Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn luyện cán bộ; bài học có giá trị lớn trong công tác cán bộ của Đảng ta

 

Bản lĩnh chính trị của người cán bộ là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Theo Người, đạo đức cách mạng của người cán bộ được thể hiện ở những phẩm chất, như trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng... đây cũng là những biểu hiện của Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, trong đó sự liêm chính là biểu hiện rõ nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: LIÊM” là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Quang minh chính đại trong khái niệm “LIÊM” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những đặc trưng của Bản lĩnh chính trị của người cán bộ. Người chỉ rõ: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Đây là một đặc trưng cơ bản của Bản lĩnh chính trị của cán bộ, là sự chính trực của cán bộ và trên thực tế, người cán bộ chính trực thường được gọi là cán bộ có Bản lĩnh chính trị. 

Cán bộ và công tác cán bộ là những vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt, xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt, huấn luyện cán bộ là một nội dung rất quan trọng, thể hiện trong các luận điểm nổi tiếng của Người: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”; “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Huấn luyện cán bộ gồm nhiều nội dung, trong đó huấn luyện lý luận chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu. Mọi cán bộ đều phải được huấn luyện lý luận chính trị. Huấn luyện cán bộ gồm huấn luyện ở nhà trường qua các lớp đào tạo cơ bản, các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm công tác; qua sinh hoạt đảng, đoàn thể; sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự kèm cặp của cán bộ chủ chốt ở cơ quan, đơn vị trong quá trình làm việc; qua thực tiễn công tác và việc tự học tập của cán bộ... Như vậy, học tập lý luận chính trị phải được kết hợp chặt chẽ với hoạt động thực tiễn của cán bộ thì mới đem lại hiệu quả, thiết thực.

Khi được trang bị tri thức lý luận chính trị và vận dụng vào trong công việc thực tế, cán bộ sẽ vững vàng, tự tin xử lý có kết quả những vấn đề nảy sinh, vượt qua những khó khăn, thách thức, kể cả những khó khăn lớn, thách thức quyết liệt, gay cấn để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; qua đó, họ từng bước trưởng thành. Đây là sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tạo nên sự trưởng thành của cán bộ, trong đó có sự trưởng thành về Bản lĩnh chính trị và được nâng cao qua từng thời kỳ cách mạng. Sự trưởng thành của cán bộ nhờ rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sau khi học tập lý luận chính trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực, có ích”. Như vậy, sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt đối với cán bộ, mà điều quan trọng hàng đầu chính là góp phần nâng cao Bản lĩnh chính trị của đội ngũ này.

Cách mạng luôn luôn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đòi hỏi Đảng, từng cán bộ phải không ngừng nâng cao BLCT để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện, giữ vững và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán bộ; nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, góp phần đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức lớn, nhất là khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ mới mẻ, phức tạp, nặng nề hơn trước, để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với thắng lợi của cách mạng, trước khi Đảng ta ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo chọn những thanh niên ưu tú, “những hạt giống đỏ” đưa đi học tập lý luận chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc tại những lớp do Người trực tiếp biên soạn bài giảng và giảng dạy. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền đạt những nội dung lý luận rất sâu sắc, thiết thực, với cách giảng dạy rất khoa học cho học viên; trong đó, Người rất coi trọng việc gắn chặt lý luận với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước trên thế giới và với thực tiễn cách mạng nước ta. Nhờ đó, việc học tập lý luận chính trị đã nhanh chóng đem lại hiệu quả, có tác dụng rất to lớn, thiết thực đối với lớp cán bộ tiền bối của Đảng.

Nhờ kết hợp chặt chẽ việc học tập lý luận chính trị với rèn luyện, thử thách trước những cam go, thách thức quyết liệt của cách mạng nước ta trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của cách mạng. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ và phải đối mặt với sự ác liệt của cuộc đấu tranh giành chính quyền, song Đảng ta luôn tìm ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để huấn luyện, trang bị lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc học tập lý luận chính trị với tăng cường rèn luyện, thử thách đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tiễn để nâng cao chất lượng về mọi mặt, trong đó có Bản lĩnh chính trị của họ. Những hoạt động này, cùng với sự nêu gương, sự dẫn dắt, lan tỏa của những cán bộ tiền bối, Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng cao. Với Bản lĩnh chính trị vững vàng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng khi đó (chỉ khoảng 5.000 đảng viên) đã cùng toàn thể dân tộc giành thắng lợi to lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, nhân dân Việt Nam từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước. 

Đội ngũ cán bộ tiếp tục được Đảng huấn luyện về mọi mặt, coi trọng huấn luyện lý luận chính trị kết hợp chặt chẽ với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, đã đem lại hiệu quả thiết thực; nhờ đó, BLCT của cán bộ luôn được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các thời kỳ cách mạng tiếp theo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi to lớn trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai và trong khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc sau khi thống nhất đất nước.

HAIVAN

Lời Bác dạy năm xưa

 

 “Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”.

(Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011)

Bức thư của Bác không chỉ động viên, khen ngợi quân và dân miền Bắc mà còn nhắc nhở quân và dân hai miền Nam - Bắc phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm hợp lực, ra sức chiến đấu mạnh mẽ, sản xuất tốt; đồng thời, phải luôn coi trọng việc phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau thi đua trong lao động sản xuất, trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn quân và dân hăng hái chiến đấu lập công đánh giặc, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, tạo động lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi.

Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuy nhiên các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Do vậy, học tập và làm theo lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch.

Ghi nhớ lời dạy của Bác, từng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị; gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

HAIVAN

Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh

 

Để phát huy những tác động tích cực, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của phát triển KTTT đối với quốc phòng, an ninh, kết hợp hài hòa và bảo đảm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cần có một hệ thống các quan điểm, giải pháp đồng bộ. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.

Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với nền KTTT, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, cần xuất phát từ quan điểm chủ đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị và được hoàn thiện qua các kỳ đại hội Đảng. Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Đồng thời, cần quán triệt một số quan điểm sau:

Một là, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện đại hội Đảng nêu bật nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh. Đây là nguyên tắc cơ bản, quy định chức năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, từ việc xây dựng, hoạch định đ­ường lối, chủ trương chiến lược về quốc phòng, an ninh đến tổ chức thực hiện.

Hai là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đây là quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để tạo môi trường, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo điều kiện vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ba là, hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh phải đồng bộ, hiệu quả. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Vì vậy, Nhà nước cần phải có một hệ thống pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật, chính sách về quốc phòng, an ninh đồng bộ; được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Bốn là, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng, an ninh mang tính chất hòa bình, tự vệ. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng vũ trang và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.

Quán triệt quan điểm chủ đạo và các quan điểm nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, ngành, địa phương gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách phù hợp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ trong tham mưu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế làm nguy hại đến tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTTT, bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đều phải được thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất để quản lý và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả trong cả nước. Cơ chế, chính sách bảo đảm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh cần được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng cả cho phát triển kinh tế  - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ có ý nghĩa lưỡng dụng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, hoàn thiện chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới. Muốn kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, phải tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể quốc gia, các quy hoạch và kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Đây cần được coi là một trong những căn cứ quan trọng hàng đầu để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả. Trong hoàn thiện chiến lược tổng thể, quy hoạch, kế hoạch về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thời kỳ mới, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương từ khâu khảo sát, đánh giá các nguồn lực (cả bên trong và bên ngoài), trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các giải pháp chính sách, như: Chính sách khai thác các nguồn lực; chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bố trí dân cư; chính sách ưu đãi khoa học và công nghệ lưỡng dụng.

Thứ tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Trước hết, mỗi ngành, mỗi cấp phải làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới (sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; sự xuất hiện của các vấn đề quốc phòng, an ninh phi truyền thống). Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt các quy hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở ngành, địa phương, cơ sở. Đổi mới phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến công tác nắm tình hình, thu thập xử lý thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội.

Thứ năm, đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho công chức, đặc biệt là công chức lãnh đạo quản lý các cấp. Căn cứ vào đối tượng bồi dưỡng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vị đảm nhiệm với từng loại đối tượng cán bộ. Kết hợp bồi dưỡng kiến thức lý luận với thực hành thông qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương, cơ sở để nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn quân về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Thứ sáu, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh các cấp. Cần nghiên cứu, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh nói chung và về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh nói riêng. Kết hợp giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

HAIVAN

Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh

 

Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).

Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”, tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.

Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.

Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.

HAIVAN

Nền kinh tế thị trường và sự tác động qua lại đối với quốc phòng, an ninh

 

Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN luôn có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.

Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

HAIVAN

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Lan tỏa những giá trị nhân văn từ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên địa bàn Thành phố mang tên Bác

(TG) - Thiết thực, triển khai Kết luận số 01-KL/TW ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Kết luận số 01), Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tập trung thực hiện để lan tỏa những giá trị nhân văn tốt đẹp từ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người phù hợp với tình hình thực tiễn của Thành phố thời gian qua. Tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 - 2022 được biểu dương Một là, Thành phố tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm và đột phá. Ban Thường vụ Thành ủy xác định 3 Chương trình đột phá và 1 Chương trình trọng điểm Thành phố cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Cụ thể là: 1) Chương trình đột phá đổi mới quản lý Thành phố Hồ Chí Minh; 2) Chương trình đột phá phát triển hạ tầng Thành phố Hồ Chí Minh; 3) Chương trình đột phá phát triển nhân lực và văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh; 4) Chương trình trọng điểm phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo và phát triển sản phẩm chủ lực Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2022: Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19; tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng chính quyền đô thị, cải thiện môi trường đầu tư, đồng hành cùng doanh nghiệp, phục hồi kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; và nhiệm vụ trọng tâm năm 2023: “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần dũng cảm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên”. Đầu năm 2023, Thành ủy đã tổ chức Hội nghị báo cáo chuyên đề “Nâng cao đạo đức công vụ và công tác vận động quần chúng nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo, Chuyên gia cao cấp, Nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương về báo cáo chuyên đề. Dự Hội nghị chuyên đề có gần 1.000 cán bộ chủ chốt thành phố là các đồng chí thành ủy viên, lãnh đạo các sở, ban, ngành; tập thể ban chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội, các vị nhân sĩ, chức sác các tôn giáo thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ban thường vụ đảng ủy cấp trên cơ sở, các báo cáo viên dự trực tiếp tại hội trường và hàng ngàn cán bộ chủ chốt các quận, huyện, thành phố Thủ Đức, đảng ủy cấp trên cơ sở, đảng viên, đoàn viên, hội viên dự tại các điểm cầu trực tuyến. Hai là, Thành phố Hồ Chí Minh chủ động xây dựng và triển khai chuyên đề học tập và làm theo Bác hàng năm. Chuyên đề năm 2022 “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có đạo đức cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh”, chuyên đề năm 2023 “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Thành phố đã xây dựng và phát hành kế hoạch biên soạn chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ năm 2022 đến năm 2025, giao Đảng ủy Học viện Cán bộ Thành phố tham mưu xây dựng các nội dung thuộc phần I, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Phần II của chuyên đề hàng năm; trong đó xác định ít nhất 2 nhiệm vụ trọng tâm của thành phố cần tập trung thực hiện hàng năm để đưa vào Phần II của chuyên đề năm; thời gian hoàn thành và gửi về các ban Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, Văn phòng Thành ủy để góp ý là đầu Quý IV năm trước. Các ban Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và Văn phòng Thành ủy thẩm định, góp ý, hoàn chỉnh các nội dung trong chuyên đề gửi về Ban Tuyên giáo Thành ủy tổng hợp trình Ban Thường vụ Thành ủy. Ban Tuyên giáo Thành ủy là đầu mối chủ trì, phối hợp, tổng hợp từ các đơn vị được phân công, hoàn chỉnh chuyên đề trình Ban Thường vụ Thành ủy thông qua, tổ chức hội nghị triển khai, phát hành chuyên đề và có văn bản hướng dẫn các cấp ủy cơ sở tổ chức thực hiện. Ba là, Ban Thường vụ Thành ủy quan tâm xây dựng, nhân rộng các mô hình tiêu biểu, cách làm hiệu quả, các gương điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy, mỗi quận ủy, huyện ủy, Thành ủy Thủ Đức, đảng ủy cấp trên cơ sở trực thuộc Thành ủy, các sở, ban, ngành Thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội Thành phố, mỗi chi bộ, đảng bộ xây dựng được ít nhất mỗi năm 2 mô hình tiêu biểu của cấp mình. Sau 2 năm triển khai thực hiện, đến nay, Thành phố đã xuất hiện 241 mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo, thích ứng và phù hợp với quá trình phòng, chống dịch COVID-19, hoàn cảnh bình thường mới, tình hình phục hồi và phát triển kinh tế, chăm sóc về mặt sức khỏe thể chất và tinh thần cho cho đội ngũ y tế, cho những tập thể, cá nhân chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ đại dịch, chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân Thành phố. Dịp 19/5 năm nay, Thành phố tổ chức biểu dương 302 gương điển hình tiêu biểu (gồm 118 tập thể và 184 cá nhân) đã có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 19/5/2022 - 19/5/2023. Đây là những tập thể và cá nhân đã được bình chọn từ hàng ngàn tấm gương học tập và làm theo Bác từ cơ sở thuộc nhiều lĩnh vực với những việc làm thiết thực, không ngừng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới, đăng ký thực hiện nhiều công trình an sinh, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị, đưa Thành phố sớm ổn định, hòa nhịp cùng cả nước, vượt qua muôn ngàn khó khăn thách thức, không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên. Bốn là, Thành phố đề cao thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu. Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Quy định về miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, điều chuyển, bố trí công tác đối với lãnh đạo, quản lý sau khi bị kỷ luật hoặc uy tín giảm sút, năng lực hạn chế, kết quả công tác không đáp ứng yêu cầu; quy định về miễn nhiệm, từ chức đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng. Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên nghiêm túc xây dựng kế hoạch, tự giác đăng ký những nội dung học tập, làm theo Bác cụ thể; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện với chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, sinh hoạt; xem đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá, quy hoạch, đề bạt và luân chuyển cán bộ hàng năm và đánh giá nhiệm kỳ. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên thực hiện trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Năm là, xây dựng, hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại Thành phố vinh dự mang tên Bác. Với mục đích tiếp tục đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác đi vào chiều sâu, Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Thành phố, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh nhằm phát huy đặc trưng, văn hóa, tính cách của con người Thành phố luôn năng động, sáng tạo, dám chấp nhận thử thách, nhân ái, nghĩa tình. Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố về “Xây dựng không gian văn hóa Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm sâu vào người dân Thành phố, là một nguồn sức mạnh đặc thù của con người Thành phố mang tên Bác”. Thành phố đang tập trung xây dựng văn hóa và con người Thành phố phát triển toàn diện gắn với tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo điều kiện cho người dân, nhất là thanh thiếu nhi, học sinh, sinh viên Thành phố phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, tuân thủ pháp luật, sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, gia đình hạnh phúc; thực hiện công tác tuyên truyền đến với cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân người nước ngoài đang sinh sống và làm việc trên địa bàn Thành phố./.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển toàn diện trong công cuộc đổi mới hiện nay

(TG) - Ngay từ giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có cái nhìn khoa học và hiện đại về phát triển xã hội, trong đó có những vấn đề mà nhiều lý thuyết phát triển ngày nay đang đặt ra như phát triển toàn diện, phát triển bền vững, phát triển nhân văn. Những vấn đề về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và xã hội, vật chất và tinh thần… đã được Hồ Chí Minh đề cập sâu sắc trong quan niệm và thể hiện sinh động trong thực tiễn Người lãnh đạo xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hồ Chí Minh quan niệm xã hội là sự thống nhất biện chứng trong các lĩnh vực cơ bản, đó là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Người cho rằng: “Trong công cuộc kiến thiết đất nước ta, có bốn vấn đề cùng phải chú ý, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau, không được xem nhẹ mặt nào, đó là: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội”(1). Xã hội phát triển phải là xã hội với một thể chế chính trị dân chủ, một nền kinh tế có lực lượng sản xuất hiện đại tương ứng là quan hệ sản xuất phù hợp; một nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng; một xã hội bình đẳng, công bằng, nhân dân thoát nạn bần cùng, được sống đời hạnh phúc. Chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội là những lĩnh vực, những thành tố thiết yếu tạo nên sự vận động và phát triển xã hội. Nhưng với Hồ Chí Minh, sự phát triển không chỉ cần đến các yếu tố tạo nên động lực phát triển; điều quan trọng là các thành tố đó phải tổ hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong sự tác động nhiều chiều, đa dạng và thường xuyên. Trong triết lý phát triển xã hội của Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế là điều kiện căn bản để cho xã hội phát triển bền vững. Người nói: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”(2). Đó là triết lý duy vật về sự phát triển toàn diện xã hội của Hồ Chí Minh. Việc xây dựng xã hội dân chủ, giàu mạnh, văn minh đòi hỏi phải xây dựng kinh tế là trung tâm, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội. Về nguyên lý, kinh tế là yếu tố quyết định tính chất và diện mạo của đời sống chính trị - xã hội. Xây dựng kinh tế làm cơ sở hạ tầng cho sự phát triển văn hóa, chính trị là điều kiện vật chất thực hiện các chính sách xã hội, liên quan mật thiết đến chất lượng dân sinh. Theo đó, mức sống với sản xuất được Hồ Chí Minh ví như thuyền với nước, “nước dâng thì thuyền lên. Sản xuất, kinh tế của chúng ta có phát triển thì đời sống mọi người mới cải thiện”(3). Mặt khác, Người cũng chỉ ra tác động tích cực của chính trị với văn hóa và kinh tế. Muốn tiến bộ, xây dựng kinh tế cũng như mọi việc khác phải lấy chính trị làm đầu, tư tưởng phải thông suốt từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra nhân dân và “Để cải tạo xã hội, một mặt phải cải tạo vật chất như tăng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng. Nếu không có tư tưởng xã hội chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được”(4). Khi dân tộc và đất nước còn bị nô lệ thì văn hóa cùng chung số phận nô lệ đó, vì vậy, theo Hồ Chí Minh, phải tiến hành cách mạng chính trị trước để giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó, giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. Người nhấn mạnh rằng, có chính trị mới có văn hóa, xưa kia, chính trị bị đàn áp, nền văn hóa của ta vì thế không nảy sinh được. Văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn bó hữu cơ với cơ sở hạ tầng; vì thế, “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(5). Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Không những thế, tiếp cận theo triết lý phát triển, văn hóa có sứ mệnh to lớn, soi đường cho quốc dân đi, lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ. Văn hóa không phụ thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, mức sống, mà có khi cách mạng tư tưởng - văn hóa phải đi trước một bước để dọn đường cho cách mạng công nghiệp. Với quan niệm xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải là một xã hội có văn hóa cao, Người nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”(6). Bởi vậy, văn hóa có nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo nên những con người mới có đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần và năng lực làm chủ, có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới, dám nghĩ dám làm, có tinh thần trách nhiệm vì nước vì dân, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nền văn hóa Việt Nam, về mặt chính trị là đề cao nhân quyền và dân quyền, về mặt xã hội là quan tâm tới phúc lợi của tất cả các tầng lớp nhân dân mà trước hết là nhân dân lao động. Theo Hồ Chí Minh, trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế. Người căn dặn: “Phải luôn luôn nhớ rằng: Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân”(7) và nhấn mạnh “tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”(8). Khi các vấn đề xã hội được giải quyết mang tính hợp lý, công bằng, tiến bộ thông qua chính sách xã hội sẽ góp phần nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích người lao động sản xuất để thực hiện các mục tiêu kinh tế. Bên cạnh đó, giữa văn hóa và xã hội có sự gắn bó khăng khít với nhau, mục tiêu của sự phát triển xã hội cũng chính là mục tiêu văn hóa như: xóa đói, xóa nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp, phổ cập giáo dục tiểu học, nam nữ bình đẳng và nâng cao vị thế cho phụ nữ, vấn đề chăm sóc sức khỏe, bảo đảm bền vững về môi trường... Hơn nữa, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người và các quan hệ xã hội, nhằm hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người, từ đó, tạo động lực mạnh mẽ phát triển đến tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Quan điểm về phát triển toàn diện của Người chính là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong đó sự phát triển hài hòa trong từng lĩnh vực và giữa các lĩnh vực là cơ sở cho sự phát triển bền vững, là điều kiện của sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Phát hiện quan trọng nữa của Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chưa phát triển như Việt Nam, đó là không chỉ là vấn đề đấu tranh giai cấp mà trước hết và trên hết phải tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giải phóng họ khỏi nghèo nàn, dốt nát và lạc hậu. Phát triển xã hội nhằm mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân, xứng đáng với một nước độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội. Ðó là con đường phấn đấu lâu dài, gian khổ, liên tục trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục… Có thể nói, trong quá trình lãnh đạo xây dựng xã hội mới Việt Nam sau khi giành độc lập, Hồ Chí Minh không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây tư bản chủ nghĩa vào thực tiễn một nước phương Đông thuộc địa như Việt Nam mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác, phù hợp với các nước chưa qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản, mà Việt Nam là một minh chứng tiêu biểu. VẬN DỤNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY 37 năm đổi mới vừa qua là một giai đoạn lịch sử ghi nhận những bước phát triển nhanh chóng và toàn diện của đất nước trên các lĩnh vực. Trong quá trình đổi mới, nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa của Đảng, càng cần bổ sung, hoàn thiện theo định hướng về xã hội phát triển đầy đủ, toàn diện, xã hội phát triển nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng đã xác định giai đoạn hiện nay là giai đoạn“Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9). Thời kỳ mới đòi hỏi phải phát triển đất nước toàn diện, đồng bộ hơn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Như vậy, đến đây Đảng ta nhận thức rõ hơn vấn đề không chỉ phát triển kinh tế là trung tâm mà cả phát triển xã hội là trung tâm; không chỉ xây dựng văn hóa làm nền tảng tinh thần mà cả xây dựng con người làm nền tảng tinh thần, trong đó “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”(10). Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt về cả vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn trên khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là phù hợp và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của Việt Nam. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, mà chủ yếu từ nguyên nhân chủ quan, nền kinh tế xã hội nước ta tồn tại không ít hạn chế, bất cập, phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, chưa nhận thức đầy đủ và xử lý tốt quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường”. Thiếu tư duy hệ thống, thiếu sự đồng bộtrong hoạch định chính sách vẫn đang là hạn chế lớn cản trở sự phát triển của đất nước. Từ đó, dẫn đến một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm 2011-2020 và việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được mục tiêu đề ra. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho thấy, việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với ổn định chính trị, tiến bộ và công bằng xã hội. Văn hoá đang trở thành một động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh đời sống quốc tế có nhiều biến đổi mạnh mẽ. Quá trình toàn cầu hoá có nhiều tác động tích cực như thúc đẩy nhanh và mạnh sự phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, tạo ra các điều kiện vật chất cho sự phát triển của con người, của xã hội. Tuy nhiên, toàn cầu hóa có tác động tiêu cực mà ở những nước chậm và đang phát triển thì sự thách thức và tác động tiêu cực lại càng lớn hơn, trong đó có sự nhận thức sai lầm, phiến diện về phát triển “thuần túy kinh tế”, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề đạo đức, lối sống, văn hóa. Với Việt Nam, trong quá trình toàn cầu hóa, chúng ta vừa phải lo tránh tụt hậu xa về kinh tế so với các nước vừa phải lo chệch hướng về chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống. Từ đòi hỏi đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển trong công cuộc đổi mới hiện nay, cần tiếp tục quán triệt những vấn đề sau: Phát triển đồng bộ, toàn diện các mặt của đời sống xã hội chính là sự nhận thức một cách đúng đắn về chủ nghĩa xã hội; về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng những hình thức, bước đi, biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn. Công cuộc đổi mới cần tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ, từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, trước hết là kinh tế; đổi mới chính trị từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Những sự đổi mới này phải có trọng tâm, trọng điểm, bước đi, có lộ trình, hình thức phù hợp, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, bảo đảm dân chủ công bằng, tiến bộ và văn minh của xã hội. Phát triển toàn diện các mặt của đời sống xã hội phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân theo tinh thần “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”. Khái niệm nhân dân ở đây, không chỉ là nhân dân lao động với hai giai cấp cơ bản trong xã hội là công nhân và nông dân, mà là mọi người dân Việt Nam “không phân biệt nòi giống, già trẻ, gái trai, tôn giáo, thành phần, giàu nghèo, tôn giáo….”. Hơn 75 năm trước Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(11). Do đó, phát triển phải vì lợi ích của nhân dân, xa rời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân thì sự nghiệp đổi mới sẽ thất bại. Đảng ta nhận định: “Từ trước đến nay, bất cứ việc gì đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, của toàn Đảng, được nhân dân và toàn đảng đồng lòng, góp sức thì nhất định thắng lợi”(12). Ý kiến, nguyện vọng, đòi hỏi, sáng kiến của nhân dân nảy sinh từ thực tiễn chính là nguồn gốc hình thành đường lối chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước. Dựa vào dân, qua thực tiễn phong phú của nhân dân để tiến hành tổng kết, đúc rút ra các vấn đề có tính quy luật, trên các lĩnh vực xã hội để tiếp tục đi lên, đó là chìa khóa của sự thành công. Phải luôn coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Do hoàn cảnh chiến tranh buộc phải dành nhiều tâm lực, trí lực lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nhưng Hồ Chí Minh vẫn luôn nhấn mạnh đến yêu cầu phải có một nền kinh tế vững mạnh làm cơ sở cho giải quyết các vấn đề xã hội. Chỉ có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững thì mới có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Không thể có một xã hội tiến bộ và công bằng trên cơ sở một nền kinh tế trì trệ, suy thoái, chỉ đủ cung cấp cho dân chúng một cuộc sống “giật gấu vá vai”. Ngược lại, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trong một xã hội với đa số dân chúng thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, suy thoái về đạo đức và một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Do đó, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Không chờ đợi đến khi đất nước đạt tới trình độ phát triển kinh tế cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mới phát triển văn hóa, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần hay vì lợi ích của thiểu số. Muốn vậy, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách phát triển xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới sự phát triển văn hóa dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài và văn hóa thật sự thấm sâu vào tất cả lĩnh vực. Bên cạnh đó, một đường lối phát triển theo mô hình kinh tế thị trường nhưng không quản lý một cách dân chủ, khoa học thì không thể ngăn chặn được tham nhũng, không thể tạo được sự ổn định.Xuất phát từ đặc điểm nước ta, từ nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản, Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh yêu cầu duy trì và phát triển kinh tế nhiều thành phần, thực hiện “công tư lưỡng lợi”. Người đã nhìn thấy vai trò, sức mạnh của các thành phần xã hội như tư sản, tiểu chủ đối với công cuộc phát triển kinh tế và góp phần phát triển xã hội. Vì vậy, phải có chính sách phát triển giai cấp đúng đắn, nhất là với những giai cấp, tầng lớp hữu sản, mới tạo ra động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên, “nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được một số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức”. Những quan điểm đó của Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị thời sự đối với hôm nay khi đối diện với các vấn đề xã hội nảy sinh từ quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan hệ bóc lột trong điều kiện chấp nhận kinh tế nhiều thành phần - một vấn đề xã hội lớn trong quản lý phát triển xã hội Việt Nam đương đại. Xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng, phong phú, trong đó các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi. Phải xây dựng những chính sách xã hội phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của từng giai tầng xã hội, từng giới, kết hợp hài hòa lợi ích của các nhóm dân sự với nhau để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm giữ vững an ninh chính trị xã hội, tiếp tục tạo đà cho cho phát triển kinh tế xã hội bền vững. Công bằng xã hội, tiến bộ xã hội trong phân phối thể hiện trong việc thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh, đồng thời chú ý phân phối theo phúc lợi xã hội; khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo bằng cách nâng cao mức sống của người nghèo. Phát triển xã hội theo hướng nhân văn, lấy con người làm trung tâm, xem phát triển con người - cả cá nhân và cộng đồng - vừa là mục tiêu cao nhất vừa là động lực to lớn nhất của tiến trình đổi mới ở nước ta. Phát triển xã hội đòi hỏi phải đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu cơ bản trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người. Trước hết, đó là những nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, phòng chữa bệnh, xây dựng gia đình, nuôi dạy con cái... bảo đảm cho con người có thể sống như những sinh thể cấu thành xã hội. Những nhu cầu nêu trên không thể tự thỏa mãn mà phải thông qua lao động sản xuất của chính con người để tạo ra của cải vật chất. Tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế do đó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Song, suy đến cùng, sản xuất kinh tế chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh, là mục đích tự thân của phát triển xã hội. Có thể nói, những nội dung về phát triển theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Phát triển kinh tế lấy con người làm trung tâm cho sự phát triển, “dân làm chủ”, “mọi quyền hành, mọi lực lượng đều ở nơi dân”; phát triển kinh tế để bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng thụ các giá trị phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo: “Dân giàu nước mạnh”, từng bước xóa bỏ bất công, xóa bỏ bóc lột… trên cơ sở phát triển sản xuất, dần dần “biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại”, nông nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến; gắn phát triển kinh tế với chính sách xã hội, với công bằng xã hội, “các dân tộc miền núi tiến kịp các dân tộc miền xuôi”... cũng chính là những nội dung lớn và vẫn là mục tiêu cần đạt mà Việt Nam đang hướng tới trong chiến lược phát triển bền vững hiện nay./.

Ứng dụng 'Sổ tay đảng viên điện tử' nâng cao chất lượng công tác Đảng

Việc triển khai nền tảng số "Sổ tay đảng viên điện tử" và số hóa nghiệp vụ công tác Đảng góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, nhận thức cho đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh Yên Bái. Là một trong ba địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử” từ tháng 2/2022, đến nay, toàn tỉnh Yên Bái đã có 1.299/2.736 chi bộ thí điểm triển khai sử dụng ứng dụng nền tảng số trong sinh hoạt, với hơn 34 nghìn đảng viên được tạo tài khoản. "Sổ tay đảng viên điện tử" được triển khai thí điểm, nhân rộng từng bước thực hiện số hóa về nghiệp vụ công tác Đảng, góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ và nhận thức của đội ngũ đảng viên. Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái Hoàng Mạnh Hà cho biết, việc ứng dụng nền tảng số "Sổ tay đảng viên điện tử" trong sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ giúp cấp ủy, chi bộ tra cứu, nắm bắt nghiệp vụ cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình; hỗ trợ, tiết kiệm chi phí trong việc chuẩn bị, tổ chức sinh hoạt như, thông báo thời gian, địa điểm, in ấn, cung cấp văn bản tài liệu đến đảng viên. Sổ tay kịp thời hỗ trợ đảng viên nghiên cứu, học tập các văn bản, tài liệu của Trung ương, của cấp ủy cấp trên; giúp cấp ủy theo dõi sát đến từng đảng viên trong học tập, nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, văn bản của Trung ương và của địa phương; từng bước thực hiện số hóa về nghiệp vụ công tác Đảng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên; tạo bước đột phá, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Dù chưa đến lịch sinh hoạt chi bộ định kỳ, song đảng viên Nguyễn Vĩ Truyền, Chi bộ 10, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái đã có thể nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết sẽ được triển khai trong buổi sinh hoạt tới. Do có thời gian nghiên cứu trước, khi sinh hoạt, ông có thể phát biểu xây dựng ý kiến đúng trọng tâm, trọng điểm góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Điều này có được nhờ ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử” được chi bộ triển khai từ tháng 3/2022. Ông Nguyễn Vĩ Truyền cho biết, nhờ ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử”, các đảng viên trong chi bộ sẽ có thời gian nghiên cứu trước nội dung buổi sinh hoạt từ đó chuẩn bị ý kiến đóng góp xác đáng, chất lượng Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Yên Bái Hoàng Minh Tiến cho hay, thay vì trước đây phải in, sao chụp văn bản, tài liệu của đảng để chuyển theo cấp, từ cấp ủy cấp trên xuống cấp ủy cấp dưới, sau đó xuống các chi bộ nhằm phổ biến trong các buổi sinh hoạt, hiện nay, mỗi đảng viên đều có thể tiếp cận và nghiên cứu tài liệu để chuẩn bị ý kiến trước cho cuộc họp. Hiện phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử Yên Bái” còn triển khai đến phiên bản cho phép đảng viên có thể nghe giọng nói từ máy với những nghị quyết được phổ biến, tiện ích này hỗ trợ đảng viên cao tuổi sinh hoạt nơi cư trú, khi việc đọc trên máy điện thoại còn hạn chế. hi bộ thôn Khe Gầy thuộc Đảng bộ xã Tân Hương, huyện Yên Bình có 14 đảng viên, đã có 12 đảng viên đã sử dụng nền tảng "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái” trong sinh hoạt chi bộ; hai đảng viên chưa sử dụng đều là cao tuổi, được miễn sinh hoạt, không sử dụng điện thoại thông minh. Bà Bùi Thị Lợi, Bí thư Chi bộ thôn Khe Gầy cho biết, các đảng viên trong Chi bộ cơ bản đều là người dân tộc thiểu số. Khi thực hiện sinh hoạt chi bộ trên nền tảng số, ban đầu, mọi người thấy khó khăn, ngại đổi mới. Qua tuyên truyền, hướng dẫn và trải nghiệm những tiện ích trên ứng dụng "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái”, các đảng viên đều thấy việc sử dụng rất tiện lợi, sử dụng mọi lúc, mọi nơi mà không tốn thời gian, chi phí. "Trước đây, mỗi lần có nghị quyết, chỉ thị mới của Đảng ủy cấp trên, đảng viên phải tập trung lại để cùng nhau học tập, nghiên cứu tại hội trường thôn hay trụ sở xã. Bây giờ, các nghị quyết, chỉ thị được cập nhật ngay và liên tục trên ứng dụng nên mọi người có thể học tập bất cứ lúc nào, ở bất kỳ đâu”, Bí thư Chi bộ Bùi Thị Lợi chia sẻ. Với quyết tâm từng bước "số hóa" công tác Đảng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, Tỉnh ủy Yên Bái đã ban hành Đề án số 11-ĐA/TU, ngày 28/10/2022 về sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái. Thực hiện đề án, nhiều cấp ngành, địa phương đã đẩy mạnh triển khai phần mềm "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái" và bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. Theo Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Yên Bình Nguyễn Dũng Giang, sau thời gian triển khai ứng dụng nền tảng số cho thấy, việc ứng dụng "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái” vào sinh hoạt cấp ủy, chi bộ từng bước thực hiện số hóa về nghiệp vụ công tác Đảng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên theo chủ trương của tỉnh, của huyện. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy Yên Bái, Huyện ủy Yên Bình chỉ đạo triển khai nghiêm túc, quyết liệt và bài bản. Đồng thời thành lập tổ công nghệ để hỗ trợ các đảng bộ, chi bộ trực thuộc trong triển khai nền tảng "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái” và cài đặt phần mềm số hóa nghiệp vụ công tác Đảng; nắm bắt khó khăn để phản ánh từ đó đề xuất giải pháp thực hiện. Việc số hóa nghiệp vụ công tác Đảng góp phần từng bước nâng cao chất lượng công tác đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tỉnh Yên Bái phấn đấu đến năm 2025, 100% tổ chức Đảng, 95% đảng viên trở lên trong toàn tỉnh được triển khai cài đặt, sử dụng ứng dụng nền tảng số "Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái", trong đó, các đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức được cài đặt và sử dụng thành thạo; duy trì từ 90% đảng viên trở lên sử dụng hiệu quả ứng dụng, đảm bảo theo mục tiêu của Đề án 11 Để thực hiện mục tiêu này, theo ông Hoàng Mạnh Hà, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái, Ban tham mưu giúp Tỉnh ủy tập trung vào 4 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm đó là: Tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền tới toàn thể đảng viên, nhân dân nhận thức được lợi ích tích cực từ việc sử dụng nền tảng số; thực hiện có hiệu quả phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Yên Bái”, nhất là đảm bảo duy trì phần mềm hoạt động ổn định 24/7, đáp ứng nhu cầu sử dụng của đảng viên trong truy cập thường xuyên. Đồng thời, tỉnh đảm bảo thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin, nhất là tại nhà văn hóa của thôn, bản, tổ dân phố; triển khai biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin theo các quy định của pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn trước mọi nguy cơ mất an toàn thông tin mạng. Có thể thấy, hiệu quả bước đầu trong thực hiện "số hóa” công tác Đảng góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ và nhận thức của đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Từ những tiện ích mang lại, nhiều ý kiến cho rằng cần tiếp tục nhân rộng việc thực hiện mô hình này trong toàn Đảng bộ tỉnh. Mô hình được thực hiện tạo bước đột phá, khẳng định quyết tâm của Yên Bái trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động của các cơ quan Đảng, từng bước thực hiện số hóa nghiệp vụ công tác Đảng, để sổ tay đảng viên điện tử là kênh thông tin hữu ích, gần gũi của mọi đảng viên.

Cấu trúc phi lí, ngữ nghĩa có lí

(TG) - “Mẹ cho con nước mắm to cơ!”. Cô con gái nọ (còn đang tuổi mẫu giáo) gào lên, nhất quyết đòi mẹ phải đáp ứng yêu cầu của mình trong bữa ăn. Bà mẹ trẻ nhìn mấy vị khách (đang ngồi cùng mâm trong gia đình) vừa cười vừa ngượng nghịu phân bua: “Nói với năng! Cháu hâm quá phải không các bác? Ý cháu là mẹ phải rót thêm nước mắm chứ không ít thế. Đây, để mẹ rót thêm bát khác. Nhưng con không được ăn nhiều quá, không tốt đâu nhé!”. Cô con gái nhỏ kia có “hâm” khi nói thế không nhỉ? Không cần bà mẹ “phiên dịch”, gần như mọi người chứng kiến ai cũng hiểu ý của cháu muốn gì. Cái khác lạ ở đây là ở cấu trúc không bình thường mà cô bé đưa ra: “Nước mắm to”. “Nước mắm” (danh từ) và “to” (tính từ) có thể kết hợp với nhau (thành một ngữ danh từ) như các kết hợp bình thường khác của tiếng Việt. Nhưng xét về mặt logic ngữ nghĩa thì “nước mắm” (dung dịch được chế biến từ cá muối, dùng để chấm hoặc nêm thức ăn) chỉ có thể với các tính từ chỉ đặc thù, tính chất của nó, như “nước mắm mặn/ nhạt”, “nước mắm thơm/ không thơm (có mùi)”, “nước mắm màu vàng/ màu đen”, “nước mắm nhỉ/ chắt”, “nước mắm nhiều/ ít”… Các tính từ chỉ kích thước, như “to/ nhỏ”, “rộng/ hẹp”… không bao giờ có thể kết hợp với “nước mắm” (hay bất kì loại chất lỏng nào khác). Các em bé đang trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ, chưa đủ ngữ năng để chọn một từ ngữ phù hợp, chuẩn xác, tinh tế. Nhưng người lớn vẫn đoán ra và hiểu cũng bởi dựa vào mạch suy luận tư duy trên cơ sở sự tri nhận thô sơ của trẻ. Ở đây, bé đã nhầm phạm trù số lượng “nhiều/ ít” sang phạm trù kích thước “to/ nhỏ”. Cả hai phạm trù có cái chung là theo thang mức độ và từ cái chung này, người lớn đoán được ý đồ của bé. Một bé khác, nói với mẹ: “Mẹ ơi, nóng quá! Mẹ mở cho con cái áo!”. Cũng sử dụng từ “mở” này, một bé khác nói: “Mẹ mở cho con quả vải!”. Lại cũng một bé khác nói: “Mẹ mở cho con cái nắp con ốc!”. Trong ba trường hợp này, các em không dùng sai cấu trúc kết hợp mà nhầm lẫn về lựa chọn biến thể từ ngữ (chọn một biến thể sử dụng thích hợp với ngữ cảnh). “Mở” là một động từ có nghĩa khái quát “làm cho (vật) không còn ở trạng thái bị đóng kín” (mở cửa, mở cổng, mở van). Từ này có những biến thể thực tế (nằm trong trường nghĩa chung của “mở”), như “cởi áo” (mở cúc để bỏ áo ra), “bóc quả vải” (tách cái vỏ để lộ ra cùi vải phía trong), “khêu ốc” (lật cái vảy ốc (mà cô bé nói “nắp con ốc”) để lộ phần ruột ốc, sau đó dùng gai (hoặc vật cứng nhọn) để lôi ruột ốc ra)… Có lần (cách đây trên 13 năm), một sinh viên Ba Lan học tiếng Việt, khi kể lại cho tôi về sự cố máy bay chở Tổng thống Ba Lan bị rơi ở Smolensk (Nga), ngày 10/4/2010 đã mô tả: “Khi hạ cánh, phi công đã mắc một đàn lỗi” và “Tình hình càng phút càng nghiêm trọng.”. Đúng ra, anh phải nói: “Phi công đã mắc một loạt lỗi” và “Tình hình càng lúc càng nghiêm trọng.”… Những cách dùng được coi là “ngô nghê” như vậy là thường thấy đối với trẻ em đang quá trình học nói hay người nước ngoài đang trong quá trình học tiếng Việt. Sai sót trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ là chuyện thường tình. Nhưng cũng nhờ đó, các nhà ngôn ngữ nhận ra “tính lí do” hay “tính vấn đề” của những sai sót hay những lỗi thường gặp để có cách điều chỉnh cho hợp lí trong quá trình dạy tiếng.

Tổng Bí thư: "Chỉ huy quân sự thiếu quyết đoán sẽ dẫn đến thất bại"

(Dân trí) -Quán triệt tuyệt đối không để xảy ra tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm trong quân đội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng người chỉ huy nếu thiếu quyết đoán sẽ bỏ lỡ thời cơ, dẫn đến thất bại.

Yêu cầu này được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, nhấn mạnh tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm, diễn ra sáng 3/7.

Bồi dưỡng cán bộ quân đội "7 dám"

Đề cập đến phương hướng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 6 tháng cuối năm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý Đảng bộ quân đội tiếp tục giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ.

Bên cạnh đó, chỉ đạo toàn quân thực hiện thật nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; chủ động về phương án, chuẩn bị tốt mọi mặt, ứng phó thắng lợi với các thách thức an ninh phi truyền thống.


Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới dự Hội nghị Quân ủy Trung ương (Ảnh: Quân đội nhân dân).

Nhắc đến nhiệm vụ nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, Tổng Bí thư gợi mở nên xem xét, đổi mới nội dung diễn tập, huấn luyện, tính toán làm chủ vũ khí, trang bị trước tình hình biến đổi nhanh như hiện nay.

Một nhiệm vụ quan trọng khác được Bí thư Quân ủy Trung ương đề cập là đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng để đáp ứng được nhu cầu trang bị cho các đơn vị, trong đó ưu tiên phát triển nhanh lĩnh vực cải tiến, sản xuất vũ khí, trang bị hiện đại, nâng cao sức mạnh phòng thủ của đất nước.

Xây dựng Đảng bộ quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, cũng là nội dung được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

Cho rằng việc này đã làm tốt, Tổng Bí thư yêu cầu cần làm tốt hơn nữa, trong đó đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; cấp trên phải làm gương cho cấp dưới, chỉ huy phải mẫu mực trước toàn đơn vị.

Tổng Bí thư cho biết gần đây nhiều người nhắc đến tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Ông yêu cầu trong quân đội tuyệt đối không để tình trạng này xảy ra.

"Bởi người cán bộ chỉ huy quân sự mà thiếu quyết đoán, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm sẽ bỏ lỡ thời cơ, dẫn đến thất bại trong xử trí các tình huống", Tổng Bí thư lưu ý bồi dưỡng cán bộ quân đội theo tinh thần "7 dám".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị (Ảnh: QĐND).

Đó là: "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và dám hành động vì lợi ích chung".

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư đề nghị quân đội làm tốt hơn nữa công tác dân vận, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xã hội; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương, phối hợp xây dựng địa bàn an toàn, không được để xảy ra các điểm nóng, các vụ việc phức tạp.

Giữ thế chủ động, khôn khéo trong xử lý các tình huống

Trước đó, khái quát kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 6 tháng đầu năm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu nhiều kết quả nổi bật.

Tổng Bí thư đánh giá Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu các vấn đề có tầm chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

"Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo", Tổng Bí thư ghi nhận.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các lãnh đạo Bộ Quốc phòng trò chuyện trước thềm hội nghị (Ảnh: Quân đội nhân dân).

Bên cạnh đó, Bí thư Quân ủy Trung ương cho rằng quân đội tiếp tục phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Quân đội đã phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh, trật tự, nhất là trong việc giải quyết, xử lý sự việc xảy ra tại địa bàn Đắk Lắk vừa qua.

Cũng theo người đứng đầu Đảng, thời gian qua, toàn quân đã duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng.

Nhắc đến nhiệm vụ phát triển công nghiệp quốc phòng, Tổng Bí thư ghi nhận kết quả từng bước bảo đảm tự trang bị vũ khí hiện đại, phù hợp với nghệ thuật tác chiến của quân đội.

Đặc biệt, theo Tổng Bí thư, trong công tác hội nhập quốc tế, chúng ta đã xử lý hài hòa, mềm dẻo quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống. "Đây là cách rất thiết thực để giữ cho "ngoài êm", ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa", Tổng Bí thư nói.

Ông cũng nhắc đến một trong những hoạt động được bạn bè quốc tế đánh giá cao, đó là quân đội Việt Nam đã tổ chức lực lượng tham gia cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, để lại nhiều ấn tượng rất tốt đẹp.

Trong công tác xây dựng Đảng, Tổng Bí thư ghi nhận Đảng bộ quân đội đã tiến hành nghiêm túc công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, làm cho Đảng bộ Quân đội và toàn quân ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Dù đạt nhiều kết quả, Tổng Bí thư cũng lưu ý một số hạn chế như vẫn còn tình trạng bệnh "thành tích", giấu giếm khuyết điểm; xử lý một số vi phạm, vụ việc phức tạp, nhạy cảm chưa kịp thời, triệt để.

Tổng Bí thư đề nghị Quân ủy Trung ương khắc phục bằng được những khuyết điểm đó, không để các thế lực thù địch lợi dụng để thổi phồng, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của quân đội, thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội.

                                                                                                Nguồn: Báo Dân trí

KHEN THƯỞNG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NỖ LỰC TRUY BẮT CÁC ĐỐI TƯỢNG TRONG VỤ TẤN CÔNG TẠI ĐẮK LẮK

 

Vụ việc đau xót sáng 11/6 đã cướp đi sinh mạng 9 người là cán bộ, chiến sĩ, người dân và làm bị thương 2 người khác. Công an tỉnh Đắk Lắk cũng tổ chức lực lượng động viên gia đình cán bộ, chiến sĩ hy sinh vượt qua đau thương, mất mát sớm ổn định cuộc sống. Đồng thời, thực hiện việc đảm bảo an ninh trật tự, động viên tinh thần để nhân dân không hoang mang sau vụ việc.

Liên quan đến vụ các đối tượng dùng súng tấn công trụ sở UBND xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur (trong đó có khu vực làm việc của Công an xã), huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, vừa qua, huyện Cư Kuin đã tổ chức khen thưởng đột xuất lực lượng Công an huyện Cư Kuin và Phòng Cảnh sát Cơ động (Công an tỉnh Đắk Lắk) vì đã nỗ lực truy bắt các đối tượng có liên quan.

Chủ tịch UBND huyện Cư Kuin Võ Tấn Huy đã biểu dương những nỗ lực của cán bộ, chiến sỹ Công an hai đơn vị đã phối hợp cùng lực lượng liên quan, khẩn trương, quyết liệt truy bắt nhóm đối tượng.

Trước tính chất manh động, liều lĩnh của nhóm đối tượng, lực lượng Công an đã gan dạ, dũng cảm, không quản ngại hiểm nguy, vượt qua khó khăn về thời tiết, địa hình, khẩn trương truy bắt các đối tượng trong thời gian sớm nhất để đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội.

Nhờ sự nỗ lực của lực lượng Công an, đến nay, đã có trên 74 đối tượng tham gia vào vụ việc bị bắt giữ, xử lý (trong đó có một số đối tượng ra đầu thú), tịch thu nhiều vũ khí gồm vũ khí quân dụng, vũ khí tự chế và vũ khí thể thao, các loại dao, lựu đạn và một số đạn… Chiến công của lực lượng Công an trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đã góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, người dân tin tưởng, yên tâm ổn định cuộc sống.

Trước đó, ngày 15/6, Thiếu tướng Lê Vinh Quy, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk có Thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sỹ tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh, truy bắt bằng được các đối tượng đã gây ra vụ việc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sỹ biến đau thương thành hành động cách mạng; tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh, truy bắt bằng được các đối tượng đã gây ra vụ việc trên để xử lý nghiêm theo quy định, nhanh chóng ổn định tình hình, tư tưởng trong quần chúng nhân dân. Hiện nay vẫn tiếp tục mở rộng, bắt giữ thêm những người liên quan, tổ chức cảm hóa những thành phần bị lôi kéo nhưng chưa tham gia.

Bên cạnh đó, toàn thể cán bộ, chiến sỹ Công an tỉnh tập trung đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân trong sự nghiệp giữ gìn an ninh trật tự; tích cực, chủ động tham gia đấu tranh tố giác tội phạm; tăng cường tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức cách mạng, cảnh giác trước các âm mưu thủ đoạn lôi kéo, chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không tin, không nghe theo kẻ xấu, tỉnh táo, không tin, không theo các tổ chức phản động.