Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ DÀNH CHO THIẾU NHI VIỆT NAM

 

Cứ mỗi dịp đến ngày Quốc tế thiếu nhi 01 tháng 6, mỗi người dân Việt Nam lại bồi hồi súc động nhớ đến Bác Hồ, Người đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nhất là các thế hệ thiếu niên nhi đồng Việt Nam.

          Đối với Hồ Chí Minh, trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, phải được quan tâm, chăm sóc đặc biệt; các em phải được vui chơi, được tạo điều kiện phát triển toàn diện. Người từng nói: “Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”

Thế nhưng, khi nước nhà trong cảnh lầm than, trẻ em phải chịu cảnh nô lệ, phải cơ cực lầm than. Điều này khiến Hồ Chí Minh vô cùng xót xa:  

“Chẳng may vận nước gian nan

Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng

Học hành giáo dục đã không

Nhà nghèo lại phải làm công cày bừa

Sức còn yếu, tuổi còn thơ

Mà đã khó nhọc cũng như người già

Có khi lìa mẹ, lìa cha

Để làm tôi tớ người ta bên ngoài”

          Chính vì thế, từ khi nước ta giành được độc lập, gần như năm nào cũng vậy, dù bận trăm công nghìn việc nhưng vào dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, hay Tết Trung thu, Bác Hồ đều viết thư cho thiếu niên, nhi đồng với lời lẽ ân cần, trìu mến, chí tình. Bác dành những món quà thật ý nghĩa để động viên các cháu thiếu niên nhi đồng có thành tích tốt trong học tập và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Không chỉ vậy, trong muôn vàn tình yêu thương gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân trước khi “đi gặp Cụ Các Mác, cụ Lênin”, Người vẫn dành một tình cảm to lớn cho các cháu thiếu niên, nhi đồng: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Hình ảnh Bác Hồ bón cơm cho em nhỏ, hình ảnh Người vui Tết Trung thu với các em thiếu niên, nhi đồng thật gần gũi, giản dị mà chan chứa yêu thương! Tình cảm, sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của Người qua những bức thư, lời dạy, bài viết gửi thiếu niên nhi đồng cả nước nhân dịp Tết Thiếu nhi, ngày khai trường, Tết Trung thu... mãi mãi khắc sâu, trở tài sản vô giá đối với thế hệ măng non nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Tình yêu trẻ thơ của Bác không đơn giản là một tình cảm thông thường. Đó còn là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cao cả với niềm tin là các cháu sẽ trở thành lớp người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng xã hội tương lai. Trong thư gửi các em học sinh, Bác tin tưởng rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”

Từ tình cảm bao la và niềm tin sâu sắc ở thiếu nhi, Bác Hồ luôn căn dặn các cháu phải xứng đáng với công lao của bao thế hệ cha anh để đem lại nền độc lập cho nước nhà và xứng đáng với một nước Việt Nam mới. Bác gửi cho các em những lời khuyên thật hữu ích: “Trong năm học tới đây, các em hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn”. Bác dặn các em phải giúp sức thiết thực cho công cuộc kháng chiến, tùy vào năng lực và lứa tuổi: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tùy theo sức của mình”. Với các em lớn, Bác cho rằng ngoài giờ học ở trường, phải tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước.

Xác định được vai trò quan trọng của lực lượng hậu bị, Bác Hồ thường nhắc nhở các cấp, các ngành, đoàn thể phải làm tốt công tác chăm sóc và giáo dục thiếu nhi. Trong bài viết “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân ngày 01-6-1969, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”. Bác nhắc nhở các gia đình, các đoàn thể phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc và giáo dục các cháu, làm cho các cháu ngày càng khoẻ mạnh và tiến bộ. Các tỉnh, thành ủy cần phải phụ trách và đôn đốc việc này cho có kết quả.

Về phương pháp giáo dục thiếu nhi, theo Bác, phải phù hợp với lứa tuổi của các em, không gò ép các em theo khuôn khổ người lớn. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc năm 1950, Bác cho rằng giáo dục nhi đồng là một khoa học, do đó: “Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hoá. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ hoạt bát, tự nhiên tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra già cả”[7]. Bác cũng căn dặn người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn Thanh niên) về nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng: Yêu quý các em là phải lấy tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quý của công; nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, thành trẻ em có “4 tính tốt”: Hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà... và có tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan. Đồng thời, phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Tình cảm của Bác Hồ có sức lan tỏa mãnh liệt trong thiếu niên, nhi đồng cả nước, thôi thúc các em tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà. Trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, đã có biết bao tấm gương thiếu niên, nhi đồng anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc mà tiêu biểu là Kim Đồng, Vừ A Dính, Lê Văn Tám, các đơn vị nổi tiếng như: Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng, Đội Thiếu niên du kích thành Huế, Đội Thiếu niên du kích Đồng Tháp Mười...

Thấm nhuần tư tưởng của Bác “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến bảo vệ các quyền trẻ em. Lời dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm trồng người” của Bác Hồ đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân ta học tập, làm theo với phương châm “trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”!  Điều đó được thể hiện từ các bản Hiến pháp, các Bộ luật, Luật đến các văn bản dưới luật đã tạo thành một hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em phù hợp với các công ước quốc tế và truyền thống văn hóa của dân tộc. Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là măng non sẽ góp phần xây dựng và phát triển xã hội sau này.



GIỮ VỮNG VÀ TĂNG CƯỜNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ ngày đầu thành lập đa xác định bản chất giai cấp công nhân là nguyên lý cơ bản nhất trong học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, là vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng. Đảng ta ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, do đó vấn đề xây dựngĐảng mang bản chất giai cấp công nhân càng trở nên quan trọng.

Thực tiễn từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng xây dựng bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng vẻ vang là lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân thực sự là một bài học lớn trong công tác xây dựng Đảng của Đảng ta.

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), kết hợp mở cửa với bên ngoài, cán bộ, đảng viên của Đảng lại được phép làm kinh tế tư nhân, do đó họ hằng ngày, hằng giờ phải chịu sự tác động của những nhân tố tiêu cực, kể cả những hoạt động chống phá Đảng thì vấn đề giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng càng trở nên quan trọng và bức thiết. Đại hội XIII của Đảng xác định “Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng”[1]. Theo đó, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay cần thực hiện tốt mấy vấn đề cơ bản sau :

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam, được vung đắp và bảo vệ bằng trí tuệ và xương máu của biết bao thế hệ, đa thấm sâu vào máu thịt của những con người Việt Nam từng theo Đảng chiến đấu, hy sinh suốt gần một thế kỷ qua. Mục tiêu đó vừa thiêng liêng, vừa cao cả và không thể có sự lựa chọn nào khác. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước mà chúng ta thực hiện trong 20 năm qua không nhằm mục tiêu nào khác ngoài việc tiếp tục tiến lên theo con đường của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đa lựa chọn. Đồng thời, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là nguồn gốc của sự tồn tại và đổi mới thành công. Đồng chí Lê Khả Phiêu khẳng định: “Nhờ kiên định không hề lay chuyển đối với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà đất nước ta, các lực lượng vũ trang nhân dân ta tồn tại và công cuộc đổi mới ngày càng đạt được những thành tựu to lớn. Nào ai có thể quả quyết từ nay về sau không còn phong ba bão táp? Nhưng dù phong ba bão táp, khốc liệt, hiểm nghèo, phức tạp và quanh co thế nào, kiên định mục tiêu và lý tưởng thì tồn tại , kiên định thì phát triển”[2]

Hiện nay cũng như về sau, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì phải phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bởi dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh của đất nước không thể tách rời tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, không thể tách rời xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đó không chỉ là mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội mà còn là nhân tố bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc.

Hai là, kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Đó cũng chính là một nội dung chủ yếu thể hiện bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Để thực hiện điều đó, đối với toàn Đảng mà trước hết là các cấp ủy đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ lý luận phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó phải biết vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và cơ sở. Có như vậy mới bảo đảm cho lý luận có sức sống trong thực tiễn, khắc phục được khuynh hướng giáo điều, bảo thủ trong cán bộ, đảng viên; thường xuyên coi trọng công tác tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra, đồng thời phải biết kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, tri thức mới của thời đại, nâng cao năng lực trí tuệ, năng lực tư duy lý luận; kiên quyết đấu tranh chống mọi thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, sai trái trong cán bộ, đảng viên.

Ba là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Đây là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt cơ bản của Đảng, đồng thời là tiêu chí xác định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, là xóa bỏ tận gốc nguồn sức mạnh của Đảng. Kinh nghiệm các Đảng Cộng sản cho thấy, hễ xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng sẽ trở thành một thứ câu lạc bộ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội, bè phái, vô chính phủ hoạt động, cuối cùng làm tan rã Đảng về mặt tổ chức, đi đến thủ tiêu bản thân Đảng. Trong tình hình hiện nay, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ cần chú ý trên cả hai phương diện là nhận thức đúng và thực hiện tốt. Thực sự coi tập trung là tập trung trí tuệ, tập trung lực lượng, tập trung sức mạnh, tập trung ý chí, tập trung hành động. Nhưng để có được tập trung thì phải đi đôi với dân chủ, tập trung trên cơ sở dân chủ. Thiếu dân chủ, không dân chủ, vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức… thì tập trung chỉ còn lại là tập trung quan liêu. Ngược lại, dân chủ không gắn với tập trung sẽ trở thành dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật, mất kỷ cương. Một trong những bài học kinh nghiệm được Đại hội X của Đảng rút ra là : “Đảng phải xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đổi mới công tác xây dựng Đảng. Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình, nói thẳng, nói thật; giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết đối với những phần tử cơ hội…”(4). Đây là vấn đề trở nên thực sự cần thiết để giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.

Bốn là, thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng lập trường quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được biểu hiện sinh động, cụ thể, rõ ràng và dễ thấy, nhất là thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hiện nay bên cạnh những mặt tích cực, tiến bộ vẫn đang được giữ vững và phát huy thì một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, giảm sút lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Vì vậy, quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng là vấn đề trở nên cấ thiết để giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.

Năm là, củng cố mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Sức mạnh của Đảng được bắt nguồn từ nhân dân. Nhờ có cơ sở xã hội sâu rộng trong nhân dân mà Đảng ta được nuôi dưỡng, được bảo vệ và trưởng thành như ngày nay. Liên hệ mật thiết với nhân dân là vấn đề sống còn của Đảng Cộng sản, nếu cắt đứt mối liên hệ này, Đảng không còn cơ sở để tồn tại. V.I.Lênin từng cảnh báo hai nguy cơ lớn nhất đối với một Đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và xa rời quần chúng nhân dân. Đảng Cộng sản muốn thực hiện được mục tiêu lý tưởng của mình thì phải củng cố mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng phải thể hiện được vấn đề đó trong toàn bộ hoạt động của mình.

Sáu là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân; sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Đây là một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi và là một bài học chiến lược của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo kháng chiến, mãi mãi giữ nguyên giá trị. Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đoi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế; tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là nhân tố cơ bản giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng hiện nay.



[1] Đảng CSVN, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Tr.118

[2] Lê Khả Phiêu, Quốc phòng, an ninh trong công cuộc đổi mới đất nước,Nxb CTQG, H.1997, tr.110.

CHñ NGHÜA M¸C - L£NIN, T¦ T¦ëNG Hå CHÝ MINH M•I M•I Lµ NÒN T¶NG T¦ T¦ëNG, KIM CHØ NAM CHO MäI HO¹T §éNG CñA §¶NG TA

 

Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Kiên định và vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội”

Trên thực tế học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong 91 năm qua. Thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm tính chân lý, bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết và tư tưởng đó. Nếu Liên Xô không tan rã, chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở các nước Đông Âu còn nguyên vẹn, phong trào cộng sản và công nhân thế giới không gặp khó khăn, lâm vào thoái trào như hiện nay, chắc việc khẳng định các giá trị vĩ đại của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như mối quan hệ của nó không có gì phức tạp. Nhưng trước khúc quanh của lịch sử, trước thử thách nghiệt ngã của cuộc đấu tranh, đã xuất hiện các nhận thức, quan điểm khác nhau về các giá trị chứa đựng trong hệ thống quan điểm lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh. Trong đó, có ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ nhí Minh là hai hệ tư tưởng độc lập, để phù hợp điều kiện hiện nay nên từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn tư tưởng Hồ Chí Minh trên lập trường dân tộc. Các nhận thức, quan điểm trên đã được các lực lượng thù địch tung hứng với các thủ đoạn xảo quyệt để chống lại độc lập dân tộc gắn với CNXH con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Đảng ta và nhân dân ta luôn coi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam về tinh thần, tư tưởng của toàn dân ta trong suốt tiến trình đấu tranh cách mạng và ngày nay trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bởi vì các giá trị tinh thần, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo hành động cho toàn dân tộc, toàn Đảng vượt qua bao thử thách để làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, xây dựng Nhà nước công nông; chiến thắng hai đế quốc to; dẫn dắt sự nghiệp đổi mới ngày càng giành được thắng lợi quan trọng. Các thành quả đó là những dấu ấn lịch sử, là sự ghi tạc vào thế kỷ XX các chiến công và thành tựu vĩ đại như một sự hội tụ mang tính quy luật của tư tưởng tiên tiến và sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân.

Trong bài này, người viết chỉ tập trung vào một số biểu hiện tiêu biểu và giá trị vĩnh hằng của nó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất sâu sắc, khoa học những vấn đề nguyên tắc của thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học trong nhận thức và cải tạo con người, xã hội. Hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được C. Mác và V. I. Lênin trình bày trong bộ "Tư bản", "Chống Đuy-rinh", "Biện chứng của tự nhiên", "Lút vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức", "'Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", "Bút ký triết học", "Nhà nước và cách mạng"... đã trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ cơ sở khoa học để nhận thức đúng và hành động đúng, để đạt được mục tiêu chân chính. Để thực hiện vai trò đó, các nhà sáng lập học thuyết Mác - Lênin đã vượt qua bao thử thách để tích lũy một hệ thống tri thức nhân loại một cách khoa học, toàn điện, có bề rộng và  chiều sâu vượt qua những người cùng thời, chứ không như một số người cho đó chỉ là "một sự dự thảo vội vã, giá trị chỉ như một luận án tiến sĩ". Nếu ai nghĩ như vậy là cố ý hoặc chưa trực tiếp nghiên cứu và thấu hiểu hết hệ thống tác phẩm đồ sộ của chủ nghĩa Mác, mà chỉ là một sự tiếp cận hời hợt qua các bản giới thiêu tóm tắt. Trình độ tư duy lý luận phát triển cao của các nhà kinh điển là phản ánh một thực tiễn đã được khảo sát từ những phản ứng hoá học; từ toán sơ cấp, cao cấp; từ một nhà tư bản đến toàn xã hội tư bản; từ những số liệu phong trào công nhân không chỉ của Đức, Anh, Pháp, Nga, mặc dù các nước đó là nơi những con người vĩ đại ngồi viết học thuyết, mà còn là một quá trình nghiên cứu các bài học thực tiễn sâu sắc của nhân loại. Phương pháp phản ánh thực tế của các nhà bác học vĩ đại khi phát kiến các vấn đề mang tính thời đại là khả năng lựa chọn thực tiễn điển hình, mang tính phổ quát để làm luận cứ thực tiễn cho các phát minh có tầm thời đại. Có ai đó nghi ngờ sự chật hẹp về thực tiễn cách mạng khi xây dựng học thuyết Mác cũng nên bình tâm để suy ngẫm về phương pháp tiếp cận thực tiễn rất tinh tế của Người.

Như vậy, với việc thực hiện cuộc cách mạng chân chính trong triết học, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống quan điểm khoa học để nhận 'thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và phát huy vai trò năng động, sáng tạo của con người, của quần chúng nhân dân trong cải tạo tự nhiên, xã hội phục vụ mục đích của con người và xã hội. Chính C. Mác và Ph.Ăngghen đã vượt lên trên các vị tiền bối của mình để đạt được hình thức phát triển cao của tư tưởng khoa học và cách mạng đó. C. Mác viết: "Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập với phương pháp ấy nữa". V.I. Lênin đó từng nhấn mạnh về sự hoàn bị trong tư duy triết học của C. Mác và Ph. Ăngghen, Người cho rằng: Triết học Mác đã giải phóng chủ nghĩa duy vật của nhân loại khỏi sự giam hãm của phương pháp siêu hình, giải phóng phép biện chứng khỏi sự nô lệ của chủ nghĩa duy tâm. Vì thế mà nó rất hoàn bị, sự "hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học". Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại, đặc biệt là các ngành mũi nhọn của nó và thực tiễn mới rất sinh động của thế giới đương đại đang làm sáng tỏ tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, và do đó nó càng có nhiều cơ sở khoa học và thực tiễn để tồn tại và phát triển. Đến thời điểm này, chưa có một phát minh khoa học nào có thể làm đảo lộn các nguyên lý cơ bản trong thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Có lẽ nhiều người còn nhớ cách đây không lâu, một giáo sư người Pháp đã viết: giá trị thế giới quan, phương pháp luận của C. Mác là đỉnh cao của tư duy lý luận, trong lịch sử chưa ai đạt được và tương lai cũng chưa có hệ thống nào hơn thế và ông kêu gọi hãy trở về với tư tưởng của C. Mác, trước hết là tinh thần phê phán chủ nghĩa tư bản. Từ sự phân tích trên chỉ nhằm một ý nhỏ: các ý tưởng lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không lỗi thời như một số người đã nói, mà luôn luôn là những ánh hào quang của nhân loại tiến bộ trên con đường tiến tới.

Nếu ai hiểu lý luận hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở khoa học và cách mạng, chắc chắn sẽ không dị ứng với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không phủ nhận học thuyết đấu tranh giai cấp, không phản đối kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Vì tất cả những cái đó là điều kiện, là phương tiện để lực lượng sản xuất được giải phóng, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội và tự do phát triển toàn diện cho từng con người. Trên ý nghĩa đó mà học thuyết Mác không chỉ có tính khoa học, cách mạng cao, mà còn chứa đựng tính nhân đạo, nhân văn cao đẹp.

Nhờ có học thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta mới nhìn thấy động lực của lịch sử chân chính là hoạt động thực tiễn tự giác của quần chúng nhân dân nhằm tác động của quy luật khách quan trong phát triển xã hội và sự định hướng của khoa học của chính trị, pháp lý. . . Chính là: "Có thể đem chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất . là: hình thái xã hội chỉ có sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả những hiện tượng xã hội sang phân tích hiện tượng đó một cách hết sức khoa học". Nếu chúng ta thấm nhuần sâu sắc, biện chứng quá trình vận động của từng hình thái kinh tế - xã hội cũng như quá độ của một hình thái kinh tế-xã hội này đến một hình thái kinh tế-xã hội cao hơn thì chắc chắn dễ tiếp thu việc phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN. Vì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, Hồ Chí Minh dạy chúng ta lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân lao động làm mục đích cao nhất. Và đó là quy luật, động lực phát triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ.

 Thực tiễn đang diễn ra trên Tổ quốc Việt Nam là minh chứng cho sự kết hợp tài giỏi, sự trung thành và tính sáng tạo của những người cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam với lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh trong lựa chọn con đường phát triển cho Việt. Nam. Trong một bức thư  ngày 21 - 9 - 1890 Ph.ăngghen viết: "theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sự sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu ai xuyên tạc luận điệu này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa...". và Người yêu cầu người nhận thức phải có "khả năng đánh giá đúng nhân tố còn lại tham gia vào sự tác động qua lại".

Đất nước ta qua hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kề đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhưng cũng đã bộc lộ những hạn chế không nhỏ về vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân và những bức xúc về các tệ nạn, tiêu cực xã hội, đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, thực dụng, thiếu trung thực, tệ quan liêu, tham nhũng, thoái hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn tồn tại ỏ ngay trong Đảng. . . Những biểu hiện yếu kém trên, nếu Đảng không có những hình thức, phương pháp tích cực đấu tranh khắc phục, thì sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của Đảng, chia rẽ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và giữa nhân dân với Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhất là hiện nay khi mà Đảng ta đang chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Điều đó trước hết đòi hỏi mọi người, nhất là những người cộng sản cần có cách nhìn toàn diện, lịch sử, cụ thể, tránh sự nhận thức, phê phán phiến diện, một chiều. Còn đối với các lực lượng thù địch, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải kiên quyết đấu tranh để bác bỏ, vì đây là mặt trận đấu tranh lý luận, tư tưởng trong dòng chảy của đấu tranh vì độc lập dân tộc và CNXH. Đó là con đường duy nhất để giữ gìn nền văn hiến lâu đời của dân tộc và tiếp thu, kế thừa các tinh hoa văn hoá của nhân loại nhằm đưa dân tộc ta lên một tầm cao mới.

Như vậy, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã ra đời cách đây hàng trăm năm, tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển cách xa ta hơn nửa thế kỷ, nên trong các luận cứ, luận chứng, kết luận có thể có những vấn đề cụ thể cần được điều chỉnh, bổ sung, phát' triển. Nhưng tính hoàn bị của một học thuyết, đặc biệt sự định hướng về thế giới quan và phương pháp luận cách mạng và khoa học thì vân giữ nguyên giá trị.

Cũng như các vĩ nhân đã dạy: các ông chỉ cung cấp cho chúng ta cái la bàn đế đi đúng hướng, không nên biến học thuyết của các ông thành đơn thuốc vạn năng, chữa bách bệnh, cần không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Do vậy, sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo, phát triển phong phú nó là yêu cầu của trí tuệ khoa học, phẩm chất cách mạng, khí phách dân tộc, là lương tri và đạo đức của con người chân chính. Nếu toàn Đảng, toàn dân ta kết hợp nhuần nhuyễn lòng trung thành và sức sáng tạo vũ khí tinh thần, tư tưởng đó, nhất định dân tộc ta sẽ tiến lên phía trước và một lần nữa lịch sử chọn đất nước ta làm điểm tựa .

 

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA TRONG MỖI BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

 

Ngày 3 tháng 2 năm 1930 đã đi vào lịch sử cách mạng nước ta như một trong những sự kiện chính trị to lớn và sâu sắc nhất. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước kể từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử và có khả năng đề ra đường lối cứu nước đúng đắn, thực hiện triệt để yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Đảng đã đề ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Luận cương chính trị về cách mạng Việt Nam, thể hiện sự lựa chọn dứt khoát con đường cách mạng đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo trào lưu tiến bộ nhất của loài người trong thế kỷ XX là sáng tạo lớn nhất của Đảng ta, làm nền tảng vững chắc cho những giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

Cần thấy rằng, ở thời điểm thành lập Đảng, trình độ dân trí của nước ta rất thấp, còn đến 90% chưa biết chữ. Giai cấp công nhân Việt Nam mới hình thành, số lượng chỉ khoảng 22 vạn, chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân cư. Lúc này, các Đảng Cộng sản ở châu Âu và Quốc tế cộng sản chưa phải đã có sự thống nhất về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đặt trong bối cảnh đó mới thấy hết được sự ra đời của Đảng đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử và có ý nghĩa thực tiễn cách mạng sâu sắc. Đồng thời, qua đó mới thấy rõ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng ta trong xác định đường lối cách mạng Việt Nam, không rập khuôn sao chép đường lối cách mạng của các Đảng Cộng sản, các phong trào dân tộc khác trên thế giới. Trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng năm 1930, Đảng ta đã quyết định con đường cách mạng Việt Nam là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thể hiện bản lĩnh chính trị của Đảng, là ngọn nguồn để Đảng ta luôn giữ vững vai trò và uy tín lãnh đạo đối với toàn xã hội, đưa cách mạng tiếp tục vượt qua nhiều chặng đường đầy khó khăn, thử thách. 

Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một bước ngoặt khẳng định vị thế của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới. Thắng lợi vĩ đại đó một lần nữa khẳng định bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đảng ta đã dự đoán chính xác tình hình trong nước và thế giới, có những quyết định đúng đắn, sáng tạo trong xác định đường lối quân sự với phương pháp, hình thức đấu tranh thích hợp là đi từ khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước khi có tình thế và thời cơ chín muồi. Vì vậy, dù khi đó chỉ với hơn 5000 đảng viên, nhưng Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Năm 1945 - 1946 là thời kỳ đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”. Lúc này, tài chính quốc gia trống rỗng; nạn đói khủng khiếp làm chết hơn 2 triệu người dân. Quân đội của Tưởng, Pháp, Anh tràn ngập khắp từ Bắc đến Nam, câu kết với bọn phản động và các đảng phái “Việt quốc”, “Việt cách” hòng tiêu diệt Đảng ta và chính quyền cách mạng non trẻ. Trong bối cảnh đất nước đầy khó khăn, thử thách, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết đoán mau lẹ, chính xác, linh hoạt, không cho phép phạm phải sai lầm trên những vấn đề có tính nguyên tắc. Sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đến thành công với sách lược lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, từng bước đập tan âm mưu và thủ đoạn thâm độc của chúng, làm tan rã bọn tay sai phản động trong nước. Để tăng cường thực lực cách mạng, Đảng đã tổ chức Tổng tuyển cử khẳng định quyền làm chủ đất nước của toàn dân, phát động phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”, “Tuần lễ vàng”... đưa dân tộc ta vượt qua thời điểm khó khăn tưởng như cách mạng đã ở bên bờ vực thẳm. Tháng 12 năm 1946, khi điều kiện hòa hoãn không còn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động phát động toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Phải đặt trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của cách mạng nước ta mới thấy hết ý chí độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, sáng tạo và bản lĩnh chính trị của Đảng ta đối với vận mệnh của dân tộc trong bước ngoặt lịch sử cách mạng.

Sau năm 1954, Đảng ta đã lãnh đạo tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam - Bắc, trong điều kiện trên thế giới chưa có tiền lệ. Đến nay, nhìn lại lịch sử, chúng ta càng thấy rõ chủ trương đường lối cách mạng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo. Đồng thời bác bỏ những quan điểm, tư tưởng hữu khuynh, ích kỷ, hẹp hòi, thụ động, trái với tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng của giai cấp công nhân. Chiến thắng huy hoàng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Cách mạng nước ta lại đứng trước những thách thức mới do tác động của tình hình quốc tế và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch cùng những phần tử cơ hội, xét lại. Đồng thời, những khiếm khuyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta chậm được phát hiện, sửa chữa triệt để. Phải trở lại thực tiễn lịch sử đó mới càng thấy rõ trong bước ngoặt mới của cách mạng, Đảng ta luôn nêu cao trách nhiệm trước toàn dân tộc trong việc tìm tòi con đường phát triển đất nước để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân và phồn vinh cho dân tộc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thể hiện sâu sắc bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã kết thúc tốt đẹp. Thành công lớn của Đại hội là đã tập trung thảo luận, nhất trí cao, thông qua kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội  IX, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hôi 5 năm (2001 - 2006), tổng kết 20 năm đổi mới, kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX; quyết định mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010); phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng và thông qua Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm (2001 - 2006), sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, là mục tiêu trực tiếp của Đại hội X, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) do Đại hội IX đề ra. Thực hiện thắng lợi mục tiêu này sẽ đánh dấu một bước phát triển mới trên con đường đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đại hội X được đánh giá là Đại hội của trí tuệ, đoàn kết, đổi mới và phát triển bền vững…

Đại hội XIII của Đảng  diễn ra trong bối cảnh đất nước có cả cơ hội xen lẫn những thách thức; tuy nhiên, với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta vẫn khẳng định tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[1]

Như vậy, độc lập, tự chủ, sáng tạo là nét nổi bật về bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một trong những bài học xuyên suốt lịch sử 91 năm lãnh đạo và đấu tranh cách mạng của Đảng. Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội, xét lại cùng những quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động khác. Hiện nay, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi mới, nhưng cũng còn gặp không ít khó khăn, thách thức và nguy cơ không thể xem thường. Bởi vậy, việc không ngừng giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng vừa là truyền thống cách mạng vẻ vang, vừa là cơ sở để Đảng ta kết hợp hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp lợi thế và nguồn lực trong nước với nguồn lực ngoài nước, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi, đảm bảo đất nước phát triển vững chắc về mọi mặt, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.


[1] Đảng CSVN, Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Tr.206

CẢNH GIÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT TRUNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI TA ĐỐI VỚI ĐẢNG

 

Trong thời gian qua, những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta, trong đó các thế lực thù địch tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của quân đội đối với Đảng. Chúng cho rằng quan điểm quân đội “chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; rằng, quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; rằng, quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc, phải đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” trong mục tiêu lý tưởng chiến đấu của mình; rằng, quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân, bảo vệ nhân dân”. Chúng đặt ra yêu cầu cần phải “bỏ hẳn cách hiểu quân đội chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa”! Chúng còn cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; đối lập sự trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc; đối lập phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân của quân đội ta. Chúng còn “khuyên nhủ” chúng ta rằng, cần phải thực hiện “chuyên nghiệp hóa” quân đội càng sớm càng tốt, cần phải học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của quân đội tư sản.

Thực chất những quan điểm trên tưởng chừng như vô lại, nhưng lại là một thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm. Họ không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội, mà còn tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của Quân đội và các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, dân tộc và nhân dân. Quan điểm “Quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành với lợi ích quốc gia – dân tộc” là quan điểm phản động về chính trị và đặc biệt nguy hiểm. Quan điểm này có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, Quân đội ta có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ cơ sở đó, cho nên họ đặt vấn đề “Quân đội trung thành với dân tộc là “phù hợp”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, trung thành với một lực lượng chính trị nào! Điều này dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lời “khuyên nhủ” của họ là đầy thiện chí, là hợp lý, khách quan và đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta!  

Quan điểm quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “trung với Đảng là phản nhân dân” là một quan điểm phản động về chính trị và đặc biệt nguy hiểm. Biết không thể chia cắt được mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng mối quan hệ này để đẩy tới việc đưa ra luận điệu quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân” là đủ, không cần nói đến phải trung thành với Đảng nữa. Chúng cũng hiểu rất rõ rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng có quan hệ máu thịt với nhân dân, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Cho nên, theo chúng, đặt vấn đề quân đội chỉ “trung thành và bảo vệ nhân dân” là “phù hợp”, là “khách quan”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào!

Những luận đề trên, chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc về phẩm chất trung thành của Quân đội ta mà các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền. Không thể cho rằng, “Quân đội là chỉ của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội ấy do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định. Lịch sử nhân loại đã minh chứng: con đường phát triển của các quốc gia – dân tộc, sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia dân tộc dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng chính trị lãnh đạo dân tộc và nhân dân ấy cũng đồng thời là lực lượng tổ chức và lãnh đạo “Quân đội của dân tộc, của nhân dân”. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia – dân tộc, đang lãnh đạo và dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội và Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập đến nay suốt hơn bảy thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ nội dung phẩm chất trung thành với Đảng, tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không thể chấp nhận được vì nó không đúng với bản chất chính trị – xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc đó không đánh lừa được ai, nhất định sẽ bị phá sản.

Như vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, cũng đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ sự trung thành với Đảng; tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không đúng với bản chất Chính trị – Xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phản động này của các thế lực thù địch./.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tình hình tôn giáo tháng 5/2023: Hoa Kỳ đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần “quan tâm đặc biệt”. Bài viết đã đăng tải nhiều thông tin sai lệch, tiêu cực về tình hình tôn giáo và hoạt động tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua, thể hiện sự chống đối chính trị, mưu đồ kích động nhân dân và giáo dân tiến hành các hoạt động gây rối trật tự, chống đối người thi hành công vụ, vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 

          Điều này thể hiện qua số lượng tín đồ không ngừng tăng với khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau, chiếm 27% dân số (tính đến tháng 3/2021). Nhưng quan trọng hơn là chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; Các cơ sở tôn giáo được tạo điều kiện cho tu sửa nơi thờ tự, các tổ chức, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp với hơn 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa hảo, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế,  nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản, 500 năm cải chính đạo Tin lành… Các ngày lễ quan trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia.

          Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt tôn trọng và thực thi đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Điều 6, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. 2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.

          Đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, hơn 29.000 cơ sở thờ tự. Có 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 8.000 lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hằng năm. Tôn giáo đã tồn tại lâu dài trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một số bộ phận nhân dân”; “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài”; “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Đối với người nước ngoài có tôn giáo khi học tập, làm việc, sinh sống ở Việt Nam cũng luôn được tôn trọng và bảo vệ quyền sinh hoạt tôn giáo phù hợp. Ngay cả đang trong thời gian chống dịch Covid 19, Nhà nước ta vẫn quan tâm tạo điều kiện tốt nhất đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

          Đại hội XIII của Đảng xác định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”, và nhấn mạnh: “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

          Những thành tựu vượt bậc trong công tác bảo đảm tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo những năm qua chính là cơ sở để tín đồ tôn giáo, chức sắc tôn giáo yên tâm hành đạo. Ðường lối, chính sách đúng đắn của Ðảng và Nhà nước về tôn giáo giúp cho mỗi người dân thấy được quyền lợi và trách nhiệm của mình, gắn bó quyền lợi của mình với lợi ích quốc gia, dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo, không ngừng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, mọi luận điệu suy diễn, quy chụp về tự do, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là không thể chấp nhận. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt./.

CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH THÔNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

 

Hiện nay, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với mọi người dân. Bất kỳ ai, chỉ cần có trong tay một thiết bị thông minh điện thoại, máy tính bảng, laptop…. có kết nối internet đều có thể tham gia vào mạng xã hội, trên những nền tảng khác nhau như facebook, youtube, zalo, twitter... Bên cạnh những tác dụng to lớn, người dùng mạng xã hội đã và đang phải đối diện với nhiều nguy cơ, trong đó có vấn nạn tin giả. Nhận diện, đấu tranh với thông tin giả trên mạng xã hội trở thành vấn đề cần thiết hiện nay.

            Hàng ngày, hàng giờ người dùng internet có thể tiếp cận rất nhiều thông tin trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như facebook, youtube, zalo, twitter… Chỉ cần gõ một “từ khóa” người dùng có thể nhận về hàng ngàn, hàng vạn thông tin liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống xã hội. Sự linh hoạt, thuận tiện của các nền tảng mạng xã hội là không thể phủ nhận. Bên cạnh việc tiếp cận thông tin, người dùng có thể chia sẻ, bày tỏ quan điểm cá nhân về những vấn đề mình quan tâm. Người dùng không chỉ tiếp cận một chiều mà hoàn toàn có thể phát triển tư duy và sự sáng tạo của bản thân, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại. Tuy nhiên, trên các nền tảng mạng xã hội, tri thức, dữ liệu được tạo ra trên từng giây, trong số đó có rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu, độc, thách thức người dùng.

          Tin giả, theo cách hiểu thông thường là những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, kiểm duyệt, xuất hiện sai lệch về nội dung và được phát tán rộng rãi, với tốc độ vô cùng nhanh trên Internet và các phương tiện truyền thông. Có thể đó là những thông tin hoàn toàn không chính xác được cố tình đăng tải, lan truyền vì một mục đích nào đó; có thể là những thông tin có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác do người viết không kiểm chứng toàn bộ sự thật trước khi đăng tải, chia sẻ hoặc có thể họ phóng đại một phần của câu chuyện đó. Dù ở thể loại, cấp độ nào thì đây hoàn toàn là những thông tin không đáng tin cậy, nhưng xuất hiện với “cường độ” lớn, “mật độ” dày đặc trên nhiều nền tảng mạng xã hội, dễ gây nên những nhận thức sai lầm trong dư luận xã hội. Thậm chí, tạo nên những nhận thức và hành động sai lầm, lệch lạc của một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết, cả tin.

          Đặc biệt, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động càng tăng cường tung thông tin giả, tin đồn thất thiệt với các nội dung như: Đại hội là dịp để “các phe cánh trong Đảng đang thanh trừng lẫn nhau”, và rằng “trong Đảng không có dân chủ nên cần phải đa đảng”, nguy hại hơn chúng ra sức xuyên tạc, bịa đặt về đời tư cá nhân, bôi nhọ thanh danh, uy tín của những cá nhân lãnh đạo trong diện “quy hoạch nhân sự”!… Mục đích nhằm làm cho người đọc, người xem thiếu bản lĩnh và kinh nghiệm dễ lầm tưởng, không nhận diện được đúng, sai, dễ dao động về tư tưởng, mất niềm tin, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng. Từ đó, chúng “tạo cớ” cho các hành động chống phá tiếp theo, phá vỡ sự ổn định, phát triển của đất nước. Điều đó cho thấy, tin giả trên mạng xã hội là vấn đề rất phức tạp, nan giải và đặc biệt nguy hiểm hiện nay.

          Đấu tranh và loại bỏ thông tin giả, thông tin xấu độc trên mạng xã hội hiện nay về phía người dùng mạng xã hội, cần thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân trên những nội dung sau:

          Một là, cần nhận thức rõ trách nhiệm công dân khi tham gia các hoạt động trên môi trường không gian mạng. Khi tham gia các nền tảng mạng xã hội, bên cạnh việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cá nhân, mỗi quân nhân cần ý thức rõ việc tiếp nhận thông tin phải tuân thủ trong khuôn khổ pháp luật; để một mặt bảo đảm sự an ninh, an toàn cho cá nhân, mặt khác bảo vệ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng. Tham gia vào các nền tảng mạng xã hội người dùng vừa là người tiếp nhận thông tin, vừa là người tạo nên thông tin. Với tư cách tiếp nhận thông tin, mỗi người dùng mạng xã hội phải luôn cảnh giác, tiếp nhận thông tin một các có chọn lọc, có sự so sánh, đối chiếu giữa thông tin trên mạng xã hội với các thông tin trên phương tiện thông tin truyền thông chính thống (như: đài truyền hình quốc gia, các trang báo của cơ quan ngôn luận Trung ương…) để phân biệt, đánh giá mức độ đúng  sai của các thông tin. Tuyệt đối không tiếp nhận thông tin một cách cảm tính, theo tâm lý “đám đông”, dễ tin, cả tin theo các luồng thông tin trên mạng xã hội.

          Hai là, cảnh giác đấu tranh, loại bỏ những thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Khi tham gia mạng xã hội, người dùng hoàn toàn có thể nhận diện, “chỉ mặt, đặt tên” những thông tin sai sự thật. Vấn đề ở chỗ, người dùng không được dễ dãi, không cho phép mình “dễ dãi”, tin ngay những thông tin vừa nghe, vừa đọc. Đây là vấn đề khó nhưng không phải không thực hiện được, nếu mỗi người dùng mạng xã hội nêu cao ý thức, sự tự tôn, tự trọng của cá nhận. Mỗi người phải luôn răn mình: xã hội ảo nhưng hệ lụy thật, nếu không cảnh giác trong hiện tại sẽ nhận về những hậu quả khôn lường trong tương lai.

          Ba là, hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong đấu tranh, loại bỏ thông tin giả trên mạng xã hội. Hiện nay Luật An ninh mạng… đều có những điều khoản quy định cho phép người dùng tố cáo những hành vi đưa tin sai sự thật, lừa đảo trên mạng internet. Đặc biệt, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam đã cung cấp số điện thoại, email, webside để tiếp nhận những thông tin giả mạo liên quan đến các lĩnh vực: Chính sách, pháp luật;  Kinh tế, tài chính; Lĩnh vực y tế; Thiên tai, dịch bệnh; An ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Tài khoản giả mạo; Đường link lừa đảo; và các lĩnh vực khác. Do đó, khi người dùng mạng xã hội phát hiện thông tin giả mạo, cần chủ động liên hệ với các cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý kịp thời.

          Tóm lại, thông tin giả đã và đang tồn tại khá nhiều trên các nền tảng mạng xã hội. Những thông tin này luôn ẩn mình để đánh lừa mỗi người dùng. Do đó, khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội, mỗi cá nhân hãy chủ động tìm kiếm từ các trang báo chí, thông tin chính thống để so sánh, đối chiếu. Nếu không xác định được nguồn gốc, động cơ, mục đích của thông tin và người chia sẻ thông tin, cần bình tĩnh, thận trọng khi bình luận, phát tán thông tin./.

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “MỀM” TRONG CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Những quan điểm sai trái, thù địch thực chất là những quan điểm sai lệch hoặc đối lập với nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam với mục đích gây nhiễu loạn thông tin, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam. Sau nhiều biện pháp tuyên truyền trắng trợn, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách công khai, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta không mang lại kết quả, các thế lực thù địch quay sang sử dụng thủ đoạn đoạn “mềm”, bằng cách triệt để tận dụng xu thế toàn cầu hóa và chủ trương hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực hiện thủ đoạn “mềm”, các thế lực thù địch chuyển từ đối đầu sang thực hiện quan hệ thân thiện, đi sâu vào các lĩnh vực, các ngành mà chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót trong quản lý, chỉ đạo và thực hiện; chúng tăng cường quan hệ nhiều mặt để tiếp cận, thâm nhập. Qua đó, tác động vào tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ đảng viên có vị trí, vai trò cao trong Đảng, Nhà nước để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ngay từ trong nội bộ ta.

Các thế lực thù địch luôn cho rằng, để thực hiện được mưu đồ “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam thì vấn đề trước tiên là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; phải xây dựng ý thức hệ, hệ thống lý luận có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một giai cấp – xã hội mới kiểu tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn phải tăng cường hợp tác toàn diện, tiến tới “lộ trình dân chủ toàn diện” ở Việt Nam.

Để thực hiện mưu đồ trên, trước hết chúng lấy tiến công trên lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn, thông qua đầu tư thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản tại Việt Nam, từ đó làm cho nền kinh tế Việt Nam chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường, điều kiện để hình thành “chính trị dân chủ”, “xã hội dân sự”, tạo ra môi trường và cơ hội cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho Đảng ta không kiểm soát được tình hình; tạo tình thế không thể không thay đổi, buộc Đảng hoặc phải chấp nhận “dân chủ”, hoặc tan vỡ do bạo động, đột biến chính trị, xã hội. Đồng thời, chúng kêu gọi dân chủ kiểu tư sản nhằm “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng để tạo áp lực, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, chỉ có điều chỉnh chính sách, thông qua “thân thiện giả hiệu” để đi sâu vào Việt Nam, làm ăn với chúng ta thì chúng mới có cơ hội, điều kiện, môi trường tiếp cận rộng rãi để tạo dựng, thúc bách “xã hội dân sự” tại Việt Nam.

Hai là, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, một mặt chúng tăng cường tiếp cận với mọi đối tượng để mua chuộc, lôi kéo, tác động làm “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” nội bộ ta ngay từ bên trên, bên trong; chú trọng việc hỗ trợ cho những phần tử được chúng cho là “có tư tưởng dân chủ, thân phương Tây”. Mặt khác, chúng tăng cường tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi, đối ngoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực để tăng cường quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa thông qua các thủ đoạn “ngoại giao thân thiện”; đồng thời tạo kênh và cơ hội tiếp cận sâu hơn với cán bộ, đảng viên để thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường xâm nhập, tiến công “chuyển hóa” ngầm bằng các thủ đoạn hết sức tinh vi, để phá hoạt nội bộ ta.

Trước những thủ đoạn “mềm” của các thế lực thù địch, mỗi chúng ta, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không ngừng trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người đảng viên; kiên định, nhất quán quan điểm của Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động./.

Cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trong đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng

 

Ngày nay, mạng xã hội ở nước ta phát triển rất nhanh và ngày càng lan rộng, thu hút nhiều thành phần, đối tượng tham gia. Trong đó, tỷ lệ cán bộ, đảng viên sử dụng facebook hiện nay chiếm khá cao. Hầu như ai cũng có tài khoản cá nhân facebook, thậm chí có người sở hữu 2, 3 tài khoản.

Tuy nhiên, bên cạnh một số ít cán bộ đảng viên mạnh dạn đăng tải hoặc chia sẻ các thông tin, hình ảnh từ các trang mạng chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó thì vẫn còn đại đa số người còn thờ ơ, phớt lờ những vấn đề xã hội đang quan tâm.

Vậy thì vai trò, trách nhiệm của họ ở đâu trên không gian mạng này?

Cái tư duy thấy đúng cũng không bảo vệ, thấy sai cũng không lên án, phê phán đã và đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị. Và chính tư duy cá nhân ấy cũng được nhiều người áp dụng khi tham gia mạng xã hội. Họ lẳng lặng vào mạng, dò đọc, rồi âm thầm trở ra như chiếc bóng vô hình. Đối với những bài viết hay, tích cực, nguồn dẫn chính thống đàng hoàng, báo đài rầm rộ đưa tin nhưng cũng không thấy họ tham gia chia sẻ, bình luận, like bài.

Hay đối với những thông tin tiêu cực, bức xúc, xã hội đang quan tâm một cách rầm rộ cũng chẳng thấy họ biểu thị cảm xúc gì. Tốt cũng được, chẳng khen động viên, mà xấu cũng mặc kệ, chẳng thèm phê phán, phản ứng... một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng. Đã là cán bộ, đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, đâu là tích cực, đâu là tiêu cực chứ. Khi tiếp xúc với một bài đăng mà bản thân thấy hay, đúng, nguồn đăng rõ ràng thì cũng nên thể hiện cảm xúc của mình, đó có thể là “thích”, nếu hay hơn nữa có thể thêm những bình luận động viên, khen ngợi để cổ vũ, khích lệ...

Còn nếu bạn nhận thấy rằng thông tin sai, lệch lạc hoặc còn nghi ngờ độ chính xác thì ít ra cũng nên bày tỏ thái độ bằng icon cảm xúc “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ”...Xem, đọc xong mà vô cảm đến mức lặng lẽ cho qua, thế thì khác nào bạn đã đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi. Bởi trong một số trường hợp được mặc nhiên rằng “im lặng là đồng ý”. Nhiều người rất thích truy cập internet để coi và cập nhật thông tin, nhưng lại rất mù mờ và không phân biệt được đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin giả làm mất ổn định và định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội của các thế lực thù địch. Hãy để cái tốt đẹp được lan tỏa, đồng thời cũng phải đẩy lùi những cái xấu, tiêu cực, đó không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mạng nói chung mà đó còn là vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội facebook nói riêng.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước. Là cán bộ, đảng viên trước hết phải có lập trường, tư tưởng, quan điểm rõ ràng ở mọi lúc, mọi nơi. Trên không gian mạng lại rất cần thể hiện vai trò đó. Vì vậy, hãy là những nhân tố mang tính nòng cốt, tích cực trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân đây cũng là mặt trận để chúng ta đấu tranh phản bác làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng./.

Công tác tuyên truyền đặc biệt quan trọng

 

Trong thời gian vừa qua, cùng với sự vào cuộc nghiêm túc, quyết liệt của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong thực hiện các giải pháp ứng phó, ngăn chặn đại dịch Covid-19, thì ý thức, tinh thần trách nhiệm và sự tự giác của mỗi cá nhân là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh lan rộng.

Tuy nhiên, các thông tin sai sự thật, thiếu tính cơ sở pháp lý của các đối tượng chống phá đang lan tràn trên các trạng mạng xã hội gây nhức nhối trong nhân dân. Để phòng chống nạn tin tức giả mạo, xấu độc trong đợt dịch Covid-19 này, thì “Công tác tuyên truyền hiện nay rất quan trọng, làm sao cho người dân hiểu đúng, có kiến thức về dịch bệnh và có thái độ ứng xử phù hợp để không tin vào những luận điệu sai trái, những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vững vàng, không hoang mang xao động trước những thông tin bịa đặt.

Bên cạnh sự tích cực vào cuộc của các cơ quan truyền thông thì chính mỗi người dân cũng phải đóng vai trò tuyên truyền, định hướng cho những người thân của mình. Người dân có hiểu biết, có kiến thức, khi tham gia vào không gian mạng sẽ luôn là một “người tiêu dùng thông thái” biết lựa chọn “những sản phẩm tốt nhất” cho mình”.

Trong thời gian qua, tin tức giả, xấu độc, liên quan đến dịch Covid-19 xuất hiện liên tục với tần suất dày đặc. Muốn chống lại tin tức giả, xấu độc, các nhà báo cũng phải liên tục sàng lọc, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đồng thời cung cấp thông tin chính thống có độ chính xác, tin cậy cao để phản bác lại những thông tin xấu độc, sai sự thật. Trước “ma trận” thông tin giả, thông tin xấu độc, độc giả cần tỉnh táo và “chấp nhận lùi lại một chút để có được cái nhìn khách quan hơn về nguồn cung cấp thông tin”. Độc giả cũng cần tìm đến những nguồn thông tin chính thống từ các cơ quan truyền thông có uy tín, đưa tin thận trọng, khách quan “không gây hoang mang dư luận nhưng cũng không khiến người tiếp cận thông tin chủ quan về dịch bệnh”.

Trước những hoài nghi về việc liệu các cơ quan chính thống có tìm cách bưng bít thông tin hay giấu dịch hay không. “Khi đặt câu hỏi nghi vấn, hãy đặt câu hỏi ngược lại là bưng bít thông tin thì có lợi ích gì, và vì mục đích gì, nếu không trả lời được câu hỏi đó, thì việc bưng bít là không cần thiết.

Trên thực tế, cộng đồng quốc tế, trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đều đánh giá cao sự công khai minh bạch thông tin của Việt Nam. Thậm chí, ngay khi có bất kỳ ca nhiễm bệnh mới nào, chúng ta cũng đều công khai chi tiết thông tin. Tất cả những gì chúng ta đã và đang làm là câu trả lời thuyết phục, thích đáng với những kẻ luôn có định kiến rằng, những thông tin đến từ các cơ quan truyền thông chính thống là giả mạo”./.