng. Điều đáng nói là, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước mà nhân dân ta đạt được, suy đến cùng đều do sự dẫn dắt và soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, hay nói cách khác, đó là do Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn cách mạng. Thực tiễn đó càng khẳng định giá trị lịch sử và ý nghĩa to lớn của Tuyên ngôn trong thời đại mới.
4. Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Đại hội XIII của Đảng nhận định về những vấn đề rất cơ bản: xu thế, cục diện thế giới; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; kinh tế thế giới; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chiến tranh và xung đột vũ trang; các thách thức an ninh phi truyền thống; và những vấn đề toàn cầu khác,… diễn biến phức tạp, khó dự báo trong thời gian tới. Sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đan xen; trong đó, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,... còn diễn biến phức tạp”4.
Trong bối cảnh mới, những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của đất nước và thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển của lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin cùng những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Xuất phát từ thực tế khách quan, vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm sức sống và phát huy vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong thực tiễn. Thoát ly hiện thực, xa rời thực tế thì việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ kém chất lượng, những kết luận lý luận được rút ra sẽ trở nên trống rỗng, vô giá trị, thậm chí phản giá trị.
Chính C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, trong cuộc đời hoạt động của mình, đã liên tục phát triển lý luận, bao gồm cả việc sửa chữa, hoàn thiện các luận điểm cũ và phát triển những luận điểm mới khi thực tiễn đã thay đổi. C.Mác, đặc biệt là Ph.Ăngghen, khi viết lời tựa cho những lần xuất bản sau, mặc dù vẫn giữ nguyên các quan điểm trong Tuyên ngôn, vì tôn trọng lịch sử, nhưng đã có sự phát triển, vì tình hình đã có nhiều thay đổi, vì “đại công nghiệp đã có bước tiến hết sức lớn”. Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”5. V.I.Lênin - người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, đã chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”6. Người cũng đã phát triển một loạt luận điểm lý luận mới của chủ nghĩa Mác, mà trước đó do hạn chế của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen, cũng như Tuyên ngôn chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa đầy đủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề sự thay đổi của tình hình, thì đấu tranh giai cấp cũng sẽ thay đổi; khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông, thì đấu tranh giai cấp sẽ trở nên quyết liệt. Người yêu cầu vận dụng, nghiên cứu chủ nghĩa Mác phải trên cơ sở lịch sử, phải “củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”7.
Phương pháp luận khoa học đó chỉ ra rằng: việc trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn và của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta không thể chỉ trích dẫn nguyên xi những nhận định, những luận điểm của các nhà kinh điển để làm luận chứng duy nhất (tuy là cần thiết), mà điều quan trọng là phải nắm bắt tinh thần cách mạng, bản chất khoa học, linh hồn sống, phương pháp luận khoa học mà các nhà kinh điển, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cung cấp, đặt nó trên “mảnh đất hiện thực” đương đại, bổ sung cho nó những “cơ sở lịch sử”, những hiện thực tươi mới. Đảng ta chỉ rõ, chúng ta phải “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”8.
5. Trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ chiến lược phát triển đất nước với những khát vọng mạnh mẽ; nêu cao tinh thần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xác định tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi khát vọng phát triển ấy.
Bản chất Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng và khoa học; đòi hỏi chúng ta khi vận dụng, phát triển vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, vừa phải thực hiện với tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Dù cho trong thế kỷ này sẽ có những biến động bất trắc, khó lường, nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, vẫn tiếp tục soi sáng những vấn đề cơ bản của thời đại và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Nhân dân ta; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là giá trị cơ bản của nhân loại, là con đường, mục tiêu lý tưởng mà Đảng và Nhân dân ta phấn đấu. Chỉ có đi theo con đường cách mạng dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, thì dân tộc Việt Nam mới có thể ngẩng cao đầu, vững bước tiến lên. Vì thế, chúng ta phải luôn cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.
ST
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 09/3
“Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC LÀ “ĐẤU ĐÁ NỘI BỘ, PHE CÁNH”
Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm để tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội, nhất là về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta. Chúng rêu rao rằng, “đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái”…(?!). Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc, nhằm làm giảm sút uy tín của Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn trên, đồng thời phải tích cực đấu tranh phản bác.
ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược DBHB, BLLĐ chống phá cách mạng, chống phá chế độ ta. Trọng điểm là tập trung chống phá Đảng ta, trong đó trước hết họ nhằm vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành quả cách mạng XHCN, thành quả của công cuộc đổi mới, thổi phồng những khuyết điểm, tồn tại, bôi đen hiện thực.
“NỮ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM” CÓ XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC “TÔN VINH”
Vào những ngày này, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, xã hội và đặc biệt là nam giới đã tổ chức các sự kiện, chương trình và dành những lời chúc tốt đẹp nhất đến những người phụ nữ xung quanh mình. Đó có thể chỉ là những lời chúc, những bông hoa, món quà nhưng tất cả đều hướng đến dành sự tôn trọng, tri ân với sự hy sinh vất vả, bày tỏ tình cảm, sự quan tâm đến các chị em, các bà, các mẹ, những người phụ nữ tuyệt vời xung quanh mình.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW đối với học viên lớp Đào tạo cao cấp ngắn hạn Chỉ huy-Tham mưu tại Học viện Quốc phòng.
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội [1]. Ở Việt Nam, cương lĩnh, đường lối của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 35 năm qua chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Do đó, nội hàm của “nền tảng tư tưởng của Đảng” ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn bao hàm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế


