Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

Đấu tranh phòng chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới

 Công tác tuyên truyền, giáo dục cho thế hệ trẻ nêu cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trong nước và quốc tế, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của cách mạng Việt Nam, được coi là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.

rong phạm vi bài viết này, xin đề cập chiến lược diễn biến hoà bình (DBHB) là gì? Âm mưu, thủ đoạn của chiến lược DBHB trên các lĩnh vực? Biện pháp phòng, chống chiến lược DBHB trên một số lĩnh vực.

Chiến lược "Diễn biến hòa bình"

Chiến lược “Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mà không cần đến chiến tranh. Vì vậy, chiến lược DBHB là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội tiến bộ, trước hết là các nước XHCN từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền.

Thuật từ “Diễn biến hòa bình” còn được sử dụng thay thế bằng các thuật từ khác như: chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cần chiến tranh...

Mục tiêu tổng quát của DBHB là làm cho đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, từ cán bộ cấp cao cho đến người dân đều có chung tâm trạng hoài nghi, dao động; không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, nhằm tiến tới xóa bỏ mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta.

Mục tiêu cụ thể của DBHB thể hiện sự chống phá trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung ở các khía cạnh:

Về tư tưởng, chính trị, dùng nhiều kế hoạch và phương tiện, tuyên truyền nhằm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó gây ra “tự diễn biến”, hòng tạo ra sự khủng hoảng về lý tưởng chính trị, làm suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Từ đó làm chệch hướng và sụp đổ chế độ chính trị, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bằng ý thức hệ tư bản chủ nghĩa.

Về kinh tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế nhằm xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về văn hóa, làm phai nhạt và tiến tới làm mất bản sắc văn hóa Việt Nam.

Về thể chế pháp luật, đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng.

Đặc trưng cơ bản để nhận biết được chiến lược DBHB so với các chiến lược phản cách mạng khác, chính là: cuộc chiến không sử dụng súng, không mùi thuốc súng; cuộc chiến chủ yếu sử dụng các công cụ mềm như kinh tế, ngoại giao văn hóa, tư tưởng, khi cần mới sử dụng sức mạnh quân sự, để răn đe đối phương; tác động từ bên ngoài vào tạo nên sự chuyển hóa, tự diễn biến, tự suy yếu bên trong các nước XHCN, thông qua con người, lực lượng phương tiện của chính đối phương; không phá hủy của cải vật chất của đối phương bằng sức mạnh quân sự, chủ yếu “ru ngủ”, gây mất cảnh giác cách mạng của Nhân dân lao động, mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong cơ quan Đảng và nhà nước, những văn nghệ sĩ, tri thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệnh lạc hoặc bất mãn với chế độ.

Và một đặc điểm khác, chiến lược DBHB mang tính toàn cầu, được triển khai trên quy mô lớn và rộng khắp, tiến hành gặm nhấm, không vội vã, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước làm cho đối phương rối loạn nội bộ rồi sụp đổ... DBHB đã trở thành một trong những nguyên nhân đến sự sụp đổ của các nhà nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động đang đẩy mạnh DBHB đối với các nước XHCN còn lại. DBHB do các thế lực thù địch tiến hành, đã và đang là một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: DBHB do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.

Âm mưu, thủ đoạn, chiến lược DBHB của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay

Như trên đã đề cập, mục tiêu chiến lược nhất quán của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc và phương Tây.

Để đặt được mục tiêu đó, địch không từ bỏ một thủ đoạn chống phá nào, kể cả hành động can thiệp quân sự và trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược...

Từ đầu thập niên 50 đến năm 1975, đây là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá nước ta toàn diện, dùng hành động quân sự là chủ yếu để can thiệp và tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn vào ngày 30-4-1975.

Từ sau năm 1975 đến năm 1994, đây là giai đoạn nước ta còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tai nặng nề, đặc biệt là tác động tiêu cực của những biến động Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đối với Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tăng cường nhiều biện pháp chống phá như: bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập ngoại giao; kết hợp DBHB, bạo loạn lật đổ để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng lợi dụng tình hình xã hội nước ta vẫn tồn tại những sơ hở để tổ chức các đảng phái và lực lượng vũ trang phản động, lôi kéo phần tử thoái hóa, biến chất trong cơ quan Đảng, Nhà nước và phần tử cực đoan trong Nhân dân, nhanh chóng thành lập các đảng, tổ chức chính trị và lực lượng phản động, chống phá cách mạng Việt Nam; trước hết và chủ yếu bằng DBHB, nhưng để nhanh chóng đặt được mục đích đề ra và tạo áp lực lớn đối với ta, chúng kết hợp với thủ đoạn bạo loạt lật đổ.

Từ năm 1995 đến nay, sau thất bại trong âm mưu cô lập chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc buộc phải điều chỉnh chính sách, thủ đoạn chống phá, bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ về ngoại giao. Chủ nghĩa đế quốc đã chuyển thủ đoạn, biện pháp hành động kiên quyết sang thủ đoạn trực tiếp dính líu, ngầm, sâu, đẩy mạnh các hoạt động thâm nhập, chống phá cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Các thế lực thù định tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước” - Chúng tiếp tục thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều biện pháp, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung vào một số lĩnh vực sau:

Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta.

Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...

Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua.

Hiện tại và những năm tiếp theo, các thế lực phản động, thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây sức ép với Việt Nam, thực hiện âmm mưu DBHB, bạo loạn lật đổ. Cho nên, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam vẫn là một trong những nội dung, biện pháp được Mỹ và các thế lực thù địch thường sử dụng. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Vận động chính khách các nước và quốc hội Mỹ để đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Khôi phục và thành lập các tổ chức, hội đoàn tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ tham gia hoạt động, phát triển lực lượng.

Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, âm mưu của địch là phi chính trị hóa quân đội và công an, vô hiệu hóa các lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Chúng tập trung chống phá hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; tuyên truyền kích động gây mơ hồ, chia rẽ mối quan hệ bản chất giữa Đảng với quân đội; quân đội với công an và các ngành khác, làm cho quân đội giảm lòng tin với Đảng, xa rời mục tiêu chiến đấu và nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội mất bản chất cách mạng. Mặt khác, chúng chỉ đạo việc đầu tư vào những địa bàn dễ phá vỡ thế trận QPAN của ta.

Lợi dụng những biến động phức tạp trên thế giới và chính sách mở cửa hội nhập của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tác động đến các nước, các tổ chức và diễn đàn quốc tế gây sức ép đòi Việt Nam tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hiện tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đồng thời, gây áp lực buộc chúng ta phải nhân nhượng một số vấn đề chính trị trong nước, nhất là chấp nhận “đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập”, thực hiện âm mưu hòa nhập Việt Nam vào ASEAN và lôi kéo Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực ngoại giao, núp dưới danh nghĩa ngoại giao thân thiện để hướng Việt Nam theo quỹ đạo của phương Tây, tạo cơ hội chuyển hóa và đưa Việt Nam dần hòa nhập cùng cộng đồng các nước dân chủ phương Tây. Tăng cường tiếp xúc của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân dưới nhiều hình thức như: thăm viếng, hội thảo, viện trợ nhân đạo, du lịch... để xuyên tạc đường lối của Đảng, gieo rắc tâm lý mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, tạo cơ hội chuyển hóa Việt Nam.

Phòng, chống chiến lược DBHB trên một số lĩnh vực

Xác định DBHB là một trong 4 nguy cơ của cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động đề ra các biện pháp phòng và chống chiến lược DBHB.

Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hóa

Để phòng chống “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị.

Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường của Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, đi đôi với thực hiện tốt chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân, củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, cần tập trung tăng cường công tác lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ, củng cố vai trò lãnh đạo của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thống dựng nước và giữ nước. Kiên định đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo CNXH, bội nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lối quan điểm của Đảng, phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương tây, các luận điệu chống phá cách mạng nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo.

Xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng, có tâm hồn trong sáng, có tầm cao trí tuệ.

Giữ vững định hướng XHCN trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, bảo vệ các thành quả cách mạng trong hoàn cảnh mới. Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mở rộng giao lưu quốc tế trên cơ sở giữ vững, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý và kiểm soát chặt chẽ công tác tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất trrong chỉ đạo nghiên cứu lý luận; nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới.

Trên lĩnh vực kinh tế

Trong chiến lược DBHB, kẻ thù luôn lợi dụng lĩnh vực kinh tế để gây sức ép về chính trị, buộc ta lệ thuộc và làm chệch hướng nền kinh tế theo hướng tư bản, tiến tới chệch hướng về chính trị. Ngoài ra, kẻ thù còn dùng tiền và vật chất để mua chuộc, lôi kéo, tha hóa đội ngũ cán bộ của ta. Vì vậy, trong chiến lược DBHB, lĩnh vực kinh tế được coi là mũi nhọn chống phá của địch.

Để phòng, chống DBHB của địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta phải quán triệt, thực hiện và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng theo định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế, thương mại, thông qua kinh tế để chuyển hóa ta về chính trị.

Đồng thời, thực hiện phương châm chủ động hợp tác, đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo trong quan hệ kinh tế, đồng thời, hạn chế các mặt tiêu cực do nền kinh tế thị trường tạo ra trên một số mặt của đời sống xã hội; phấn đấu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, tham ô, lãng phí.

Nâng cao ý thức, năng lực cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng năng lực cạnh tranh và hoàn thiện pháp chế về kinh tế; thực hiện xóa đói giảm nghèo, chăm lo ngày một tốt hơn đời sống mọi mặt của Nhân dân...

Trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc

Đảng và nhà nước có đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn, làm cơ sở củng cố khối đoàn kết toàn dân. Trong đó, tôn trọng quyền lợi và sự bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân theo pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước với một hệ thống pháp, chính sách đồng bộ, hợp lý để khai thác, phát huy mọi bản sắc, tập quán tốt đẹp của Nhân dân. Phát huy vai trò của mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các già làng, trưởng bản, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo trong công tác vận động quần chúng.

Đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số.

Đề cao dân chủ, tôn trọng tập quán, tự do, tín ngưỡng của cả người có đạo và người không có đạo, đi đôi với chống các hủ tục lạc hậu, hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây rối trật tự xã hội, tiếp tay cho địch xây dựng, cài cắm lực lượng, tổ chức phản động, chống phá Đảng, chống CNXH.

Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trận tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu và hành động bạo loạn lật đổ của địch; không để địch cài cắm, móc nối, mua chuộc nội bộ; bảo vệ bí mật quân đội, quốc gia. Đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả tham mưu cho Đảng và nhà nước của các bộ, ngành, cơ quan chức năng về QPAN; luôn chủ động, có những quyết sách đúng đắn để làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của địch.

Tích cực xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt ở những địa bàn trọng yếu, vùng rừng núi, biên giới, hải đảo; làm tốt công tác giáo dục, vận động Nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, tham gia tích cực vào sự nghiệp QPAN, phòng chống DBHB, bạo loạn lật đổ.

Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng, mục tiêu: "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ“.

Đồng thời phải nâng cao trình độ khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống.

Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa phương. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (quận) ngày càng vững chắc, làm thất bại mọi âm mưu gây mất ổn định trên đất nước ta của địch.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng - an ninh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành tập trung thống nhất của nhà nước. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt với Lực lượng vũ trang Nhân dân và Công an Nhân dân. Kiên quyết không để kẻ địch thực hiện âm mưu phi chính trị hóa, tiến tới vô hiệu hóa Lực lượng vũ trang Nhân dân, nhất là Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân của ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao

Để làm tốt họạt động đối ngoại trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ, cần tiếp tục quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng đó là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một đất nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệm hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Đổi mới tư duy đối ngoại để phù hợp với sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới. Có dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng vận động của các mối quan hệ quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chiến lược DBHB, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với Việt Nam; cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn DBHB bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên lĩnh vực ngoại giao để có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa.

Xác định đúng đối tượng, đối tác trên các lĩnh vực; khai thác sự đồng thuận trong các quan hệ lợi ích đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới, trong khu vực và với Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động tiến công trên hoạt động đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức.

Vận động Việt kiều tham gia phát hiện, đấu tranh với những âm mưu và hành động chống phá của bọn phản động người Việt lưu vong.

Phối hợp đối ngoại với an ninh - quốc phòng trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ. Không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hỗ trợ, chỉ đạo chống phá Việt Nam.

Làm tốt công tác đối ngoại Nhân dân, nhất là khu vực các tỉnh biên giới, hải đảo, các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp tập trung nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ. Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Điển hình như cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Chu Ngọc Anh; cựu chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, Trần Thanh Liêm và gần đây nhất là nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, Phạm Xuân Thăng... Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương. Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ trì Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022. Ảnh: VGP/Nhật Bắc Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó, chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn 2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng. Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

 Tinh thần, phương pháp đấu tranh của V.I.Lênin vẫn soi rọi, định hướng cho nhiệm vụ “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị...” ở nước ta hiện nay.


1. LÊNIN ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Ngay tác phẩm đầu tay của mình: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao, V.I.Lênin đã thể hiện là nhà duy vật triệt để trong lĩnh vực xã hội, thực hiện việc đấu tranh, phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình bảo vệ chủ nghĩa Mác. Trong đó, V.I.Lênin đã dựa chắc vào thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác và những thành tựu của khoa học tự nhiên đã đạt được để luận giải, chứng minh, chỉ ra tính chất ngụy biện, vô căn cứ của chủ nghĩa duy tâm, vạch trần tính hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình mà phái dân túy tuyên truyền.

V.I.Lênin đã làm một cuộc mổ xẻ tận gốc nguồn gốc sản sinh, luận giải rõ bản chất đích thực của chủ nghĩa Bécstanh khi Ông cho rằng, chủ nghĩa Bécstanh không đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà đứng trên lập trường của “chủ nghĩa Cantơ mới”, theo đuôi cái gọi là khoa học của những giáo sư triết học tư sản. V.I.Lênin chỉ rõ, thực chất của chủ nghĩa xét lại Bécstanh là: “Xác định thái độ của mình tùy theo hoàn cảnh, thích ứng với những sự biến trước mắt, với những biến đổi của những sự kiện chính trị nhỏ nhặt, quên mất lợi ích sống còn của giai cấp vô sản và những nét căn bản của toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa, của toàn bộ sự tiến triển tư bản chủ nghĩa, hy sinh những lợi ích sống còn ấy vì những lợi ích thực tế hay những lợi ích giả định tạm thời, - đó là chính sách của bọn xét lại”(1). Đồng thời, V.I.Lênin nhấn mạnh, chủ nghĩa Mác là một hệ thống lý luận khoa học, đối lập với mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm, chẳng những Bécstanh mà ngay cả mọi triết học tư sản hiện đại cũng không thể đánh đổ được.

Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, có hàng loạt những quan điểm sai trái xuyên tạc, phủ nhận nội dung giá trị chủ nghĩa Mác, trong đó có cả quan điểm của các lãnh tụ Quốc tế II. Theo V.I.Lênin, họ không chịu tiếp thu định hướng của C.Mác và Ph.Ăngghen để bổ sung, phát triển, mà thể hiện thái độ phủ nhận sạch trơn, họ cho rằng chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại mới. Vì vậy, V.I.Lênin đã đấu tranh, vạch ra sự sai lầm, vô căn cứ và luận chứng một cách khoa học về bản chất đích thực của chủ nghĩa đế quốc. Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin xác định “chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển và kế tục trực tiếp của những đặc tính cơ bản của chủ nghĩa tư bản”(2), nhưng biểu hiện ở giai đoạn, trình độ cao. Mặc dù vậy, chủ nghĩa đế quốc vẫn là sự là tiếp nối quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của nó như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khái quát và chỉ ra không có sức mạnh nào phủ định chủ nghĩa tư bản hơn chính sự phát triển của những mâu thuẫn trong lòng nó và chủ nghĩa tư bản “sẽ không tránh khỏi sự tiêu diệt”(3).

Khi tiến trình cách mạng phát triển đến sự cận kề của đấu tranh giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, khi điều kiện cách mạng vô sản đã trở nên chín muồi, thời cơ giành chính quyền về tay giai cấp công nhân đã xuất hiện, tinh thần của Đảng Bônsêvíc và quần chúng đang dâng lên, thì những kẻ đột lốt Mác chống Mác quyết liệt hơn. Loại quan điểm này chĩa mũi nhọn vào phủ nhận phương pháp giành chính quyền bằng cách mạng bạo lực; phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác về bản chất giai cấp của nhà nước, phủ nhận chuyên chính vô sản. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã viết tác phẩm Nhà nước và cách mạng. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và chủ nhà nước, khẳng định lại những luận điểm và bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới cho phù hợp với tình hình gấp rút. Trong quá trình ấy, V.I.Lênin đã thể hiện một phương pháp đấu tranh mới bằng cách trích dẫn quan điểm của Ph.Ăngghen và trích dẫn các luận điểm xuyên tạc, sai trái, để từ đó so sánh và chỉ ra sự cắt xén, thêm bớt của những kẻ chống Mác, hòng làm cho nội dung tư tưởng các luận điểm không còn đúng nghĩa. Qua đó, V.I.Lênin khôi phục lại bản chất cách mạng, khoa học và dẫn dắt, định hướng tư tưởng cho trận quyết chiến giành chính quyền nhà nước ở Nga.

Có thể nói, V.I.Lênin đã dành gần như trọn cuộc đời mình để đấu tranh kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng nhưng rất khoa học, đầy sức thuyết phục và hiệu quả trước mọi quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, phản động, phản khoa học của kẻ thù chủ nghĩa Mác, như chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại với đủ màu sắc, dưới dạng công khai hay dấu mặt, cả nội địa lẫn quốc tế. Qua đó, V.I.Lênin đã có những cống hiến to lớn, thiết thực không những trực tiếp bảo vệ toàn diện chủ nghĩa Mác, mà còn làm tỏa sáng những giá trị khoa học và cách mạng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới.

2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VÀO ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG THỜI KỲ MỚI

Mặc dù diễn ra cách đây hơn một thế kỷ, nhưng tinh thần, phương pháp đấu tranh của V.I.Lênin vẫn đang soi rọi, định hướng cho nhiệm vụ “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(4) ở nước ta hiện nay. Có thể tiếp cận nghiên cứu, định hướng vận dụng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới từ quan điểm của V.I.Lênin ở các góc độ khác nhau, nhưng cần tập trung ở những phương diện sau đây:

Một là, về thái độ, lập trường chính trị.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, V.I.Lênin đã để lại di sản đồ sộ các tác phẩm kinh điển, có giá trị vô cùng to lớn cả về lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Trong đó, thể hiện rõ thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, không khoan nhượng đối với những kẻ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin, xuyên suốt một quan điểm nhất quán là thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, khoa học trong đấu tranh với các quan điểm sai trái. Mỗi tác phẩm đều gắn với đấu tranh phê phán một loại quan điểm sai trái, phản động cụ thể hay một tàn tích xấu, sản phẩm của chế độ xã hội cũ trong đời sống tinh thần của những người lao động. V.I.Lênin coi đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái như một tình huống, một nhiệm vụ quan trọng và chuyển nó thành động lực cho bảo vệ, phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen. Đồng thời, V.I.Lênin đưa tư tưởng đó vào giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và những người lao động trong thực tiễn.

Trong thời kỳ mới, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, không chỉ xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn xuyên tạc, thổi phồng các vấn đề bức xúc trong xã hội, tạo dựng thông tin sai sự thật nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân.


Vì thế, những người tham gia vào đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động cần phải có thái độ kiên quyết, bản lĩnh kiên cường, không khoan nhượng, không dao động, dè dặt. Chỉ có thái độ kiên quyết, dũng khí, lập trường cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng thì mới không bị lung lạc trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới. Cán bộ, đảng viên, các lực lượng, những nhà khoa học cần noi gương sáng của V.I.Lênin để củng cố, phát huy thái độ kiên quyết, lập trường chính trị kiên định vững vàng trong cuộc đấu tranh này. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên, các lực lượng, các nhà khoa học cần phải là một tấm gương sáng trong định hướng, dẫn dắt dư luận, củng cố tinh thần cho toàn xã hội trước sự chống phá của các thế lực trong “diễn biến hòa bình”. Mặt khác, với thái độ kiên quyết, lập trường chính trị vững vàng và dũng khí đấu tranh của cán bộ, đảng viên, các lực lượng, các nhà khoa học còn là tấm gương sáng trong tuyên truyền, giáo dục cho toàn xã hội về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho mỗi người và cả dân tộc ta thật sự là một “cơ thể cường tráng” miễn dịch với những vi rút độc hại xâm nhập từ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cần phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của V.I.Lênin: “Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình”(5).

Hai là, về nội dung đấu tranh.

V.I.Lênin đã nghiên cứu, toàn diện, sâu sắc toàn bộ tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen một cách nghiêm túc. Vì thế, V.I.Lênin mới có thể đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, đồng thời bảo vệ, phát triển từng nội dung và toàn bộ hệ thống tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen. Chỉ có như thế, mới có thể cho phép V.I.Lênin đưa ra kết luận: Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không bỏ sót một điểm nào. Tất cả những cái mà tư tưởng loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phê phán, và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại. “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6).

Học tập V.I.Lênin về tính toàn diện, trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta không chỉ đấu tranh bảo vệ trực diện nội dung các quan điểm, nguyên lý cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và bảo vệ nhân dân; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều cần chú ý là, những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống hoàn chỉnh có giá trị bền vững. Vì thế, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải bảo vệ tính hệ thống, chỉnh thể toàn vẹn của những nguyên lý lý luận đó, không để những nguyên lý lý luận đó bị chia cắt, tách rời. Cho nên mọi khuynh hướng tách rời, trích dẫn cắt xén các luận điểm và luận giải không phù hợp với bối cảnh lịch sử đều phải đấu tranh phản bác để bảo vệ tính hệ thống, chỉnh thể toàn vẹn của những nguyên lý lý luận đó. Đồng thời, trong đấu tranh, cần phải bám sát thực tiễn cách mạng, lấy thực tiễn đó để đưa ra những kết luận xác đáng, làm cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với sự phát triển, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Ba là, về hình thức, phương pháp đấu tranh.

Trước mỗi quan điểm sai trái, V.I.Lênin đều hình thành một phương pháp luận chứng có tính đặc thù riêng, phù hợp, rất khoa học và có tính thuyết phục cao. Đồng thời, có những hình thức phê phán phong phú, đa dạng để tìm ra sự “ngụy biện” trong mỗi quan điểm sai trái thù địch, từ đó vạch trần thủ đoạn và phê phán có hiệu quả. Có thể thấy, phương pháp, hình thức đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái luôn thống nhất giữa giữ vững tính nguyên tắc, mục đích với tính linh hoạt được V.I.Lênin vận dụng một cách nhuần nhuyễn. Trong nguyên tắc đấu tranh, V.I.Lênin yêu cầu phải giữ vững sự đối lập về hệ tư tưởng, đối lập về lợi ích, địa vị giai cấp và phải kiên định với lập trường chủ nghĩa Mác. Trên cơ sở đó, phải tìm ra phương pháp với nhiều hình thức phê phán linh hoạt, phù hợp. V.I.Lênin chỉ rõ: “Thống nhất về mặt tư tưởng = truyền bá những tư tưởng nhất định, làm sáng tỏ sự đối chọi giai cấp, sự phân định ranh giới về mặt tư tưởng. Thống nhất về mặt tư tưởng = truyền bá những tư tưởng có khả năng đẩy lên phía trước, những tư tưởng của giai cấp tiên phong”(7). “Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết các vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi “vấp phải” những vần đề chung đó một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng lẻ, thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có những dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc”(8) - Đó là chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin.


Trong thời kỳ mới, các loại quan điểm sai trái, thù địch diễn ra rất đa dạng, phức tạp. Vì thế, hình thức, phương pháp phê phán cũng phải linh hoạt, phù hợp. Vì mục đích xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay, chúng luôn dùng thuật “ngụy biện”, “cài lỗi” lôgíc trong dẫn dắt, suy luận những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước để che đậy âm mưu, thủ đoạn và bản chất phản động của chúng. Cho nên, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, cần phải có phương pháp đúng với hình thức phù hợp, phải vạch ra sự “ngụy biện” và “cài lỗi” của chúng để đấu tranh có hiệu quả. Phải dùng phương pháp “luận chứng” khoa học để chứng minh cho nội dung, phê phán tính chất phản động, phản khoa học trong những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, phải đa dạng hóa các hình thức đấu tranh theo hướng sử sụng tối đa thành thựu của công nghệ thông tin, Interrnet, mạng xã hội để đăng tải các nội dung tuyên truyền những quan điểm chính thống, định hướng dư luận; đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”, phản động được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp, giữa “xây” và “chống”, “xây” phải cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả.

Nghiên cứu tư tưởng của V.I.Lênin về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phản động càng cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn giá trị bền vững và sức sống mãnh liệt của di sản tư tưởng, lý luận mà V.I.Lênin để lại. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên, các lực lượng tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo di sản tư tưởng đó, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới./.


___________________

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2005, t.17, tr.27- tr.28.

(2) (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.27, tr.488, 539.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.183.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.350.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.232.

(7) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.530.

(8) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.437.

Không thể đánh đồng hiện tượng với bản chất, cá nhân với tập thể

 Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Điển hình như cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Chu Ngọc Anh; cựu chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, Trần Thanh Liêm và gần đây nhất là nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, Phạm Xuân Thăng... Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.

Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.



Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó, chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn 2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng.

Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

Một số giải pháp xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị

 

Cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đề cập đến vấn đề này, thoạt nghe có vẻ giáo điều, “muôn thuở”, nhưng thực tế không phải vậy. Trái lại, nó thật sự quan trọng và cấp thiết, nhất là trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” quân đội. Quá trình tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải coi trọng mọi đối tượng, coi trọng tính toàn diện; nhưng trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và nội dung trọng tâm là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục giữ vững bản chất giai cấp công nhân, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu cho Quân đội. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN. Đồng thời, còn nhằm trang bị “vũ khí luận” cho cán bộ, đảng viên để họ đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác này.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, cần chú trọng kiện toàn cấp ủy gắn với tổ chức chỉ huy đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu; gắn xây dựng cấp ủy viên với cán bộ chủ chốt các cấp; chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm. Cấp ủy các cấp lãnh đạo chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về tiến hành chuẩn bị tổ chức đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm của Ban Chấp hành Trung ương.

Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp  và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ thực tiễn, nhất là qua Sơ kết 9 năm thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, cần coi trọng nâng cao phẩm chất, năng lực cho chính ủy, chính trị viên để họ hoàn thành tốt chức trách, cương vị được giao; đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các mặt công tác, các nhiệm vụ của đơn vị.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng, nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác. Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều. Trong thời gian qua, nhìn chung chúng ta thực hiện khá tốt công tác này, nhưng bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, vô tình tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua 70 năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

Chủ động đấu tranh làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

 Trước hết, về mặt nhận thức, tư tưởng, cần xác định rõ: CNĐQ, các thế lực thù địch là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Họ đã và đang tiến hành chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Do đó, chống “Diễn biến hòa bình” thực sự là “cuộc chiến” không khoan nhượng, diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hết sức quyết liệt, phức tạp. Trong đó, đối tượng mà họ nhằm vô hiệu hóa, trước hết “phi chính trị hóa” là lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là QĐND và Công an nhân dân. Đây là lực lượng có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của họ nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất chỗ dựa vững chắc, mất vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và, một khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị vô hiệu hóa, bị xóa bỏ, thì tất nhiên chế độ XHCN sẽ sụp đổ. Để hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và đạt mục tiêu nêu trên, các thế lực thù địch sử dụng mọi lực lượng, phương tiện, tiền bạc, vật chất và tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi “chiêu bài” xảo quyệt, tinh vi, thâm độc, nhưng nhìn chung các hoạt động diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Nội dung mà họ tập trung tuyên truyền chống phá là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Quân đội ta từng bước rời bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, để chống mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đạt hiệu quả cao thì trước hết và quan trọng nhất là phải chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cốt yếu là nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, cả lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo,… với phương pháp tiến hành (cách thức) linh hoạt, chủ động và có hệ thống giải pháp đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong “cuộc chiến” quyết liệt này.

Về lực lượng, cần có lực lượng đấu tranh rộng rãi là toàn dân và lực lượng nòng cốt được tổ chức thành hệ thống trong các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường…; trong đó, Quân đội, Công an đóng vai trò xung kích của lực lượng nòng cốt. Những người trong lực lượng nòng cốt phải gồm các nhà nghiên cứu, khoa học có trình độ lý luận chính trị cao, kiến thức rộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương tiện, gồm các phương tiện truyền thông, đấu tranh trên in-tơ-nét, các trang mạng xã hội, Blog,… kết hợp với các phương thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình và đối tượng. Đối với các cơ quan báo chí, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, định hướng kịp thời, phân công và phân cấp tuyên truyền về các sự kiện một cách phù hợp; trong đó báo chí quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh chống quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương pháp đấu tranh, cần phải chủ động, linh hoạt, tránh thụ động khi có sự việc phức tạp xảy ra mới tổ chức tuyên truyền, đấu tranh. Quá trình thực hiện phải coi trọng đấu tranh trực diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng làm phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hoặc kích động gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ giữa Quân đội với Công an và Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp đấu tranh tuyên truyền chống các luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội một cách thường xuyên với tuyên truyền theo đợt (cao điểm), nhất là vào thời điểm tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Quân đội.

Về chính sách và cơ chế, cần có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm động viên, khuyến khích và bảo vệ những người viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời, có cơ chế cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền kịp thời và quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí và sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Chống “Diễn biến hòa bình” và việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị

 Trong quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá CNXH, trong đó có nước ta, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Để nghiên cứu sâu, có cơ sở lý luận - thực tiễn, từ đó xác định hệ thống giải pháp phòng, chống hiệu quả thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm này, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, chúng ta cần tiếp cận từ gốc của vấn đề - đó là, chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

Có thể nói, khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của Thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Ngược dòng lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Diễn biến hòa bình” nếu xét ở góc độ mục tiêu, tính chất, nội hàm (bao gồm cả hoạt động phản gián, lật đổ) thì xuất hiện từ thời Xuân Thu (Thế kỷ VI, trước Công nguyên), cách đây khoảng 2.700 năm, do Tôn Tử - nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Trung Quốc phát kiến và được nêu tại Thiên 13 của cuốn “Binh pháp Tôn Tử”. Tư tưởng chủ đạo của “Thiên”, hay còn gọi “kế sách” này là “Bất chiến tự nhiên thành”, có nghĩa “không đánh mà thắng”. Có lẽ cũng vì thế mà sau này một số người thường gọi “Diễn biến hòa bình” bằng cái tên rất đặc trưng: “Cuộc chiến tranh không khói súng”. Như vậy, có thể khẳng định: “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị; mà đã là chiến tranh thì dù “có khói súng” (bằng quân sự) hay “không có khói súng” (phi quân sự) cũng đều chung tính chất quyết liệt và chung mục tiêu là tiêu diệt đối phương bằng sức mạnh “Cứng” hay sức mạnh “Mềm”, hoặc kết hợp cả hai nguồn sức mạnh “Cứng” và “Mềm”. Chúng ta thấy, ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do CNĐQ phát kiến, nhưng hiện đang là “sản phẩm” của họ và họ có nó trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Không phủ nhận CNĐQ đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng và phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong giai đoạn đầu, từ khoảng thập niên 20 đến thập niên 50 của thế kỷ trước “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ xác định là một giải pháp quan trọng, giải pháp kết hợp; trong khi giải pháp quân sự, sử dụng sức mạnh quân sự đóng vai trò quyết định trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Đến giai đoạn kế tiếp, từ khoảng thập niên 50 (CNXH đã phát triển thành hệ thống, gồm 13 nước) đến thập niên 90, cũng như hiện nay, khi điều kiện sử dụng giải pháp quân sự bị thu hẹp và khó thực hiện, trong khi tiến công CNXH là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ đặc biệt coi trọng và nâng tầm thành chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với việc sử dụng chiến lược nguy hiểm này, CNĐQ đã gây một loạt sự kiện với cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”,… mà thực chất là các hoạt động bạo loạn, lật đổ chính quyền ở một số nước, như: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ri,… vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đặc biệt, cuối thập niên 80, đầu 90, CNĐQ đã sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá quyết liệt CNXH. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng trong đó có bàn tay chống phá của CNĐQ. Đáng chú ý là, trong quá trình tiến hành “Diễn biến hòa bình”, họ thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô hùng mạnh, với bề dày hơn 70 năm xây dựng bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Biểu hiện cụ thể là, Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ và cuối cùng Đảng Cộng sản không còn chỗ dựa, không được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN.

Huyênh hoang, tự đắc với chiến quả giành được và nhằm khuyếch trương chiến lược “Diễn biến hòa bình”, những quan chức Nhà Trắng và các triết gia của CNĐQ đã cao giọng dự báo về sự kết thúc của CNXH. Tiêu biểu là Francis Fukuyama - một người Mỹ gốc Nhật Bản - với bài viết “Sự cáo chung của Lịch sử” được công bố lần đầu trên Tạp chí “Lợi ích Quốc gia” Mỹ, số mùa hè 1989, sau này được hoàn chỉnh thành cuốn sách “Sự cáo chung của Lịch sử và con người cuối cùng” xuất bản năm 1992, phát hành rộng rãi ở 14 nước, với nhiều thứ tiếng khác nhau. Ý đồ chính trị của cuốn sách được thể hiện rõ: phủ nhận phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác; phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản; tuyên truyền các giá trị của CNTB; luận chứng cho việc thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Tương tự như vậy là cuốn “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” của S. Huntington; trong đó, ông ta biện giải và cho rằng nền văn minh phương Tây là “vô giá”, là “độc nhất vô nhị”. Điển hình trong số đó phải kể đến Tổng thống Mỹ R. Ních Sơn với cuốn sách “Chớp thời cơ” và cuốn “Năm 1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh” nêu dự báo đến cuối Thế kỷ XX các nước XHCN còn lại sẽ “tự sụp đổ”. Đến nay đã giữa thập niên thứ 2 của Thế kỷ XXI, nhưng thực tế thì sao? Mọi người đã rõ và đều thấy rằng đó chỉ là sự võ đoán, hoàn toàn không có cơ sở, hay nói cách khác là sự ảo tưởng phi lý, phi thực tiễn.

Nhưng không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác và xem nhẹ “Diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, chống phá các nước XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH, trong đó có nước ta, luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của CNĐQ. Chừng nào CNĐQ còn tồn tại thì chừng đó họ còn giữ và theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, tham vọng là một việc, còn đạt được hay không lại là việc khác. Hơn nữa, quyền quyết định trong vấn đề này là ở chúng ta chứ không phải họ, nên cho dù âm mưu của họ có thâm hiểm đến đâu, thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt đến nhường nào thì cuối cùng cũng không tránh khỏi thất bại.

Đối với nước ta, ngay sau khi kết thúc “Chiến tranh Việt Nam” - theo cách gọi của người Mỹ, và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược - theo cách gọi của nhân dân Việt Nam, họ đã nhanh chóng tiến hành một cuộc chiến tranh mới “không khói súng” - “Diễn biến hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ Kitxinhgơ khi đó đã ngạo mạn tuyên bố: “Chúng ta thất bại trong chiến tranh, nhưng sẽ giành chiến thắng trong hòa bình”. Để hiện thực hóa tham vọng, họ đã liên tục tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,… bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; trong đó, thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Đáng chú ý là những năm gần đây, lợi dụng việc nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,… họ đã sử dụng những hình thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm, hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo khủng hoảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đặc biệt, nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - công cụ bạo lực bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta - họ đã phối hợp hoạt động các lực lượng phản động trong và ngoài nước để chống phá toàn diện, kể cả từ hệ thống pháp luật Nhà nước. Điển hình là, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước và Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp cũng như hiện nay đang tổ chức thực thi Hiến pháp mới, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức chống phá dưới dạng tham gia “góp ý”, “kiến nghị”,… trong đó trắng trợn đòi bỏ Điều 4 của Chương I, đòi bỏ hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; rằng, cần phải sửa Chương IV - “Bảo vệ Tổ quốc” với biện giải lố bịch: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, theo đó chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào”; rằng, “Quân đội không chịu sự lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng đây là những luận điểm hết sức phản động, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng quan ngại là, không phải ai cũng thấy, trong đó có một số ít người do thiếu thông tin và nhận thức hạn chế đã ngộ nhận, cả tin, thậm chí bị “thuyết phục” bởi những luận điệu tuyên truyền độc hại đó. Cũng không nằm ngoài mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, họ còn sử dụng thủ đoạn “vàng thau lẫn lộn”, đánh đồng sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với binh sĩ quân đội Ngụy quyền Sài Gòn, bằng cách ngụy biện: “họ đều hy sinh vì Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đòi Nhà nước ta ghi công và cho hưởng chế độ liệt sĩ. Thật nực cười, phi lý! Điều đó cho thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào hòng đạt cho được mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Và, khi không thực hiện được, họ dở chiêu bài bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Quân đội. Cho nên chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, đồng thời gắn liền với đó, xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị là vấn đề đặc biệt quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Thực chất đây là mối quan hệ giữa “bảo vệ và xây dựng”; trong đó, mỗi nội dung có nội hàm riêng, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi giải quyết vấn đề này, cần gắn chặt hai nội dung, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Sẽ là không đúng, nếu chúng ta chỉ chú trọng một chiều đến yếu tố “bảo vệ”, tức là đấu tranh chống “phi chính trị hóa” quân đội, mà xem nhẹ yếu tố “xây dựng”, mà ở đây là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; tương tự như vậy, nếu chỉ xem trọng yếu tố “xây dựng”, mà không quan tâm đúng mức đến yếu tố “bảo vệ” cũng là sai. Phương pháp nghiên cứu, xem xét và giải quyết đúng đắn vấn đề này là, phải trên cơ sở tư duy biện chứng, khoa học; coi trọng giải quyết đồng bộ cả hai nội dung: đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và đẩy mạnh xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị.