Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2023

 

Công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức hiện nay

(LLCT) - Trong tiến trình đổi mới đất nước, công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới và tăng cường, trong đó công tác tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức từng bước được cải tiến đã mang lại những kết quả nhất định. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập trên các lĩnh vực.

 


1. Công tác tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng

Công tác tuyển dụng

Việc tuyển dụng công chức, đã thực hiện phân cấp tuyển dụng công chức(1), bước đầu gắn thẩm quyền sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng.

Hình thức tuyển dụng được đổi mới với hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển. Nội dung thi tuyển gồm thi môn kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành; ngoại ngữ và tin học là môn điều kiện (môn nghiệp vụ chuyên ngành được tính hệ số 2). Việc xét tuyển công chức căn cứ vào kết quả học tập và thông qua phỏng vấn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển. Quy định này bước đầu đã khắc phục được hạn chế khi xét tuyển theo đối tượng ưu tiên như trước đây, bảo đảm tuyển được công chức có năng lực, trình độ và tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Việc tuyển dụng công chức cấp xã, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn chức danh và số lượng công chức cấp xã theo từng chức danh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tuyển dụng hằng năm theo từng chức danh, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt và tổ chức tuyển dụng.

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức tăng nhanh về số lượng, toàn quốc năm 2009 có 386.050 người; đến cuối năm 2012 tăng lên 535.528 người.

Về trình độ chuyên môn cán bộ, công chức, năm 2012, số có trình độ tiến sĩ là 2.209 người (0,4%), thạc sĩ là 19.666 người (3,7%), cử nhân (đại học) là 278.198 người (51,9%); số công chức đã được đào tạo về lý luận chính trị là 251.110 người (46,9%)(2).

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được nâng lên một bước về trình độ chuyên  môn, nghiệp vụ. Năm 2012, đã có 53.974 cán bộ, công chức cấp xã có trình độ đại học trở lên (24,8%); tỉ lệ đã được đào tạo về quản lý nhà nước là 103.902 người (47,8%)(3).

Về tuyển dụng viên chức, theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức (trước năm 2012), Luật Viên chức 2012, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập; thẩm quyền tuyển dụng tiếp tục được đổi mới theo hướng có quy định phân cấp, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp trong công tác tuyển dụng, kể cả phân cấp trong việc lập kế hoạch, chỉ tiêu, nội dung, hình thức thi tuyển.

Trong những năm qua, đội ngũ viên chức cũng tăng nhanh về số lượng. Năm 2009 số lượng viên chức là 1.118.650 người; đến cuối năm 2012, số lượng này đã tăng lên 1.699.288 người. Về trình độ chuyên môn, số lượng tiến sĩ là 12.199 (0,7%), 70.923 thạc sĩ (4,2%), 731.506 cử nhân (đại học) chiếm 43%.

Số lượng tuyển dụng viên chức tăng nhanh qua từng năm:  số tuyển dụng mới năm 2010 là 79.838 người, năm 2011 là 89.211 người, năm 2012 là 94.515 người(4). Việc tuyển dụng đã kết hợp giữa chỉ tiêu biên chế và yêu cầu công việc, vị trí việc làm, chú trọng đến năng lực, phẩm chất đạo đức; một số chính sách phù hợp để thu hút cán bộ, công chức, viên chức về công tác tại tuyến cơ sở, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Tại Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành đã thể hiện tinh thần đổi mới về các chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức. Tập trung đổi mới hình thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng hành chính cho công chức, giải quyết các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính.

Trong những năm qua, thực hiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh hoạt động xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức các khóa bồi dưỡng bắt buộc hàng năm đối với cán bộ, công chức. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào việc bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phương pháp làm việc theo vị trí việc làm cho cán bộ, công chức. Số cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng năm 2011 là gần 900.000 lượt, tăng khoảng 46 % so với năm 2010.

Năm 2012, các bộ, ngành và địa phương tiếp tục triển khai các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, các mục tiêu và giải pháp mà Quyết định số 1374/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2015 đã đề ra. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm đối với cán bộ, công chức nhằm nâng cao kỹ năng làm việc theo vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. Kết quả tổng số cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng năm 2012 là gần 1.190.000 lượt người, tăng khoảng 31% so với năm 2011(5).

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức còn một số hạn chế, bất cập:

Về tuyển dụng công chức, viên chức.

Quy định về tiêu chuẩn các ngạch công chức hành chính đã ban hành từ năm 1993 đã không còn phù hợp với công tác tuyển dụng, nâng ngạch cán bộ, công chức. Trong khi đó, việc xác định vị trí việc làm tại Nghị định số 36/2013/NĐ-CP về vị trí việc làm có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu ngạch công chức, tiêu chuẩn ngạch công chức, ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy định về tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức.

Mỗi vị trí tuyển dụng có yêu cầu về nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa xây dựng được ngân hàng câu hỏi và ngân hàng đề thi môn nghiệp vụ dẫn đến đề thi tuyển dụng công chức thường không sát với yêu cầu của vị trí cần tuyển dụng.

Có một số ngành, địa phương yêu cầu tuyển dụng cần có bằng tốt nghiệp loại giỏi, loại khá thì đa phần đối tượng dự tuyển tốt nghiệp ở các trường ngoài công lập, hình thức đào tạo không chính quy đủ tiêu chuẩn tham dự; còn các đối tượng có bằng tốt nghiệp loại trung bình ở các trường công lập, hình thức đào tạo chính quy lại không đủ tiêu chuẩn tham dự do cách cho điểm, đánh giá và các hình thức đào tạo ở các trường là khác nhau. Một số địa phương đã có quy định khác với văn bản cấp trên như không tuyển dụng người tốt nghiệp trường dân lập hoặc hệ vừa học vừa làm và ưu tiên người có hộ khẩu thường trú tại địa phương là trái với quy định pháp luật hiện hành.

Nhiều địa phương, bộ, ngành cho rằng, hiện nay chưa có cơ chế thực sự thỏa đáng để thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao về làm việc tại địa phương, đơn vị cơ sở. Điều này dẫn đến chất lượng công chức giữa các tỉnh, thành phố, vùng miền trong cả nước không đồng đều. Đặc biệt đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu.

Công tác tuyển dụng công chức cấp xã:Công tác tổ chức thi tuyển công chức cấp xã tuy đã được triển khai tích cực, nhưng có địa phương vẫn không tuyển đủ số lượng công chức theo chỉ tiêu biên chế, có nơi phải bố trí cả người không đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm nhiệm chức danh của công chức. Cá biệt có địa phương sử dụng biên chế của chức danh tư pháp - hộ tịch để bố trí chức danh khác. Tỉ lệ cán bộ, công chức cấp xã đạt trình độ đại học trở lên chỉ chiếm 24,8%. Chính vì thế, tình trạng chung là cán bộ, công chức cấp xã tỉ lệ đạt chuẩn chưa cao. Trong khi đó, lại chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích sinh viên được đào tạo cơ bản về công tác ở cơ sở. Một số nơi, do thiếu công chức cấp xã nên cấp huyện phải điều động công chức về xã.

Về tuyển dụng viên chức: Cách tính điểm học tập, điểm tốt nghiệp hoặc điểm đào tạo theo tín chỉ ở các cơ sở đào tạo chưa thống nhất, chất lượng đào tạo không đồng đều, đối với những trường hợp đào tạo ở nước ngoài không có điểm học tập, dẫn đến lúng túng, vướng mắc trong việc tuyển dụng.

Thông tư 15/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ giao các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức xây dựng các đề thi chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành khác nhau phù hợp với yêu cầu vị trí dự tuyển. Tuy nhiên, do một số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức vấn đề này nên có tình trạng ở một số địa phương sử dụng đề thi chung, không sát với yêu cầu của vị trí tuyển dụng.

Việc tuyển dụng viên chức hiện nay vẫn chú trọng đến bằng cấp và kiến thức về quản lý nhà nước nói chung, các nội dung thi tuyển chưa thật sự phù hợp, chưa thực sự quan tâm đến năng lực và kỹ năng công tác của người được tuyển dụng; chất lượng đào tạo ở một số trường chưa cao, chưa gắn lý luận và thực hành nên dẫn đến chất lượng công tác chuyên môn của một số viên chức sau khi được tuyển dụng còn hạn chế.

Do cơ chế, chính sách đào tạo và chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, tay nghề giỏi chưa phù hợp với từng ngành, nghề, vùng miền nên việc phân bổ nguồn lực ở các ngành, lĩnh vực có tính đặc thù và vùng miền khác nhau có sự chênh lệch khá rõ. Số cán bộ, công chức có trình độ sau đại học tập trung nhiều ở các thành phố lớn, đô thị và đồng bằng; đội ngũ công chức ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo chủ yếu chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo ở trình độ thấp.

Về đào tạo công chức, viên chức.

Việc đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ở nhiều nơi chưa gắn với quy hoạch và yêu cầu nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan, đơn vị, đặc biệt là chưa phù hợp với cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số, cán bộ, công chức nữ và cán bộ, công chức ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Cán bộ, công chức, viên chức tham gia bồi dưỡng ngắn ngày chủ yếu là do yêu cầu đủ các chứng chỉ để thi nâng ngạch, chuyển ngạch mà chưa thật sự xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực làm việc theo chức danh, vị trí việc làm đang hoặc sẽ đảm nhiệm.

Một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn trùng lặp về nội dung, chưa được cập nhật, bổ sung thường xuyên những kiến thức mới. Một bộ phận đội ngũ giảng viên làm công tác đào tạo, bồi dưỡng còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực và phương pháp giảng dạy. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm vào các ngạch công chức được xây dựng theo tiêu chuẩn, ban hành từ năm 1993 nên nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng không sát với yêu cầu công việc trong tình hình mới.

Trong công tác cán bộ còn bất cập ở một số khâu, như: tuyển dụng, quy hoạch, chính sách đãi ngộ, sử dụng và đánh giá có nơi, có lúc làm chưa tốt, chưa thực sự xuất phát từ năng lực công tác, đã làm giảm động lực học tập và phát huy hiệu quả học tập của cán bộ, công chức, viên chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém trên là:

Luật Cán bộ, công chức có phạm vi điều chỉnh khá rộng, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta hiện nay không chỉ làm việc trong các cơ quan nhà nước mà còn làm việc trong tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và trong các tổ chức khác. Ngay trong các cơ quan nhà nước cũng có nhiều chức danh cán bộ, công chức công tác trong các cơ quan khác nhau như cơ quan dân cử, hành chính và tư pháp... Các quy định về chế độ quản lý, sử dụng, tiêu chuẩn cán bộ, công chức... hiện còn có sự đan xen giữa các quy định do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nhau ban hành. Có nhiều nội dung mới về chính sách, pháp luật tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức chậm được thực hiện. Các chế độ, chính sách còn thiếu thống nhất, chẳng hạn như chế độ tiền lương có ngành khoán chi theo nguồn thu, có ngành thì phụ cấp đặc thù dẫn đến sự thiếu công bằng trong đội ngũ cán bộ, công chức công tác trong các ngành, nghề khác nhau.

Việc phân bổ chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức, viên chức, chỉ tiêu từng ngạch công chức và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho từng ngành, từng cấp ở địa phương thiếu cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý, dẫn đến phân bổ không đồng đều. Tỉ lệ cơ cấu dân tộc và tỉ lệ nữ giới trong đội ngũ cán bộ, công chức ở một số cơ quan trung ương và một số địa phương, đặc biệt là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp còn thấp. Năm 2013, cơ cấu dân tộc chiếm 13,2%; tỷ lệ nam giới chiếm 67,7%, nữ giới chiếm 32,3% trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức. Chính sách đào tạo, bổ nhiệm riêng đối với cán bộ, công chức và nữ giới cũng còn có những mặt chưa phù hợp. Bên cạnh đó, giữa những địa phương có điều kiện tương đồng (về dân số, diện tích đất tự nhiên), số lượng cán bộ, công chức, cơ cấu bậc, ngạch, trình độ chuyên môn lại rất khác nhau. Số lượng công chức giữ ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên giữa các địa phương và giữa các cấp chính quyền của một địa phương cũng rất chênh lệch, nhất là cấp huyện hầu như không có chuyên viên chính.

Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là một vấn đề trọng tâm trong công tác cán bộ, xuyên suốt quá trình tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm. Tuy nhiên, do những bất cập, hạn chế nên vẫn còn nhiều cán bộ, công chức, viên chức hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ.

3. Một số giải pháp

Để thực hiện tốt chính sách, pháp luật trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần có nhiều giải pháp đồng bộ về cơ chế, thể chế, chính sách và nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp ủy, chính quyền. Cụ thể:

Thứ nhất, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Cán bộ, công chức để cụ thể hóa thẩm quyền của các bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh về tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức; về thực hiện chế độ, chính sách trong việc thực hiện tuyển dụng, quản lý, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, công chức cũng như bảo đảm sự liên thông trong công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống chính trị. 

Thứ hai, khẩn trương ban hành mới và sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức.  Đổi mới chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm công bằng, phù hợp với từng đối tượng, từng vùng và thống nhất trong phạm vi cả nước.

Thứ ba, tiến hành rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức nhằm giảm thiểu chi phí, tốn kém và hạn chế tiêu cực, tham nhũng.

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức nói chung và công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức nói riêng; có các biện pháp kịp thời nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn, đáp ứng yêu cầu công việc được giao.

Thứ năm, đẩy mạnh việc quản lý biên chế gắn với tích cực tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20-11-2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế.

Quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng “Thực hiện chủ trương quản lý biên chế thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị. Tinh giản tổ chức, bộ máy gắn với tiếp tục phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các tổ chức; thực hiện kiêm nhiệm một số chức danh và tinh giản biên chế trong toàn hệ thống chính trị”.

Thứ sáu, tổng kết việc thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và việc phân cấp tuyển dụng viên chức để có biện pháp khắc phục tình trạng tuyển dụng viên chức quá mức cần thiết và lạm dụng cơ chế tự chủ để thu, chi tài chính không đúng chế độ, gây mất công bằng trong đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức, ảnh hưởng đến chế độ, chính sách của Nhà nước.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016

(1) Điều 39 Luật Cán bộ, công chức, Điều 3 Thông tư 13/2010/TT-BNV.

(2), (3), (4), (5) Báo cáo số 535/BC-UBTVQH13 ngày 22-10-2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII về Kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.

 

Nguồn: PGS, TS ĐINH NGỌC GIANG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

ThS VŨ KHÁNH HOÀN

Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh

 

Nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát, vào lúc cuối đời, Người nói “Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”. Người đã thực hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon, không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.

Qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhân văn Hồ Chí Minh biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.

Ấy là lời cảm tạ đồng bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói “Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.

Ấy là tâm sự từ nỗi lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: “Mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi”.

Ấy là Người trả lời nhà báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: “Hồ Chí Minh là một phần không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ. Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.

Như vậy, lịch sử là sự thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết tinh trong các bảo vật quốc gia - 5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.

Đúng như nữ Giáo sư Sử học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: “Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời đại”. Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân loại.

Những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.

Thế nên, những kẻ xuyên tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.

HAIVAN

 

Hoạt động hợp tác quốc tế phục vụ đắc lực nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện

(LLCT) - Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động khôn lường, thách thức và cơ hội đan xen, toàn cầu hóa diễn ra sâu sắc trên mọi mặt của đời sống xã hội, công tác hợp tác quốc tế của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý, nghiên cứu lý luận mà mà Đảng và Nhà nước giao phó.

1. Quá trình hình thành và phát triển 

Hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc đã diễn ra từ rất sớm với việc mời các chuyên gia nước ngoài (chủ yếu từ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu) giảng dạy một số môn lý luận cơ bản. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoạt động hợp tác quốc tế của Trường đã không ngừng phát triển vừa nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng, vừa bởi thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với phong trào cách mạng thế giới, thu hút sự quan tâm của giới khoa học, nghiên cứu. Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc là địa chỉ để nhiều đoàn đại biểu các đảng và các tổ chức cách mạng trên thế giới đến trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cách mạng Việt Nam. Từ sau năm 1975, Trường đã cử cán bộ tham gia các đoàn chung của Đảng ta đi giảng bài tại CHDC Đức, CHDCND Yêmen; tiếp đón và giảng bài cho các đoàn như Sanvađo, Chilê, Goatêmala, Nam Phi, Palétxtin, Ôman, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và Campuchia.

Đến đầu những năm 80, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc đã có quan hệ hợp tác với Viện Hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô (AOH) và nhiều trường đảng các nước như Trung Quốc, CHDC Đức, CHXHCN Tiệp Khắc... Để hoạt động hợp tác quốc tế hiệu quả, Giám đốc Trường ra Quyết định số 83/QĐ ngày 4-11-1981 thành lập Tổ công tác đối ngoại, có nhiệm vụ giúp Ban Giám đốc nghiên cứu nội dung chương trình, kế hoạch học tập lý luận Mác - Lênin, kinh nghiệm của Đảng ta cho các lớp học của đảng bạn do nhà trường tổ chức theo nhiệm vụ được Ban Bí thư giao; nghiên cứu xây dựng kế hoạch hợp tác với AOH và trường đảng các nước.

Tiếp đó, Giám đốc ra Quyết định số 14/TC ngày 9-2-1982, chuyển Tổ Công tác đối ngoại thànhVụ Hợp tác quốc tế.

Hợp tác quốc tế trở thành hoạt động thường xuyên từ khi Trường Chính trị đặc biệt được chuyển giao cho Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (tháng 10-1985), với nhiệm vụ đào tạo học viên Campuchia. Theo Quyết định số 103/ QĐTW ngày 1-3-1990 của Ban Bí thư, Trường Nguyễn Ái Quốc 10 nhập vào Học viện Nguyễn Ái Quốc.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, hoạt động hợp tác quốc tế của Học viện thu hẹp lại. Ngày 10-4-1990, Giám đốc Học viện ra Quyết định số 255/TC chuyển giao nhiệm vụ hợp tác quốc tế cho một số đơn vị trong Học viện.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII (6-1991) về chủ trương mở rộng, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật; cả về đối ngoại Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân. Những thành tựu của đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo với các đối tác truyền thống và các đối tác mới. Để đưa hoạt động hợp tác quốc tế thành nền nếp, ngày 25-10-1993, Giám đốc Học viện ra Quyết định số 195/QĐTC về việc thành lập Vụ Hợp tác quốc tế (về thực chất là tái lập đơn vị chuyên trách về hợp tác quốc tế) giúp Giám đốc Học viện thống nhất quản lý và tổ chức các hoạt động quốc tế do Đảng Ủy và Ban Giám đốc Học viện đề ra. Từ đây, hoạt động hợp tác quốc tế của Học viện bước vào giai đoạn mới, không ngừng phát triển, cả về chiều rộng và chiều sâu, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và nghiên cứu lý luận chính trị, vào công tác đào tạo cán bộ cho các đảng bạn, nước bạn (Lào, Campuchia, Môdămbích, Nam Phi, Mêxicô...). Vụ Hợp tác quốc tế đã góp phần mình vào việc xây dựng và mở rộng quan hệ hợp tác của Học viện với hơn 60 quốc gia và hơn 100 đối tác quốc tế trên khắp 5 châu.

2. Một số thành tích đạt được

Không ngừng mở rộng hợp tác cả về chiều rộng và chiều sâu

- Đến nay Học viện đã có quan hệ với hơn 60 đối tác quốc tế, trong đó các đối tác truyền thống như Trường Đảng Trung ương Trung Quốc, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba...

- Thiết lập quan hệ với nhiều đối tác mới là những trường đại học, viện nghiên cứu danh tiếng thuộc nhiều nước trên thế giới, tổ chức phi chính phủ và nhiều tổ chức quốc tế khác, như: Đại học tổng hợp Portland, Hoa Kỳ; Trường Dịch vụ dân sự Xinhgapo; Trường Chính phủ Kennedy, Đại học Harvard (Hoa Kỳ), Học viện Quản lý nhà nước trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga; Học viện Quản lý nhà nước trực thuộc Tổng thống Belarút; Viện Nghiên cứu Xã hội quốc tế (Hà Lan); Viện Đào tạo công chức Trung ương Hàn Quốc, Cơ quan nhân sự quốc gia Nhật Bản,...

 - Số lượng các đoàn, lượt cán bộ Học viện đi nghiên cứu, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, hội thảo khoa học và học tập ở nước ngoài; số đoàn khách nước ngoài vào thăm, làm việc và tham dự hội thảo khoa học tại Học viện ngày càng tăng, mỗi năm có hàng chục đoàn ra, đoàn vào.

- Tổ chức đón tiếp thành công nhiều đoàn Lãnh đạo cấp cao các nước đến thăm và thuyết trình tại Học viện, như đoàn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào, đoàn của Chủ tịch Thượng viện Liên bang Nga, đoàn của Tổng Bí thư Đảng Lao động Mêxicô, đoàn của Tổng thống Cộng hòa Ấn Độ...

Hoạt động hợp tác quốc tế phục vụ đắc lực, hiệu quả công tác đào tạo cán bộ

- Hoạt động hợp tác quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Học viện. Nhiều cán bộ của Học viện được ra nước ngoài học cao học, làm nghiên cứu sinh tại Ôxtrâylia, Thụy Điển, Philíppin, Thái Lan, Hoa Kỳ, v.v..

- Với sự hỗ trợ của các đối tác quốc tế, một số bộ môn khoa học mới đã được xây dựng, như: Chính trị học so sánh, Phương pháp xử lý tình huống chính trị, Triết học Đông - Tây, Địa chính trị, Xã hội học lãnh đạo quản lý, Dân số và phát triển, Quyền con người, Giới và phát triển,... góp phần đổi mới, đa dạng hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Gần đây, hai dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách dựa trên bằng chứng và phương pháp liên ngành” và “Xây dựng ngành lãnh đạo học vì sự phát triển bền vững của Việt Nam” được triển khai đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng các tài liệu, khung chương trình để hình thành Trung tâm Lãnh đạo học và nghiên cứu chính sách, nay là Viện Lãnh đạo học và chính sách công.

 - Thông qua hợp tác quốc tế, Học viện đã và đang thực hiện đổi mới mạnh mẽ chương trình và nội dung đào tạo theo hướng cơ bản và hiện đại. Khung chương trình cao cấp lý luận chính trị đã chuyển từ giảng dạy theo các môn sang giảng dạy theo các chuyên đề, mang tính chuyên sâu, vừa nâng cao chất lượng bài giảng, cập nhật được kiến thức mới, vừa tránh được trùng lặp với những nội dung đã được học ở hệ thống giáo dục, đào tạo quốc dân, rút ngắn thời gian đào tạo. Đặc biệt, Học viện đã xây dựng các chương trình và nội dung đào tạo, bồi dưỡng dành riêng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước Lào, góp phần quan trọng vào việc thắt chặt hơn nữa quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào.

- Hoạt động hợp tác quốc tế của Học viện phục vụ đắc lực công tác đào tạo khóa bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp. Học viện đã hợp tác với JICA (Nhật Bản) và KOICA (Hàn Quốc) xây dựng 2 dự án cùng tên: “Tăng cường năng lực của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp”, qua đó các chuyên gia, học giả Nhật Bản, Hàn Quốc đến giảng dạy, trao đổi, báo cáo chuyên đề cho các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp được tổ chức tại Học viện. Cũng trong khuôn khổ các dự án này, Học viện đã tổ chức 12 đoàn cán bộ đã học xong lớp bồi dưỡng dự nguồn, đi nghiên cứu, học tập ngắn hạn tại Nhật Bản và Hàn Quốc.

- Hoạt động hợp tác quốc tế góp phần nâng cao trình độ ngoại ngữcho cán bộ của Học viện bằng việc mở các lớp học tiếng Anh, Pháp, Trung do các giảng viên nước ngoài giảng dạy; cử người đi học nâng cao trình độ ngoại ngữ ở nước ngoài.

Góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của Học viện

Là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học, Học viện thường xuyên tổ chức các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tếvới sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài Học viện, trong nước và quốc tế. Các hội thảo khoa học đã tập trung vào những vấn đề thời sự như: “Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á, tác động và những bài học”(1998)  với sự tham gia của các nhà khoa học Mỹ, Thái Lan,
Xinhgapo, Philíppin; hội thảo “Nhìn lại thế kỷ XX, thử nhìn sang thế kỷ XXI” (2000) với các nhà khoa học của Viện Hàn lâm khoa học Nga; hội thảo “Lý luận và thực tiễn đổi mới, cải cách và mở cửa - Kinh nghiệm Việt Nam và kinh nghiệm Trung Quốc”(2002) với Liên hiệp các hội KHXH Quảng Đông (Trung Quốc); hội thảo“Nền kinh tế toàn cầu và nhà nước quốc gia”(2003) với Nhà xuất bản Giáo dục Mácxít (Mỹ) có sự tham gia của 24 nhà khoa học Mácxít từ các nước Mỹ, Canađa, Mêxicô, Anh, Bắc Ai len, Đức, Hy Lạp; hội thảo “Toàn cầu hóa kinh tế với việc đi sâu cải cách kinh tế và xây dựng đảng cầm quyền”với Hội Liên hiệp Khoa học xã hội Quảng Đông tại Quảng Châu (2003); hội thảo “Toàn cầu hoá, khu vực hóa và những vấn đề hợp tác giữa các nước - kinh nghiệm của Việt Nam và Liên bang Nga”với các nhà khoa học Viên Hàn lâm khoa học Nga tại Mátxcơva (2003),v.v.. Kết quả khoa học của hội thảo cũng như các kỷ yếu của hội thảo có giá trị tham khảo bổ ích cho cán bộ và học viên ở trong và ngoài Học viện.

- Học viện triển khai gần 20 dự án hợp tác nghiên cứu. Tiêu biểu là các dự án “Nghiên cứu các trào lưu xã hội dân chủ”, “Toàn cầu hóa và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, “Hỗ trợ tuyên truyền vận động về dân số và phát triển”, “Hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của Trung tâm Nghiên cứu quyền con người”,... Qua đó, năng lực giảng dạy, nghiên cứu được tăng cường. Các đơn vị trực thuộc Giám đốc như Viện Xã hội học, Triết học, Quan hệ quốc tế, viện Chủ nghĩa xã hội khoa học v.v.. cùng triển khai nhiều dự án hợp tác. Thực hiện các dự án này, nhiều cán bộ khoa học, giảng viên có điều kiện đi nghiên cứu ở nước ngoài hoặc xuống cơ sở để điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn, phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy và cung cấp luận cứ khoa học cho hoàn thiện chính sách.     

- Các cán bộ của Học viện tích cực giao lưu học thuật, trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, thông tin khoa học. Mỗi năm, có hàng nghìn lượt cán bộ tham dự các cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế. Nhiều cán bộ của Học viện đã tham gia cùng nghiên cứu với các chuyên gia quốc tế trong khuôn khổ các dự án, như Dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách dựa trên bằng chứng và phương pháp liên ngành” hợp tác giữa Học viện và Viện Nghiên cứu xã hội quốc tế Hà Lan (ISS). Qua đó, tiếp cận những phương pháp nghiên cứu hiện đại, chuyên nghiệp, tinh thần tận tụy, nghiêm túc trong việc tìm kiếm các dữ liệu, bằng chứng trong công tác nghiên cứu chính sách của các chuyên gia nước ngoài.

Công tác đào tạo cán bộ, hợp tác nghiên cứu khoa học với các đảng bạn, nước bạn được duy trì và đẩy mạnh

Hệ thống Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng hàng nghìn lượt cán bộ của Đảng và Nhà nước Lào, gồm cả cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học và chính trị. Mỗi năm, hệ thống Học viện tiếp nhận đào tạo trên 200 học viên Lào các hệ.Từ 1962 đến nay, đã có trên 4000 học viên Lào được đào tạo trong hệ thống trường Đảng, riêng từ 1982 đến nay là khoảng hơn 2000 học viên. Học viện đã đào tạo trên 50 tiến sĩ, gần 200 thạc sĩ, trong đó có nhiều Uỷ viên Trung ương Đảng NDCM Lào. Kết quả đào tạo cán bộ được bạn đánh giá cao.

- Từ thời kỳ Trường Chính trị đặc biệt (được hợp nhất với Học viện từ 1985) đến nay đã có hàng trăm cán bộ cách mạng Campuchia được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ở hệ thống Học viện, trong đó đã có những học viên trở thành cán bộ cấp cao của Đảng Nhân dân Campuchia.

- Năm 2010, Học viện đã tổ chức lớp bồi dưỡng ngắn hạn 3 tháng cho cán bộ lãnh đạo quản lý của Đảng FRELIMO (Cộng hòa Môdămbích), mở ra một đối tác mới trong hợp tác đào tạo cán bộ giúp các đảng bạn, và năm 2016, lớp bồi dưỡng thứ hai cho Đảng bạn đã được mở.

- Hoạt động hợp tác quốc tế phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, uy tín quốc tế của Học viện không ngừng được nâng lên, đồng thời góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Học viện đã trở thành nơi mà các cơ sở đào tạo, tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước tin tưởng, mong muốn được thiết lập quan hệ hợp tác, phối hợp hội thảo hay trình bày, thuyết giảng.

Các chương trình hợp tác khoa học với Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào được triển khai với nhiều hình thức khác nhau (Nghị định thư Chính phủ, đề tài cấp bộ đặc biệt). Kết quả hợp tác không chỉ góp phần nâng cao trình độ khoa học, mà còn nâng cao kỹ năng tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học cho cán bộ Việt Nam và Lào(1).

Bổ sung nguồn lực nhằm tăng cường cơ sở vật chất Học viện

Hoạt động hợp tác quốc tế đã góp phần tăng cường nguồn lực cho việc đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và nhiều mặt công tác khác của hệ thống Học viện.

Điển hình như dự án “Hỗ trợ xây dựng thư viện điện tử tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” do KOICA tài trợ (trị giá gần 1,5 triệu USD);...

Với những đóng góp hiệu quả vào hoạt động hợp tác quốc tế của học viện, nhiều năm liền, Vụ Hợp tác quốc tế được công nhận là Đơn vị Lao động xuất sắc, được Giám đốc Học viện tặng bằng khen; Chi bộ nhiều năm liền là Chi bộ Trong sạch vững mạnh;... Vụ cũng được đón nhận các danh hiệu, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước Việt Nam và nhà nước bạn: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2001, 2011), Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba cho tập thể và các cá nhân; Huân chương Itxala hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba của Nhà nước Lào cho tập thể và các cá nhân.

3. Phương hướng, nhiệm vụ của cơ quan hợp tác quốc tế của Học viện trong thời gian tới

Là cơ quan tham mưu giúp Ban Giám đốc Học viện quản lý thống nhất việc triển khai thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong toàn Học viện, trong thời gian tới, tập thể cán bộ, công chức Vụ Hợp tác quốc tế tập trung trí tuệ, sức lực, thực hiện những nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục duy trì, tăng cường thắt chặt các mối quan hệ với các đối tác hiện có, đồng thời phát triển các đối tác mới, là những cơ quan khoa học quản lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có uy tín khu vực và thế giới.

Hai là, phục vụ thiết thực công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, trước mắt góp phần tích cực vào việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy.   

Ba là, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Học viện ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, tham quan.

Bốn là, phục vụ công tác đào tạo cán bộ cho các đảng bạn. Tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất phục vụ học viên quốc tế.

Năm là, tham mưuđa dạng hóa các hình thức và phương thức hợp tác với các đối tác nước ngoài phù hợp xu thế hội nhập quốc tế.

Sáu là, quản lý tốt các dự án, tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế, các đoàn ra và đoàn vào, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và công tác an ninh tư tưởng. Kết quả nghiên cứu của các dự án, kỷ yếu hội thảo, báo cáo của các đoàn ra được phổ biến rộng rãi để đông đảo cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên tham khảo qua hệ thống thư viện của Học viện.

Bảy là, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác hợp tác quốc tế ở trung tâm Học viện và các Học viện khu vực và chuyên ngành.

Tám là, tham mưu bổ sung, nâng cấp các thiết bị cho hoạt động hợp tác quốc tế như phòng tiếp khách quốc tế, thiết bị phục vụ hội thảo quốc tế...

Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động khôn lường, thách thức và cơ hội đan xen, toàn cầu hóa diễn ra sâu sắc trên mọi mặt của đời sống xã hội, công tác hợp tác quốc tế của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý, nghiên cứu lý luận mà mà Đảng và Nhà nước giao phó.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2016

(1) Năm 2005 - 2008, hai Học viện đã hợp tác nghiên cứu đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và Lào” ; năm 2008, hợp tác thực hiện dự án trong 5 năm “Biên dịch các tác phẩm kinh điển Mác - Ănghen, Lênin và Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang tiếng Lào”; năm 2009 - 2010, hợp tác nghiên cứu đề tài “Xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và Lào”;năm 2011 - 2012, hợp tác nghiên cứu đề tài “Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và Lào”;hiện đang hợp tác triển khai đề tài nghiên cứu khoa học về đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và Dự án biên dịch bộ Hồ Chí Minh Toàn tập từ tiếng Việt sang tiếng Lào.

 

Nguồn: PGS, TS Hoàng Văn Nghĩa

Vụ Hợp tác quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú lý luận Mác-Lê nin

 


Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

HAIVAN

Cẩn trọng trước sự “xâm lăng” văn hóa

 Thời gian qua, một số phim nước ngoài có hình ảnh bản đồ xuất hiện “đường lưỡi bò” phi pháp đã được phát hiện kịp thời và ngay lập tức bị cấm chiếu tại thị trường Việt Nam. Câu chuyện đặt ra là về phía các cơ quan chức năng cũng như khán giả phải làm gì trước sự “xâm lăng” văn hóa để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ?

BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”./.

HAIVAN

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

HAIVAN

“CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”!

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

HAIVAN

Chung tay xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

 


Từ đường hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 và Huấn từ của Đức Giáo hoàng Benedict XVI: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”, người Công giáo đã chủ động tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động. Với nội dung thiết thực, nhất là lĩnh vực từ thiện xã hội và xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào thi đua yêu nước đã góp phần tích cực vào chăm lo đời sống an sinh, phát triển kinh tế, kiến thiết hạ tầng…

Linh mục Trần Xuân Mạnh, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam từng khẳng định, hướng thiện là giá trị đạo đức rất bền vững của các tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng. Trải qua các thời kỳ của đất nước, qua nhiều thay đổi của hoàn cảnh xã hội, giá trị ấy vẫn tiếp tục được nhân lên trên mỗi bước đi của dân tộc Việt Nam. Với số lượng tín đồ đông thứ hai so với các tôn giáo khác tại nước ta, hoạt động từ thiện của các tổ chức Công giáo xuất phát từ cái tâm thực sự đã thu hút được nguồn lực lớn để đóng góp cho xã hội qua các hoạt động an sinh.

Đặc biệt, trong thời điểm dịch COVID-19 ở nước ta diễn biến rất phức tạp, các tu sĩ, chức việc và giáo dân đã phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của đạo Công giáo, vượt qua hiểm nguy, cùng lực lượng y tế và các chiến sĩ tham gia nơi tuyến đầu phòng, chống dịch, đặc biệt là chăm sóc bệnh nhân COVID-19. Bên cạnh đó, đồng bào Công giáo đã chung tay ủng hộ hàng chục tỷ đồng để phòng, chống dịch. Những chuyến hàng cứu trợ từ các giáo xứ trên khắp miền đất nước đã đến với người dân vùng phong tỏa tại TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai...

Thời gian qua, giáo dân có nhiều cách làm hay để tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp, thân thiện môi trường, tiêu biểu như việc giáo dân thuộc giáo xứ Kiên Lao (Xuân Trường, Nam Định) đã chế tạo thành công lò đốt rác vận hành theo cơ chế tự sinh nhiệt (không cần dùng xăng dầu hay điện để đốt rác), đang được ứng dụng rộng rãi tại nhiều vùng quê.

Trong chuyến thăm, chúc mừng lễ Thiên Chúa Giáng sinh 2021 tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, theo dòng lịch sử, đồng bào Công giáo luôn đồng hành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sống tốt đời, đẹp đạo. Các giáo phận, giáo xứ, dòng tu Công giáo tổ chức nhiều hoạt động từ thiện, bác ái; đặc biệt là chung tay cùng các lực lượng trong phòng, chống dịch COVID-19, mang lại những tình cảm ấm áp, hình ảnh tốt đẹp trong lòng nhân dân.

HAIVAN

Một số giải pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình mới

 


Để đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng, trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GCCN Việt Nam trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. GCCN Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp ngân sách chủ yếu cho nhà nước, làm chủ khoa học- công nghệ. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất GCCN của Đảng ta. Đây là nền tảng quyết định bản chất cách mạng và khoa học, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, quyết định đến vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng ta. Giữ vững và tăng cường bản chất GCCN của Đảng là yếu tố nội sinh để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên “miễn dịch”, tự phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn, chiêu trò gian xảo của các thế lực thù địch xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của GCCN, bản chất GCCN của Đảng để làm lung lay niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phủ nhận bản chất GCCN thực chất là phủ nhận Đảng từ bản chất, theo đó cũng đồng nghĩa phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là mưu toan, kịch bản nham hiểm của các thế lực thù địch cần nhận diện và chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, có hiệu quả.

Thứ hai, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về GCCN, bản chất GCCN của Đảng.

Cần đi sâu nghiên cứu tổng kết bổ sung phát triển lý luận về GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay như xác định nội hàm, thành phần tham gia vào GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Do đó, số lượng công nhân tham gia vào các doanh nghiệp này ngày càng nhiều. Hơn nữa, quan điểm của Đảng ta xác định rõ trong hợp tác đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trước sự vận động của thực tiễn, định nghĩa về GCCN Việt Nam trong Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) đã có những điểm không còn phù hợp, do đó cần bổ sung nội hàm để phù hợp với giai đoạn mới. Đồng thời, bổ sung làm sâu sắc nội dung bản chất GCCN của Đảng ta như mối quan hệ giữa số lượng GCCN với nền tảng tư tưởng của Đảng; giữa thành phần xuất thân của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ trí thức với lập trường quan điểm, tư tưởng của GCCN. Có như vậy mới góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm trong việc phát huy bản chất GCCN của Đảng; mặt khác, có luận cứ xác đáng để các chủ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cũng như không tạo kẻ hở để các thế lực thù địch vin cớ lợi dụng xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng ta.

Khi tổng kết nghiên cứu về GCCN Việt Nam, cần tham khảo chỉ dẫn của Ăng-ghen dự báo vô sản hóa trí thức, một bộ phận trí thức sẽ bổ sung vào lực lượng GCCN. Trong thư “Gửi đại học quốc tế các sinh viên XHCN”, lần đầu tiên Ph.Ăng-ghen đã khẳng định khái niệm “giai cấp vô sản trí thức” là bộ phận hợp thành của GCCN hiện đại và chỉ rõ chính GCCN ấy là lực lượng duy nhất hoàn thành sự nghiệp giải phóng GCCN, xây dựng thành công CNXH trong tương lai. Do yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn cũng như xu hướng một bộ phận đội ngũ trí thức của nước ta được bổ sung cho GCCN trong những năm đến là xu thế tất yếu.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng.

Cơ chế phối hợp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam là các quy định, quy chế của Đảng, Nhà nước nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức lực lượng và những chế tài cụ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung, bản chất GCCN của Đảng nói riêng. Tập trung lãnh đạo hệ thống chính trị, các cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương là lực lượng nòng cốt, cơ quan chủ trì phối hợp. Căn cứ vào tính chất, nội dung, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phản động cũng như thế mạnh của từng cơ quan, ngành mà Ban Tuyên giáo Trung ương chủ động tham mưu phân công phối hợp để đấu tranh phản bác sát hợp với từng đối tượng. Chẳng hạn, lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam có chương trình “Đối diện” tham gia đấu tranh phản bác tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngoài những công trình khoa học, đã tổ chức thành công Cuộc thi viết chính luận khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới (lần thứ nhất). Mấu chốt của vấn đề là phải xác lập được cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tích cực tham gia, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tình hình mới.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu nội tại của Đảng ta hiện nay. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, vận mệnh của chế độ XHCN. Đại hội XIII nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng,…; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(5). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải coi trọng trên cả năm mặt nhưng trong đó tập trung chỉnh đốn về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bởi cán bộ, đảng viên là "tế bào" cấu thành tổ chức đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay khi các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước ta đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu nói đi đôi với làm, thanh liêm về nhân cách, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; xác định rõ trách nhiệm bổn phận của mình đối với sự phát triển của Đảng, của dân tộc.

Ngoài việc coi trọng tu dưỡng rèn luyện “tự soi” “tự sửa” của mỗi đảng viên, các tổ chức đảng cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Cần thấy rằng, ý nghĩa to lớn của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng luôn ở tầm cao của văn hóa, của “đạo đức, văn minh” thì Đảng càng cầm quyền có hiệu quả, càng trường tồn vai trò lãnh đạo đối với dân tộc. Mặt khác, là điều kiện để tăng “sức đề kháng” của Đảng trước những hiện tượng phản văn hóa, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch phản động.

Thứ năm, tập trung xây dựng GCCN Việt Nam có phẩm chất năng lực, trí tuệ, có khát vọng cống hiến.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là chủ thể của công cuộc đổi mới, tiên phong đi đầu trong xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn 92 năm từ khi Đảng ra đời cho đến nay, vai trò lịch sử của GCCN Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng và khẳng định là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang bản chất GCCN, chứ không thể mang bản chất của giai cấp nào khác. Do đó, đầu tư để xây dựng GCCN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đúng hướng, xứng tầm với vị thế của giai cấp tiên phong. Xuất từ vai trò to lớn của GCCN Việt Nam, Đại hội XIII xác định mục tiêu “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(6). Bởi vậy, đặt ra cho Đảng, Nhà nước phải tăng cường trí thức hóa GCCN; coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN nhận rõ vai trò, sứ mệnh to lớn của mình. Tập trung chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nhà ở, thu nhập và các vấn đề an sinh xã hội cho GCCN để họ ổn định cuộc sống “an cư lạc nghiệp” tái sản xuất sức lao động, chuyên tâm với vai trò, sứ mệnh lịch sử cao cả của mình.

HAIVAN

Phản bác luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

 

Tham nhũng xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham nhũng là căn bệnh phức tạp, hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở các quốc gia với các chế độ xã hội khác nhau. Vì lẽ đó, đấu tranh chống tham nhũng được nhiều nước quan tâm, thực hiện quyết liệt với các hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt. Song, đây cũng là quá trình khó khăn, lâu dài và gian nan, không thể nôn nóng. Từ thực trạng tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới; sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, khẳng định rõ Việt Nam đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển đất nước, vừa là cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.