Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 Sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều đó được phản ánh rõ nét qua nhiều bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” và làm sáng tỏ cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước với các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

1- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tập hợp các thành tố cơ bản, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Các bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Đoàn thể tập hợp lực lượng”; trong đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, điều đó được thể hiện:

Thứ nhất, khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội và lý giải sâu sắc vì sao Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (tác phẩm) đưa ra các luận cứ sau:

Tổng Bí thư đưa ra cách tiếp cận về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm là: “chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay”(1). Học thuyết Mác - Lê-nin là học thuyết cách mạng, khoa học, tiến bộ, có giá trị nhân văn sâu sắc bởi đó là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu và chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đồng thời, tính khoa học thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, đòi hỏi luôn bổ sung, đổi mới, phát triển để phù hợp với thực tiễn.  

Tổng Bí thư đặt vấn đề: “khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào... Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội,... công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản.... Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”(2).

Luận giải quan điểm trên, Tổng Bí thư đưa ra dẫn chứng so sánh bản chất giữa chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa với xã hội chủ nghĩa. Với quan điểm khách quan, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tác phẩm không phủ nhận mà khẳng định các giá trị, vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại: “chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ... hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”(3). Tuy nhiên, tác phẩm cũng khẳng định “chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”(4) do đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(5) đã dẫn đến các khủng hoảng kinh tế - tài chính, năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái; những bất công xã hội; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn... Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển, đã chứng minh các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” không thể bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; hệ thống quyền lực ở các nước tư bản chủ nghĩa vẫn chủ yếu thuộc về giai cấp tư sản (thiểu số giàu có) và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át”(6). Kết quả các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” có thể thay đổi chính phủ, nhưng bản chất thống trị của tư bản không thay đổi; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản và quyền lực của nhân dân lao động thực sự không có.

Chỉ ra các hạn chế của chủ nghĩa tư bản, trong đó có cả ở các nước tư bản phát triển, các nước tư bản lâu đời cho thấy đây không phải là mô hình xã hội ưu việt mà nhân loại và Việt Nam cần hướng tới. Tác phẩm khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn... cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên... Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”(7), “đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”(8). Đoạn này lặp lại rất nhiều từ “chúng ta cần”, cho thấy chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta đang xây dựng chưa hiện hữu, đó là mục tiêu, mong ước hướng tới. Những giá trị ưu việt, tiến bộ đó của chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với ý chí, nguyện vọng và mong ước của nhân loại, mà còn là khát vọng của toàn dân ta, nó còn phù hợp với các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh với dựng nước và giữ nước. Đó là truyền thống nhân đạo, nghĩa tình, tinh thần đoàn kết, yêu thương đùm bọc, đại nghĩa hào hiệp, nhân đạo, nhân văn. Trong những thời điểm khó khăn của đất nước, luôn thấy sự ngời sáng của tình đoàn kết, sự yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, nghĩa tình đồng bào, đồng chí cùng vượt qua khó khăn ở khắp mọi miền Tổ quốc... và đặc biệt là giá trị nhân văn vì nhân dân, vì con người. Với các quan điểm như “lấy sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết”; “chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau” trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đã thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Do đó, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là yêu cầu khách quan, con đường tất yếu, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế tiến bộ của thời đại ngày nay. Tác phẩm cũng chỉ rõ, việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam  “bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản”(9). Những luận cứ này không chỉ khẳng định niềm tin vào con đường mà Đảng ta đã chọn, mà còn là vũ khí sắc bén để giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh phản bác chống các quan điểm sai trái về học thuyết Mác - Lê-nin, chủ nghĩa xã hội, và mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, tác phẩm đã tổng kết thực tiễn, đưa ra cái nhìn tổng thể, toàn diện về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam với những luận cứ sau:

“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(10). Đây chính là sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn nước ta. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, kiên trì con đường đó. Và thực tiễn đã chứng minh sự lựa chọn và kiên định con đường đó của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Điều đó được thể hiện ở thành công của công cuộc đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, tiêu biểu là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước và thực hiện thành công con đường đổi mới, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, tốt đẹp cho đất nước qua hơn 35 năm. Tác phẩm đã đưa ra những dẫn chứng sinh động, cụ thể và toàn diện trên các mặt để chứng minh thành tựu to lớn mà công cuộc đổi mới mang lại như: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(11). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(12). Những thành tựu đó là một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ của các thế hệ lãnh đạo qua nhiều nhiệm kỳ, của toàn Đảng, toàn dân. Các mục tiêu, quan điểm và định hướng quan trọng trong xây dựng đất nước mà tác phẩm cũng đưa ra trong thời gian tới là kết quả của quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc, hoàn thiện và đúng đắn hơn của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định vai trò lãnh đạo không thể thay thế của Đảng đối với mọi thành công của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, tác phẩm đã làm sáng tỏ cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của hệ thống chính trị ở nước ta với những cơ sở khách quan và yêu cầu trong tình hình mới như sau:

Trong tác phẩm, vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta được Tổng Bí thư đặc biệt quan tâm, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vì: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”(13)Để tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng và đổi mới chính trị, Đại hội XIII của Đảng đã tập trung ba nội dung cơ bản, trọng yếu: 1- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; 2- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 3- Mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là ba nội dung cơ bản, trọng yếu mang tính đột phá trong đổi mới chính trị; trong đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu.

Từ cơ sở lý luận về xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đến những vấn đề cụ thể về Quốc hội, Chính phủ, nội chính, kiểm tra, văn hóa, đối ngoại; công tác tổ chức, cán bộ; thi đua##- khen thưởng; về công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, về xây dựng lực lượng quân đội, công an,... ở lĩnh vực nào Tổng Bí thư cũng có phân tích sâu sắc, sẻ chia, đồng cảm, gợi mở, định hướng thuyết phục và nhấn mạnh: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa(14). Phải tiếp tục nâng cao hơn nữa bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”; phải nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, đủ sức để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững, trong đó có việc phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế. 

Tác phẩm đã làm rõ hơn mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát của hệ thống chính trị ở nước ta gồm có 3 bộ phận: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây cũng là vấn đề được Tổng Bí thư đề cập ở nhiều bài viết, bài phát biểu trong 29 bài viết, bài phát biểu của Tác phẩm. Đảng lãnh đạo là đề ra đường lối, chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, mở rộng các quan hệ đối ngoại; lãnh đạo thông qua tuyên truyền, giáo dục; lãnh đạo thông qua công tác tổ chức cán bộ; lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, giám sát; và Đảng lãnh đạo thông qua sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng. Nhà nước quản lý thông qua việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành văn bản luật, chính sách và tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các chính sách nhằm biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Nhân dân làm chủ bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) nhằm thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, nhân dân cũng là chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thụ hưởng các thành quả do chính mình làm ra.

Cán bộ, đảng viên xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai hướng dẫn đồng bào cách chăm sóc quýt - cây hàng hóa chủ lực của địa phương cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư chỉ rõ, trong chế độ chính trị của chúng ta: “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân”(15). Vì vậy, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, là xây dựng một chế độ “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội”(16). Đây là những chỉ dẫn rất quan trọng của Tổng Bí thư trong quá trình xây dựng chế độ chính trị và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, đồng thời lưu ý cần: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. “Đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương và giữa các cơ quan, đơn vị này với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất; tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây””(17).

2- Để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Tổng Bí thư yêu cầu:

Thứ nhất, đối với Quốc hội, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang và các kết quả đạt được, tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn mới. Quốc hội cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các quyết sách quan trọng tại Đại hội XIII của Đảng đạt chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đối với các đại biểu Quốc hội “cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, nâng cao trình độ về mọi mặt, gần gũi và lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hiện và hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà cử tri và nhân dân giao phó”(18). Quốc hội “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(19).

Thứ hai, đối với Chính phủ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới, từng bước đưa đất nước vượt qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Xứng đáng với vị trí, vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ quan trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, biến đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm vẻ vang cho dân tộc, cho giống nòi”(20).

Thứ ba, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phát huy truyền thống đoàn kết, huy động sức mạnh toàn dân tộc; và “tiếp tục có những hoạt động năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực hiệu quả hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(21).

Thứ tư, đối với các cơ quan nội chính phải thật sự là những “thanh bảo kiếm sắc bén” và “lá chắn vững chắc” để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự, kỷ cương của xã hội.“Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ, công chức cơ quan nội chính phải thường xuyên tôi luyện, rèn giũa bản thân để “thanh bảo kiếm” luôn rắn rỏi và sắc bén, dám vung kiếm và vung kiếm đúng lúc, chém đúng đối tượng, không bị sứt mẻ; để “lá chắn” luôn vững vàng, chắc chắn, không một viên đạn, mũi tên nào có thể xuyên thủng, nhất là những viên đạn, mũi tên “bọc đường””(22).

Tóm lại, tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, có tính khoa học và tính chiến đấu cao, giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới hiểu rõ hơn về mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Tác phẩm cũng là “vũ khí lý luận gắn với thực tiễn” có giá trị sắc bén, để đập tan những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị chống phá, mưu toan thực hiện mục tiêu xóa bỏ, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đó là: phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; chống phá và đòi bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam... Với các luận cứ lý luận khoa học và minh chứng thực tiễn sinh động, tác phẩm đã khẳng định tính đúng đắn về sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tác phẩm có nhiều bài viết, bài phát biểu đã làm rõ cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, hướng tới mục tiêu tổng quát “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

-----------------------------

(1) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 18
(2), (3), (4), (5), (6), (7) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 18, 18 - 19, 19, 20, 21, 21
(8), (9), (10) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 22, 25, 22
(11), (12), (13), (14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 33, 34, 226, 29
(15), (16), (17), (18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 93, 93, 96, 81
(19), (20), (21 (22) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 81, 98, 118, 141

Cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung Quốc: Kỷ nguyên mới trong chiến lược nước lớn.

 Trong bối cảnh cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc đang leo thang hiện nay, cạnh tranh về công nghệ là mũi nhọn đang được cả hai cường quốc hướng đến nhằm giành lợi thế quyết định trong chiến lược tổng thể. Đặc biệt, khi tầm quan trọng của công nghệ đối với an ninh, sức mạnh và sự thịnh vượng của các quốc gia ngày càng tăng, dự liệu cuộc cạnh tranh công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp diễn lâu dài và quyết liệt trong tương lai.

Bối cảnh của cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung Quốc hiện nay

Cạnh tranh công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc là một phần quan trọng của cuộc cạnh tranh chiến lược nước lớn và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc hiện nay. Hai nước cạnh tranh về công nghệ nhằm đạt được ảnh hưởng lớn hơn trong trật tự toàn cầu đang biến động mạnh mẽ. Trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, công nghệ ngày càng trở thành đấu trường gay gắt và trọng tâm. Năm 2017, khi chính quyền Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm khởi động cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, cuộc cạnh tranh về công nghệ đã nhanh chóng leo thang trong những năm tiếp theo. Tại thời điểm đó, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đã được đặt ra như một nguy cơ đối với Mỹ(1). Khi cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc nổ ra, các vấn đề liên quan đến công nghệ, như sở hữu trí tuệ, hợp tác công nghệ là những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Mỹ cho rằng phát triển công nghệ của Trung Quốc gây tác động tiêu cực đến Mỹ và nhằm phục vụ mục tiêu cạnh tranh nước lớn với Mỹ, vì vậy, phải ngăn chặn sự phát triển này. Mặc dù Trung Quốc luôn phủ nhận những cáo buộc của Mỹ về việc phát triển công nghệ nhằm gây tổn hại đến các quốc gia khác, song việc Trung Quốc công khai những mục tiêu, như trở thành cường quốc chế tạo vào năm 2025 và thống lĩnh thị trường sản phẩm công nghệ cao toàn cầu vào giữa thế kỷ XXI, đã tạo ra thách thức trực tiếp đối với Mỹ. Do vậy, cạnh tranh công nghệ sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong khuôn khổ và diễn biến của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc.

Tổng thống Mỹ Joe Biden ký thông qua Đạo luật chip và khoa học 2022 để thúc đẩy sản xuất công nghệ cao trong nước, tại Nhà Trắng, ngày 9-8-2022 _Ảnh: Reuters

Cạnh tranh công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc còn được quyết định bởi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra hiện nay. Công nghệ có tính chất quyết định đối với sự phát triển mang tính bứt phá của các quốc gia; làm chủ công nghệ là làm chủ tương lai. Lịch sử cho thấy, những quốc gia, khu vực dẫn dắt trong ba cuộc cách mạng công nghiệp trước đây đều có được lợi thế và trở thành những trung tâm đi đầu của sự phát triển. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới ở ngưỡng cửa bắt đầu và được cho rằng sẽ tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu với quy mô và mức độ lớn hơn nhiều so với ba cuộc cách mạng trước đó. Những quốc gia có lợi thế về khoa học - công nghệ đều sẵn sàng tham gia cuộc đua để nắm bắt và dẫn đầu cuộc cách mạng này. Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có thực lực lớn nhất hiện nay và đều có chiến lược cùng tham vọng giành lợi thế trong việc kiểm soát những công nghệ mới, qua đó khẳng định chỗ đứng trong cấu trúc quyền lực toàn cầu tương lai.

Chiến lược phát triển khoa học - công nghệ của Trung Quốc đã được khởi động từ những thập niên trước và tiếp tục được đẩy mạnh trong bối cảnh hiện nay với tham vọng chuyển đổi đất nước thành một nền sản xuất tiên tiến và thống trị trong những ngành công nghiệp công nghệ cao của Kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” (Made in China 2025 - MIC 2025). Trước những quyết tâm mạnh mẽ của Trung Quốc, Mỹ buộc phải nhìn nhận sâu hơn về thực trạng phát triển khoa học - công nghệ trong nước. Chính quyền Tổng thống Mỹ Đ. Trăm đưa ra chiến lược “Sản xuất tại Mỹ” (Made in America) như một sự đối ứng nhằm thúc đẩy ngành sản xuất trong nước, nhất là những ngành sản xuất hỗ trợ công nghệ lõi mà Mỹ đang mất dần thế chủ động. Một mặt, Mỹ ngăn chặn sự phát triển công nghệ của Trung Quốc; mặt khác, Mỹ buộc phải thừa nhận sự tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh lớn về nghiên cứu phát triển, chế tạo, đào tạo và nhận thấy cần phải sửa chữa điều này.

Cạnh tranh công nghệ được thúc đẩy trong điều kiện mà việc kiểm soát những công nghệ của tương lai đang ngày càng có tính quyết định sống còn đến an ninh của các quốc gia. Sự phát triển của những công nghệ mới khiến các quốc gia chưa bao giờ dễ bị tổn thương như hiện nay. Công nghệ có thể tạo ra những công cụ gây ảnh hưởng chính trị đối với các quốc gia, nhưng cũng tạo ra những lỗ hổng an ninh mới. Biên giới lãnh thổ “thực” giờ đây không còn có thể bảo vệ an toàn cho các quốc gia trước sự xâm nhập và tấn công “ảo”. Tấn công mạng do các lực lượng đứng sau bảo trợ nhằm thu thập thông tin tình báo, phá vỡ hệ thống của đối phương hoặc hỗ trợ các mục tiêu quân sự truyền thống ngày càng phổ biến và là một vũ khí quan trọng trong cạnh tranh địa - chính trị.

Ở một góc độ khác, công nghệ đang có xu hướng được ứng dụng vào việc sản xuất vũ khí và được cho là tạo ra nguy cơ một cuộc chạy đua vũ trang thế hệ mới trên toàn cầu. Hệ thống vũ khí tự động (AWS) ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã bước đầu được phát triển để hướng đến tấn công mục tiêu mà không cần con người can thiệp. Thực tế này buộc các quốc gia, nhất là những cường quốc về quân sự, phải tham gia cuộc chạy đua vũ trang AI toàn cầu, bất chấp những lo ngại đã được cảnh báo về việc phát triển hệ thống vũ khí mới sẽ mở ra “chiếc hộp Pandora”, và một cơ chế kiểm soát loại vũ khí mới này rất khó được áp dụng.

Cạnh tranh công nghệ Mỹ - Trung Quốc: Chiến lược và diễn biến trong những ngành công nghệ then chốt

Nhiều quan điểm cho rằng, cạnh tranh về công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc bắt đầu với việc Mỹ trừng phạt tập đoàn công nghệ hàng đầu Huawei  của Trung Quốc vào năm 2018. Trên thực tế, cuộc cạnh tranh này đã được khởi động từ nhiều thập niên trước đó. Trung Quốc đã có chiến lược rượt đuổi Mỹ về mặt công nghệ từ sớm, tuy nhiên Mỹ chỉ nhận rõ nguy cơ đe dọa từ chiến lược phát triển khoa học - công nghệ của Trung Quốc và bước vào cuộc đua này trong vài năm trở lại đây. Dù đi sau về mặt khoa học - công nghệ, nhưng Trung Quốc đã có những định hướng và chiến lược rõ ràng để thu hẹp khoảng cách với Mỹ và phương Tây. Dựa vào các yếu tố là lực lượng lao động giá rẻ, lành nghề và các khoản trợ cấp lớn của chính phủ tài trợ cho cả những lĩnh vực sản xuất tốn kém và lợi nhuận thấp, Trung Quốc đã tạo được lợi thế cạnh tranh quan trọng và vươn lên hàng đầu trong nhiều ngành công nghệ tiên tiến hiện nay.

Kế hoạch phát triển công nghệ quan trọng nhất của Trung Quốc được đưa ra năm 2015 là MIC 2025, trong đó xác định 10 ngành công nghiệp công nghệ cao mà Trung Quốc quyết tâm đẩy mạnh. Thực chất đây là một chiến lược nhằm chuyển nền kinh tế Trung Quốc sang các lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn để trở thành đối thủ cạnh tranh lớn trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến vốn do các nước công nghiệp phát triển như Mỹ thống trị. Mục tiêu cũng như kết quả phát triển về khoa học - công nghệ mà Trung Quốc đạt được trong lĩnh vực này khiến Chính phủ Mỹ thực sự lo ngại. Chính vì vậy, kể từ năm 2017, Mỹ đã theo đuổi chiến lược “tách rời” hệ thống kinh tế và công nghệ khỏi Trung Quốc. Những lo ngại liên quan đến chính sách công nghệ của Trung Quốc đã được Văn phòng đại diện thương mại Mỹ nêu ra, trong đó nhận định MIC 2025 là mối đe dọa đối với an ninh và kinh tế của Mỹ. Mỹ cho rằng, Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về công nghệ và sử dụng mạng viễn thông để do thám và đánh cắp thông tin(2). Với những cáo buộc này, Mỹ áp dụng nhiều biện pháp trừng phạt thương mại, hạn chế đầu tư và tăng cường kiểm soát xuất khẩu đối với ngành công nghệ Trung Quốc. Sự can thiệp này chủ yếu nhằm cản trở các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận được công nghệ lõi của Mỹ. Làn sóng nhằm phục hồi các ngành sản xuất công nghệ trong nước của Mỹ, hỗ trợ nhiều hơn cho nghiên cứu và sản xuất xuất hiện. Sự đồng thuận chính trị hiếm có của Mỹ hiện nay chính là ở chính sách công nghiệp khi chấp nhận sự can thiệp nhiều hơn của chính phủ nhằm thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ chiến lược(3). Một nỗ lực đáng chú ý nữa là việc Mỹ kêu gọi các nước đồng minh chủ chốt, như EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a... thiết lập một hệ sinh thái công nghệ và thương mại giảm thiểu sự phụ thuộc và tiến đến tách rời khỏi Trung Quốc. Như vậy, cả hai nước đều có những chiến lược tổng thể và những bước đi rõ ràng nhằm cạnh tranh về mặt công nghệ. Sự ganh đua này ngày càng quyết liệt trên tất cả lĩnh vực công nghệ then chốt hiện nay. Cụ thể là:

Về trí tuệ nhân tạo (AI)

Trí tuệ nhân tạo được xem là công nghệ quan trọng nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đại diện cho khả năng đi đầu về đổi mới, sáng tạo và quyết định sức mạnh tương lai của các quốc gia. Ngành công nghệ này đang phát triển vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ. Năm 2021 là năm bứt phá của ngành công nghệ này khi “AI từ một công nghệ mới nổi trở thành một công nghệ chín muồi”, không còn là một phần của những nghiên cứu khoa học, mà thay vào đó tác động đến thế giới thực. Với tầm quan trọng như vậy, Mỹ, Trung Quốc và nhiều quốc gia phát triển khác đều đặt trọng tâm vào lĩnh vực này. Năm 2017, Trung Quốc công bố đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành quốc gia dẫn đầu toàn cầu về AI(4). Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh, việc thúc đẩy phát triển AI để giữ thế chủ động trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về khoa học - công nghệ(5). Phía Mỹ cũng ban hành Luật Sáng kiến trí tuệ nhân tạo quốc gia năm 2020 nhằm đẩy mạnh đầu tư và thuận lợi hóa những hoạt động về nghiên cứu, tiêu chuẩn và giáo dục về AI nhằm bảo đảm Mỹ sẽ dẫn đầu thế giới về phát triển và sử dụng các hệ thống AI(6). Tuy nhiên, sự rượt đuổi giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực AI rất quyết liệt. Tính đến năm 2021, hai quốc gia dẫn đầu về đầu tư tư nhân vào AI, trong đó tổng đầu tư của Mỹ cao gấp ba lần so với Trung Quốc. Tuy nhiên, đầu tư của Chính phủ Trung Quốc cho AI là con số khó có thể xác định và được cho là vượt Mỹ rất nhiều. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu thế giới về số lượng các công bố liên quan đến AI và vượt Mỹ về số lượng bằng sáng chế liên quan đến AI. Hai tập đoàn công nghệ hàng đầu Tencent và Baidu của Trung Quốc đã vượt tập đoàn Microsoft của Mỹ về số lượng bằng sáng chế vào năm 2020 và tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu trong năm 2021(7).

Lo ngại mất thế chủ động về công nghệ AI trước Trung Quốc, Mỹ thúc đẩy một loạt lệnh hạn chế, trừng phạt đối với các tập đoàn công nghệ của Trung Quốc và đưa ra các quy định mới cản trở Trung Quốc tiếp cận các công nghệ tiến bộ của Mỹ. Đầu năm 2023, trong 20 doanh nghiệp Trung Quốc được bổ sung vào danh sách đen thương mại của Mỹ có Inspur Group, nhà cung cấp hơn một nửa số máy chủ AI tại thị trường nội địa và là nhà cung cấp chính máy chủ cho Baidu.com, “gã khổng lồ” công cụ tìm kiếm đang đặt cược lớn vào các dịch vụ ChatGPT kiểu Trung Quốc(8). Tập đoàn 4Paradigm Technolog, công ty cung cấp các giải pháp AI cho ngân hàng lớn nhất Trung Quốc và hãng truyền thông quốc gia “Nhân dân nhật báo”, cũng bị thêm vào danh sách này. Những động thái trên của Mỹ được đánh giá là nhằm hạn chế sự phát triển AI của Trung Quốc, vốn dựa chủ yếu trên sức mạnh điện toán và tài nguyên dữ liệu số.

Về chất bán dẫn

Mỹ là nước sáng chế, thương mại hóa chất bán dẫn, đồng thời thống trị các mắt xích sinh lợi nhất trong chuỗi cung ứng chất bán dẫn gồm thiết kế chip và công cụ phần mềm để chuyển bản thiết kế thành thực tế. Hiện nay, Mỹ đứng đầu doanh số toàn cầu về chất bán dẫn, chip máy tính cung cấp năng lượng cho hầu hết thiết bị điện tử hiện đại. Mỹ chiếm khoảng 13% thị phần sản xuất chất bán dẫn, so với 16% ở Trung Quốc, 20% ở Đài Loan (Trung Quốc), 19% ở Hàn Quốc và 17% ở Nhật Bản(9). Còn đối với Trung Quốc, trong nhiều năm, nước này đầu tư hàng tỷ USD, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc sản xuất các chất bán dẫn hiện đại nhất, vốn đòi hỏi thiết kế phức tạp và bí quyết sản xuất. Trung Quốc tuyên bố sẽ duy trì cách tiếp cận “toàn quốc gia” đối với ngành công nghiệp bán dẫn, nghĩa là tận dụng cả sức mạnh thị trường và nhà nước để thúc đẩy sự tăng trưởng trong ngành này(10).

Trước sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh công nghệ của Trung Quốc cùng với lo ngại nước này có thể thống trị các lĩnh vực sản xuất chip quan trọng cho mục đích dân sự, quân sự, hoặc cắt đứt khả năng tiếp cận linh kiện, Mỹ đã lên kế hoạch bảo vệ nguồn cung cấp chip bán dẫn và phục hồi ngành sản xuất trong nước. Tháng 8-2022, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Khoa học và Chip trợ cấp hơn 52 tỷ USD cho nghiên cứu và sản xuất chip trong nước(11). Nội dung đạo luật hướng đến ngăn cản các doanh nghiệp Mỹ xây dựng cơ sở sản xuất tại Trung Quốc và cung cấp thiết bị mà Trung Quốc có thể sử dụng để sản xuất chip tiên tiến. Sau khi đạo luật này được công bố, Mỹ áp đặt các hạn chế lớn chưa từng có đối với hoạt động xuất khẩu liên quan đến chip sang Trung Quốc, đồng thời tiếp tục bổ sung vào danh sách đen thương mại các doanh nghiệp công nghệ lớn của Trung Quốc như Yangtze Memory Technologies Corporation (YMTC) vì lý do an ninh quốc gia của Mỹ. Đầu năm 2023, chính quyền Tổng thống Mỹ Giô Bai-đơn đạt được thỏa thuận với Hà Lan và Nhật Bản, hai nhà sản xuất bán dẫn lớn, để tham gia các biện pháp kiểm soát xuất khẩu chất bán dẫn mới sang Trung Quốc.

Công nhân kiểm tra tấm bán dẫn wafer ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, ngày 9-3-2023_Ảnh: THX

Về điện toán lượng tử

Điện toán lượng tử là ngành công nghệ khai thác các bit lượng tử (qubit) để xây dựng các công cụ xử lý thông tin mạnh mẽ hơn, có thể vượt sức mạnh tính toán của bất cứ máy tính nào hiện có. Một máy tính lượng tử hoạt động đầy đủ có những khả năng phi thường, như giúp xác định các hợp chất hóa học mới để điều trị các bệnh nan y; cảm biến lượng tử có thể giúp quân đội theo dõi và nhắm đến mục tiêu với độ chính xác cao hơn; hay khả năng có thể bẻ khóa các dạng mã hóa hiện có, xâm nhập vào bất cứ doanh nghiệp, quân đội hay chính phủ nào trong tương lai.

Tầm quan trọng của ngành công nghệ này đã thúc đẩy Trung Quốc đầu tư hàng tỷ USD vào việc nghiên cứu và phát triển. Đơn cử như Chương trình “Thousand Talents” của Trung Quốc không chỉ đưa ra những đãi ngộ để thuyết phục các nhà nghiên cứu Trung Quốc từ nước ngoài trở về nước, mà còn tuyển dụng các nhà khoa học phương Tây tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Trung Quốc. Theo Công ty nghiên cứu thị trường Patinformatics, năm 2018, Trung Quốc có số lượng hồ sơ bằng sáng chế gần gấp đôi so với Mỹ về công nghệ lượng tử nói chung(12). Tuy nhiên, Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới về bằng sáng chế liên quan đến phân khúc được đánh giá cao nhất của lĩnh vực này là máy tính lượng tử nhờ khoản đầu tư lớn của các tập đoàn quốc tế IBM, Google, Microsoft và các doanh nghiệp khác.

Ở chiều ngược lại, những tiến bộ của Trung Quốc trong công nghệ lượng tử gây lo ngại cho Mỹ ở khía cạnh công nghệ này sẽ được Chính phủ Trung Quốc tận dụng để hỗ trợ các mục đích quân sự. Do vậy, chính quyền Tổng thống Mỹ Đ. Trăm đã có những chính sách hạn chế trong trao đổi sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như khoa học lượng tử. Bộ Năng lượng Mỹ, một trong những cơ quan chính tài trợ cho nghiên cứu vật lý và khoa học lượng tử, đã có chính sách cấm nhân viên không hưởng ứng các chương trình tuyển dụng nhân tài nước ngoài, bao gồm Chương trình “Thousand Talents” của Trung Quốc, nhằm hạn chế “việc chuyển giao trái phép thông tin khoa học và kỹ thuật”(13).

Về thiết bị mạng viễn thông

Công nghệ Trung Quốc lần đầu tiên gây được sự chú ý ở phương Tây nhờ thông qua lĩnh vực viễn thông. Tập đoàn Huawei của Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng thành nhà sản xuất thiết bị tháp điện thoại di động lớn nhất thế giới và đặc biệt chiếm ưu thế trong doanh số bán thiết bị cho mạng 4G và 5G mới nhất. Tuy nhiên, Mỹ cáo buộc Trung Quốc có thể khai thác các thiết bị này để do thám và về cơ bản cấm thiết bị này ở trong nước. Mỹ đã thuyết phục nhiều quốc gia đồng minh từ bỏ thiết bị của tập đoàn Huawei(14). Chiến dịch này đã làm giảm đáng kể thị phần của tập đoàn Huawei, đánh mạnh vào ngành viễn thông của Trung Quốc. Sau vụ việc của tập đoàn Huawei, các tập đoàn viễn thông khác của Trung Quốc, như China Mobile, China Telecom và China Unicom cũng lần lượt bị thu hồi giấy phép tại Mỹ vì lo ngại về an ninh quốc gia. Chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn đồng thời ban hành đạo luật ngăn các doanh nghiệp bị đánh giá là mối đe dọa an ninh nhận giấy phép cung cấp thiết bị viễn thông mới ở Mỹ. Những động thái tấn công dồn dập này của Mỹ cho thấy mong muốn hạn chế vai trò của Trung Quốc đối với ngành viễn thông Mỹ, một nỗ lực nhằm cạnh tranh với ảnh hưởng công nghệ của Trung Quốc.

Như vậy, thực lực về công nghệ của Trung Quốc đã bứt phá vô cùng nhanh chóng trong thời gian qua, thậm chí vượt lên dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực công nghệ mới nổi, như điện thoại thông minh, mạng viễn thông,... Tuy nhiên, trong các lĩnh vực công nghệ then chốt khác, như AI, điện toán lượng tử, chất bán dẫn hay phần mềm, Mỹ vẫn chiếm ưu thế. Tương quan về năng lực công nghệ của hai nước dù vậy đang ngày càng thu hẹp. Trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm mọi cách để phá vỡ khoảng cách về mặt công nghệ với Mỹ và phương Tây, phản ứng chính sách của Mỹ cho thấy sự lo ngại, cảnh giác và quyết tâm ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các công nghệ nguồn của Mỹ.

Có thể thấy, cạnh tranh công nghệ giữa Trung Quốc và Mỹ tác động đến cục diện thế giới hiện nay. Cuộc cạnh tranh này phát triển trong những điều kiện quốc tế mới khi cạnh tranh nước lớn gia tăng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và thế giới đang ở trong thời điểm bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Vai trò của khoa học - công nghệ giờ đây không chỉ thiết yếu đối với năng lực phát triển, mà còn quyết định cả quyền lực chính trị và an ninh của quốc gia đó. Chính vì vậy, cạnh tranh công nghệ trong chiến lược của các nước lớn có xu hướng ngày càng gia tăng.

Ngoài ra, Mỹ và Trung Quốc là hai trung tâm công nghệ lớn nhất của thế giới và đều muốn dẫn đầu trong cuộc đua công nghệ hiện nay. Các chính sách phát triển công nghệ của Trung Quốc và Mỹ đều tập trung vào hai hướng chính: 1- Làm chủ các công nghệ mới nổi quan trọng; 2- Nhân rộng ảnh hưởng về mặt công nghệ, thiết lập mạng lưới hợp tác, thậm chí xây dựng các liên minh công nghệ để phát huy vai trò trung tâm của mình. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã phải nhìn nhận Trung Quốc như một đối thủ thực sự và cuộc cạnh tranh này dự báo còn tiếp tục theo hướng mở rộng và quyết liệt hơn. 

Cạnh tranh công nghệ không chỉ tác động đến quan hệ Mỹ - Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia tại những khu vực khác nhau, trong đó có Việt Nam. Việt Nam cần duy trì quan hệ hợp tác về khoa học - công nghệ với cả Mỹ và Trung Quốc; đồng thời, đang có cơ hội tiếp cận với những nền công nghệ dẫn đầu thế giới và cần tranh thủ các cơ hội hợp tác - trao đổi đang được mở ra trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, những hợp tác này cần tính đến sự phức tạp của bối cảnh quốc tế và tính cạnh tranh trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc hiện nay. Hợp tác khoa học - công nghệ phải được tiến hành phù hợp với các chủ trương ngoại giao, dựa trên nhu cầu, lợi ích của Việt Nam và hướng tới sự tự chủ về mặt công nghệ./.

---------------------------

(1) The White House: “National Security Strategy of the United States of America” (Tạm dịch: Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ), tháng 12-2017, https://trumpwhitehouse.archives.gov/wp-content/uploads/2017/12/NSS-Final-12-18-2017-0905.pdf
(2) Simon Roughneen: “In major speech, Shanahan warns China over its behavior” (Tạm dịch: Trong bài phát biểu quan trọng, Shanahan cảnh báo Trung Quốc về hành vi của mình), Asia Times, ngày 1-6-2019, https://asiatimes.com/2019/06/in-major-speech-shanahan-says-chinas-behavior-must-end/comment-page-27/
(3) Jeanne Whalen: “To counter China, some Republicans are abandoning free - market orthodoxy” (Tạm dịch: Để chống Trung Quốc, một số đảng viên Đảng Cộng hòa đang từ bỏ thị trường tự do), Washington Post, ngày 26-8-2020, https://www.washingtonpost.com/business/2020/08/26/republicans-favor-industrial-policy/
(4) “China announces goal of leadership in artificial intelligence by 2030” (Tạm dịch: Trung Quốc công bố mục tiêu dẫn đầu về AI vào năm 2030), CBS News, ngày 21-7-2017, https://www.cbsnews.com/news/china-announces-goal-of-leadership-in-artificial-intelligence-by-2030/
(5) Nguyễn Việt Lâm: “Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc về công nghệ AI: Thực trạng và những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 23-3-2022, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/825134/canh-tranh-my---trung-quoc-ve-cong-nghe-tri-tue-nhan-tao--thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-hien-nay.aspx
(6) “National Artificial Intelligence Initiative Act of 2020” (Tạm dịch: Đạo luật Sáng kiến trí tuệ nhân tạo quốc gia năm 2020), Library of Congress, ngày 13-10-2020, https://www.congress.gov/bill/116th-congress/house-bill/6216
(7) “Largest patent owners in machine learning and artificial intelligence (AI) worldwide from 2012 to 2021, by number of active patent families” (Tạm dịch: Chủ sở hữu bằng sáng chế lớn nhất trong lĩnh vực học máy và AI trên thế giới từ năm 2012 đến năm 2021, theo số lượng bằng sáng chế đang hoạt động), Statista, 2023, https://www.statista.com/statistics/1032627/worldwide-machine-learning-and-ai-patent-owners-trend/
(8) Demetri SevastopuloQianer Liu: “US adds two dozen Chinese groups to trade blacklist” (Tạm dịch: Mỹ bổ sung 20 tập đoàn Trung Quốc vào danh sách đen thương mại), Financial Times, ngày 3-3-2023, https://www.ft.com/content/cb5f9c59-b20f-447a-b288-a518e69948b7
(9) “Strengthening the Global Semiconductor Supply Chain in an Uncertain Era” (Tạm dịch: Tăng cường chuỗi cung ứng chất bán dẫn toàn cầu trong kỷ nguyên bất định), Semiconductor Industry Association, tháng 4-2021, https://www.semiconductors.org/wp-content/uploads/2021/05/BCG-x-SIA-Strengthening-the-Global-Semiconductor-Value-Chain-April-2021_1.pdf
(10) “China Emphasizes ‘Whole Nation’ Stance on Tech as US Curbs Bite” (Tạm dịch: Trung Quốc nhấn mạnh lập trường “Toàn quốc gia” về công nghệ trước sự kiềm chế của Mỹ), Bloomberg News, ngày 5-3-2023, https://www.bloomberg.com/news/articles/2023-03-05/china-emphasizes-whole-nation-stance-on-tech-as-us-curbs-bite
(11) Việt Dũng: “Đạo luật Khoa học và Chip giúp Mỹ bắt kịp Trung Quốc?”, Vietnamnet, ngày 24-8-2022, https://vietnamnet.vn/dao-luat-khoa-hoc-va-chip-giup-my-bat-kip-trung-quoc-2050411.html
(12) “Quantum Information Technology (QIT): A Patent Landscape Report” (Tạm dịch: Công nghệ thông tin lượng tử (QIT): Báo cáo tổng quan về bằng sáng chế), Patinformatics, 2018, https://assets.website-files.com/6124f9f348fc634f20bb900c/612d43459985aa85ad37d4b9_Quantum-Information-Technology-Patent-Landscape-Report.pdf
(13) “Department of Energy foreign government talent recruitment programs” (Tạm dịch: Các chương trình tuyển dụng nhân tài của chính phủ nước ngoài của Bộ Năng lượng), University of Houston, ngày 6-7-2019, https://uh.edu/research/about/international-research/doe-national-programs/
(14) Ellen NakashimaWilliam Booth: “Britain bars Huawei from its 5G wireless networks, part of a growing shift away from the Chinese tech giant” (Tạm dịch: Anh cấm tập đoàn Hoa Vi tham gia mạng không dây 5G, một phần của sự chuyển hướng ngày càng tăng khỏi người khổng lồ công nghệ Trung Quốc), The Washington Post, ngày 15-7-2020, https://www.washingtonpost.com/national-security/britain-to-bar-huawei-from-its-5g-wireless-networks-part-of-a-growing-shift-away-from-the-chinese-tech-giant/2020/07/13/44f6afee-c448-11ea-b037-f9711f89ee46_story.html

Nhìn lại nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 - kết quả, bài học và những vấn đề đặt ra.

  Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025, hơn 2 năm qua, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy hiệu quả nhiều tiềm năng, lợi thế, khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực, triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều nhiệm vụ, giải pháp, đạt được những kết quả toàn diện trên các lĩnh vực, từng bước hiện thực hóa “khát vọng thịnh vượng” xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa trở thành một cực tăng trưởng mới ở phía Bắc của Tổ quốc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm và làm việc tại tỉnh Thanh Hóa_Ảnh: TTXVN

Tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển

Tỉnh Thanh Hóa nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, điểm kết nối Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ với Vùng đồng bằng Sông Hồng, với “mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông,... Ai Lao sát phía tây, núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp ở nơi xung yếu”(1). Được ví như “một Việt Nam thu nhỏ”, Thanh Hóa là một trong số ít địa phương hội tụ đủ ba vùng địa lý, trong đó miền núi là sự nối dài của Tây Bắc Bộ, vùng đồng bằng lớn nhất Trung bộ, đất liền nhìn ra Vịnh Bắc Bộ với thềm lục địa bao quát 17.000 km2. Trên địa bàn tỉnh có Cảng hàng không Thọ Xuân, Khu kinh tế Nghi Sơn gắn với Cảng nước sâu Nghi Sơn và 8 khu công nghiệp; hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm đầy đủ loại hình, với nhiều trục tuyến giao thông quan trọng quốc gia đi qua, như Cao tốc Bắc Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 10, quốc lộ 47, quốc lộ 45, quốc lộ 217, quốc lộ 15, đường Hồ Chí Minh, đường ven biển, đường sắt Bắc Nam...

Quán triệt sâu sắc các quan điểm, định hướng phát triển của Đảng, nhất là các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết số 58-NQ/TW, ngày 5-8-2020, của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã đề ra; nhận thức đầy đủ thời cơ, thuận lợi và những khó khăn, thách thức đặt ra trong giai đoạn mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX đã đề ra mục tiêu tổng quát cho nhiệm kỳ 2020 - 2025, đó là: “Phấn đấu đến năm 2025 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước - một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước”(2). Để thực hiện được mục tiêu quan trọng này, tỉnh Thanh Hóa xác định phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử, khát vọng thịnh vượng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở phát triển công nghiệp nặng, nông nghiệp là nền tảng; công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics là đột phá; du lịch là mũi nhọn; tập trung phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực, 5 trụ cột tăng trưởng và 6 hành lang kinh tế(3). Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh việc xác định 27 chỉ tiêu chủ yếu của nhiệm kỳ, tỉnh Thanh Hóa đề ra 6 chương trình trọng tâm: 1- Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; 2- Chương trình phát triển Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp; 3- Chương trình phát triển du lịch; 4- Chương trình nâng cao chất lượng văn hóa, giáo dục, y tế; 5- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi của tỉnh; 6- Chương trình nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; tạo chuyển biến rõ nét trong sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ. Ba đột phá trong nhiệm kỳ là: 1- Đột phá về phát triển hạ tầng; 2- Đột phá về đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn; 3- Đột phá về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ; chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Những kết quả ấn tượng bước đầu

Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra, hơn 2 năm qua, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung cao độ cho công tác quán triệt, triển khai, cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước; trọng tâm là các chương trình, đề án, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX... Chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành chức năng xây dựng, báo cáo Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trình Quốc hội khóa XV ban hành Nghị quyết số 37/2021/QH15, “Về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa”; đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách quan trọng về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, khuyến khích các ngành kinh tế có tiềm năng, lợi thế phát triển,...

Nhờ triển khai nhiều chủ trương, giải pháp phù hợp, đúng đắn, nên mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh COVID-19, nhưng bức tranh tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa vẫn tiếp tục khởi sắc. Kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt 10,49%(4). Quy mô GRDP (theo giá hiện hành) năm 2022 đạt 252.672 tỷ đồng, gấp 1,34 lần năm 2020. GRDP bình quân đầu người năm 2022 đạt 2.924 USD, gấp 1,32 lần năm 2020. Thu ngân sách nhà nước năm 2022 đạt 51.138 tỷ đồng, đứng thứ 9 cả nước và là năm đầu tiên thu ngân sách của tỉnh vượt mốc 51 nghìn tỷ đồng, gấp 1,62 lần năm 2020. Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP chuyển dịch theo hướng tích cực. Năng suất lao động xã hội liên tục tăng, bình quân hằng năm giai đoạn 2021 - 2022 đạt 10,4%; năng suất lao động xã hội bình quân năm 2022 ước đạt 101,5 triệu đồng/người, tăng 20,7 triệu đồng so với năm 2020.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa Đỗ Trọng Hưng kiểm tra tiến độ thi công một dự án đường ven biển đoạn Nga Sơn - Hoằng Hóa_Nguồn: thanhhoa.dcs.vn

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục phát triển khá toàn diện; tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 3,7%; đến nay, toàn tỉnh có 12 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới; 349/465 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 67 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Khởi công, khánh thành, đưa vào hoạt động nhiều cơ sở công nghiệp quy mô lớn, như Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2, Nhà máy xi-măng Đại Dương 1, Dây chuyền 4 - Nhà máy xi-măng Long Sơn, Nhà máy sản xuất lốp ô tô Radial, Nhà máy luyện cán thép Nghi Sơn số 2, Nhà máy-xi măng Đại Dương 2, Nhà máy sản xuất găng tay Nitrile Intco Việt Nam,...; đồng thời, khởi công một số dự án giao thông quan trọng, như Đường Vạn Thiện - Bến En, đường nối Quốc lộ 1 với Quốc lộ 45... qua đó góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và tăng năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh. Các ngành dịch vụ từng bước phục hồi và phát triển sau đại dịch COVID-19; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021 - 2022 đạt 7,95%/năm; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2022 đạt 172.209 tỷ đồng, gấp 1,42 lần năm 2020. Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu bình quân đạt 21,3%/năm, giá trị xuất khẩu năm 2022 đạt 5.518 triệu USD, gấp 1,47 lần năm 2020; đã khai thác tốt lợi thế của tỉnh và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để gia tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa, toàn tỉnh hiện nay có 142 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sang 57 thị trường với 53 mặt hàng. Tổng lượng khách du lịch năm 2022 ước đạt 11,01 triệu lượt, gấp 1,92 lần năm 2020.

Hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh. Các chỉ số về cải cách hành chính của tỉnh có bước cải thiện rõ rệt; trong đó Chỉ số hiệu quả Quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2021 của tỉnh đứng thứ 3 cả nước, tăng 21 bậc so với năm 2020; Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2021 đứng thứ 14 cả nước, tăng 15 bậc so với năm 2020. Từ năm 2021 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 7.726 doanh nghiệp được thành lập mới, đứng thứ 6 cả nước; thu hút được 154 dự án đầu tư trực tiếp, trong đó có 19 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đầu tư đăng ký 29.669 tỷ đồng và 193 triệu USD. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh có 143 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 14,7 tỷ USD. Công tác lập quy hoạch được quan tâm; Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/QĐ-TTg, ngày 27-2-2023. Đây là văn bản rất quan trọng, tạo hành lang pháp lý, điều kiện thuận lợi, mở ra thời cơ, động lực mới để tỉnh Thanh Hóa phát triển.

Bên cạnh những dấu ấn nổi bật trên bức tranh tăng trưởng kinh tế; các hoạt động văn hóa - xã hội tiếp tục có nhiều chuyển biến. Tỉnh chủ động dự báo, phân tích, đánh giá sát, đúng tình hình, thực hiện quyết liệt các phương án, kịch bản, biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 phù hợp với từng thời điểm, từng địa bàn, lĩnh vực, vì vậy tỷ lệ số ca mắc và tử vong do COVID-19 thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Hoạt động văn hóa, thông tin được đẩy mạnh; giáo dục mũi nhọn, thể thao thành tích cao luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Từ năm 2021 đến nay, có thêm 5 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; có trên 135 nghìn lao động được giải quyết việc làm; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2022 đạt 72%, tăng 2% so với năm 2020, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ ước đạt 28,5%. Việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nhất là đối với đồng bào sinh sống trên sông, đồng bào sinh sống ở các khu vực có nguy cơ sạt lở cao, các gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... được quan tâm; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2022 - 2025) còn 4,99%, giảm 1,78% so với năm 2021.

Chính trị ổn định, quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế và liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành phố bạn được tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, liên tục, đồng bộ, quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả. Đã triển khai thực hiện kịp thời, nghiêm túc, sáng tạo các Nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá””. Tập trung rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong, gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập từ tỉnh đến cơ sở. Đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân được củng cố. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, vào Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tiếp tục được nâng lên. Những kết quả đó, tiếp tục nhân lên niềm tin và khát vọng, tạo ra khí thế mới, động lực mới để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa thực hiện thành công các mục tiêu của nhiệm kỳ 2020 - 2025, đưa Thanh Hóa phát triển nhanh hơn, bền vững hơn trong giai đoạn tới.

Một số bài học rút ra và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, thường xuyên chăm lo xây dựng, phát triển, củng cố, giữ gìn tinh thần sự đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, chính quyền các cấp, trong tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trên cơ sở quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vì lợi ích chung và vì sự phát triển của tỉnh, của địa phương, đơn vị; phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với tình hình thực tiễn. 

Hai là, luôn luôn bám sát thực tiễn, làm tốt công tác dự báo, phân tích, đánh giá đúng tình hình, trên cơ sở đó chủ động xây dựng và triển khai thực hiện các phương án, kịch bản, giải pháp cụ thể để kịp thời phòng, chống, ứng phó, khắc phục hiệu quả khó khăn, thách thức và những vấn đề phức tạp phát sinh, không để bị động, bất ngờ; ưu tiên giữ vững ổn định trong bối cảnh có nhiều biến động.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; nắm chắc đường lối chung, xuất phát từ bối cảnh và thực tế để đánh giá nhận diện đúng tình hình; chủ động, kịp thời vận dụng sáng tạo chủ trương, nghị quyết của Đảng, có quyết sách và hành động phù hợp theo quy luật khách quan; lựa chọn đúng trọng tâm, khâu đột phá, tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo, nguồn lực, tổ chức thực hiện dứt điểm, đo lường được kết quả, hiệu quả.

Bốn là, nhận thức đúng vị trí của tỉnh Thanh Hóa trong khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước. Tranh thủ tốt thời cơ, thuận lợi, sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tinh thần tự lực, tự cường; khơi dậy mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh và huy động tối đa mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực từ doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, các tập đoàn, doanh nghiệp trong nước, nước ngoài để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc, phát sinh. Chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu phát triển với chăm lo lợi ích của người dân, doanh nghiệp và bảo vệ môi trường.

Kiểm tra chất lượng sản phẩm đông trùng hạ thảo tại Trung tâm hỗ trợ nông nghiệp VAC - sản phẩm nông nghiệp ứng dụng khoa học - công nghệ cao của tỉnh Thanh Hóa_Ảnh: TTXVN

Năm là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là tập thể lãnh đạo, quản lý và cá nhân người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị; xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời cán bộ sai phạm; điều chuyển, thay thế cán bộ yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ. 

Tỉnh Thanh Hóa nhận thức sâu sắc rằng, những kết quả đạt được trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu; tỉnh vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đó là: Các nhân tố tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn rất lớn với nhiều yếu tố khó dự báo hơn, thách thức lớn hơn và khó lường hơn, nhất là biến động về giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, áp lực lạm phát, chi phí sản xuất tăng cao; rủi ro về chuỗi cung ứng, nhu cầu từ các thị trường xuất khẩu lớn, truyền thống bị thu hẹp, suy yếu, sự điều chỉnh chính sách của các nền kinh tế lớn, đối tác thương mại lớn dẫn đến giảm mạnh các đơn hàng xuất khẩu của doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chưa thực sự bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của các sản phẩm, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, năng lực khoa học - công nghệ còn hạn chế. Hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp chưa cao, thiếu doanh nghiệp có vai trò đầu tàu, dẫn dắt. Kết cấu hạ tầng vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh, nhất là hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực miền núi. Thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường... Đây là những yếu tố tác động bất lợi đến sự phát triển của tỉnh.

Để sớm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025 đưa tỉnh Thanh Hóa trở thành cực tăng trưởng mới ở phía Bắc của Tổ quốc, trong thời gian tới, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chương trình, đề án, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 58-NQ/TW và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025, các nghị quyết, kết luận, cơ chế, chính sách mới ban hành. Triển khai thực hiện hiệu quả Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 37/2021/QH15, ngày 13-11-2021, của Quốc hội, tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung rà soát, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp. Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao để hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng cao. Đổi mới phương thức sản xuất, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Tập trung phát triển công nghiệp với tốc độ cao, trọng tâm là công nghiệp nặng, công nghiệp năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo; ưu tiên phát triển mạnh các ngành công nghiệp lọc hóa dầu và sau lọc hóa dầu, công nghiệp phục vụ kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn...; thu hút đầu tư các dự án công nghiệp mới quy mô lớn, đưa tỉnh Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước về công nghiệp. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, đưa tỉnh Thanh Hóa trở thành một trong những trọng điểm về du lịch, vận tải - cảng biển của khu vực và cả nước. Khai thác hiệu quả lợi thế của cụm cảng nước sâu Nghi Sơn để phát triển mạnh dịch vụ cảng biển, vận tải biển; xây dựng trung tâm logistics cấp vùng hạng I tại Khu kinh tế Nghi Sơn.

Song song với các giải pháp về kinh tế, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội. Thực hiện đồng bộ các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo; rà soát, sắp xếp dân cư ở những khu vực thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ quét, bố trí nơi ở ổn định cho đồng bào sinh sống trên sông; ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo phát triển sinh kế, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát nghèo bền vững. Tăng cường công tác bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ, thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, nhất là trong xúc tiến đầu tư và thương mại, huy động và phân bổ nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ...

Tiếp tục chăm lo xây dựng Đảng bộ đoàn kết, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp ủy. Xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển của tỉnh./.

------------------------

(1) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1992, t. I, t. 42
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, 2020, tr. 79
(3) 4 trung tâm kinh tế động lực, bao gồm Trung tâm động lực thành phố Thanh Hóa - thành phố Sầm Sơn, Trung tâm động lực phía Nam (Khu kinh tế Nghi Sơn), Trung tâm động lực phía Bắc (Thạch Thành - Bỉm Sơn), Trung tâm động lực phía Tây (Lam Sơn - Sao Vàng). 5 trụ cột tăng trưởng, bao gồm công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp; du lịch; y tế; phát triển hạ tầng. 6 hành lang kinh tế, bao gồm hành lang kinh tế ven biển, hành lang kinh tế Bắc Nam, hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Đông Bắc, hành lang kinh tế trung tâm, hành lang kinh tế quốc tế.
(4) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) năm 2021 đạt 8,85%, đứng thứ 5 cả nước; năm 2022 đạt 12,51%, đứng thứ 7 cả nước