Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2023

 

Các thế lực thù địch thành lập nhiều hội, nhóm để thông tin xuyên tạc

Tận dụng mọi tiện ích có trên không gian mạng, các đối tượng chống phá đã tổ chức nhiều hoạt động truyên truyền phá hoại tư tưởng, nội bộ ta; thiết lập hệ thống hàng nghìn trang web, blog, tài khoản mạng xã hội để tuyên truyền nhằm xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, bôi đen các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc bản chất chế độ XHCN và kích động chống đối. Nhiều trang được đầu tư về tài chính, có hệ thông máy chủ, đội ngũ kỹ thuật và chuyên gia bảo mật riêng.

Ngoài thông tin, nhiều trang mạng, nhiều tài khoản mạng xã hội tận dụng triệt để tính năng comment (bình luận) để tạo dư luận trái chiều, qua đó thu thập thông tin, tiếp tục tuyên truyền, kích động chống phá… Điển hình là blog “Anh Ba Sàm” của Nguyễn Hữu Vinh, “Châu Xuân Nguyên” của Nguyễn Xuân Châu, nhóm Facebook “Xuống đường trên mạng” với trên 5.000 thành viên… Các thế lực chống phá tổ chức lấy ý kiến qua mạng hòng tạo dư luận, gây áp lực với chính quyền thông qua vỏ bọc “kiến nghị” mang tính xây dựng, ôn hòa, “tác động cùng chiều” có các trí thức trong và ngoài nước khởi xướng, tham gia.

Các đối tượng còn sử dụng tính năng khảo sát xã hội của dịch vụ web, blog, tổ chức lấy ý kiến cư dân mạng với nội dung xuyên tạc bản chất chế độ XHCN. Tổ chức các cuộc thi có thưởng trên mạng với nội dung phá hoại tư tưởng là thủ đoạn tuyên truyền mới. Nội dung tuyên truyền phá hoại tư tưởng được lồng ghép tinh vi, lôi kéo nhiều học sinh, sinh viên, người mất cảnh giác tham gia. Đáng chú ý là “cuộc thi” “2X” do cổng thông tin “Đàn Chim Việt” phát động; “cuộc thi” viết bài thời sự, chính trị, xã hội trong nước do nhóm “Tuổi trẻ Việt Nam phát động”… Gần đây, các đối tượng chống phá còn sử dụng “tuyệt chiêu” pha trộn thông tin thật, giả. Nhiều thông tin được thu thập từ các trang mạng chính thống trong nước đăng tải, thông tin thu thập từ nguồn nội bộ có liên quan. Thủ đoạn tinh vi này nhằm tác động mạnh đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của một bộ phận quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên, từ đó làm giảm lòng tin đối với Đảng và chế độ. Thông qua Internet, các đối tượng chống phá kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, khủng bố. Chúng lợi dụng các sự kiện, vụ việc như: Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981; Formosa xả thải ra môi trường biển; phản đối Luật An ninh mạng; cưỡng chế thu hồi đất đai phức tạp; vụ việc phức tạp về ANTT… để kích động biểu tình.

Chỉ riêng sự cố môi trường biển của Tập đoàn Formosa, tại thời điểm xảy ra trên mạng xã hội Facebook đã có 7.000 bài viết, bình luận về “biểu tình” và “xuống đường”, 1.750 bài viết, bình luận “đàn áp”, 1.300 bài viết về “bạo loạn”. Không chỉ vậy, chúng còn tổ chức truyền trực tiếp các cuộc biểu tình trên Internet để khuếch trương thanh thế, lôi kéo, kích động đông người tham gia và xuyên tạc, vu cáo lực lượng chức năng trấn áp. Cũng trên môi trường mạng, chúng còn tổ chức biểu tình ảo (biểu tình trên mạng). “Biểu tình ảo” có thể nhận diện dưới các hình thức như: Đồng loạt treo các biểu tượng (Avatar) như HS-TS-VN, hoa lài, No-U, “Like”, “Kiến nghị 72”…; đồng loạt “like” trên Facebook cho 1 thông điệp, nội dung phản đối chính quyền…

Gần đây, các tổ chức khủng bố “Triều Đại Việt”, “Chính phủ quốc gia lâm thời”, “Việt Tân”… đã sử dụng không gian mạng phát triển lực lượng, chỉ đạo tấn công khủng bố nhằm vào trụ sở cơ quan Nhà nước. Thời gian qua, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Cục ANM & PCTP SDCNC) đã phát hiện, đấu tranh trực tiếp với nhiều đối tượng, từ đó ngăn chặn hành vi xâm hại ANQG của chúng. Cũng theo thông tin từ đơn vị này, trước tình trạng các đối tượng sử dụng không gian mạng để liên kết, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức chính trị đối lập với số lượng lớn trên hội, nhóm, lực lượng Công an đã tiến hành đấu tranh, phá hàng chục hội, nhóm; bắt, xử lý đối tượng cầm đầu, cốt cán. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hội nhóm chúng lập ra gần đây và tìm cách phát triển lực lượng, công khai hóa, quốc tế hóa nhưng công tác đấu tranh còn hạn chế, chưa ngăn chặn và vô hiệu hóa được hoạt động của chúng.

Cùng với sự phát triển của công nghệ, hạ tầng viễn thông và ứng dụng tiện ích trên không gian mạng, các đối tượng chống đối đã tận dụng triệt để thực hiện mưu đồ chính trị. Cần nhận diện đúng đối tượng, lật tẩy thủ đoạn để đấu tranh cũng như phổ biến cho người sử dụng dịch vụ trên không gian mạng nhận biết để tránh bị dẫn dụ, lôi kéo. Cá nhân người sử dụng dịch vụ mạng cũng cần trang bị cho mình nhận thức đúng đắn về tình hình kinh tế - xã hội – chính trị trong nước để không bị lừa bịp. Đó là cách để mỗi cư dân mạng vừa tận dụng được lợi ích khi tham gia không gian mạng, vừa tránh bị sập bẫy đối tượng chống phá Nhà nước để đi vào con đường sai trái.

Cũng trong năm 2021 này, làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư với biến chủng Delta đã khiến dịch bệnh bùng phát, kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng bất đồng chính kiến trên không gian mạng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thể chế chính trị tại Việt Nam ngày càng phức tạp, tinh vi. Đấu tranh với loại tội phạm đặc biệt này là cuộc chiến không khoan nhượng nhằm đẩy lùi âm mưu phá hoạt nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại thành quả cách mạng mà nhiều thế hệ đã nỗ lực xây dựng.

HAIVAN

Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 


Cuộc cách mạng 4.0 với các thành tựu công nghệ mang tính đột phá đã và đang đem lại nhiều tiện ích cho loài người. Bên cạnh những tiện ích to lớn, những thành tựu ứng dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ, ứng dụng thông minh trên không gian mạng cũng xuất hiện nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa an ninh quốc gia (ANQG) đối với các quốc gia, dân tộc.

Việt Nam một đất nước có tỷ lệ sử dụng Internet chiếm khoảng 70% dân số nên các thế lực thù địch trong và ngoài nước, các đối tượng bất đồng chính kiến đã tận dụng triệt để không gian mạng vào mục đích chống phá.

Internet xuất hiện ở nước ta từ năm 1997 và phát triển nhanh chóng, thâm nhập vào mọi mặt đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng… Thống kê cho thấy, Việt Nam có gần 70 triệu người sử dụng Internet, chiếm khoảng 70% dân số; trên 65 triệu người sử dụng mạng xã hội. 100% các cơ quan Trung ương, bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế xây dựng trang thông tin điện tử và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành, kinh doanh, thông tin liên lạc. Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã và đang phải đối phó với các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia từ Internet.

Chính sự phát triển mạnh mẽ, sâu rộng của Internet với hàng loạt dịch vụ phong phú như: Chat, email, blog, mạng xã hội… đã trở thành công cụ đắc lực để các thế lực thù địch tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động biểu tình, tác động chuyển hóa chính trị, thành lập tổ chức chính trị đối lập, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị tại Việt Nam. Với mưu đồ chuyển hoá chế độ chính trị tại Việt Nam, các thế lực thù địch và bọn phản động nội địa đã xây dựng kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Chúng tập hợp lực lượng theo lộ trình “3 giai đoạn”, mục tiêu sẽ công khai hóa tổ chức chính trị, lực lượng đối lập trong nước vào thời gian thích hợp. Để thực hiện mục tiêu này, chúng triệt để sử dụng không gian mạng như một kênh chính thức và quan trọng nhất để phá hoại tư tưởng, tuyên truyền về tổ chức và khuếch trương thanh thế để tập hợp lực lượng chống phá đất nước.

Thậm chí, một số tổ chức được thành lập, hoạt động hoàn toàn trên mạng và sử dụng Internet tuyên truyền chống Việt Nam là mặt hoạt động chính. Điển hình trong số này là tổ chức “Người Việt vì dân tộc Việt” do Nguyễn Xuân Châu ở Australia cầm đầu. “Việt Tân” là một trong những tổ chức phản động lưu vong đã đề ra chủ trương, xây dựng các kế hoạch, chiến dịch, đầu tư tài chính lớn cho hoạt động sử dụng Internet tuyên truyền chống Việt Nam. “Việt Tân” đánh giá, Internet là “phương tiện chiến lược để phá vỡ bưng bít thông tin và huy động quần chúng”, thực hiện phương thức “đấu tranh bất bạo động”.

Tổ chức này còn đề ra kế hoạch “Nong xích trên mạng”, thành lập “Mũi 3” (“Mặt trận công luận”) nhằm huy động tất cả các thành viên, thân hữu và các đối tượng chống đối khác sử dụng Internet hoạt động chống Việt Nam, coi đây là kế hoạch có tầm quan trọng tương đương các chiến dịch “Nong xích”, “Xây dựng”, “Tấn công trụ cột truyền thông”, “Sang sông - dựng cờ” đã triển khai trong thời gian qua.

Là một ứng dụng của Internet, mạng xã hội ngày càng được đông đảo người dùng sử dụng. Với đặc tính dễ dàng kết nối, tương tác thông qua hàng loạt ứng dụng, tiện ích được tích hợp như: Tìm kiếm, chat, email, phim ảnh, voichat, chia sẻ file, blog…, đây cũng là phương tiện để các đối tượng chống đối, thù địch tận dụng khi tung ra những thông tin xấu độc để phục vụ cho mưu đồ chống phá. Trên thế giới hiện có hàng trăm mạng xã hội, nổi tiếng nhất là: Facebook, Twitter, Youtube, Myspace, GooglePlus…, Việt Nam cũng phát triển các mạng xã hội như: Zing Me, YoMe, Tamtay…

Theo thống kê, cứ 3 giây có 1 người Việt Nam đăng ký tham gia mạng xã hội Facebook; 10 người truy cập Internet có 1 người xem video trên Youtube. Con số trên cho thấy, khả năng phổ biến và sức lan truyền trực tiếp của mạng xã hội có thể tác động trực tiếp đến thế giới thực. Vì vậy, bên cạnh những tiện ích, mạng xã hội cũng đang trở thành công cụ đắc lực để các tổ chức, đối tượng chống đối, phản động trong và ngoài nước sử dụng chống phá Việt Nam. Đó là việc thực hiện, âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại nền tảng tư tưởng của chế độ XHCN, tác động chuyển hóa, hình thành tư tưởng đối lập, liên kết các phần tử chống đối trong – ngoài tiến hành các hoạt động chống phá nhằm từng bước xóa bỏ chế độ hiện nay, thiết lập chế độ đa nguyên đa đảng.

HAIVAN

GIÁ TRỊ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TÍNH THỜI SỰ SÂU SẮC CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 


Kỷ niệm 47 năm Đại thắng mùa xuân năm 1975 là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ôn lại quá khứ đấu tranh hào hùng của quân và dân ta; tưởng nhớ, tri ân chiến sĩ, đồng bào anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước và rút ra những bài học kinh nghiệm về phát huy sức mạnh ĐĐKDT của Đảng. Quán triệt, vận dụng bài học đó trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, tình cảm, niềm tin, niềm tự hào của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, chung sức, đồng lòng thực hiện khát vọng xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Quán triệt, vận dụng bài học phát huy sức mạnh ĐĐKDT của Đảng trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với phát huy sức mạnh ĐĐKDT.Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhằm khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ, sự quản lý của Nhà nước là phương thức bảo đảm để ĐĐKDT thực sự là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể xã hội và các tầng lớp nhân dân trong quán triệt, thể chế hóa, cụ thể hóa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát huy sức mạnh ĐĐKDT. Khi đại dịch COVID-19 bùng phát, Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư, Chính phủ đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo toàn dân đoàn kết, chung tay cùng hệ thống chính quyền các cấp phòng, chống, khắc phục hậu quả dịch bệnh; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong củng cố, tăng cường sức mạnh ĐĐKDT, đáp ứng sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc cần “phát huy ngày càng tốt hơn vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị”. Tích cực vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng vững mạnh về “chính trị, tư tưởng, đạo đức tổ chức và cán bộ”, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”; thực hành dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, các chương trình mục tiêu quốc gia… do Đảng, Nhà nước phát động. Mặt trận Tổ quốc đã kịp thời cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo, lời kêu gọi của Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư, Chính phủ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước thành phong trào, chương trình hành động thiết thực; huy động hàng chục tấn trang thiết bị, vật tư y tế, hàng chục triệu liều vaccine, hàng nghìn tỷ đồng… để triển khai các biện pháp bảo hộ công dân bằng những chuyến bay giải cứu đồng bào tại các tâm dịch, vùng chiến sự và thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp phòng, chống, thích ứng an toàn, kiểm soát hiệu quả, từng bước bình thường hóa dịch bệnh COVID-19, nhằm hạn chế sự tác động của dịch bệnh và xung đột vũ trang xảy ra ở một số nước trên thế giới, bảo vệ quyền lợi, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Thứ ba, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức tiến công tác vận động quần chúng và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần “tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước…góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước, nhằm tạo sự nhất trí, đồng thuận về chính trị tinh thần rộng rãi trong nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Theo đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược do Đại hội XIII xác định; các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, cuộc vận động, phong trào thi đua của Đảng, Nhà nước phát động… nhằm thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo và khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Những tấm gương cán bộ, nhân viên, chiến sĩ ngành Y, lực lượng vũ trang và đội ngũ tình nguyện viên, cùng sự ủng hộ vật chất, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, kiều bào trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 là biểu hiện sinh động nhất về hiệu quả đổi mới nội dung, phương thức phát huy sức mạnh khối ĐĐKDT của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể thành viên hiện nay.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ công tác vận động quần chúng với công tác đối ngoại và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối ĐĐKDT của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trịỦy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên các cấp cần chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, bạn bè quốc tế nhận thức sâu sắc hơn, đồng thuận hơn về chủ trương, đường lối “đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” của Đảng. Triển khai hiệu quả nội dung đối ngoại nhân dân, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, góp phần huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Đồng thời, tích cực chủ động, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng các vấn đề: “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”; những hạn chế, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và dịch bệnh COVID-19… để xuyên tạc, chống phá và chia rẽ khối ĐĐKDT.

HAIVAN

NHỮNG BÀI HỌC QUÝ BÁU VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 


Một là, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, nhạy bén, kịp thời của Đảng là nhân tố quyết định phát huy sức mạnh ĐĐKDT cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975Thắng lợi vang dội của các hướng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam tạo bước ngoặt căn bản về tương quan so sánh giữa lực lượng giữa ta và địch; ta giành thế chủ động tiến công chiến lược, nhất là sau thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên đã xuất hiện nhân tố mới, trực tiếp làm xoay chuyển cục diện chiến trường, đưa chiến tranh cách mạng ở miền Nam phát triển nhảy vọt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam từ hai năm (1975 - 1976) lúc đầu, sang kế hoạch rút xuống còn một năm, rồi quyết định kết thúc trước mùa mưa, tốt nhất là trong tháng 4/1975; đồng thời, tổ chức các đòn tiến công chiến lược vào những địa bàn, mục tiêu chiến lược của địch, tạo thời cơ chín muồi cho ta mở trận quyết chiến chiến lược tại Sài Gòn - Gia Định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh. Những quyết sách đóđã trở thành ngọn cờ hiệu triệu toàn dân, toàn quân phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, tạo “sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc” tiến hành tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam, đánh tan ngụy quân, xóa bỏ ngụy quyền, giải phóng, thống nhất đất nước; với khí thế thần tốc, táo bạo, bất ngờ, một ngày bằng hai mươi năm… xốc tới mặt trận quyết chiến, quyết thắng, v.v.. 

Hai là, phát huy vai trò của mặt trận đoàn kết trong vận động, tập hợp lực lượng, tạo cơ sở vững chắc cho củng cố và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy khác nhau về tên gọi, nhưng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở miền Bắc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều đặt dước sự lãnh đạo của Đảng và có chung mục đích tập hợp, đoàn kết, huy động mọi nguồn lực từ các tầng lớp nhân dân, thực hiện “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”,vì mục tiêu toàn thắng, thống nhất đất nước. Mặt trận đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, các nhân sĩ, trí thức yêu nước và tiến bộ, không phân biệt tuổi tác, giới tính…ở hai miền, đồng tâm, hợp lực vượt qua mọi khó khăn gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Đồng thời, khai thác những nội dung tương đồng về mục tiêu hoạt động của tổ chức Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam để mở rộng khối ĐĐKDT. Qua đó, tuyên truyền, bảo vệ cuộc đấu tranh chính nghĩa và lập trường hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần tính chất phi nghĩa, phản động của cuộc chiến tranh do Mỹ - ngụy gây ra; tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới… nhằm cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng và phát huy sức mạnh ĐĐKDT cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Ba là, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tiến hành công tác vận động quần chúng để phát huy sức mạnh ĐĐKDT cho tổng tiến công và nổi dậy.Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã chủ động, sáng tạo xây dựng các giải pháp, nội dung, mục tiêu công tác vận động quần chúng phù hợp với điều kiện thực tiễn của các vùng miền, địa phương và đặc điểm của công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí thức, thanh niên, học sinh, sinh viên, thân nhân binh sĩ…; được tiến hành bằng nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt, như: Công vận, nông vận, thanh vận, phụ vận… với mục tiêu đòi chấm dứt chiến tranh, giải tán ngụy quân, giải thể ngụy quyền; nhằm quy tụ và phát huy sức mạnh ĐĐKDT. Hiệu quả công tác vận động quần chúng và những thắng lợi vang dội từ chiến trường góp phần phát huy cao độ khí thế, tinh thần cách mạng tiến công của quân và dân ta; đồng thời, đánh sập ý chí chiến đấu, sức phản kháng của địch, đẩy ngụy quyền Sài Gòn vào tình thế lúng túng, bị động, hoang mang tột độ; tạo thời cơ lớn để tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Qua đó, cổ vũ động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước củng cố niềm tin tất thắng vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, vào thành công của tổng tiến công và nổi dậy; thể hiện sự thống nhất “ý Đảng - lòng Dân”, “trên dưới đồng lòng” kết thành sức mạnh vô song của khối ĐĐKDT.

Bốn là, kết hợp công tác vận động quần chúng với công tác binh vận và đấu tranh với sự chống phá của kẻ thù để củng cố, phát huy sức mạnh ĐĐKDT. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Cục đã kịp thời chỉ đạo các tổ chức, lực lượng trên toàn miền Nam quán triệt, nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kết hợp công tác vận động quần chúng với công tác binh vận; coi công tác vận động quần chúng, binh vận là một trong những mũi tấn công quan trọng, “thắng địch bằng công tác binh vận cũng quan trọng như thắng địch bằng tác chiến”. Triển khai quán triệt, tuyên truyền sâu rộng, thực hiện nghiêm 10 chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chỉ thị số 218-CT/TW ngày 18/4/1975 của Ban Bí thư về chính sách đối với tù, hàng binh trong tình hình mới, nhất là đối với binh sĩ khởi nghĩa, binh sĩ giác ngộ trở về với cách mạng và tù binh, v.v.. Huy động mọi tầng lớp nhân dân tham gia vận động, giác ngộ, cảm hóa binh lính, nhân viên, các phe phái trong nội bộ ngụy quân, ngụy quyền trở về với gia đình, với cách mạng; chú trọng vận động binh sĩ rã ngũ tập thể, buông súng, từ chối chấp hành nhiệm vụ, phản chiến, khởi nghĩa, chủ động từ bỏ hàng ngũ địch sang hàng ngũ cách mạng, v.v.. Đồng thời, đấu tranh, trừng trị, cô lập những kẻ ngoan cố, chống đối và những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của cách mạng; vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thổi phồng vấn đề “dân tị nạn”, “cuộc tắm máu”, cổ vũ tư tưởng “tử thủ”, kích động hận thù giai cấp, dân tộc của Mỹ - ngụy, nhằm nói xấu cách mạng và tạo cớ cho Mỹ tiếp tục can thiệp vào miền Nam. Hiệu quả của sự kết hợp đó đã “làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng”, hạn chế hy sinh, đổ máu, Sài Gòn và các đô thị của miền Nam hầu như nguyên vẹn.

HAIVAN

Một số giải pháp phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia hiện nay

 


Sức mạnh nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là sức mạnh nhân tố tinh thần của toàn dân, trong đó sức mạnh nhân tố tinh thần của bộ đội biên phòng là nòng cốt, được hình thành trên cơ sở nhận thức đúng đắn, tình cảm cao đẹp, niềm tin vững chắc vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Sức mạnh ấy thể hiện ở sự đồng tâm, nhất trí của toàn dân, toàn quân; thể hiện ở bản lĩnh, ý chí quyết tâm, tinh thần chịu đựng khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh lợi ích bản thân mình để bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Để tạo nên và không ngừng bồi đắp, phát huy sức mạnh đó, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể địa phương, cán bộ, chiến sĩ quân đội ở khu vực biên giới về yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay.

Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc, đặc biệt là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào, tự tôn dân tộc; ý chí kiên cường, bất khuất, sáng tạo của con người Việt Nam; các chỉ thị, nghị quyết, các chủ trương, chương trình, kế hoạch của các cấp liên quan đến bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia;  các hiệp định, nghị định thư về biên giới đã ký kết giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới; các quy chế về khu vực biên giới; ý thức chủ quyền biên giới quốc gia. Giáo dục hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia, nhất là Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam. Nâng cao nhận thức về tác động mang tính hai mặt của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các thách thức của an ninh phi truyền thống đến bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia đến mỗi người dân và cán bộ, chiến sĩ ở khu vực biên giới nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Hai là, củng cố niềm tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ quân đội và bộ đội biên phòng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo” và “xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong giai đoạn hiện nay, niềm tin của nhân dân, quân đội và bộ đội biên phòng được hình thành dựa trên những thành tựu trong xây dựng và phát triển đất nước nói chung, phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới nói riêng. Do đó, bên cạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về mọi mặt, bồi đắp lý tưởng cách mạng, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân khu vực biên giới; quan tâm, chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, làm cho người dân và cán bộ, chiến sĩ yên tâm gắn bó với địa bàn biên giới. Cùng với đó, cần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, tạo cơ sở động lực để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Ba là, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sức mạnh của truyền thống yêu nước và niềm tự hào dân tộc trở thành ý thức, trách nhiệm và hành động thực tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc” và “xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.

Truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc là yếu tố cơ bản, quyết định nhất tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia nói riêng. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc là cơ sở để hình thành nên ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, thể hiện ở tình yêu mãnh liệt đối với Tổ quốc, coi độc lập, chủ quyền của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, nguyện cống hiến hết sức lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, coi đó là mục tiêu, lý tưởng, lẽ sống và giá trị đạo đức của công dân và quân nhân ở khu vực biên giới.

Bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong tình hình mới đòi hỏi phải biết phát huy lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự hào dân tộc của mỗi người dân, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, giúp cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Lòng yêu nước sâu sắc, ý thức, trách nhiệm trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia sẽ định hướng giá trị cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xử lý chính xác, nhanh nhạy mọi quan hệ và tình huống trên biên giới theo tinh thần bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực biên giới, tăng cường hợp tác quốc tế.

Củng cố, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực biên giới là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của toàn dân trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Những bài học lịch sử về xây dựng thế nước cường thịnh, trên dưới đồng lòng trên cơ sở củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh của toàn thể dân tộc trong bảo vệ biên giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế có giá trị đặc biệt đối với quá trình bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa vào dân, thực hiện tốt công tác vận động quần chúng tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; thiết lập thế trận an ninh liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng; đặc biệt coi trọng an ninh mạng”.

Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, sức mạnh nhân tố tinh thần không chỉ được hình thành từ các yếu tố trong nước, mà còn được hình thành từ các yếu tố quốc tế. Vì vậy, cần tăng cường hợp tác và đoàn kết quốc tế để tạo nền tảng huy động sức mạnh vật chất, tinh thần từ sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế đối với việc quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Việt Nam. Điều này cũng được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh… Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống, tạo vành đai an ninh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có ý nghĩa to lớn đối với xây dựng và phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của nền quốc phòng toàn dân nói chung và sự nghiệp bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia nói riêng.

Năm là, nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng.

Xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số bộ phận tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Bởi lẽ, đây là lực lượng chuyên trách thực thi nhiệm vụ biên phòng làm nòng cốt cho nhân dân và các lực lượng khác ở khu vực biên giới tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Cần xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng vững mạnh về mọi mặt, trong đó chú trọng xây dựng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và ý chí quyết tâm cao trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, có sức đề kháng trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Phát huy truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, tạo nền tảng để phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của bộ đội biên phòng trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia hiện nay.

HAIVAN

Nhân tố tinh thần trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia ngày nay

 


Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân tố tinh thần là một trong những cội nguồn sức mạnh to lớn để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chống chọi với thiên tai, địch họa, giữ vững bờ cõi và chủ quyền đất nước. Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập” của dân tộc ta đã làm nên những chiến công hiển hách, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Chính sức mạnh nhân tố tinh thần là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, tạo nên động lực cho toàn bộ tiến trình dựng nước và giữ nước.

Phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần của nhân dân và quân đội, đặc biệt là bộ đội biên phòng trong bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia là một trong những vấn đề có tính quy luật đã được chứng minh qua thực tiễn lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc ta. Biên giới là nơi xa xôi, hẻo lánh, rừng thiêng, nước độc, nhưng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, được ví như “phên giậu” của quốc gia. Để giữ vững biên cương, giữ vững từng thước núi, con sông, từng tấc đất, sải biển thiêng liêng của Tổ quốc, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn lựa chọn những tướng lĩnh tài giỏi, trung kiên nhất trấn giữ nơi biên ải, vừa đề ra chính sách “biên viễn” để khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của quân lính và nhân dân biên giới, vừa đề ra các điều luật nghiêm khắc để trừng phạt những kẻ để mất đất đai, sông núi của đất nước. Nhưng luật pháp đôi khi chỉ có tính răn đe, giữa núi rừng, biên giới xa xôi, hẻo lánh, không luật pháp nào có thể kiểm soát tốt hơn hành động của những người trấn ải biên cương bằng chính lương tâm, trách nhiệm và bổn phận của họ đối với đất nước, dân tộc. Muốn có những con người kiên trung trấn ải nơi biên cương, cần phải khơi dậy sức mạnh tinh thần, khơi dậy lòng trung thành và tận tụy, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ, cám dỗ để làm tròn trách nhiệm, bổn phận với Tổ quốc, dân tộc.

Ngày nay, trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần có vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội và nhân dân vùng biên giới, bởi những lý do sau:

Thứ nhất, tình hình thế giới và trong nước hiện nay biến động nhanh chóng, khó lường, đang đặt ra những yêu cầu, đặc điểm mới trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đòi hỏi những người thực thi nhiệm vụ cũng phải luôn có sự rèn luyện, bồi đắp, nuôi dưỡng nhân tố tinh thần để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nói về sức mạnh nhân tố tinh thần, V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng, cần phải hy sinh đời mình cho những người anh em là yếu tố để nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu được khó khăn chưa từng thấy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, sức mạnh tinh thần của quân và dân ta là một trong những yếu tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, vì “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.

Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, bảo vệ chủ quyền biên giới đang chịu tác động mạnh mẽ của hàng loạt yếu tố thử thách tinh thần, ý chí của nhân dân và quân đội của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, đó là: 1- Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ làm cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, nhưng cũng làm gia tăng sự ảnh hưởng, phụ thuộc vào nhau, “biên giới mềm” dần thay thế, làm xóa nhòa ranh giới của “biên giới cứng”, phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các nước, dẫn đến “phai mờ dần các đường biên giới quốc gia”, làm gia tăng nguy cơ đe dọa đến chủ quyền, an ninh của các quốc gia. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên, nguy cơ xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo đòi hỏi nhân dân, quân đội phải tỉnh táo, chủ động đối phó, ngăn chặn; 2- Những thách thức nảy sinh từ các vấn đề an ninh phi truyền thống mang tính cấp bách toàn cầu, như chủ nghĩa khủng bố, an ninh tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh thông tin, an ninh xã hội, an ninh con người, biến đổi khí hậu, tội phạm buôn lậu ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia (buôn lậu vũ khí, ma túy, rửa tiền, buôn bán người, cướp biển), đói nghèo, di dân tự do, thiên tai, dịch bệnh, nhất là dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp; 3- Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển như vũ bão, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng, với sự xuất hiện của hàng loạt vũ khí công nghệ cao, vũ khí thông minh thế hệ mới, độ chính xác cao, tốc độ nhanh, tầm bắn rộng, sức hủy diệt lớn… Để đối phó với chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi phải nâng cao ý chí quyết tâm và khả năng tác chiến của quân đội; 4- Những căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến xung đột giữa các bên cùng tuyên bố chủ quyền, điều này sẽ tác động rất lớn đến các tuyến biên giới đất liền. Ngoài ra, những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội của các nước láng giềng cũng ảnh hưởng nhất định đến khu vực biên giới, làm tình hình khu vực này thêm phức tạp.

Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý, như mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; nguy cơ lệ thuộc vào bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị; sự xâm lăng văn hóa, sự xâm nhập của các phản giá trị không phù hợp với đất nước… Mặt khác, quá trình giao lưu, hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, du lịch, phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ở nước ta, nhất là ở khu vực biên giới làm cho lưu lượng người, phương tiện và hàng hóa qua lại biên giới ngày càng lớn, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhưng lại phát sinh những mâu thuẫn mới có thể gây mất ổn định xã hội. Do đó, bên cạnh yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, cần bảo vệ, chống sự mai một, xói mòn các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải đi đôi với bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở khu vực biên giới; bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; chống buôn lậu và gian lận thương mại qua biên giới, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm; bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên, nhân lực, vật lực của đất nước; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh...; bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong điều kiện còn nhiều tranh chấp, bất đồng, giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển trong quan hệ với chính phủ và nhân dân các nước ở khu vực biên giới.

Giải quyết và ứng phó với các vấn đề trên đòi hỏi nhân dân và bộ đội biên phòng phải đề cao cảnh giác, có kiến thức toàn diện và tinh thần quyết tâm cao, phát huy sức mạnh nhân tố tinh thần để giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia, dân tộc, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

HAIVAN

Giải quyết mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế ở Việt Nam hiện nay

 


Trong thời đại Hồ Chí Minh, sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng chính là bài học thành công của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử.

Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế.

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế. Tinh thần quốc tế trong sáng của Người thể hiện ở sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”. Qua đó, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ hai, kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đó là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã làm rõ mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội XIII đề ra phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đây là phương châm phù hợp với đường lối đối ngoại mà Việt Nam đã đề ra; đồng thời khẳng định giá trị của đối ngoại Việt Nam là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hội nhập quốc tế, sẵn sàng tham gia đóng góp cho cộng đồng quốc tế cũng như giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế của Việt Nam cũng được thể hiện qua tư duy về lợi ích quốc gia - dân tộc. Kim chỉ nam cho tư duy và hành động của Việt Nam là trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời hài hòa với lợi ích của các đối tác, lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Việc “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” không phải là xem nhẹ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, càng không phải bỏ qua trách nhiệm quốc tế.

Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều là đưa nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ chính là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.

Trong môi trường quốc tế với sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cường quyền, Đảng ta đã khẳng định Việt Nam không theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, mà thúc đẩy lợi ích trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Đó là những nguyên tắc phổ quát và tiến bộ mà toàn thể nhân loại đang nỗ lực gìn giữ và thực hiện.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối đối ngoại nhất quán và những đóng góp chủ động, tích cực của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đã chứng minh tính đúng đắn của sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Tiến trình hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành một bộ phận gắn kết với thế giới. Thực tiễn những đóng góp của Việt Nam đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đất nước đạt được vị thế chưa từng có trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị - ngoại giao, đến nay, cục diện đối ngoại Việt Nam được mở rộng với quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới của 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với khoảng 60 đối tác. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, 17/20 nước thuộc Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G-20) và toàn bộ các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Thứ ba, tiếp tục phát huy giá trị chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Một là, cần nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách khách quan, khoa học để không rơi vào tư duy siêu hình. Một mặt, không rơi vào “chủ nghĩa quốc tế hư vô” mà quên đi một thực tế và cũng là quy luật rằng, giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo các đảng cộng sản cần phải gánh vác trách nhiệm giải phóng quốc gia - dân tộc của mình và xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên đất nước mình. Mặt khác, không rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mà quên đi nghĩa vụ quốc tế.

Hai là, cần phân biệt rõ chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu được kết hợp với chủ nghĩa dân tộc chân chính sẽ tạo ra sức mạnh thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi nước trên thế giới.

Ba là, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi đặt lợi ích dân tộc lên trên hết nhưng lại tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam với dân tộc, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, có những quan điểm cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; không có chủ nghĩa xã hội vẫn có độc lập dân tộc (?!). Đây là quan điểm hết sức sai lầm, phản động và tác động tiêu cực đến việc thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, cần đấu tranh phản bác một số luận điểm xuyên tạc, sai trái rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì coi trọng hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia, dân tộc trong việc giải quyết một số vấn đề về biên giới lãnh thổ (?!). “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc” dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta khi mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới.

Tựu trung, mối quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và quốc tế là mối quan hệ không thể tách rời. Do vậy, cần “luôn kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô-vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Tất cả những khuynh hướng lệch lạc ấy có thể dẫn đến sự suy yếu, rạn vỡ, thậm chí là đổ vỡ của một quốc gia - dân tộc hay một nhà nước đa quốc gia, dân tộc, phá vỡ tình đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chung... Bài học thành công của việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng ta được thể hiện rõ trong kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như trong một thế giới đang biến chuyển sâu sắc.

HAIVAN

Biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế hiện nay

 


Mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế không đơn giản là mối quan hệ có hai chiều đối lập, mà còn là mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, được thể hiện ở các xu hướng:

Một là, xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc. 

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan luôn có xu hướng bành trướng dẫn đến quá trình quốc tế hóa một cách ép buộc, thông qua quá trình xâm lược thuộc địa, xâm lăng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Với tư tưởng phân biệt giữa một dân tộc “ưu tú, vĩ đại, khuôn mẫu” với các quốc gia - dân tộc khác “man di, mọi rợ, lạc hậu, cần được khai hóa, đô hộ”, thậm chí phải bị tiêu diệt..., quá trình quốc tế hóa này đã tạo ra một sự liên kết giữa quốc gia một cách không tự nguyện mà chỉ xuất phát từ phía chủ quan của quốc gia bá quyền. Trong lịch sử hiện đại, các nước thực dân, đế quốc với những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên danh nghĩa “khai hóa văn minh” chính là biểu hiện của xu hướng này. Ngược lại với chủ nghĩa đế quốc, quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản về mặt lý thuyết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng bành trướng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan là chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa bá quyền.

Về chính trị, các nước lớn tìm cách áp đặt luật lệ lên các nước nhỏ, bỏ qua luật pháp quốc tế hoặc tạo ra một luật chơi riêng có lợi cho mình. Các nước lớn ràng buộc các nước nhỏ bằng những hiệp định song phương, can thiệp để thay đổi thể chế, thậm chí nếu cần sẽ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Về kinh tế, các nước lớn muốn thông qua “sự lệ thuộc” về kinh tế để áp đặt về chính trị. Trong cuốn “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” (xuất bản năm 2004), John Perkins đã chỉ ra, Mỹ tìm cách xây dựng một đế chế của riêng mình nhằm đưa các nước đang phát triển và kém phát triển vào vòng xoáy nợ nần để đặt ra những yêu cầu về kinh tế, chính trị ràng buộc và có lợi cho Mỹ. Bên cạnh đó, các nước lớn còn có thể tự đặt ra những luật chơi kinh tế chung cho toàn cầu.

Về văn hóa - xã hội, các nước lớn tìm cách áp đặt hệ giá trị, tư tưởng đối với các nước nghèo và đang phát triển nhằm tạo ra một “chuẩn mực chung” cho thế giới. Một khối lượng lớn các sản phẩm văn hóa từ các nước phát triển du nhập vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, văn hóa, lối sống của Mỹ và các nước phương Tây đang lan tràn ở nhiều nước.

Hội nhập quốc tế là do sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, thể hiện mối liên hệ giữa các quốc gia. Rõ ràng, trong quá trình toàn cầu hóa, các nước mạnh với những lợi thế của mình sẽ có ảnh hưởng lớn đến phần còn lại của thế giới, thông qua đó truyền bá các “giá trị” của nước mình và chủ nghĩa tự do nhằm duy trì ưu thế quân sự và thúc đẩy lợi ích kinh tế. Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa quốc tế đang bị lợi dụng nhằm phục vụ cho những mưu tính của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc cực đoan.

Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận xu hướng này trong tính hai mặt của nó. Đó là khi các nước lớn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trong quá trình toàn cầu hóa, vừa tạo ra thách thức nhưng cũng là cơ hội để các nước đang và kém phát triển có thể tận dụng để vươn lên. Tiếp thu các thành tựu khoa học - công nghệ cũng như các giá trị văn hóa tiên tiến… là một trong những mặt tích cực mà các nước đang và kém phát triển cần nắm bắt trong xu thế khách quan này.

Hai là, chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ chống lại xu hướng quốc tế hóa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan nước lớn.

Xu hướng này có nguồn gốc từ chủ nghĩa quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ quyền sinh tồn, phát triển như một thực thể chính trị độc lập và chống lại xu hướng “quốc tế hóa” của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Với tư tưởng các dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù phát triển hay kém phát triển… đều có quyền bình đẳng, mục tiêu của xu hướng này là bảo vệ lãnh thổ, không gian sinh tồn, bảo vệ tộc người - nòi giống, bảo vệ độc lập, tự do và quyền được phát triển, bảo vệ bản sắc…

Hiện nay, biểu hiện của xu hướng này chính là chống xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Bởi toàn cầu hóa không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn có cả những tác động tiêu cực. Toàn cầu hóa đang đặt các nước đang và kém phát triển trước những thách thức lớn; làm trầm trọng thêm bất công xã hội, tăng khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước với nhau. Chính các mặt tiêu cực này đã khiến chủ nghĩa dân tộc kinh tế ở cả các nước đang và kém phát triển trỗi dậy.

Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm, toàn cầu hóa còn được xem là quá trình phương Tây hóa mà cốt lõi là “Mỹ hóa” về mặt văn hóa, trong đó lối sống phương Tây được truyền bá và thực hiện một cách phổ biến. Điều này khiến các phương thức sống khác cùng với hệ thống các giá trị và hình mẫu văn hóa khác, đặc biệt là bản sắc văn hóa dân tộc, đứng trước nguy cơ bị xói mòn, hòa tan. Điều này tất yếu dẫn đến chủ nghĩa dân tộc văn hóa của các nước nhỏ cần tìm cách bảo vệ bản sắc dân tộc mình trước làn sóng “xâm lăng” của văn hóa phương Tây.

Ba là, xu hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn chống lại xu thế quốc tế.

Thực tế chính trị trong một thế giới toàn cầu hóa cho thấy, một đảng phái hay chính quyền nào đó sẽ nhận được sự tín nhiệm cao của người dân nếu nhận thức đầy đủ, toàn diện vấn đề chủ nghĩa dân tộc trong đường lối, chính sách. Có những quốc gia sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một “lá bài” để đạt được lợi ích thông qua hành vi đề cao lợi ích quốc gia, chỉ quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc mà không quan tâm, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác. Từ đó, chối bỏ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cộng đồng quốc tế, không gắn lợi ích dân tộc với quốc tế. Có thể thấy, do đặt lợi ích nước Mỹ lên trên hết, nên chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump theo đường lối thực dụng, đặc biệt về kinh tế, đã hạn chế quan tâm đến các vấn đề toàn cầu. Do vậy, trong giai đoạn Tổng thống Donald Trump cầm quyền, ông đã có những quyết định rút Mỹ khỏi một số tổ chức quốc tế cũng như các hiệp ước quốc tế, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc…

Xu hướng này còn biểu hiện ở tư tưởng “phản toàn cầu hóa”, theo đuổi chủ nghĩa bảo hộ. Thực tế, không riêng Mỹ, chủ nghĩa bảo hộ đã trở thành xu hướng trên toàn cầu kể từ năm 2008, khi các quốc gia sử dụng các chính sách mới nhằm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau (áp dụng hạn ngạch, nâng thuế nhập khẩu, gia tăng các yêu cầu kỹ thuật…). Theo Tổ chức Cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA), thương mại toàn cầu đang nghiêng theo xu hướng bảo hộ. Chỉ số đo lường tác động của chính sách bảo hộ thương mại tại mỗi quốc gia đều dương trong giai đoạn từ năm 2009 tới tháng 8-2018. Con số không ngừng gia tăng cho thấy chủ nghĩa bảo hộ đang lan rộng.

Ngoài ra, xu hướng này còn thể hiện ở tư tưởng bài ngoại, chống nhập cư. Hàng loạt đảng phái, phong trào nổi lên gần đây ở châu Âu cho thấy rõ điều này. Như vậy, chính chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã dẫn đến việc không thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế. Do vậy, các quốc gia hiện nay cần hướng đến chủ nghĩa dân tộc chân chính thiết lập nên chủ nghĩa quốc tế trên cơ sở của thế giới quan hiện đại: hòa bình, hữu nghị, dựa trên luật lệ, tôn trọng quyền tự quyết, độc lập và hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Chủ nghĩa quốc tế dựa trên chủ nghĩa dân tộc chân chính chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của quốc gia trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia - dân tộc khác.

HAIVAN

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

 


Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc”.

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa”. Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu. Ở khía cạnh này, S. Kramer khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác”. Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

HAIVAN