Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

Người đứng đầu đang ở đâu?

Những năm qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, khiến dư luận nhân dân phấn khởi, đồng lòng ủng hộ và nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận.

Thành công đó có sự đóng góp vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là những người đứng đầu các cấp. Thế nhưng, với dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, phản động đã và đang cố tình xuyên tạc, "đổi trắng thay đen", phủ nhận hoàn toàn vai trò, vị trí và đóng góp của những cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”.

Cố tình xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ chủ chốt

Mới đây, trên một số trang mạng, các đối tượng phản động đăng bài viết có nội dung đả kích, xuyên tạc, rêu rao rằng: Những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đang “nêu gương đạo đức giả" trước người dân (!); tham nhũng ở Việt Nam diễn ra tràn lan là do hỏng từ người đứng đầu (!); đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ "tắm từ vai xuống" (!) và thực chất là "cuộc chiến phe phái" (!)...

Cùng với đó, một số bài viết của những kẻ chống phá đã cố tình vu khống, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội, người đứng đầu các cấp. Chúng tung tin nhảm rằng: Cán bộ A, cán bộ B đã nhúng chàm, cán bộ C đang bị giam lỏng...

Ở khía cạnh khác, có đối tượng phản động, bất mãn lại rêu rao: Ngoài hầu hết cán bộ đứng đầu tham nhũng thì số còn lại do “thế hèn sức mọn” nên cố tình né tránh, không dám đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực (!). Chúng còn đưa ra luận điệu vu cáo cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là "bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ” và "sâu to bắt sâu nhỏ”(?)... Rồi chúng dùng chiêu bài "phỏng vấn những người yêu nước” (thực chất là những người đang có tư tưởng bất mãn, phản động) để những người này bày tỏ ủng hộ những điều vu khống, xuyên tạc, quy chụp của chúng, bịa đặt rằng "người dân Việt Nam đã mất niềm tin vào những người đứng đầu" (!)...

Điều ai cũng nhận thấy là các thế lực thù địch, phản động, bất mãn đều tập trung vu khống, quy chụp, xuyên tạc, nói xấu đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu, bởi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng vô cùng nham hiểm, tinh vi: Làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt. Chúng coi đó là biện pháp hiệu quả nhất, con đường ngắn nhất để làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng triệt để lợi dụng việc nhiều người dân không có điều kiện tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao, khó kiểm chứng thông tin... để tăng cường thực hiện "mưu hèn kế bẩn" này.

 Có phải “bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ”?

Trước hết, phải khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định: Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, phải kiên quyết, kiên định, kiên trì, đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm "trên dưới đồng lòng", "dọc ngang thông suốt". Trong cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" vừa xuất bản, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một việc làm cần thiết, tất yếu, là một xu thế không thể đảo ngược”... Đồng chí Tổng Bí thư đã cương quyết chỉ đạo: Phải tiến hành thật kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Ai ngại đấu tranh, không làm được thì đứng sang một bên...

Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả mang tính đột phá với rất nhiều vụ án, vụ việc được phát hiện, xử lý nghiêm khắc từ Trung ương đến cơ sở. Nhận rõ thực tế đằng sau nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thường có bóng dáng của một số cán bộ đứng đầu đơn vị, địa phương, ngành, thậm chí cả cán bộ Trung ương, Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, thanh tra, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm khắc, triệt để; kiên quyết không để sót lọt người vi phạm và những cán bộ làm ngơ, dung túng, tiếp tay, bao che.

Chỉ riêng năm 2022 đã thi hành kỷ luật 539 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm trước); cho thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng (khóa XIII) đối với 5 đồng chí; cho thôi giữ chức vụ đối với 2 phó thủ tướng Chính phủ, 3 thứ trưởng và tương đương; các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm 3 chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh theo chủ trương sắp xếp, bố trí công tác đối với cán bộ bị xử lý kỷ luật, uy tín giảm sút. Qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đã chuyển 557 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật (tăng gấp hơn hai lần so với năm 2021). Trong năm 2022, trên cả nước đã khởi tố mới 493 vụ/1.123 bị can về tội tham nhũng (tăng 163 vụ/328 bị can so với năm 2021).

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kiên quyết xử lý và chỉ đạo xử lý nghiêm những người đứng đầu, cán bộ cấp cao có vi phạm. Theo thống kê của cơ quan chức năng, giai đoạn 2012-2022, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, 36 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang)... Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, Đảng, Nhà nước đã xử lý và chỉ đạo xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, cho thôi chức vụ, nghỉ công tác... nhiều cán bộ cấp cao, trong đó có không ít người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, đơn vị... và báo chí đã đăng thông tin này rất công khai. Như vậy, không thể nói là cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam là "bỏ sâu to, bắt sâu nhỏ" như các đối tượng thù địch, phản động rêu rao, xuyên tạc.

Mặt khác, tuy Việt Nam đã xử lý không ít cán bộ cấp cao, người đứng đầu các cấp có hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình, thế nhưng đó chỉ là những "con sâu làm rầu nồi canh", hoàn toàn không phải như thông tin mà các thế lực chống phá rêu rao, quy chụp rằng "hầu hết cán bộ đứng đầu tham nhũng". Thực tế cho thấy, những cán bộ có vi phạm, tham nhũng, tiêu cực chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong đội ngũ cán bộ nói chung, những người đứng đầu các cấp nói riêng. Tuyệt đại đa số cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị đã nỗ lực phấn đấu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là điển hình tiêu biểu nhất. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của những người đứng đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cũng cần nói thêm là, tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Lịch sử nhân loại cho thấy, tình trạng tham nhũng trong bộ phận quan chức, những người đứng đầu đã trở thành vấn nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả những nước vốn được coi là kiểm soát quyền lực tốt. Việc các đối tượng thù địch, phản động, bất mãn cho rằng chế độ chủ nghĩa xã hội là nguyên nhân sinh ra tham nhũng ở Việt Nam và hầu hết cán bộ đứng đầu đều tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn không đúng sự thật, thể hiện góc nhìn chẳng những rất phiến diện mà còn là cố tình xuyên tạc, thổi phồng nhằm thực hiện mưu đồ thâm độc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Người đứng đầu đang đi đầu

Khác hẳn những luận điệu mà một số đối tượng thù địch, chống phá rêu rao, trong phòng, chống “giặc nội xâm”, tuyệt đại đa số cán bộ đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị ở Việt Nam đã và đang gương mẫu đi đầu. Họ không chỉ là tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên, cấp dưới noi theo, mà còn thường xuyên giáo dục, quán triệt, nhắc nhở, yêu cầu cấp dưới thực hiện đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời chỉ đạo ban hành các quy định, quy chế, duy trì cơ quan, đơn vị thực hiện chặt chẽ, tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp tham nhũng, tiêu cực.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thái Học, Phó trưởng ban Nội chính Trung ương: Người đứng đầu có vị trí, vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng.

Cổ nhân cũng đã đúc rút: "Thượng bất chính, hạ tắc loạn". Thử hỏi, nếu cán bộ đứng đầu nào cũng tham nhũng, tiêu cực (như các thế lực phản động rêu rao) thì các tổ chức, đơn vị, địa phương ở Việt Nam có giữ được sự ổn định, vững mạnh để phục vụ nhân dân, phát triển đất nước hay không? Đất nước Việt Nam có bảo đảm sự ổn định về chính trị, an ninh trật tự để trở thành điểm đến, điểm thu hút đầu tư từ nước ngoài hay không?

Ở nước ta hiện nay, người lãnh đạo đi đầu trong việc tuyên chiến với tham nhũng, tiêu cực và thường xuyên gióng lên tiếng trống xung trận chống "giặc nội xâm" là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Quyết tâm, sự gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định từ những ngày đầu của nhiệm kỳ Đại hội XI: “Đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên và đặc biệt là cán bộ chủ trì phải gương mẫu đi đầu”.

Thực tế, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đều nhận rõ và vô cùng kính phục sự gương mẫu đi đầu, tinh thần kiên quyết, kiên trì và những chỉ đạo sáng suốt, hiệu quả trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trên cương vị người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn có quyết tâm chính trị rất cao và đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá, gắn liền giữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Sự mẫu mực và ý chí "tuyên chiến" với tham nhũng, tiêu cực của người đứng đầu Đảng, của Trung ương đã lan tỏa trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta với tinh thần “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”; đẩy lùi hiện tượng “trên nóng dưới lạnh”. Kết quả là nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã bị phát hiện, xử lý nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn.

Trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, người đứng đầu không đơn độc đi đầu, mà Trung ương Đảng, cấp ủy đảng các cấp gắn trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của những “ngọn cờ đầu” với những tổ chức, cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng. Không chỉ Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hoạt động ngày càng hiệu quả, mà ban chỉ đạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã được thành lập, bao gồm các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, chỉ đạo chống “giặc nội xâm” đạt những kết quả đáng ghi nhận. Như vậy, những người đứng đầu thực sự là “tổng chỉ huy” của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, được giao trách nhiệm nặng nề và có nghĩa vụ phải trở thành tấm gương để cán bộ, đảng viên, nhân dân noi theo. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò tiên phong của những người đứng đầu trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” chứ không phải luận điệu vu khống “người đứng đầu nêu gương đạo đức giả và càng tham nhũng" (!) như các phần tử thù địch trơ trẽn rêu rao.


Đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là con đường bất định

Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa tư bản (CNTB) và thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, cố tình gieo rắc vào nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân lao động rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật.

Tuy nhiên, từ lý luận cho đến thực tiễn, thành tựu của đất nước ta trong suốt những năm qua cho thấy, việc đi lên CNXH là tất yếu của loài người và là con đường hoàn toàn đúng đắn của đất nước ta, dân tộc ta, là tương lai rộng mở.

Vì sao chủ nghĩa tư bản cố sức phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội?

Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô khiến cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ xuyên tạc, chống phá, phủ nhận CNXH. Ngay trong chính những người cộng sản cũng có không ít người hoài nghi, bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn khoa học và khả năng hiện thực của CNXH. Thậm chí nhiều người còn phụ họa theo các luận điệu thù địch, ra sức công kích, bài bác CNXH, ca ngợi CNTB, cổ xúy cho CNTB, lấy ví dụ từ các nước TBCN giàu có để quy kết cho những giá trị cuối cùng mà nhân loại phải hướng tới.

Một trong những luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm tác động mạnh mẽ vào nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là luận điệu cho rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật. Nhiều người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nước tư bản phát triển để nhầm tưởng rằng: CNTB là chế độ xã hội ưu việt, là mục tiêu vươn tới của nhân loại. Đồng thời ra sức chê bai, phủ nhận CNXH, từ đó cho rằng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chỉ là bánh vẽ viển vông, thiếu thực tế.

Vì sao CNTB, các lực lượng thù địch lại quyết liệt chống phá CNXH, quả quyết khẳng định con đường đi lên CNXH là bất định? Đó là vì con đường đi lên CNXH và những mục tiêu cách mạng XHCN đang đe dọa sự tồn vong của CNTB. Là vì con đường đi lên CNXH ngày càng sáng rõ, ngày càng khẳng định giá trị hiện thực.

Thực tế, nhiều nước tư bản đã phát triển ở trình độ cao và đang tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, đó chỉ là cái nhìn phiến diện một chiều về kết quả của CNTB ở thời điểm hiện tại. Hãy quay lại lịch sử ra đời của CNTB, ngay trong bước đi đầu tiên ở giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản, giai cấp tư sản đã in hằn vào lịch sử nhân loại những dòng đầy máu và nước mắt. Giai cấp tư sản ở các nước tư bản phương Tây đã ra sức tước đoạt của cải, bóc lột sức người, vơ vét tài nguyên của các nước thuộc địa và người lao động ở chính quốc để phục vụ mục đích làm giàu vô hạn độ. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tư bản ngày càng mở rộng, lớn lên và không bao giờ có thể khỏa lấp. V.I.Lênin khẳng định bản chất về chính trị của CNTB là thối nát và phản động; chủ nghĩa đế quốc là bạn đường của chiến tranh; còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh. Rõ ràng đến nay, luận điểm đó không những còn nguyên giá trị mà còn khắc sâu hơn bản chất của CNTB đương đại.

Chính học giả người Anh là Terry Eagleton, trong tác phẩm “Tại sao Mác đúng” đã phải cay đắng thừa nhận: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”.

Ngày nay, các nước tư bản vẫn tiếp tục gây chiến tranh, xung đột, áp đặt cường quyền, áp đặt giá trị dân chủ tư bản cho cả thế giới, để gieo rắc nỗi đau, sự bất bình đẳng, áp bức bóc lột với giai cấp vô sản, nhân dân lao động, với các quốc gia khác và coi đó là giá trị đương nhiên.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có đích đến hiện thực

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: Con đường đi lên CNXH trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng không hề viển vông, bất định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại, nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

Trước hết, CNXH là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.

Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế-xã hội XHCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế-xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH. Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng Cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài-ngắn trên con đường đi đến đích.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. 

Thứ ba, CNXH là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế, khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó.

Từ học thuyết của Chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến CNXH trở thành hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai: Giải phóng giai cấp vô sản thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến... Những thành tựu trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, ở Trung Quốc cho thấy con đường đi lên CNXH hoàn toàn là hiện thực, hướng tới xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội cũ, chứ không phải là điều không tưởng.

Thứ tư, CNXH đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN... 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Biểu hiện rất cụ thể của dân chủ XHCN là “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là minh chứng rõ ràng, thuyết phục về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng, giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Xã hội chúng ta đang xây dựng là một xã hội mà ở đó mọi sự phát triển thực sự là vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà chà đạp lên phẩm giá con người; đó cũng là một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới những giá trị tiến bộ, nhân văn chứ không vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Đảng và Nhà nước ta, toàn dân ta nỗ lực xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Rõ ràng những giá trị tốt đẹp chúng ta đang xây dựng không hề xa vời, viển vông mà ngược lại đó là những giá trị đích thực của CNXH, chúng ta hoàn toàn có thể xác lập, xây dựng và hiện thực hóa. Điều đó cũng khẳng định rằng con đường đi lên CNXH không phải là bất định như nhiều kẻ xấu rêu rao mà là con đường hiện thực, có đích đến cụ thể mà chúng ta có quyền lựa chọn, có quyền nỗ lực, kiên định, kiên trì thực hiện và có quyền tin tưởng rằng CNXH sẽ được xây dựng thành công trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, CNXH không phải là cái gì đó sẵn có, nó phải được định hình về mục tiêu, cách thức xây dựng, nó phải do chính bàn tay, khối óc và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của những người cộng sản, những người lao động để đấu tranh, xác lập, sáng tạo nên.

Camera không có lỗi!

Sáng sớm, Thịnh tá hỏa khi được bạn học gửi cho đường link video người đàn ông đang cãi cự với cán bộ "một cửa" khi làm thủ tục hành chính được đăng trên một diễn đàn mạng xã hội "sặc mùi" chống phá. Người trong video chính là ông Thi, bố của Thịnh. Ngay lập tức Thịnh hiểu ra vấn đề.

Chuyện là, dịp đầu năm, thấy bố mày mò dùng điện thoại để quay video nên Thịnh đã mua tặng bố chiếc máy quay phim mini. Ông Thi rất thích, đi đâu cũng mang theo. Cái hay là camera có thể kết nối với điện thoại di động nên từ việc to đến việc nhỏ, ông Thi đều đưa được luôn lên mạng xã hội.

Dạo này, ông Thi “hăng tiết vịt”, “đưa tin” mọi diễn biến trong làng, trong xã. Thậm chí, ông ra cả quốc lộ quay phim cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ; lên ủy ban xã làm giấy tờ ông cũng “tường thuật trực tiếp”. Gần đây, ông võ vẽ học được ít kiến thức về luật pháp từ internet, gặp đâu ông cũng đặt máy quay rồi tranh luận, thậm chí quát nạt cả cán bộ làm nhiệm vụ, đưa lên mạng xã hội coi như một thú vui. Nhận thấy bố có phần quá đà, Thịnh đã mấy lần khuyên bố không nên làm như thế, dễ bị người xấu lợi dụng. Thế mà...

Thịnh gọi điện cho bố:

- Bố ơi! Video mà bố đăng trên Facebook đã bị những người xấu lấy về, lồng ghép, thêm thắt thông tin, đưa lên các trang mạng để nói xấu chính quyền đấy. Bố gỡ xuống đi ạ.

- Ôi dào, kệ người ta! Video bố quay càng được nhiều người quan tâm, chia sẻ thì càng tốt chứ sao. Mà này, bố định nhờ con mở cho một cái kênh diu túp, diu tóp gì đó (YouTube) rồi quay video đưa lên. Có khi bố còn kiếm được tiền ấy chứ!

- Con nghĩ là không nên bố ạ! Những video bố quay chưa mang tính xây dựng, bao nhiêu cái tốt đẹp thì bố không đưa lên mạng mà toàn là soi mói, chê bai nặng nề về một số việc còn hạn chế ở địa phương. Những video clip bố quay đã bị một số người xấu, có tư tưởng bất mãn... sử dụng, cắt ghép, xuyên tạc để kích động chống phá chính quyền, nói xấu Đảng, Nhà nước. Con mong bố suy nghĩ lại, tránh để ảnh hưởng đến uy tín của bố và cả gia đình ta nữa.

- Ôi dào, anh lo việc của anh đi. Có tý chữ lại tính dạy dỗ tôi đấy phỏng. Tôi đang thực hiện quyền giám sát của công dân chứ chẳng làm gì sai cả.

- Bố ạ, bố suy nghĩ như vậy là chưa đúng rồi. Bố thực hiện quyền giám sát của công dân thì ai cũng ủng hộ. Nhưng việc làm đó phải xuất phát từ tinh thần xây dựng, mang tính chất xây dựng. Những việc người thực thi công vụ làm tốt thì bố lờ đi, không biểu dương, ngược lại chỉ soi vào chỗ thiếu sót. Sao bố không góp ý trực tiếp để người ta rút kinh nghiệm, làm tốt hơn mà cứ phải đăng lên mạng xã hội với vẻ thiếu thiện chí, khiến mọi người nghĩ là bố soi mói, hiềm khích, thích thể hiện... Việc này có khi còn vi phạm quy định về quay phim, chụp ảnh nơi công cộng đấy bố ạ. Con tặng bố máy quay để bố quay video giải trí, ghi lại những hình ảnh đẹp, điều hay, lẽ phải, người tốt, việc tốt, giúp ích cho xã hội và bố thêm niềm vui tuổi già. Bố đừng để những việc mình làm bị kẻ xấu lợi dụng để dựng chuyện, thổi phồng nhằm phục vụ mưu đồ đen tối của chúng!

- Ừ thì..., đúng là bố chưa nghĩ sâu xa như thế. Hay là từ nay, bố cất béng chiếc camera con tặng đi, không quay cóp gì nữa!

- Ấy, bố nói vậy là lại có vẻ tự ái rồi. Chiếc camera, bản thân nó không có lỗi (Thịnh cười).

- Bố chả tự ái với anh đâu. Mà bố nhận ra đúng là chiếc camera không có lỗi! Lỗi là ở người cầm nó. Bố sẽ nghiêm túc rút kinh nghiệm. Thôi, hôm nào anh về phép, bố con mình cùng bàn thảo nhé. Bố cũng muốn làm thế nào để cho làng xóm mình ngày càng tốt lên con ạ...

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

BẢN SẮC "NGOẠI GIAO CÂY TRE": THỰC HIỆN MỤC TIÊU BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

“Ngoại giao cây tre” hay đúng hơn là “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” là để phục vụ mục tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm.

Việc thúc đẩy “ngoại giao cây tre” thể hiện sự tự tin trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đồng thời đây cũng là triết lý ngoại giao của Việt Nam, luôn là kim chỉ nam hành động của người làm đối ngoại và ngoại giao bởi lợi ích quốc gia-dân tộc là bất biến, phương pháp để đạt và bảo vệ lợi ích đó là vạn biến. Đây là nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải – nghiên cứu viên Trung tâm Tương lai chính sách, Đại học Queensland (Australia) trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Sydney về nội hàm và ý nghĩa của "ngoại giao cây tre Việt Nam".

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, để dẫn dắt và đặt tên cho “trường phái ngoại giao” Việt Nam hiện đại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đi sâu phân tích những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”. Cụ thể, đặc trưng đầu tiên là truyền thống, văn hóa và “trường phái ngoại giao” của người Việt Nam từ khi “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư; Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. “Trường phái ngoại giao” đó chính là “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy trí nhân để thay cường bạo”, luôn lấy tinh thần khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa trong ứng xử; mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt, cương nhu, biết người, biết mình, biết thời, biết thế trong sách lược, “trong xưng đế, ngoài xưng vương” để trên hết là “Đất nước an toàn là thượng sách, cốt sao cho dân được an ninh”.

Thứ hai là truyền thống quật cường của dân tộc trong việc giữ vững nền độc lập và chống ngoại xâm. Mặc dù khoan dung và luôn muốn hòa hiếu, nhưng Việt Nam vẫn kiên định và kiên quyết về nguyên tắc đấu tranh chống giặc ngoại xâm với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô nệ”.

Thứ ba là tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong tổng thể hệ tư tưởng của Người. Tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh giữa truyền thống và văn hóa của dân tộc, tinh hoa của nhân loại, và thực tiễn hoạt động phong phú của Người. Điều quan trọng và cốt lõi nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và được Người thể hiện bằng việc làm của mình trong suốt toàn bộ cuộc đời “vì nước, vì dân” của mình chính là “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm” và “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Dân”, “Tổ quốc”, và “Dân tộc” là một. Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt và yêu cầu “lợi ích dân tộc” là trên hết, “muốn làm gì cũng vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Và để “làm” được như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, cần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Mặc dù đề cao “lợi ích dân tộc” là trên hết, nhưng Người không cực đoan theo đuổi chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, mà Người cho rằng cách mạng Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới, “tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”.

Thứ tư là thành quả phát triển và vị thế quốc tế thực tế của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi Mới cho đến nay, trong đó có đóng góp rất lớn của công tác đối ngoại. Công cuộc Đổi Mới của Việt Nam đã đưa công tác đối ngoại của đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hình tượng hóa là một bên cánh của con chim, không thể thiếu cho sự phát triển của Việt Nam. Chính sách hội nhập và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam gắn sự nghiệp phát triển của đất nước với sự phát triển và biến động của khu vực và trên thế giới. Con thuyền phát triển của Việt Nam phụ thuộc vào “sóng yên biển lặng” của thế giới, vào bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về mục tiêu và hướng đi của người cầm lái con thuyền.

Thứ năm là truyền thống đoàn kết của người Việt Nam, tạo nên sức mạnh của dân tộc trong chống ngoại xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống này bắt nguồn từ đặc điểm và vị trí của đất nước, tạo thành cốt cách của con người Việt Nam. Truyền thống đoàn kết này của người Việt Nam được phát huy ở trong nước và được mở rộng trong quan hệ quốc tế. Đoàn kết để tạo thành sức mạnh tập thể, muôn người như một, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới là kiến tạo và bảo vệ hòa bình vì sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nêu rõ có thể thấy, ngoại giao Việt Nam từ trong lịch sử đến hiện đại và trong thực tiễn hiện nay đều thoát lên những đặc trưng này. Nói cách khác, “trường phái ngoại giao” Việt Nam hiện đại hiện thân cho những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho biết thành tựu gần đây nhất của ngoại giao Việt Nam “theo trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” được phản ánh rõ nét qua kết quả đạt được từ “ngoại giao vaccine” trong cuộc chống đại dịch COVID-19 vừa qua, hay trong những ứng xử giữa những bất ổn và cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu của “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” cho đến nay chính là góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hòa bình và thuận lợi để phục vụ phát triển đất nước; đồng thời có đóng góp tích cực và trách nhiệm vào đảm bảo an ninh, hòa bình, và phát triển trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo cho đất nước ta “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Để “ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới và phát huy tối đa hiệu quả, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải cho rằng triết lý “trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam” phải được quán triệt trong nhận thức và hành động của từng cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao Việt Nam. Trước hết là nắm rõ đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, từ đó linh hoạt và uyển chuyển trong thực hiện. “Ngoại giao cây tre Việt Nam” là lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm gốc, phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành động; độc lập và tự chủ trong tư duy và hành động, kiên định trong mục tiêu. Ông nhấn mạnh: "Điều quan trọng hơn hết mà ngành ngoại giao luôn nhớ là đằng sau mình là cả một đất nước và dân tộc luôn hỗ trợ và tạo điều kiện để ngành hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngành ngoại giao chính là ngành của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc"./.

VTN-ST(TTXVN)

Không để kẻ xấu lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá đất nước

Một thủ đoạn gần đây các đối tượng xấu sử dụng để chống phá đất nước, đó là tích cực cổ súy, ca ngợi, hình tượng hóa vấn đề “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự” phát triển, coi đây là một chiêu bài để hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

“Xã hội dân sự” (Civil Society) có nguồn gốc từ phương Tây. Một cách đơn giản, “xã hội dân sự” được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình. Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.

Nhưng vì mưu đồ chống phá Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thái nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước. Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”… Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như RSF (Phóng viên không biên giới), AI (Ân xá quốc tế), VOICE (Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại)…

Lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, mục đích cuối cùng của chúng chính là tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ chế độ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” như đã thực hiện ở một số nước mà thôi./.

Quyền tự do tôn giáo cho người nước ngoài ở Việt Nam luôn được bảo đảm

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Điều này đáp ứng kịp thời với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, số lượng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng, trong đó có một bộ phận là tín đồ tôn giáo.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chính quyền các địa phương đã quan tâm kịp thời cũng như tạo điều kiện cho người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiện cả nước có 67 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại địa bàn các tỉnh, thành phố, chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh (41 điểm nhóm), thành phố Hà Nội (13 điểm nhóm) với sự tham gia của hàng trăm người có quốc tịch từ nhiều nước (Hàn Quốc, Philippines, Singapore, Malaysia, Nga, Mỹ, Pháp,...).

Nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó có thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết.

Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các đối tượng chống phá, thù địch, thiếu thiện chí ở trong nước và ngoài nước vẫn tiếp tục lợi dụng vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo. Ở trong nước, các đối tượng chống phá thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo, những sơ hở thiếu sót của các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách để thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; kích động, khai thác triệt để những chức sắc có tư tưởng cực đoan. Từ một số vụ việc nổi cộm liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, các thế lực thù địch, phản động đã lồng ghép yếu tố chính trị, kích động người dân bất hợp tác với chính quyền, tham gia biểu tình, gây ra điểm nóng tôn giáo, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, ngăn cấm xây sửa cơ sở thờ tự, cản trở hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các chức sắc, chức việc, nhà tu hành,...Ở nước ngoài, một số hội nhóm, cá nhân người Việt lưu vong thông qua các trang mạng thường xuyên đăng tin, bài vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo; kích động nhân dân mà trước hết là tín đồ tôn giáo đấu tranh “đòi tự do tôn giáo”, “tự do nhân quyền”; viết thư ngỏ kêu gọi các tổ chức chính trị, cá nhân trong và ngoài nước lên tiếng can thiệp...

Thực tế này đòi hỏi mọi người dân cần tỉnh táo nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, âm mưu gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ.

Song song với đó, các bộ, ban, ngành liên quan cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; giải thích, làm rõ, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Trong đó, ưu tiên khai thác hiệu quả thế mạnh của truyền thông trên các nền tảng số để cung cấp thông tin minh bạch đến người dân nói chung, tín đồ các tôn giáo nói chung trong nước và quốc tế về các nỗ lực và thành tựu bảo đảm quyền con người của Nhà nước ta.

Quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo hiến chương, điều lệ, pháp luật của Nhà nước; chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo chính đáng của quần chúng nhân dân; kịp thời nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tổ chức tôn giáo, cũng như mọi cá nhân và có phương hướng giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo./.

Thủ đoạn xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...
          Thủ đoạn của chhúng là tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

          Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

          Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta mà thôi.