Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

 

Bình Dương 25 năm tái lập - Những chính sách và giải pháp vượt trội

(LLCT) - Trong 25 năm tái lập (1997-2021), tỉnh Bình Dương đã có nhiều chính sách và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vượt trội, giúp tỉnh khai mở lộ trình công nghiệp hóa và làm nên dấu ấn của một thời kỳ phát triển sôi động nhất trong lịch sử địa phương. Nhìn từ những chính sách và giải pháp này cho thấy, Bình Dương đã tới ngưỡng một chu kỳ phát triển và cần có nhận thức mới trong giai đoạn tiếp theo với những chính sách và giải pháp vượt trội để khai mở thời kỳ phát triển cao hơn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.



Sau 25 năm tái lập (1997-2021), Bình Dương là một trong những địa phương điển hình trong cả nước về chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, chuyển đổi căn bản đời sống xã hội nông nghiệp - nông thôn sang xã hội công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở Bình Dương có được những thành tựu to lớn đó xuất phát từ nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, có tính chất đột phá sáng tạo, vừa là động lực kích hoạt phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cũng là tiền đề để Đảng, Nhà nước tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới. 

1. Từ kích hoạt đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Từ năm 1994, khi còn là tỉnh Sông Bé, ngay sau khi Quốc hội ban hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (số 35-L/CTN), Đảng bộ và chính quyền địa phương đã nhanh chóng ban hành chính sách “trải chiếu hoa” mời gọi các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đầu tư sản xuất, kinh doanh vào các lĩnh vực then chốt, có lợi thế của tỉnh gồm: (i) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (chủ yếu là đường và điện); (ii) Chế biến nông, lâm, thủy sản; các dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; (iii) Sản xuất hàng xuất khẩu và các ngành, nghề truyền thống; cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động.

Chính sách “trải chiếu hoa” nhanh chóng tạo tiếng vang, thu hút được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư sản xuất, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực; sôi động nhất là thương mại - xuất nhập khẩu, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Năm 1996, Sông Bé đánh dấu sự kiện là năm thu hút đầu tư lớn nhất với 136 dự án FDI (chiếm gần 50% tổng số dự án của cả nước - 136/325).

Chính sách “trải chiếu hoa” là một động lực kích hoạt đầu tư. Hàng nghìn tỷ đồng của các tổ chức, cá nhân trong nước được huy động, tạo ra tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác. Đến thời điểm tái lập tỉnh (năm 1997), cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo tỷ lệ tương ứng là 50,4% - 22,8% - 26,8%, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng khá cao(1). Căn cứ vào tiềm năng và các điều kiện phát triển, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bình Dương đã khẳng định cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. 

Đảng bộ và chính quyền tỉnh coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng tỷ trọng GDP trong các ngành công nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm trong lãnh đạo, điều hành các nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Sau hơn 3 năm chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến năm 2000, Bình Dương đã chuyển biến rõ nét, tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp tăng từ 50,5% lên 58,1%, nông nghiệp giảm từ 22,8% xuống còn 16,7%.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VII (tháng 01-2001) đề ra chỉ tiêu đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng là 61-62% -  27-28% - 10-11%(2). Với những điều kiện thuận lợi của đất nước trong những năm đầu thế kỷ XX, Bình Dương đã tăng tốc phát triển công nghiệp. Đến năm 2010, cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp của tỉnh đã định hình rõ nét với tỷ trọng là 63% - 32,6% - 4,4%, vượt xa so với nghị quyết đề ra(3). Từ năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng giữ vững tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp, tăng tỷ trọng GDP các ngành dịch vụ và tiếp tục giảm dần tỷ trọng GDP các ngành nông nghiệp. Năm 2013, cơ cấu kinh tế được xác định là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng là 61,4% - 35,3% - 3,3%(4). Năm 2020, cơ cấu kinh tế trong tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) xác lập tỷ lệ công nghiệp 66,53% - dịch vụ 22,78% - nông nghiệp 2,51%(5 ) - trừ thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tương ứng 8,18%.

Cùng với việc tăng tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp, cơ cấu kinh tế của Bình Dương ngày càng chuyển dịch theo chiều sâu trong nội bộ từng ngành. Các ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu thị trường. Nhiều loại nông sản của Bình Dương đã trở thành hàng hóa có giá trị kinh tế cao (cao su, gia súc, gia cầm). Một số lĩnh vực kinh tế nông nghiệp sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến, năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng cao. Các ngành công nghiệp tích cực chuyển dịch theo hướng hội nhập quốc tế. Hiện nay, sản phẩm công nghiệp của Bình Dương có mặt trên thị trường hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chính sách xuyên suốt trong tư duy lãnh đạo, điều hành của tỉnh. Đây cũng là tiền đề quan trọng để Bình Dương hướng vào thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp dựa trên đổi mới thu hút đầu tư, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao theo hướng xây dựng xã hội đô thị văn minh, hiện đại.

2. Tìm cơ chế cho khu công nghiệp và đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng

Bước vào thập niên 1990, Việt Nam tìm “hướng ra biển lớn”. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành quy chế khu chế xuất (Nghị định số 332- HĐBT ngày 18-10-1991). 

Lãnh đạo tỉnh Sông Bé vừa tham khảo mô hình khu chế xuất của Thành phố Hồ Chí Minh, vừa chủ động nghiên cứu các mô hình khu công nghiệp của nước ngoài và nhận thấy điều kiện thực tiễn của tỉnh lúc đó phù hợp để phát triển khu công nghiệp, nhưng rào cản lớn nhất là chưa có cơ chế pháp lý để xây dựng khu công nghiệp. Trước thực tế đó, lãnh đạo tỉnh vẫn quyết định vừa tìm tòi, nghiên cứu thực tiễn, vừa làm, vừa đi “xin” cơ chế cho khu công nghiệp. 

Năm 1993, Khu công nghiệp Bình Dương chính thức thành lập. Đây là khu công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam. Với những nỗ lực tiên phong tìm tòi, “xin cơ chế” của tỉnh, năm 1994, Chính phủ ban hành Quy chế khu công nghiệp (Nghị định 192-CP, 1994), hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào khu công nghiệp trên cơ sở Quy chế này và các quy định của pháp luật Việt Nam. 

Với cơ sở pháp lý của Nghị định 92-CP và những kinh nghiệm sau khi xây dựng khu công nghiệp Bình Đường, tỉnh đã lần lượt xây dựng nhiều khu công nghiệp. Đến nay, Bình Dương đã có 29 khu công nghiệp tập trung (tổng diện tích trên 8.850ha) và 8 cụm công nghiệp (tổng diện tích trên trên 650ha), đáp ứng tốt nhu cầu đầu tư phát triển các ngành công nghiệp cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.   

Bình Dương lựa chọn phương hướng phát triển khu công nghiệp tập trung là một lựa chọn sáng tạo và đúng đắn. Với việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn, hạ tầng đầy đủ, Bình Dương đã mở ra khả năng thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Nhìn lại những ngày đầu lựa chọn và xây dựng khu công nghiệp mới thấy rõ đây là một trong những chủ trương, chính sách có tính đột phá, giúp tỉnh mở ra lộ trình của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Song song với xây dựng khu công nghiệp, tỉnh Bình Dương đã nhận thức rõ rằng, kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện tiên quyết để mở ra khả năng thu hút vốn đầu tư; là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế chủ chốt, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Bình Dương, hai lĩnh vực trong xây dựng kết cấu hạ tầng được Đảng bộ, chính quyền tỉnh chú trọng đặc biệt là xây dựng hệ thống giao thông và các khu công nghiệp tập trung.

Đối với hệ thống giao thông, hàng năm tỉnh đã dành lượng vốn chiếm tỷ lệ cao cho các công trình giao thông có quy mô lớn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh nên Bình Dương rất chú trọng đến các trục giao thông hướng tâm, giao thông vành đai, nhằm kết nối hạ tầng kỹ thuật của tỉnh với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm. 

Cùng với các trục giao thông chính kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, hệ thống đường bộ kết nối các khu công nghiệp cũng được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Ở khu vực đô thị, các tuyến đường phố, đường hẻm được nhựa hóa, bê tông hóa. Ở khu vực nông thôn, đường nhựa đều đến trung tâm xã, nhất là từ khi thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều xã đã hoàn thành nhựa hóa và bê tông hóa các tuyến đường liên ấp, liên xã. Giao thông thuận tiện là điều kiện cơ bản để Bình Dương phát triển toàn diện kinh tế - xã hội.

3. Khơi thông nguồn lực trong nước và quốc tế

Ngay từ khi lựa chọn định hướng phát triển kinh tế công nghiệp làm chủ đạo, Đảng bộ và chính quyền tỉnh thường xuyên quán triệt quan điểm phát huy nội lực, tranh thủ thu hút, tận dụng nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển. 

Trong khơi thông nguồn lực đầu tư phát triển, tỉnh nhận thức và có quyết sách rõ ràng những khoản đầu tư cho hạ tầng (giao thông, khu công nghiệp, thông tin, điện, nước) trước hết phải phát huy cao độ nội lực, huy động nguồn vốn của tỉnh, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong tỉnh đồng thời huy động vốn từ bên ngoài. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo này, từ cuối thập niên 1990, khi xây dựng các khu công nghiệp tập trung, tỉnh đã huy động nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư, đó là các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị kinh tế của Đảng bộ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài... Trong những năm 1997-2000, vốn đầu tư phát triển của tỉnh đạt mức trên 5.000 tỷ đồng/năm. Đến giai đoạn 2000-2005, vốn đầu tư phát triển của tỉnh đạt mức trung bình 9.000 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2006-2010, đạt trung bình 20.000 tỷ đồng(6). Năm 2013, vốn đầu tư phát triển của tỉnh đạt 52.363 tỷ đồng(7).  

Bình Dương nhiều năm giữ vị trí số 1 trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Giai đoạn 1997-2000, Bình Dương thu hút hơn 300 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn gần 2.400 triệu USD. Đến năm 2013, tổng số dự án FDI đầu tư vào Bình Dương đạt trên 2.000 dự án, tổng số vốn là 17 tỷ USD. Các nguồn vốn từ dân cư được huy động vào sản xuất, kinh doanh. Điển hình là việc huy động vốn trong dân cư vào phát triển cao su tiểu điền với hàng trăm tỷ đồng. Tính đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có hơn 85.000 ha cao su tiểu điền. Các hộ gia đình phát triển kinh tế theo hình thức trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn rất phổ biến. Việc khơi thông nguồn lực trong dân cho đầu tư phát triển đã làm chuyển biến căn bản đời sống xã hội. 

4. Phát triển hệ thống đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại

Với sự phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc gia tăng dân số cơ học và quá trình đô thị hóa là một tất yếu. Từ năm 1997 đến 2014, dân số ở Bình Dương tăng hơn hai lần (từ 700.000 lên 1.800.000 người) và đến năm 2019 là 2.426.581 người (theo tổng điều tra dân số nhà ở năm 2019). Chính vì vậy, trong quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh luôn chú trọng vấn đề đô thị hóa và phát triển đô thị. 

Trong quy hoạch phát triển đô thị, Bình Dương chú trọng phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương và phù hợp với quy hoạch chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Năm 2010, Tỉnh ủy Bình Dương đã xây dựng chương trình đột phá về phát triển đô thị Bình Dương đến năm 2020. Theo đó giai đoạn 2010-2015, Thủ Dầu Một là đô thị loại II và trở thành thành phố trực thuộc tỉnh. Thuận An và Dĩ An là đô thị loại III. Phát triển thị xã Bến Cát và Tân Uyên thành đô thị loại IV. Đến nay, tỷ lệ đô thị hóa ở Bình Đương đạt trên 70%.

Trong khi hoàn thiện quy hoạch và phát triển đô thị, Đảng bộ và chính quyền tỉnh cũng chú trọng phát triển nông thôn và phân bố các điểm dân cư theo quy hoạch, bảo đảm mỹ quan, môi trường, an toàn giao thông; quy hoạch và cải tạo các làng nghề, các trung tâm dịch vụ nông thôn theo hướng bền vững. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Bình Dương khởi động từ năm 2011 đã thu được những kết quả về kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Các sở, ngành và địa phương đã tích cực triển khai thực hiện đồng bộ gắn với thực hiện quy hoạch, kế hoạch của ngành và địa phương. Chương trình nông thôn mới đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.

5. Sáng tạo trong giải quyết các vấn đề xã hội

Trong quá trình đổi mới, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương đã nỗ lực tìm tòi, thử nghiệm nhiều cơ chế, giải pháp giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Hai vấn đề then chốt, có tính đột phá trong đổi mới tư duy của Đảng bộ, chính quyền tỉnh là vấn đề cải cách thủ tục hành chính và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. 

Trong công tác cải cách thủ tục hành chính, trên cơ sở pháp luật, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện cải cách thể chế phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình cụ thể của tỉnh. Ngoài việc chú trọng cải tiến thủ tục hành chính ở các ngành,các cấp, tỉnh đã chỉ đạo xây dựng chức năng,nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, song song với xây dựng các quy trình thủ tục hành chính đơn giản, cải tiến lề lối làm việc, coi trọng chất lượng,hiệu quả công việc, phát huy vai trò hiệu quả của bộ máy hành chính các cấp. Bình Dương là một trong các tỉnh thực hiện thủ tục hành chính một cửa sớm nhất và đã phát huy hiệu quả. Để xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa, có tính chuyên nghiệp cao, tỉnh Bình Dương đề ra mục tiêu của Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 là 100% các thủ tục hành chính được công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, dễ thực hiện, nhanh chóng và thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, đạt chất lượng tương ứng với yêu cầu chuyên môn và nhiệm vụ chính trị của địa phương theo từng thời kỳ, có tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân; xây dựng nền hành chính công nghệ cao thay cho nền hành chính thủ công; tổ chức các chương trình đào tạo thiết thực và phù hợp với từng loại đối tượng cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao kỹ năng ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin cho 100% cán bộ, công chức, viên chức theo các lĩnh vực chuyên môn.

Sức hấp dẫn của Bình Dương được tạo thành bởi nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố hết sức quan trọng là thủ tục hành chính luôn được cải tiến theo hướng hỗ trợ ngày càng tốt hơn cho nhà đầu tư.

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, Bình Dương đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển xã hội. Trong 25 năm qua, đầu tư của tỉnh cho các lĩnh vực xã hội ngày càng tăng, luôn chiếm hơn 20% vốn ngân sách tỉnh. Những lĩnh vực ưu tiên trong phát triển xã hội là các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói - giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống tệ nạn xã hội… Các chương trình và mục tiêu quốc gia về phát triển xã hội đã được các cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện và đạt hiệu quả cao. 

Công tác xóa đói - giảm nghèo của Bình Dương luôn là một điểm sáng trong cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia trung bình hàng năm giảm 2,5%. Bình Dương là một trong các địa phương sớm nâng mức chuẩn nghèo cao hơn so với chuẩn nghèo do Chính phủ quy định. Trong giai đoạn 2001 - 2005, Bình Dương đã hai lần nâng chuẩn nghèo. Đến năm 2010, tỉnh không còn hộ nghèo theo tiêu chí của Trung ương. Đến năm 2013, chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương ở khu vực thành thị là hộ có mức thu nhập 1.100.000 đồng/người/tháng, ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng, tương đương với chuẩn nghèo của thành phố Hồ Chí Minh - là một trong các tỉnh, thành có đời sống cao trong nước.

Từ năm 1997, Bình Dương đã được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2005, tỉnh đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Năm 2020, quy mô giáo dục của Bình Dương có 369 đơn vị trường học, trên 215.000 học sinh. Toàn bộ hệ thống trường học, lớp học được kiên cố hóa(8). Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh vừa chú trọng đầu tư phát triển các trường đại học cao đẳng công lập, vừa tạo cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập. 

6. Nhận thức và giải pháp trong thời kỳ mới

Trải qua một phần tư thế kỷ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bình Dương đã có nhiều chính sách đột phá, vượt trội, tạo dựng những nhân tố mới, trở thành động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh 25 năm qua cũng đem lại những nhận thức mới:         

Việc thu hút các dự án đầu tư trên lĩnh công nghiệp, nhất là trong giai đoạn đầu, hầu hết thuộc các lĩnh vực thâm dụng lao động; số lượng công nhân và nhân viên của doanh nghiệp rất lớn; năng suất lao động thấp; làm gia tăng các chi phí đào tạo nhân lực và nhiều chính sách xã hội khác.

Phần lớn các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp đều mang dáng dấp của nền công nghiệp kiểu cũ với công nghệ và thiết bị lạc hậu, năng suất thấp, tính năng bảo vệ môi trường thấp. Tính đến nay, các doanh nghiệp này phần lớn mới đầu tư trong khoảng 15-30 năm, trong khi chu kỳ đầu tư cần 50-70 năm. Vì vậy, vấn đề đổi mới công nghệ, thiết bị, chuyển đổi từ công nghiệp kiểu cũ sang công nghiệp kiểu mới; giải quyết các bài toán về bảo vệ môi trường là một thách thức lớn.

Tiềm năng khai thác các lợi thế về đất đai, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng giao thông… đã tới ngưỡng. Bình Dương hiện không còn nhiều lợi thế về tài nguyên đất đai và cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch chưa thực sự khoa học và thiếu bền vững. 

Dân số tăng nhanh nhưng chất lượng dân cư chuyển biến rất chậm. Bình Dương là tỉnh có lực lượng công nhân đông đảo nhưng cơ cấu nghề nghiệp thay đổi không mấy tích cực. Lực lượng lao động không có tay nghề và chuyên môn kỹ thuật thấp luôn chiếm tỷ lệ lớn; trong khi đó, tầng lớp trung lưu tăng rất chậm. Việc quản lý dân cư còn nhiều vấn đề thiếu khoa học và bền vững mà đại dịch Covid-19 đã làm bộc lộ khá rõ. 

Quan điểm và chính sách giải quyết các vấn đề xã hội chưa thấu đáo. Nhất là chính sách về xã hội đối với người nhập cư trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế. Cần nhìn nhận lại, khách quan hơn theo hướng người nhập cư là lực lượng lao động quan trọng, góp phần giải quyết nhu cầu của nền kinh tế, xã hội. Việc giải quyết các chính sách an sinh xã hội đối với người nhập cư cần được coi là “lợi thế” bởi không có lực lượng này, Bình Dương sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng và hậu quả là không thể thu hút đầu tư nếu doanh nghiệp khó khăn trong tuyển dụng lao động.

Các chính sách và giải pháp vượt trội của Bình Dương đã làm nên sức sống và sự vươn lên mạnh mẽ của tỉnh trong 25 qua nhưng cũng đồng thời bước vào ngưỡng của chu kỳ phát triển. Bình Dương đang cần một chu kỳ phát triển mới, với những chính sách giải pháp vượt trội mới.

Thứ nhất, tỉnh Bình Dương cần xem xét mô hình tăng trưởng để tìm điểm kích hoạt cho giai đoạn mới. Mô hình kinh tế lấy công nghiệp làm nền tảng đột phá từ Bình Dương đã lan tỏa ra cả nước; một số tỉnh, thành dựa theo mô hình này để kiến tạo những đột phá trong phát triển kinh tế, xã hội. Trong khi đó, Bình Dương không còn nhiều dư địa cho mô hình kinh tế này bởi lợi thế về nguồn lực đất đai, nhân lực, cơ sở hạ tầng đã tới ngưỡng. Thời gian tới, Bình Dương cần vượt ra khỏi khuôn khổ mô hình phát triển kinh tế công nghiệp kiểu cũ để xác lập mô hình phát triển kinh tế với đẳng cấp cao hơn. Cần khơi thông động lực sáng tạo để đổi mới công nghệ của các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp gắn với mục tiêu vươn tới trình độ cao trong tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội; định hướng chiến lược và quy hoạch Bình Dương trở thành trung tâm phát triển vùng đẳng cấp cao với các chức năng: đô thị công nghiệp động lực, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm liên kết và hội nhập quốc tế với những chính sách phù hợp.

Thứ hai, dân số tăng nhanh và đô thị hóa mạnh mẽ, Bình Dương cần hoạch định một chiến lược đô thị hóa kết hợp giữa quy hoạch vật lý và quy hoạch xã hội, kiến tạo bản sắc theo không gian địa hình và không gian văn hóa xã hội để phát huy hết xung lực vốn có, góp phần tạo ra sức mạnh kinh tế, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa Bình Dương tham gia sâu vào quá trình hội nhập quốc tế. Tỉnh cần hoạch định chiến lược đô thị hóa vượt trội, tạo điều kiện thuận lợi nhất để cuốn hút, mời gọi những doanh nhân, kỹ thuật gia, nhà khoa học…; trao cho họ nơi cư trú và tác nghiệp thuận lợi. Bình Dương cần có những khu đô thị mới sang trọng để thu hút được các tổ chức tầm cỡ quốc tế, các định chế thương mại và văn hóa, tầng lớp có thu nhập cao, các cơ hội việc làm trong lĩnh vực sáng tạo… để thu hút nguồn tài chính lớn. Bình Dương cũng cần có những khu đô thị văn minh, hiện đại, phù hợp thu nhập của người dân, để nhiều tầng lớp dân cư được thụ hưởng môi trường sống và làm cho nơi này sung túc hơn, toàn diện hơn… 

Thứ ba, sớm xác lập quan điểm về quy hoạch và quản lý dân cư theo hướng tiên tiến, hiện đại. Điều tra, khảo sát thông tin dân cư một cách chính xác, toàn diện. Xác lập quan điểm dân nhập cư có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và lồng ghép quan điểm này trong các chiến lược phát triển nòng cốt, khai thác một cách hiệu quả di cư lao động cả trong nước và nước ngoài.

Thứ tư, xây dựng chiến lược phát triển lao động và xã hội đạt trình độ ASEAN, các tiêu chuẩn về lao động và xã hội theo các chuẩn mực phù hợp với tiêu chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế (ILO); phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có thể tham gia vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu; tăng cơ hội việc làm có chất lượng cao, thu nhập cao; đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trường nghề được các nước trong khu vực và quốc tế công nhận về văn bằng, chứng chỉ; tiếp cận các tiêu chí về an sinh xã hội của quốc tế. Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn lao động xã hội quốc tế phù hợp với điều kiện của tỉnh, tiếp cận áp dụng các tiêu chí đánh giá về lao động theo thông lệ quốc tế; dự báo tình huống và xử lý các vấn đề lao động và xã hội phát sinh theo nghiệp vụ quốc tế; thực hiện các chương trình việc làm bền vững, chú trọng các dự báo về thị trường lao động, an toàn lao động, thanh tra lao động; xây dựng chương trình hội nhập về giáo dục nghề nghiệp và an sinh xã hội.

__________________

(1), (6) Cục Thống kê Bình Dương: Số liệu kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 1997 - 2008, 2009. 

(2) Đảng bộ tỉnh Bình Dương: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VII,  2001.

(3), (4), (7) Cục Thống kê Bình Dương: Niên giám thống kê 2013, 2014, tr.41, 41, 46.

(5), (8) Đảng bộ tỉnh Bình Dương: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ XI, Bình Dương. 

Nguồn: PGS, TS NGUYỄN VĂN HIỆP

Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Thủ Dầu Một

 

Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy địa phương trong xây dựng lực lượng dự bị động viên

 

(LLCT) - Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao là chủ trương chiến lược của Đảng, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bài viết làm rõ thực trạng, đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy địa phương trong xây dựng lực lượng dự bị động viên, đáp ứng yêu cầu tình hình mới.

 


Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là cấp ủy địa phương trong xây dựng lực lượng dự bị động viên (DBĐV) luôn là nhân tố cơ bản hàng đầu quyết định đến số lượng, cơ cấu, chất lượng và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng DBĐV. Đây là một khâu quan trọng, trực tiếp cụ thể hóa các quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân của Đảng. 

Lực lượng DBĐV là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, có vai trò hết sức to lớn trong xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước trong thời bình và đáp ứng yêu cầu khi có chiến tranh xảy ra; góp phần quan trọng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, các hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Xây dựng lực lượng DBĐV hùng hậu, có chất lượng cao là chủ trương chiến lược của Đảng, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực tiễn qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của lực lượng DBĐV. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu...”(1)

Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực, chúng tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, những yếu kém trong quản lý kinh tế, xã hội, xử lý vi phạm kỷ luật của đảng viên ở nước ta… từ đó hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, tuyên truyền về “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân với dân, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, tác động không nhỏ đến kết quả xây dựng lực lượng vũ trang nói chung và xây dựng lực lượng DBĐV nói riêng. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2).

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của lực lượng DBĐV, những năm qua, các cấp ủy địa phương thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành xây dựng lực lượng DBĐV. Chất lượng, hiệu quả xây dựng và hoạt động của lực lượng DBĐV đã có bước chuyển biến rõ nét trên tất cả các mặt, nhất là chất lượng chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tổ chức tốt việc quán triệt Luật Lực lượng dự bị động viên, các chỉ thị, thông tư, hướng dẫn của cấp có thẩm quyền đối với công tác xây dựng lực lượng DBĐV. 

Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc kết hợp phân công đảng viên tham gia và phát triển đảng viên trong lực lượng DBĐV. Trong công tác xây dựng lực lượng DBĐV, các đơn vị nhận nguồn đã phối hợp chặt chẽ với địa phương tổ chức xây dựng kế hoạch động viên, tiến hành phúc tra, sắp xếp nguồn theo chỉ tiêu quy định và thực hiện tốt chế độ đăng ký, quản lý quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. 

Hiện nay, số quân nhân dự bị đã được sắp xếp, biên chế đạt 94,08% so với chỉ tiêu động viên được Chính phủ giao, trong đó sĩ quan dự bị đạt 81,26%, hạ sĩ quan, binh sĩ đạt 96%. Nhiều đơn vị đã sắp xếp đủ 100% quân số và có lượng dự phòng 10%; tỷ lệ đúng chuyên nghiệp quân sự của sĩ quan đạt 72,25%, gần đúng đạt 20,4%, không đúng 7,35%; hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị đạt 68,7%, gần đúng đạt 14,3%, không đúng 17%. Tỷ lệ đảng viên trong quân nhân dự bị (QNDB) đạt 5,5%, tỷ lệ đoàn viên đạt 33%, trong đó, tỷ lệ sĩ quan dự bị là đảng viên đã xếp vào các đơn vị DBĐV đạt 55,6%. Phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân được đăng ký, quản lý, sắp xếp vào các đơn vị DBĐV đạt 100% chỉ tiêu, sẵn sàng huy động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ khi cần thiết.

Căn cứ vào Luật và hướng dẫn của cấp trên, cấp ủy, tổ chức đảng ở các địa phương, đơn vị đã lãnh đạo chặt chẽ công tác tổ chức, biên chế, xây dựng lực lượng phù hợp với tình hình thực tiễn địa bàn và tính chất hoạt động của từng đơn vị. Công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ và giáo dục, huấn luyện của phân đội có sự đổi mới căn bản, cả về chương trình, nội dung, tổ chức và phương pháp. Hàng năm, cả nước đã tổ chức được nhiều lớp tập huấn cho hàng nghìn lượt cán bộ. Công tác huấn luyện phân đội được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Luật, đạt hiệu quả thiết thực. Nhiều địa phương đã kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với hoạt động bảo vệ trị an trong các ngày lễ kỷ niệm lớn của đất nước, ngày Tết… Lực lượng DBĐV phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác ở địa phương, cơ sở tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt là, đã phối hợp tuyên truyền 75.823 buổi/29.946.856 lượt người; vận động được 7.367 học sinh bỏ học quay lại trường; thu hồi 1.787 súng các loại; triệt phá 52 héc ta diện tích trồng cây thuốc phiện; vận động dân không di cư 9.934 hộ/15.814 khẩu. 

Cấp ủy, tổ chức đảng ở các đơn vị nhận nguồn DBĐV đã lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc phối hợp với địa phương tổ chức huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên. Hằng năm, tổ chức huấn luyện được gần 25% tổng số quân nhân dự bị đã sắp xếp theo biên chế. Diễn tập khu vực phòng thủ được tổ chức chặt chẽ, cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan chức năng làm tham mưu và công tác đảng, công tác chính trị trong diễn tập được thực hiện tốt đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ sẵn sàng chiến đấu của từng đơn vị. Việc đầu tư, sử dụng ngân sách, bảo đảm chế độ đối với quân nhân dự bị khi tập trung huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng động viên được thực hiện đúng quy định của Luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng DBĐV.

Những kết quả đạt được đã khẳng định vai trò lãnh đạo của cấp ủy địa phương đối với lực lượng DBĐV. Đồng thời, khẳng định lực lượng DBĐV thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, chính quyền và nhân dân ở địa phương, là lực lượng nòng cốt trong công tác quân sự, quốc phòng địa phương, là một thành phần quan trọng trong xây dựng khu vực phòng thủ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội địa phương phát triển.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Nhận thức của một số cấp uỷ, cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ, chưa thấy hết ý nghĩa, vai trò của cấp uỷ địa phương trong lãnh đạo xây dựng lực lượng DBĐV; một số cấp  ủy chưa bám sát nhiệm vụ xây dựng lực lượng DBĐV của địa phương mình, ngành mình; công tác giáo dục chính trị, định hướng đấu tranh trên mặt trật chính trị tư tưởng chậm đổi mới, thiếu chủ động sắc bén, còn biểu hiện mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; công tác phát triển đảng viên trong lực lượng DBĐV ở một số địa phương, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Việc quản lý quân nhân dự bị ở một số địa phương chưa chặt chẽ; có nơi quân nhân dự bị đi làm xa địa bàn chiếm đến 25% quân số. Trong khi đó, việc bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực lượng DBĐV chậm được điều chỉnh, có địa phương việc bảo đảm chế độ còn thấp hơn quy định.

Để nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy địa phương đối với xây dựng lực lượng DBĐV trong tình hình mới cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp cơ bản sau: 

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy địa phương đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên

Đề cao trách nhiệm của cấp ủy địa phương các cấp là nhân tố hàng đầu bảo đảm để xây dựng lực lượng DBĐV hùng hậu, có chất lượng ngày càng cao. Cấp ủy địa phương, theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần tiếp tục quán triệt Kết luận số 41/KL-TW ngày 31-3-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 16/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX); tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng DBĐV trong tình hình mới”; ra nghị quyết chuyên đề về nâng cao chất lượng lãnh đạo của cấp ủy cấp mình đối với công tác xây dựng lực lượng DBĐV; coi đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần tập trung lãnh đạo hàng năm ở địa phương. 

Cấp ủy địa phương các cấp phải chấp hành nghiêm cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác quân sự, quốc phòng địa phương, theo Nghị quyết 02/1987/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa VI, Nghị quyết 28/2008/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa X); trong đó, cần phát huy vai trò của cấp ủy địa phương và chỉ huy trưởng cơ quan quân sự nhằm bảo đảm mọi quyết định của Đảng được tổ chức thực hiện một cách trực tiếp. Cơ quan quân sự địa phương tiếp tục tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, gắn chặt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện công tác quân sự, quốc phòng địa phương. Cơ quan chính trị các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức, các lực lượng ở địa phương nhận thức thống nhất về nội dung, cơ chế và chức năng, nhiệm vụ của các thành phần trong cơ chế, góp phần bảo đảm cho cơ chế được vận hành thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả. Coi trọng việc chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền địa phương; năng lực sơ kết, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm xây dựng lực lượng DBĐV. Đề cao trách nhiệm của cấp ủy phải gắn chặt với phát huy vai trò của bí thư cấp ủy trong xây dựng lực lượng DBĐV trên địa bàn.

Để thực hiện tốt giải pháp này, cần thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy địa phương, nâng cao chất lượng cấp ủy viên, chăm lo bồi dưỡng cho cấp ủy và các cấp ủy viên kiến thức cơ bản về công tác quân sự, quốc phòng địa phương, tập trung vào xây dựng lực lượng DBĐV. Hằng năm, cấp ủy các cấp có kế hoạch cử cán bộ tham gia học tập, tập huấn kiến thức về xây dựng lực lượng DBĐV theo quy định, nhất là các cấp ủy viên theo dõi công tác quân sự, quốc phòng địa phương.

Hai là, lãnh đạo xây dựng đảng ủy quân sự địa phương vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao

Đảng ủy quân sự địa phương có vai trò quan trọng trong tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng. Mọi đề xuất, tham mưu của cơ quan quân sự cho cấp ủy, chính quyền địa phương đều phải thông qua đảng ủy quân sự địa phương. Thường xuyên coi trọng xây dựng đảng ủy quân sự địa phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là vấn đề quyết định đến nhiệm vụ xây dựng lực lượng DBĐV hùng hậu, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nội dung xây dựng đảng ủy quân sự địa phương cần quán triệt và thực hiện tốt những yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV khóa XI, khóa XII, nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Thường xuyên củng cố đảng ủy đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý, nâng cao chất lượng sinh hoạt, xây dựng và thực hiện đúng quy chế, làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả. Coi trọng xây dựng khối đoàn kết, thống nhất của đảng ủy, làm hạt nhân đoàn kết giữa cơ quan quân sự với với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương. 

Ba làtăng cường phối hợp giữa địa phương giao nguồn động viên và đơn vị nhận nguồn, thực hiện tốt công tác tạo nguồn, đăng ký, sắp xếp và quản lý quân nhân dự bị

Lực lượng DBĐV là một bộ phận của Quân đội nhân dân, trong thời bình phải tổ chức đăng ký, quản lý, huấn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp, sẵn sàng động viên xử lý các tình huống xảy ra. Vì thế, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các địa phương với các đơn vị nhận nguồn trong xây dựng lực lượng DBĐV là vấn đề rất quan trọng. Thực tiễn cho thấy, công tác phối hợp trong xây dựng lực lượng DBĐV ở các địa phương trên cả nước được duy trì thường xuyên, tương đối chặt chẽ và có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng so với yêu cầu vẫn còn nhiều bất cập. Trong đó, việc phối hợp tạo nguồn dự bị động viên cho cả địa phương và đơn vị nhận nguồn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện chỉ tiêu tuyển quân trên từng địa bàn ngày càng giảm, trong khi số quân nhân dự bị đến tuổi phải giải ngạch theo quy định ngày càng tăng, đó là chưa kể những biến động về quân số, do quân nhân dự bị đi lao động xa nơi cư trú v.v.. Thực trạng đó đòi hỏi sự phối hợp giữa địa phương và các đơn vị của quân khu phải có sự đổi mới, đi vào chiều sâu, vững chắc. Ngoài ra, cơ quan quân sự các cấp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức chu đáo việc tiếp nhận quân nhân xuất ngũ về địa phương, thực hiện tốt việc hướng nghiệp, dạy nghề cho quân nhân xuất ngũ, trên cơ sở đó, tổ chức làm tốt việc đăng ký, quản lý quân nhân dự bị theo phân cấp. 

Các đơn vị khung thường trực cần chủ động phối hợp với các địa phương cung cấp nguồn để thực hiện việc phúc tra, sắp xếp, quản lý nguồn quân nhân DBĐV và phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế. Công tác sắp xếp, biên chế các đơn vị DBĐV phải bám sát phương châm: lấy đúng chuyên nghiệp quân sự làm chính, kết hợp với gần, gọn địa bàn, bảo đảm thuận lợi trong phúc tra, quản lý và động viên khi cần thiết. 

Thực hiện đúng, đủ quy trình theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng về biên chế, kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm các chức vụ chỉ huy, quản lý đơn vị DBĐV cho sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật (khung B).Thực hiện miễn nhiệm, giải ngạch, phong, thăng quân hàm cho quân nhân dự bị đúng, đủ thủ tục, nguyên tắc, quy định. Trong đó, chú trọng phối hợp duy trì sinh hoạt đơn vị DBĐV kết hợp chi trả phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị để nắm chắc số lượng, chất lượng chính trị, trình độ chuyên nghiệp quân sự của quân nhân và đơn vị DBĐV. 

Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan quân sự địa phương với đơn vị chủ lực có quân nhân xuất ngũ, tổ chức huấn luyện chuyển loại chuyên nghiệp quân sự, nắm chắc chất lượng nguồn, tiếp nhận quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự về địa phương và đăng ký, sắp xếp, quản lý, theo dõi chặt chẽ nguồn DBĐV trên địa bàn để sẵn sàng động viên bàn giao cho đơn vị nhận nguồn.

Bốn là, lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu cho quân nhân dự bị

Đây là khâu then chốt, quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị và các đơn vị DBĐV. Thực hiện tốt công tác huấn luyện sẽ bảo đảm cho quân nhân dự bị có trình độ kỹ, chiến thuật, khả năng động viên nhanh, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện tốt các nhiệm vụ của địa phương. 

Trong những năm qua, các đơn vị DBĐV luôn quán triệt sâu sắc chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng, trực tiếp là mệnh lệnh huấn luyện của Tư lệnh Quân khu; đồng thời, bám sát đặc điểm địa bàn và nhiệm vụ từng đơn vị, địa phương để cụ thể hóa thành nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, chương trình hành động, kế hoạch ở các cấp, nhằm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ huấn luyện lực lượng DBĐV. Triển khai làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt, từ khâu xác định tỷ lệ, chỉ tiêu, đối tượng huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng động viên để giao cho từng đơn vị, địa phương đến khâu chuẩn bị cơ sở vật chất, thao trường, bãi tập, doanh trại v.v.. Chủ động rà soát cán bộ các cấp, sắp xếp ổn định tổ chức biên chế, nhất là đội ngũ cán bộ khung B. Chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho cán bộ các cấp (cả khung A và khung B), làm tiền đề nâng cao chất lượng huấn luyện cấp phân đội và quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn là chủ yếu. 

Thực tiễn huấn luyện lực lượng DBĐV ở các địa phương cho thấy, các đơn vị luôn tích cực đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện sát với tình hình, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ địa bàn, địa phương, cơ sở. Coi trọng huấn luyện tập trung cho đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật chủ chốt đã được sắp xếp vào các đơn vị DBĐV để nâng cao trình độ chỉ huy, điều hành, quản lý bộ đội. Sau mỗi đợt huấn luyện, đều tiến hành sơ kết, tổng kết, làm cơ sở chỉ đạo, nhân rộng ra các đơn vị trong toàn quân khu thực hiện. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị huấn luyện với địa phương để từng bước bảo đảm đầy đủ doanh trại, quân trang, chế độ tiêu chuẩn... phục vụ nhiệm vụ huấn luyện đạt kết quả tốt. Tích cực đổi mới công tác diễn tập lực lượng DBĐV theo hướng sát phương án, đặc điểm địa bàn và yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến của khu vực phòng thủ, nhằm nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ và khả năng hiệp đồng chiến đấu cho các đơn vị DBĐV.

Năm là, lãnh đạo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với lực lượng DBĐV

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ này. Thực tiễn hiện nay, ở một số địa phương, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới việc bảo đảm chế độ theo quy định vẫn còn không ít khó khăn. Cấp ủyđảng, chính quyền, cơ quan quânsự địa phương phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến cho các tổ chức, các doanh nghiệp nhận thức rõ trách nhiệm tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, hiểu rõ nhiệm vụ, vai trò của lực lượng DBĐV và những thuận lợi khó khăn trong xây dựng lực lượng DBĐV hiện nay. 

Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng doanh nghiệp để xây dựng quy chế phối hợp hoạt động, tạo điều kiện cho các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tham gia thực hiện trách nhiệm của mình đối với xây dựng lực lượng vũ trang địa phương nói chung và lực lượng DBĐV nói riêng. Cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện sự chỉ đạo thống nhất từ cấp trên đến cơ sở để các tổ chức, doanh nghiệp tham gia đầy đủ nhất. 

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế hoạt động phối hợp, hiệp đồng giữa các đơn vị DBĐV với các tổ chức, các doanh nghiệp ở địa phương trong việc bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, tham gia giải quyết các chính sách xã hội, chính sách hậu phương đối với lực lượng DBĐV, tạo cho cán bộ, chiến sĩ yên tâm phấn khởi, hăng hái phục vụ.

Do vậy, cơ quan quân sự các tỉnh cần tổ chức rà soát, thống kê cụ thể khả năng bảo đảm của địa phương, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch hỗ trợ những xã nghèo, đặc biệt khó khăn. Mặt khác, cần tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân cùng các tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn tham gia xây dựng lực lượng DBĐV. Ngoài ra, cần khuyến khích cách làm sáng tạo, như: ưu tiên vay vốn, giao đất, giao rừng, tạo điều kiện cho gia đình quân nhân DBĐV phát triển sản xuất, nâng cao đời sống để họ yên tâm công tác.

__________________

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.158,160.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2009), Kết luận số 41-KL/TW ngày 31 tháng 3 năm 2009 về tiếp tục thực hiện chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới, Lưu hành nội bộ, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2008), Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Hà Nội.

3. Bộ Quốc phòng (2018), Báo cáo số 276/BC-BQP ngày 08/01/2018 của Bộ Quốc phòng về tổng kết 20 năm thực hiện Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên.

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật lực lượng dự bị động viên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2020.

Nguồn: ThS  NGUYỄN HỮU TRUNG

Học viện Lục quân, Bộ Quốc phòng

 

Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp để phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: "xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại"(1). Đây là nhận thức mới sâu sắc hơn và toàn diện của Đảng ta về những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.


Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, không tách rời, tạo nên đặc trưng, bản chất rất cơ bản của con người Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực nói riêng. Đó là những giá trị văn hóa truyền thống mang tính ổn định, bền vững cần trân trọng, gìn giữ và không ngừng bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới đặt ra. 

1. Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Do nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, cha ông ta thường xuyên phải chống chọi với thiên tai như hạn hán, bão, lụt. Bên cạnh đó, lịch sử Việt Nam gắn liền với các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Để chiến thắng giặc ngoại xâm và thiên tai, các thế hệ con người Việt Nam đoàn kết thành một khối vững chắc, hình thành, phát triển những phẩm chất quý báu của con người Việt Nam. Đó là hệ thống những giá trị văn hóa bền vững, ổn định được đúc kết, chắt lọc từ thực tiễn cuộc sống, có tác dụng giáo dục, bồi dưỡng, phát triển con người đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của lịch sử. Có thể khái quát một số giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đó là: 

Một là, tính cần cù, chịu thương, chịu khó, không ngại khó khăn, gian khổ

Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của giá trị văn hóa con người Việt Nam. Trong điều kiện, hoàn cảnh nào, nhân dân ta luôn thể hiện đức tính cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó vươn lên trong cuộc sống. Đây chính là lợi thế của nguồn nhân lực Việt Nam. Trong bối cảnh đại dịch Covid - 19, nhiều người lao động không có việc làm, tính cần cù, chịu thương, chịu khó của mỗi người đã giúp chúng ta sớm vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định cuộc sống.

Hai là, lòng yêu nước nồng nàn

Đây là giá trị đặc sắc tiêu biểu của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được bắt nguồn từ quá trình lịch sử, được bồi đắp, tích tụ từ công cuộc cải tạo tự nhiên và chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Lòng yêu nước của dân tộc là cơ sở, nguồn gốc để hình thành, phát triển những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2).

Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam chính là nền tảng tạo sự thống nhất để Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc, đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự không lớn, song đã đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của thực dân, đế quốc, giành độc lập, tự do; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. 

Ba là, con người Việt Nam kiên cường, thông minh, sáng tạo trong chiến đấu, lao động sản xuất và có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, giúp đỡ nhau trong mọi điều kiện, hoàn cảnh

Kẻ thù xâm lược nước ta có tiềm lực kinh tế, quân sự rất mạnh. Cha ông ta đã phát huy bản lĩnh kiên cường trong chiến đấu, truyền thống đấu tranh “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”, “dùng đoản binh chế trường trận”, “kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến”, mỗi người dân là một chiến sỹ; cải tiến máy móc, nâng cao năng suất lao động… để đánh thắng quân thù và xây dựng, phát triển đất nước. Đó chính là giá trị văn hóa quân sự đặc sắc của Việt Nam, được đúc kết từ thực tiễn các cuộc chiến tranh, được chúng ta vận dụng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt, sáng tạo vào chiến đấu và lao động sản xuất. 

Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng luôn thường trực ở mỗi con người Việt Nam, nhất là vào thời điểm khó khăn, gian khổ. Tinh thần “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, “người biết nhiều dạy cho người biết ít”… trở thành giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được nuôi dưỡng bằng chủ nghĩa nhân văn, tất cả vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Trong chiến đấu và lao động sản xuất, con người Việt Nam luôn giúp đỡ, hỗ trợ nhau, góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ thời lập quốc cho đến hiện nay, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau ngày càng được củng cố, bồi đắp và nâng lên tầm cao mới, có giá trị tích cực trong cuộc sống, để con người vượt qua lúc cam go, thử thách. 

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động tới tất cả các ngành, lĩnh vực. Đối với người lao động, nếu không có trình độ tay nghề, không thích ứng được với đòi hỏi ngày càng cao của công nghệ hiện đại sẽ bị đào thải. Trong nền kinh tế tri thức, lao động làm việc ở các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất không chỉ hoạt động bằng cơ bắp mà còn phải hoạt động bằng trí lực. Toàn cầu hóa, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực đòi hỏi người lao động không chỉ có những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà còn phải có những đặc điểm mới của thời đại, đó là năng động, linh hoạt, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ phát triển bền vững đất nước. 

2. Thực tiễn phát huy giá trị văn hóa truyền thống để phát triển nguồn nhân lực 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp vào dựng xây, kiến thiết đất nước, đặc biệt phát triển nguồn nhân lực trở thành trung tâm, chủ thể của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “con người là vốn quý nhất” cho nên mọi chủ trương, chính sách của Chính phủ phải hướng đến con người theo phương châm “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(3)

Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển người lao động Việt Nam là cơ sở để phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, phát huy ý chí, bản lĩnh, trí tuệ và đạo lý của dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước”(4)

Từ sau Đại hội VI (năm 1986), với chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật bước đầu cho CNXH, đưa đất nước từng bước thoát khỏi nghèo nàn, kém phát triển. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị phát huy giá trị sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về  xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Nghị quyết  Trung ương 6 khóa XII “Về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII khẳng định: Xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn, trọng dụng nhân tài, cán bộ có năng lực nổi trội…

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, tăng trưởng kinh tế quý IV đạt 5,22%, cao hơn cùng kỳ năm 2020 (4,61%), và cả năm ước đạt 2,58%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020 (đưa Việt Nam trở thành 1 trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại); nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, xuất khẩu nông sản đạt 48,6 tỷ USD(4). Những thành tựu đó đã khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm về số lượng, chất lượng.

Tuy nhiên hiện nay, việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cuản con người Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực chưa được chú trọng, nhìn nhận đầy đủ, toàn diện, xem đây là một tiêu chí quan trọng để giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Nhiều ngành, lĩnh vực mới chỉ chú trọng đến một số tiêu chí như khả năng thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh, tin học, kinh nghiệm làm việc. Nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo còn nặng về lý thuyết, ít truyền đạt phương pháp, định hướng nghề nghiệp cho người học, chưa thực sự chú ý đến kỹ năng mềm. Việc khai thác giá trị văn hóa tốt đẹp vào giảng dạy chưa nhiều; các đơn vị tuyển dụng chưa chú ý đến khai thác các yếu tố về truyền thống của người lao động để giáo dục, bồi dưỡng tâm thế, ý thức, trách nhiệm trong làm việc. 

Đại hội XIII của Đảng đặt ra mục tiêu đến năm 2025 nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần khơi dậy ý chí, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp để phát triển nguồn nhân lực. 

3. Giải pháp kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp để phát triển nguồn nhân lực 

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò của việc kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để phát triển nguồn nhân lực

Việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc để phát triển nguồn nhân lực, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân. Do đó, cần quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc vào sự nghiệp đổi mới đất nước, nhất là trong giáo dục, đào tạo, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực, đức, trí, thể, mỹ; cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, đường lối đó vào từng cơ quan, đơn vị, địa phương, từng ngành, lĩnh vực, với các đối tượng linh hoạt, sáng tạo và quyết đoán.

Chủ động, tích cực xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương trên cơ sở những tiêu chí, quy định của Đảng, Nhà nước và yêu cầu, tính chất, nhiệm vụ đòi hỏi; kết hợp hài hòa giữa truyền thống với hiện đại, giữa kế thừa và phát triển nguồn nhân lực. 

Nguồn nhân lực ở nước ta rất phong phú, dồi dào, mỗi chủ thể cần đánh thức, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh trong mỗi người vào thực hiện các nhiệm vụ. Các chủ thể phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, có ý chí, khát vọng vươn lên không ngừng, chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, nắm bắt những thời cơ, vận hội, huy động các nguồn lực, thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nội dung do cơ quan, đơn vị, địa phương mình đặt ra.

Thứ hai, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học, ngành học theo nhu cầu của thị trường

Trong những năm qua, việc đổi mới, nâng chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học, ngành học đã được quan tâm, chú trọng, nhưng hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần khảo sát, đánh giá tình hình lao động, việc làm trong nước để xây dựng chương trình đào tạo; coi trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cho người học, giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần trách nhiệm; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở các cấp học, ngành học cả về năng lực, trình độ, phương pháp sư phạm và đạo đức nghề nghiệp. Việc đào tạo phải bám sát thị trường, thực trạng lao động của đất nước, nhu cầu, mong muốn của người học. 

Thứ ba, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để phát triển nguồn nhân lực

Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được bồi đắp, tạo dựng từ trong thực tiễn cuộc sống, có tác dụng tích cực để phát triển đất nước. Do vậy, cần phải chú trọng việc giữ gìn môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, hướng đến thưởng thức và thỏa mãn cái hay, cái đẹp trong cuộc sống; chủ động đấu tranh loại bỏ văn hóa phẩm đồi trụy, thiếu văn minh, không lành mạnh ra khỏi đời sống xã hội, nhất là những tệ nạn xã hội, đua đòi, không biết trân trọng, giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. 

Đẩy mạnh phát triển các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới, các hoạt động câu lạc bộ văn hóa ở các khu dân cư, thành lập các tổ, hội, nhóm văn hóa dân gian để lưu giữ, bảo tồn các giá trị truyền thống. Tổ chức hoạt động lễ hội văn minh, an toàn, tiết kiệm, bảo đảm cho các tầng lớp nhân dân tham gia đầy đủ vào các hoạt động văn hóa tinh thần; chú trọng đến giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Thông qua những hoạt động đó tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, đào tạo nguồn nhân lực “vừa hồng”, “vừa chuyên” cho thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung những cơ chế, chính sách thúc đẩy kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc để phát triển nguồn nhân lực 

Cần rà soát, bãi bỏ những cơ chế, chính sách chưa phù hợp, ban hành cơ chế, chính sách mới để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; rà soát, đánh giá lại năng lực ban hành chính sách của cơ quan, ban, ngành có thẩm quyền đối với việc giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc có bám sát thực tiễn xã hội đang đặt ra không. 

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân về những chính sách mới được ban hành có liên quan đến các hoạt động văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng, ban hành chính sách về kế thừa, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc để hình thành, phát triển nhân cách trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, làm cho những yếu tố văn hóa truyền thống trở thành giá trị, thấm sâu vào trong mỗi suy nghĩ, hành động, việc làm của người lao động, luôn ý thức được sâu sắc trách nhiệm của mình đối với sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước. 

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.171. 

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.51. 

(4) Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ những mốc phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

(5) Phát biểu Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, htps://vov.vn, ngày 5-1-2022.

Nguồn: TS NGUYỄN THỊ QUYẾT

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

BẢN ÁN THÍCH ĐÁNG CHO PHAN SƠN TÙNG - CHỦ KÊNH “VÌ VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG”

 

Sáng ngày 03/7/2023, Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm đối với Phan Sơn Tùng về tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Với những hành vi vi phạm pháp luật của mình, Phan Sơn Tùng đã bị Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt 6 năm tù giam về tội danh trên. Đây được xem là bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội sau những gì mà Phan Sơn Tùng đã thực hiện và cũng là bài học kinh nghiệm cho những ai đã, đang coi thường sự thượng tôn, nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt là các bạn trẻ trong việc sử dụng các tiện ích của mạng xã hội để đăng tải, tán phát các video, bài viết có nội dung chống phá.

Như trang Việt Nam Thời Báo đã từng đăng tải, Phan Sơn Tùng, sinh năm 1984, trước khi bị Công an TP Hà Nội bắt vào ngày 09/9/2022, y là chủ Công ty Cổ phần hóa dược Vĩnh Phúc, trụ sở tại Tầng 7, Tòa nhà MacPlaza, số 10, đường Trần Phú, Phường Mộ Lao, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sơn Tùng đã thiết lập các kênh youtube “Vì Việt Nam Thịnh Vượng” và “Sơn Tùng TV” và nhiều blog, facebook, fanpage như blog GocNhinPhanSonTung, fanpage “Vì Việt Nam Thịnh Vượng”...  Trên các diễn đàn, kênh trên, Phan Sơn Tùng đã đăng tải nhiều bài viết, video trên các kênh youtube, fanpage có nội dung tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, quảng bá cho cái gọi là “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam. Thậm chí không ít video, bài viết, Phan Sơn Tùng tự cho mình là người đã lập ra và đứng đầu Đảng “Vì Việt Nam Thịnh Vượng” để cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với những hành vi trên, chiều ngày 09/9/2022, Công an thành phố Hà Nội đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Phan Sơn Tùng về tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bản án 6 năm tù giam có lẽ là đủ để thức tỉnh một con người như Phan Sơn Tùng, là đủ để cho y hết ảo tưởng chính trị về sức mạnh của bản thân mình.

DƯ LUẬN CẦN CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÔI NHỌ NGÀNH CÔNG AN

 

Là thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, lực lượng Công an nhân dân luôn luôn là mục tiêu mà các thế lực thù địch nhằm vào để tìm cách “phi chính trị hóa”, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, kích động người dân chống lại lực lượng Công an.

Hoạt động này được đẩy mạnh hơn mỗi khi trong ngành Công an phát hiện, xử lý những cán bộ, chiến sĩ tha hóa, biến chất về đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật. Do đó, sau khi vụ việc 3 cựu cán bộ công an bắn chết dê của người dân, trên các trang lề trái như “việt tân”, “thông luận” và của đám rận chủ quốc nội, hải ngoại đồng loạt đưa tin, tạo ra một “chiến dịch” công kích, bôi nhọ ngành công an.

Để đạt được mục tiêu đó, đám kền kền không từ một thủ đoạn nào, chúng “bới lông tìm vết”, ngụy tạo chứng cứ bằng cách cắt xén hình ảnh, gắn ghép các thông tin sai lệch và phát tán trên mạng xã hội cũng những bài viết sặc mùi tiêu cực. Trong khi đó, để có một đất nước Việt Nam thanh bình, một nền chính trị ổn định, trật tự, an toàn xã hội đảm bảo, nền kinh tế phát triển có phần đóng góp không nhỏ của lực lượng Công an. Theo thống kê, từ năm 1975 đến nay, lực lượng CAND có hơn 1.061 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh; hơn 2.021 đồng chí bị thương khi thi hành nhiệm vụ. Giai đoạn 2017 - 2022, Bộ Công an đã cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” đối với 40 liệt sĩ; cấp giấy chứng nhận thương binh đối với 182 đồng chí và giấy chứng nhận bệnh binh đối với 12 đồng chí. Công an nhân dân là lực lượng đặc biệt, không chỉ bảo vệ Đảng, chế độ mà còn đảm bảo bình yên, hạnh phúc trong nhân dân. Tất nhiên, trong lực lượng không phải không có những thành phần tha hóa, biến chất như trường hợp 3 cựu công an nêu trên, nhưng họ chẳng qua là những “Cành cây khô” trên cả một cây đại thụ tốt tươi, đẹp đẽ.

Vì vậy, dư luận cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Việc các đối tượng đả phá, bôi nhọ, đánh đồng sai phạm của một số cá nhân với toàn lực lượng CAND chính là hành động “vơ đũa cả nắm”, nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân, gây bất ổn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

CẢM ƠN SỰ THIỆN CHÍ CỦA NGÀI ĐẠI SỨ MỸ TRONG VỤ ĐẮK LẮK

 

Vụ việc xảy ra trên địa bàn Cư Kuin (Đắk Lắk) là hành động man rợ, vừa qua Cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can tội KB nhằm chống chính quyền nhân dân (điều 113 BLHS). Hành vi của nhóm đối tượng đã cướp đi sinh mạng của cán bộ, chiến sĩ công an và cả người dân. Cộng đồng, dư luận trong nước hết sức lên án hành động phi pháp này.

Dưới góc nhìn ngoại giao, vừa qua, Đại sứ Mỹ MarcKnapper nêu quan điểm của Mỹ là phản đối, lên án và không dung túng bất kỳ tổ chức, cá nhân nào liên quan đến vụ việc xảy ra tại Cư Kuin (Đắk Lắk). Sự thiện chí, khách quan của phía cơ quan đại diện ngoại giao Mỹ tại Việt Nam, cũng là đại diện cho tiếng nói Quốc gia, cho thấy rằng mối quan hệ tốt đẹp song phương Việt - Mỹ, đồng thời cho thấy tiếng nói chung giữa 02 quốc gia trong cuộc chiến chống khủng bố. Đại sứ mong muốn ViệtNam cung cấp thông tin đến vụ việc và cam kết sẵn sàng hợp tác với Việt Nam bằng mọi phương thức để đưa ra sự thật của mối liên hệ giữa cá nhân, tổ chức nào đó đang ở Mỹ có liên quan đến vụ khủng bố, chống chính quyền nhân dân ở Việt Nam.

Người dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình mong muốn mối quan hệ Việt - Mỹ ngày càng tốt đẹp, mong rằng Mỹ không dung túng hay hậu thuẫn cho bất kỳ đối tượng nào có hành vi, hoạt động chống Việt Nam. Người dân Việt Nam cũng luôn trân quý tình cảm tốt đẹp và sự thiện chí của người Mỹ dành cho Việt Nam.

NGUYỄN XUÂN DIỆN LẠI “MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG”!

 

Không chỉ xuyên tạc, bôi lem hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, cổ vũ cho các hoạt động chố.ng phá đất nước, kích động gây rối an ninh trật tự dưới danh nghĩa của người “yêu nước”. Gần đây Nguyễn Xuân Diện lại càng tỏ ra thách thức chính quyền với không ít bài viết nhằm xuyên tạc quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, kích động tư tưởng bài Trung, thân Mỹ, đặc biệt là khi có các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng hay các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông.

Mới đây, liên quan đến sự kiện Công ty iMe Entertainment - đơn vị tổ chức đêm nhạc có tên gọi "Born Pink World Tour Hanoi" của nhóm BlackPink tại Hà Nội (dự kiến tổ chức ngày 30-31/7/2023) nghi vấn có chia sẻ bản đồ có "đường lưỡi bò" tiếp tục được vị Tiến sĩ hán nôm này lợi dụng “mượn gió bẻ măng” nhằm phục vụ cho mục đích chống phá của mình. Về việc nghi vấn Công ty iMe Entertainment - đơn vị tổ chức đêm nhạc có tên gọi "Born Pink World Tour Hanoi" của nhóm BlackPink tại Hà Nội nghi vấn chia sẻ bản đồ có “đường lưỡi b.ò” xuất hiện trên không gian mạng những ngày qua và khiến người hâm mộ Việt Nam phẫn nộ, bức. xúc.

Vậy nhưng trước những vụ việc như thế này người dân, các bạn trẻ cũng cần phải hết sức bình tĩnh, yêu nước, yêu chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc là điều mà mỗi người dân Việt Nam đề nhận thức rõ nhưng cần phải hết sức tỉnh táo không rơi vào “bẫy” của những kẻ như Nguyễn Xuân Diện và các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí như “Việt Tân”, RFA… khi muốn lợi dụng vụ việc này để xuyên tạc, chống phá Việt Nam về quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc, tư tưởng bài Trung.

Về quan điểm của Việt Nam như Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã cho rằng: “Quan điểm của Việt Nam về yêu sách "đường 9 đoạn" là rõ ràng và nhất quán, đã được nêu rõ rất nhiều lần. Việc quảng bá, sử dụng các sản phẩm, ấn phẩm có "đường 9 đoạn" tại Việt Nam là vi phạm các quy định của Việt Nam và không được chấp nhận". Vậy nên anh Diện cũng như các anh em “dân chủ” cứ yên chí, quan điểm nhất quán rõ ràng của Đảng, Nhà nước Việt Nam bấy lâu nay vẫn vậy, nên các anh chị đừng lợi dụng để thực hiện chiêu trò kích động gây rối, chống phá như những gì các anh chị cùng nhóm NoU đã làm cách đây hơn 10 năm. Nguyễn Xuân Diện cũng nên nhớ rằng anh cũng là số ít trong những kẻ từng trong nhóm NoU chưa bị bế đi đấy.

HÌNH ẢNH QUÂN NHÂN MẶC MÀU ÁO BỘ ĐỘI CỤ HỒ CÙNG LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG LUÔN LÀ ĐẸP NHẤT

 

Có lẽ những bức ảnh dưới đây mới chính là những tấm ảnh đẹp nhất mà truyền thông, tin tức nên đưa tin trong những ngày vừa qua. Khi mà một cô gái thuỷ thủ gốc Việt được mọi người tung hô như một sự tự hào vì làm việc trên một chiếc tàu sân bay của nước bạn thì cá nhân tôi vẫn thấy rằng những người lính cụ Hồ khoác trên mình màu áo cờ đỏ sao vàng, hành quân đến những miền đất xa lạ còn nhiều khó khăn để giúp đỡ người dân sẽ là những hình ảnh đẹp nhất và đây mới là niềm tự hào chân chính nhất.

Đây là những kỉ niệm đẹp của những người con Việt Nam mang trên mình màu áo của quân đội nhân dân Việt Nam, họ sống, chiến đấu, phục vụ cho Tổ quốc Việt Nam. Các đồng chí đã góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè bốn phương, về những con người yêu nước thương nòi vô cùng chất phác và giản dị. Những hình ảnh vô cùng đẹp và đầy tính nhân văn như thế này mà cánh truyền thông lại thấy rất ít đưa tin, bình phẩm, xuất hiện lặng lẽ sau những bài báo tán dương về nữ thuỷ thủ gốc Việt đang công tác tại tàu của nước bạn.

Nữ thuỷ thủ gốc Việt đó làm việc trên tàu của nước bạn, là người Việt Nam nhưng sống và cống hiến cho nước bạn, chiến đấu vì nước bạn. Đó là niềm tự hào của cô gái đó, là niềm tự hào của gia đình, bạn bè người hâm mộ cô, chứ không phải là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam. Phục vụ cho tàu nước bạn cũng đồng nghĩa với việc khi có biến cố xảy ra thì mọi mệnh lệnh cô gái ấy đều phải phục tu gf trước hết là vì nước bạn. Điều khác biệt ở đây chỉ bởi vì đó là một cô gái, là một thuỷ thủ đó chính là điểm nhấn. Báo chí truyền thông rầm rộ đưa tin và coi đó là một điều tuyệt vời.

Xét về một góc độ nào đó, là một con dân yêu nước, đặt Tổ quốc mình lên trên hết, thì những ảnh đẹp tuyệt vời của những màu áo lính cụ Hồ trên mảnh đất châu Phi còn nhiều khó khăn đối với người dân Việt Nam mà nói, nó còn tuyệt vời hơn rất nhiều lần, luôn là những bức ảnh đẹp nhất và nhân văn nhất cần được truyền thông rộng rãi.

ĐÀI MẤT “ĐÀI” (CÔNG CỤ CHỐNG PHÁ)

 

Thật tội nghiệp cho Nguyễn Văn Đài, dày công tạo dựng kênh Youtobe với 350 ngàn lượt Subcribers, vậy mà chỉ chút bốc đồng cổ vũ cho đám khủng bố tại Đắk Lắk giết người không nương tay mà kênh youtobe đã bị xóa.

Đau buồn không biết làm gì, Đài thẫn thờ lên mạng xã hội than thở và lúc nổi cơn "hâm" lên, anh ta còn dọa nạt cả những người hay vào trang facebook của mình để bóc phốt những trò hề mà một con rối trong tay các thế lực thù địch sử dụng chống phá Việt Nam.

Nực cười hơn, lực bất tòng tâm, y đổ lỗi cho việc kênh youtobe bị xóa là do sức ép từ phía Đông Lào (ám chỉ Việt Nam đây). Đúng là "vừa ăn cắp, vừa la làng". Một kênh youtobe chuyên kích động bạo lực từ vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo, thường xuyên đưa thônh tin sai trái để phục vụ cho mưu đồ chính trị..., Nguyễn Văn Đài biến kên giải trí youtube trở thành diễn đàn để y thỏa mãn những ý tưởng điên rồ của một kẻ "thần kinh chính trị". Vì vậy, việc kênh youtobe của Đài bị xóa là điều tất yếu khi các quốc gia trên thế giới đều lên tiếng phản đối các hành vi tương tự với ông chủ của kênh này.

Mất kênh youtobe, chắc hẳn Đài như mất một thú vui tao nhã và kéo theo việc cắt giảm kinh phí theo từ sản phẩm tật nguyền của y. Hy vọng, sau lần này, kênh facebook của y cũng tiếp tục bị xóa sổ thì mạng xã hội cũng bớt đi một đống rác.

"CHỈ NGU MỚI ĐÁNH MỸ"

 

Phát ngôn gây sốc của Thái Bá Tân (một kẻ ngáo chính trị, cũng từng mang mác thầy đồ nhưng lại bị bệnh hoang tưởng, cuồng chính trị. Cái thời mà ông Tân sinh ra đã chứng kiến cảnh tượng đất nước bị thực dân, đế quốc giầy xéo, tàn phá... ấy vậy mà! Cha ông đổ máu vì độc lập, hòa bình, Thái Bá Tân lại trở nên cuồng Mỹ, cho rằng "Chỉ ngu mới đánh Mỹ".

Than ôi! Thầy ba bảy kiểu, dạng Thầy! Thầy mà kiểu này thì trò tính sao? Thái Bá Tân từng tuyên bố từ bỏ mạng xã hội, ngừng dùng Fb để nói chuyện chính trị, nhưng y vẫn chứng nào tật nấy, không từ bỏ được cái sai của mình.

Tại sao Thái Bá Tân không hiểu? Lịch sử, quá khứ chúng ta học được nhiều bài học quý giá, Qua bao cuộc chiến gian khổ, từ cuộc chống Mỹ, chống Pháp cho đến những cuộc đấu tranh thù trong, giặc ngoài, đất nước Việt Nam đã trải qua những đợt sóng gió để tạo dựng được nền tảng vững chắc như ngày hôm nay... hãy xem hai miền Triều Tiên chia cắt ngày nay để thấy được giá trị của cuộc chiến đó như thế nào?

Chúng ta nhớ rằng đất nước Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn và gian truân để đạt được những thành tựu hiện nay. Chính nhờ vào sự đoàn kết và khát vọng tự do, chúng ta đã vượt qua những thử thách và xây dựng được một quốc gia độc lập và phát triển. Đáng ra Thái Bá Tân cần giúp cho lớp trẻ hiểu được điều này thay vì ngông cuồng chống phá.