Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch
phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong
đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào
những vấn đề sau đây:
Một là, chúng cho rằng, Đảng
Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng
của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm
số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm
dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong
kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự
nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của
Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất
GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.
Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển
kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn
mang bản chất GCCN.
Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù
địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ
diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự
xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó
diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng
trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan
điểm trên không?
Trước hết, phải khẳng định
rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần
bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai
trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của
trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn
thực tiễn.
Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc
điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất
thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh
thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số
người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được
hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của
giai cấp”(1).
Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những
người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo
và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những
người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là
đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và
đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ
chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và
hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc
trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính
đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt
động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp
quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động
quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản
lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh
đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của
các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang
bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.
Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng
định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của dân tộc”. Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay
từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”…
như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không
phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo
Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định:
“Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Trong
bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”. Việc khẳng định bản chất
GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của
Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức
sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân
dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.
Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào
ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất
định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích
của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp
bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa
số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản -
đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều
kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính
đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản
Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của
nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản
chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng
theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng
ta.
Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng
với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì
càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn
đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy
nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi
Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của
GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường
đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.
Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng
viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và
năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với
quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi
phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán
bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy
quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn
ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ
quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh
nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng
tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ
lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản
chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh
tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa
rời quần chúng.
Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN
cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây
dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho
đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ
dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc
quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng
đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một
số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.
Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì
tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối
với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và
theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là
quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần
đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những
vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện
pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan
của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại
lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.
Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải
khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến
động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá
của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng
của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH;
kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu,
năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có
bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi
mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
HAIVAN

