Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2023

NHỮNG KHÁCH "ĐẶC BIỆT" CỦA BÁC HỒ

 

Vào một buổi sáng mùa thu tháng tám năm 1990, trong đoàn người kéo dài vô tận vào thăm nhà sàn, nơi Bác Hồ kính yêu đã từng sống và làm việc, có hai cha con người Pháp. Người phụ nữ ngoài 50 tuổi, gương mặt sáng, nụ cười tươi tắn, dáng người mảnh mai, đi bên người cha có gương mặt đôn hậu, chất phác. Đó là hai cha con ông Ôbrắc, một gia đình người Pháp có nhiều kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ. Người phụ nữ mảnh mai kia là Êlidabét, người con gái đỡ đầu của Bác Hồ. Đi cùng với dòng người ngắm nhìn vườn cây ao cá, dừng chân hồi lâu bên nhà sàn, ông Ôbrắc bảo với con gái của mình:
- Đây là toàn bộ gia tài của người cha đỡ đầu của con đó, con có hiểu không con?
Những giọt lệ lăn trên má chị. Chẳng lẽ Bác Hồ - người cha đỡ đầu của chị không có một cái gì khác ngoài căn nhà sàn đã đi vào huyền thoại về lối số trong sáng, giản dị, vườn cây, ao cá và thiên nhiên xanh ngắt quanh mình! Điều khó tin nhưng có thật. Mới đó mà đã 54 năm. Biết bao kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu không bao giờ phai mờ, nhạt nhòa trong ký ức của mỗi thành viên trong gì đình chị. Nhìn những em bé như bầy chim non vào Lăng viếng Người, chị càng hiểu sâu sắc câu nói không chỉ ở Và Nam, mà ở khắp mọi nơi trên trái đất, nơi Bác Hồ đã từng đến, ai ai cũng thuộc: "Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh".
Ngày ấy, khi chị mới ra đời trong một nhà hộ sinh ở một làng thuộc ngoại ô Pari. Lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang có mặt trên đất Pháp với tư cách là một thượng khách của Chính phủ Pháp. Báo chí xuất bản ở Thủ đô Pari hoa lệ đều trang trọng in trên đầu trang nhất bức chân dung của Bác Hồ với những hàng tít lớn trang trọng.
Hội nghị Phôngtennơblô đang họp, Bác Hồ là thượng khách, tâm trí Người luôn hướng tới việc giành lại nền hoà bình, độc lập cho dân tộc, vấn đề Nam Bộ "là máu thịt của Việt Nam". Ở trong toà lâu đài sang trọng, Bác Hồ cảm thấy không thoải mái vì không có vườn cây, thiếu hoa lá, thiên nhiên. Khi ông Ôbrắc đề nghị Bác đến ở tại ngôi nhà cổ kính của ông ở ngoại vi Pari, Bác Hồ đã nhận lời dọn đến ở 6 tuần lễ.
Nơi đây, cứ chiều chiều sau giờ hội đàm, gặp gỡ với các chính khách, Bác Hồ thường dắt cháu Giăng Pie, 7 tuổi, con trai đầu lòng của ông bà Ôbrắc chủ nhà, đi dạo chơi khắp làng, thăm hỏi đời sống của bà con lao động, nói chuyện với ông lão trồng hoa, vui đùa với các em bé vùng ngoại ô. Có buổi trưa, ông Ôbrắc còn thấy Bác Hồ đang cùng con trai ông, Giăng Pie, nghỉ trưa thanh thản trên bãi cỏ trong vườn.
Chính trong dịp này, vào ngày 15-8- 1946, gia đình ông Ôbrắc đón một tin vui mới: cô con gái út vừa chào đời. Được tin này, Bác Hồ ngồi trên xe có hộ tống đến tận nhà hộ sinh chúc mừng bà Ôbrắc và cháu bé mới sinh. Bác Hồ đặt tên cho cháu bé là Babét và nhận cháu làm con gái đỡ đầu của Người.
Từ ngày xa Pari, xa vùng ngoại vi Pari trở về nước, dù bận trăm công ngàn việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong công cuộc trường kỳ kháng chiến và những năm hoà bình ở miền Bắc cũng như cuộc đấu tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Bác Hồ vẫn luôn dành tình cảm của mình cho con gái đỡ đầu Babét. Tháng 6-1967, ông Ôbrắc được Hội đồng các nhà bác học thế giới họp ở Pari nhờ chuyển đến Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức thông điệp. Gặp lại ông Ôbrắc giữa những ngày Hà Nội đang chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, Bác Hồ rất vui và không quên hỏi thăm về người con gái đỡ đầu Babét của mình. Ông Ôbrắc chuyển cho Người món quà mà chị Babét nhờ gửi đến cha đỡ đầu: một chiếc hộp vuông bên trong đựng một quả trứng được làm từ thứ đá quý. Theo chị cho biết thì "quả trứng đó là biểu hiện của sự sống, tương lai và hoàn hảo. Cha đỡ đầu của chị là hiện thân của những điều đó". Khi chia tay, Bác Hồ gửi một tấm lụa nhờ ông Ôbrắc chuyển cho "cô con gái đỡ đầu của tôi để cháu may áo cưới".
Hàng năm chị Babét vẫn gửi thư đều cho Bác Hồ. Ngày Bác qua đời, cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, cả gia đình ông Ôbrắc vô cùng thương tiếc Người. Bao nhiêu kỷ niệm, những món quà Bác gửi cho chị Babét vẫn còn đó: bức ảnh nhỏ của Người, các con vật dễ thương bằng ngà, bằng sứ, tấm lụa Bác gửi để chị may áo cưới... vẫn còn đây. Và lần này, chị được sang thăm đất nước, thăm nơi ở, nơi làm việc của người cha "đỡ đầu về tinh thần" của mình...
Khi nghe chị thuyết minh nói rằng hai hàng ghế đá và bể cá vàng là nơi Bác Hồ thường dùng để tiếp các khách tí hon, "khách đặc biệt" của mình, chị Babét nước mắt tuôn trào. Chị lặng lẽ ngồi xuống tấm ghế đá mát lạnh, mắt nhìn những con cá vàng tung tăng bơi lội trong bể, thả lòng mình trong những hoài niệm không bao giờ quên về Người. Tình thương bao la của Bác vẫn dành cho tất mọi người, đặc biệt nhất vẫn là các em nhỏ "như búp trên cành". Chị Babét cũng là một trong những "cháu bé" ngày nào đã được sưởi ấm bằng "muôn vàn tình thương yêu của Bác"./.
ST

ĐÓ LÀ KHI BẢN THÂN BIẾT MÌNH CHỈ CÒN MỘT MÌNH TRÊN ĐỜI… !

 

Bức ảnh chụp lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa nói chuyện với cán bộ và người dân, vừa nhìn một lượt căn nhà dấu yêu, nơi bản thân đã rời xa trong tận 46 năm ròng rã.
Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên trở về thăm quê. Dù được hết thảy người dân trong tỉnh đón chào nồng nhiệt. Nhưng với Bác, vẫn có một tiếc nuối.
GIA ĐÌNH…
Kể từ ngày chị gái Nguyễn Thị Thanh qua đời vào tháng 3/1954, căn nhà trong 5 năm sau đó chỉ còn trông vào sự chăm nom của bà con làng xóm. 48 năm rời quê nhà đi khắp năm châu bốn bể, tìm đường giải phóng dân tộc, Bác đã không thể về chịu tang cha, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, anh trai Nguyễn Sinh Khiêm và chị gái Nguyễn Thị Thanh. Ngày anh trai mất, Bác từ chiến khu Việt Bắc còn phải viết thư xin nhận tội bất đệ vì đã không thể về chịu tang anh. Còn mộ phần của cha thì cho đến tận khi mất, Bác vẫn chưa thể đến viếng một lần.
Bản thân cả đời không lập gia đình. Chị gái thì bị người Pháp hãm hại hồi còn ở trong tù nên cũng không dám lập gia đình vì biết chắc chắn mình không thể sinh được con. Anh trai thậm chí còn gần như hoá điên khi sinh 3 người con nhưng cả ba đều yểu mệnh mất sớm. Sau vì cũng bị người Pháp tiêm thuốc độc nên cũng không thể sinh được con. Năm 1960, đến lượt chị dâu Nguyễn Thị Giáng qua đời. Đến lúc này, Bác chỉ còn một mình trên đời…
ST

 

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Từ thực trạng các chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ cán bộ giảng viên, với góc độ trực tiếp tác nghiệp trong lĩnh vực quản lý đào tạo, chúng tôi xin nhấn mạnh một số giải pháp sau đây:


1. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Đối với chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị

Giảng viên cần thường xuyên bổ sung, cập nhật vào bài giảng của mình các kết quả nghiên cứu mới của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài; các thông tin thời sự tiêu biểu về tình hình trong nước và quốc tế để bảo đảm tính hiện đại, tính thực tiễn của nội dung giảng dạy. Cứ 5 năm một lần tiến hành chỉnh sửa, bổ sung nội dung chương trình đào tạo.

Trong chương trình nên có học phần về kỹ năng thuyết trình. Thực tế trên thế giới cho thấy, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung và dài hạn luôn có nội dung này. Riêng ở Việt Nam, khả năng thuyết trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế nên việc đưa nội dung trên vào chương trình giảng dạy lại càng đặt ra cấp thiết.

Đổi mới hình thức nghiên cứu thực tế. Việc nghiên cứu thực tế nên thực hiện theo một trong hai hướng sau: (1) Học viện tổ chức nghiên cứu thực tế cho học viên. Nội dung chương trình nghiên cứu thực tế do cơ quan quản lý đào tạo và các đơn vị liên quan xây dựng, trình duyệt. Địa bàn nghiên cứu thực tế là những nơi có vấn đề, học viên thâm nhập và đề xuất phương án giải quyết. Sau khi nghiên cứu thực tế, học viên viết báo cáo kết quả và được chấm điểm một cách nghiêm túc. (2) Học viên tự tiến hành nghiên cứu thực tế để phục vụ cho đề án tốt nghiệp. Thời gian nghiên cứu thực tế được tính vào thời gian thực hiện đề án tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, trên cơ sở các chương trình hợp tác quốc tế, cần tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài (trước mắt là của hệ tập trung). Những học viên có kết quả học tập và rèn luyện xuất sắc (không quá 5% tổng số học viên toàn khóa) có thể được xem xét cử đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài (thay cho nghiên cứu thực tế trong nước).

Đối với chương trình bồi dưỡng chức danh

Các chương trình bồi dưỡng chức danh gồm 4 nội dung chính là: các chuyên đề lý luận chung; các chuyên đề báo cáo kinh nghiệm thực tế; các chuyên đề kỹ năng; thảo luận; hoạt động nghiên cứu thực tế và ngoại khóa.

Nên phân bố các chuyên đề như sau: Các chuyên đề lý luận chung: không quá 20%; Các chuyên đề báo cáo kinh nghiệm thực tế: không quá 20%; Các chuyên đề kỹ năng: ít nhất là 60%.

Thời gian dành cho thảo luận: chiếm ít nhất 1/3 thời gian dành cho các chuyên đề.

Thời gian nghiên cứu thực tế và sinh hoạt ngoại khóa: 10-15% tổng thời lượng của chương trình học.

Đối với lớp bồi dưỡng trung hạn (từ 3 tháng trở lên), nên tổ chức cho học viên nghiên cứu thực tế cả ở nước ngoài, với số lượng linh hoạt, tùy điều kiện cụ thể (chẳng hạn, có thể cả lớp hoặc một nhóm học viên tiêu biểu).

Đối với chương trình bồi dưỡng nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức

Nội dung chương trình chỉ nên gồm 5-7 chuyên đề. Thời gian thực hiện chỉ nên kéo dài một tuần làm việc (5 ngày), và được tổ chức thường xuyên.

Các chuyên đề nên được biên soạn mới trước khi tổ chức khóa học trên cơ sở nhu cầu của người học. Cơ sở đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan để xây dựng khung chương trình cũng như biên soạn các chuyên đề.

Đối với chương trình đại học và sau đại học

Các chương trình đại học (đại học chính trị văn bằng 2) và sau đại học của Học viện, một mặt cần đáp ứng các yêu cầu theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mặt khác phải mang những nét đặc thù: thể hiện rõ tính đảng và dành vị trí xứng đáng cho những nội dung về lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học lãnh đạo, quản lý.

Theo xu hướng chung, trong các năm học tới, việc đào tạo đại học và sau đại học của Học viện phải từng bước chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ.

2. Thay đổi căn bản phương pháp đào tạo theo hướng phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của người học

Phương pháp đào tạo áp dụng cho các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp có thể xem là mẫu mực, nên được nhân rộng trong toàn bộ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, điều này chỉ khả thi khi có đầu tư tương xứng về nhiều mặt, nhất là nhân lực và cơ sở vật chất.

Trong điều kiện hiện có, chúng tôi đề xuất:

- Giảm thời gian thuyết trình của giảng viên. Nên có quy định cụ thể về tỷ lệ thời gian thuyết trình/ tổng thời gian một buổi giảng (chẳng hạn, trong một buổi giảng bài, giảng viên chỉ thuyết trình tối đa 75% tổng thời gian; thời gian còn lại dành cho trao đổi, thảo luận).

- Chủ trì các buổi thảo luận (nhất là với các chương trình bồi dưỡng chức danh) nên là các chuyên gia thực tiễn, các nhà lãnh đạo các cấp trong các lĩnh vực liên quan.

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: soạn bài trên phần mềm trình chiếu (Power Point), trao đổi với học viện qua E-mail, qua phần mềm quản lý đào tạo.

- Có cơ chế giám sát việc nghiên cứu tài liệu ngoài giờ lên lớp của học viên. Chẳng hạn, đầu giờ học, kiểm tra các bản tóm tắt nội dung những tài liệu đã đọc của học viên. Đây là biện pháp hiệu quả giúp tăng cường tính tự giác của học viên trong nghiên cứu tài liệu.

- Thay đổi căn bản cách kiểm tra, đánh giá truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Sử dụng rộng rãi hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính. Vừa qua, Học viện đã tổ chức thi trắc nghiệm trên máy tính đối với 3 môn học của các lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung và thu được những kết quả rất tích cực. Đẩy mạnh việc kiểm tra bằng hình thức làm bài tập nhóm, viết tiểu luận, thu hoạch. Đối với những môn không sử dụng hình thức thi trắc nghiệm, chủ yếu dùng hình thức thi vấn đáp để rèn luyện kỹ năng giao tiếp và kỹ năng thuyết trình cho học viên.

3. Đổi mới, nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong hoạt động quản lý đào tạo

Hoạt động quản lý đào tạo cần được thực hiện theo hướng: phát huy vai trò tự quản của học viên; nâng cao tinh thần trách nhiệm của giảng viên; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đào tạo; hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

Xây dựng Ban Chi ủy (nếu lớp đủ điều kiện). Ban Chi ủy, Ban Cán sự lớp phải thực sự là cầu nối quan trọng, đáng tin cậy giữa cơ sở đào tạo và lớp học, là nhân tố hiệu quả bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của lớp học; đồng thời góp phần tích cực phát huy tính tự giác, niềm say mê và sáng tạo trong học tập của từng học viên.

Ban hành các quy định cụ thể về trách nhiệm của giảng viên trong quản lý lớp học; có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với việc thực hiện các quy định này.

Sử dụng rộng rãi các trang thiết bị công nghệ hiện đại; xây dựng và khai thác các phần mềm quản lý đào tạo.

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đào tạo bảo đảm cả về số lượng và chất lượng. Người làm công tác quản lý đào tạo phải nắm chắc chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, giao tiếp tốt, có khả năng tham mưu và tác nghiệp hiệu quả.

Chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng mới và ban hành các quy chế, quy định liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý một cách khoa học, kịp thời. Đây là hoạt động quan trọng, cần đặc biệt chú ý vì quy chế, quy định là công cụ, phương tiện quản lý, là căn cứ pháp lý cho toàn bộ các hoạt động liên quan.

Học viện cần sớm ban hành Quy chế khảo thí, Quy chế đánh giá chất lượng đào tạo; sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo trình độ thạc sỹ và Quy chế đào tạo trình độ tiến sỹ trên cơ sở các Quy chế tương ứng của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới được ban hành.

Bên cạnh đó, cần gấp rút xây dựng và triển khai đề án về kiểm định chất lượng đào tạo; xây dựng và đưa vào sử dụng Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo.

4. Phát triển toàn diện đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thành công của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Đối với bậc đại học ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn chung của giảng viên là có học vị từ thạc sỹ trở lên và có kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của cơ sở đào tạo. Ở mức cao hơn, một số trường yêu cầu giảng viên phải có trình độ tin học và ngoại ngữ, hướng tới đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục và hội nhập quốc tế.

Giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý còn phải thể hiện được những đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, có bản lĩnh chính trị vững vàng để bảo đảm nội dung bài giảng không đi chệch hướng và người giảng có đủ tâm thế tạo dựng lòng tin. Trong môi trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, những phát ngôn thiếu cẩn trọng, thể hiện sự thiếu vững chắc về quan điểm, nhận thức chính trị, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Thứ hai, các giảng viên phải đồng thời là nhà khoa học, thường xuyên có sản phẩm khoa học được công bố. Điều đó giúp cho họ một mặt có điều kiện làm sâu sắc hơn nội dung bài giảng của mình; mặt khác, có đủ bản lĩnh khoa học để trao đổi, thảo luận với học viên.

Thứ ba, họ phải thường xuyên được tích lũy các trải nghiệm thực tiễn để bài giảng mang hơi thở của cuộc sống. Nghĩa là họ định kỳ tới các địa bàn thực tế phù hợp hoặc phải là cộng tác viên thường xuyên của các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực trực tiếp liên quan tới chuyên môn giảng dạy. Những bài giảng quá nhiều về lý thuyết, thiếu cái “tôi” trải nghiệm của người trong cuộc sẽ không có sức thuyết phục đối với học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu, các cơ sở đào tạo cần tích cực mời các nhà hoạt động thực tiễn (các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp), có đủ điều kiện về sư phạm tham gia giảng dạy. Thậm chí, nên quy định cụ thể tỷ lệ nội dung chương trình mà các nhà hoạt động thực tiễn sẽ đảm nhiệm (chẳng hạn, đối với chương trình cao cấp lý luận chính trị là không dưới 25%). Điều này giúp cho học viên có điều kiện được chia sẻ nhiều kinh nghiệm và kỹ năng bổ ích, thiết thực.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, cần mời cả các chuyên gia nước ngoài, nhất là từ các nước phát triển mà có điều kiện tương đồng về nhiều mặt với Việt Nam tham gia chương trình đào tạo. Đây là cơ hội tốt để giảng viên và học viên giao lưu, học hỏi, nâng tầm kiến thức của mình theo hướng đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

5. Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, đáp ứng mục tiêu của chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Chất lượng, hiệu quả của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc nhiều vào các điều kiện về cơ sở vật chất. Yêu cầu chung về cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo như sau: (1) Hệ thống giảng đường, phòng máy tính, phòng thực hành, phòng thí nghiệm đầy đủ, với các trang thiết bị hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn của môi trường sư phạm; (2) Thư viện (gồm thư viện truyền thống và thư viện điện tử) có đủ sách, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu của giảng viên và học viên, là môi trường thích hợp để học viên tự học hiệu quả; (3) Giảng viên và học viên được cung cấp đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy - học tập trên lớp; (4) Ký túc xá đáp ứng yêu cầu.

Căn cứ vào những yêu cầu trên, có thể nhận thấy các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của Học viện còn hạn chế, bất cập. Do vậy, cần đầu tư hệ thống giảng đường tiện nghi, hiện đại tương ứng với quy mô đào tạo, bồi dưỡng; sớm đưa vào sử dụng thư viện điện tử; tăng thêm số lượng chỗ ở cho học viên theo hướng đáp ứng đúng, đủ nhu cầu của các đối tượng liên quan xét theo mục tiêu đào tạo.

Riêng về tài liệu học tập, cần lưu ý: Trình bày nội dung các tài liệu bằng ngôn ngữ đa phương tiện. Tránh tình trạng trình bày chỉ bằng những khối chữ dày đặc gây khó khăn cho việc tiếp nhận thông tin như hiện nay. Khai thác tối đa các sản phẩm là kết quả học tập, nghiên cứu của học viên: luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ; các báo cáo nghiên cứu thực tế; đề án tốt nghiệp, v.v.. phục vụ cho việc dạy và học.

6. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý

Nghiên cứu khoa học trước hết là một nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Song mặt khác, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học còn xuất phát từ nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Thực tế cho thấy, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý không tách rời các thành tựu về nghiên cứu khoa học.

Trong 5 năm vừa qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện có những đột phá mạnh mẽ. Trong thành công ấy, có đóng góp quan trọng của việc triển khai thực hiện Đề án 1677 - một đề án nghiên cứu khoa học quy mô lớn do Chính phủ giao nhiệm vụ, theo đó, Học viện đã xây dựng 63 chương trình đào tạo, bồi dưỡng, biên soạn hàng trăm giáo trình.

7. Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị trong Học viện; giữa Học viện và các ban, bộ, ngành và các địa phương

Để công tác tổ chức các lớp học vận hành một cách hiệu quả, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa cơ quan quản lý đào tạo và các đơn vị giảng dạy, các đơn vị chức năng trong Học viện.

Các ban, bộ, ngành và các địa phương, các cơ quan chủ quản học viên cần cử cán bộ tham gia xét tuyển, thi tuyển; tham gia các lớp học theo đúng tiêu chuẩn, đối tượng quy định; theo đúng kế hoạch của cơ sở đào tạo. Mặt khác, các cơ quan này cũng cần có cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ đi học; tránh tình trạng cử cán bộ đi công tác trong thời gian diễn ra khóa học.

Các ban, bộ, ngành Trung ương có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức các lớp học như Ban Tổ chức, Văn phòng Trung ương, Ban Tuyên giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính… cần tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho Học viện về cơ chế, chính sách (nhất là với những loại hình đào tạo, bồi dưỡng mới). Ban Tổ chức Trung ương và Học viện cần thống nhất cao hơn nữa trong chỉ đạo cũng như trong tổ chức thực hiện quy trình tuyển sinh.

Khi các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay đều đề cao phần kiến thực thực tiễn, rất cần có sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan, đơn vị tham gia xây dựng nội dung chương trình, cung ứng nguồn giảng viên và trong việc tiếp nhận học viên đến nghiên cứu, khảo sát thực tế.

Để có sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là xây dựng và duy trì cơ chế thông tin hai chiều và đa chiều thường xuyên, linh hoạt, kịp thời.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2016

Nguồn: PGS, TS Hoàng Anh

Vụ Quản lý đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TẤM LÒNG CỦA BÁC VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 

Ngày 10 tháng 3 năm 1946, báo Cứu quốc đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam Bộ. Trong thư có đoạn Người viết: “Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.
Tiếp sau đó, trong thư gửi đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì tổ quốc mà hy sinh tính mệnh”.
Hơn nửa tháng sau khi đi Pháp về, ngày 7 tháng 11 năm 1946, Người đã đến dự lễ “Mùa đông binh sĩ” do Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thu hút nhiều thanh niên nam nữ tham gia quân đội. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn, mặc dầu anh chị em tình nguyện chịu đựng không kêu ca, phàn nàn.
Trước tình hình ấy, tháng 6 năm 1947, Chủ tich Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày Thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Có lẽ trừ những ngày kỉ niệm quốc tế - “Ngày thương binh” là ngày kỉ niệm trong nước đầu tiên được tổ chức.
Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm có một số đại biểu ở Trung ương, khu và tỉnh. Hội nghị nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 là Ngày Thương binh Liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947.
Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27 tháng 7 năm 1947 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”. Đầu thư người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay đã thành ra thương binh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt.
Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đồng) để tặng thương binh.
Năm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1948, trong một thư dài đầy tình thương yêu, Bác nói: “Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ con, dân ta.
Trước cơn nguy hiểm ấy , số đông thanh niên yêu quí của nước ta dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.
Người xót xa viết: “Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống…Ngày nay, bố mẹ họ đã mất một người con yêu quí. Vợ trẻ trở nên bà góa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ…Nhưng tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”./.
ST

 

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) cán bộ lãnh đạo, quản lý ở hệ thống Học viện đã có những thành công đáng kể, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tăng cường số lượng và chất lượng cho công tác cán bộ của hệ thống chính trị. Các khía cạnh của hoạt động ĐTBD đều đã có những cải thiện lớn. Chất lượng nội dung chương trình đã được nâng cao, đội ngũ giảng viên (ĐNGV) đã được gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Các phương pháp giảng dạy tích cực đã được phần lớn giảng viên áp dụng tương đối thành công. Công tác xây dựng kế hoạch, cơ chế, chính sách ĐTBD cũng ngày một được củng cố và nâng cao chất lượng. Do có sự đầu tư ngày càng hợp lý, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin tư liệu, đội ngũ quản lý, phục vụ... đã được cải thiện rõ nét.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn có những hạn chế nhất định. Tham khảo ý kiến phản hồi của học viên về hoạt động ĐTBD cũng cho thấy rằng còn không ít ý kiến đề nghị điều chỉnh, bổ sung các nội dung của chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và những nội dung liên quan khác.

1. Một số bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng

Thứ nhất, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch ĐTBD chưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn

Mặc dù thời gian qua, Học viện đã có những thay đổi, chủ động hơn trong kế hoạch ĐTBD,song công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch vẫncònnhững bất cập. Nhìn chung, tính chất “tầm nhìn chiến lược” chưa thể hiện rõ, dẫn đến tình trạng chưa cân xứng giữa số lượng và chất lượng đào tạo (số lượng tăngnhưng chất lượng không tăng tương ứng). Việc xây dựng kế hoạch ĐTBD chưa phản ánh sát nhu cầu thực tế của các địa phương, đơn vị sử dụng cán bộ. Vì thế, việc phân bổ chỉ tiêu ĐTBD của Ban Tổ chức Trung ương cho hoạt động bồi dưỡng trình độ cao cấp lý luận chính trị - hành chính thời gian qua mặc dù đã có điều chỉnh nhưng vẫn chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của các địa phương, cũng như khả năng đáp ứng của các đơn vị thuộc hệ thống Học viện. Do vậy, còn có hiện tượng phải điều chỉnh kế hoạch đối với một số lớp. Bên cạnh đó, việc phân cấp ĐTBD và quy định về giá trị sử dụng của các bằng cấp, chứng chỉ... cũng tạo nên những áp lực nhất định đối với cả học viên và cơ sở đào tạo. Gần đây, việc đào tạo cán bộ nguồn cao cấp củaĐảng và Nhà nước đã được triển khai, nhưng chủ yếu mới chỉ mang tính chất đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn trước mắt, chưa thể hiện được định hướng ĐTBD cán bộ trong thời gian dài, mang tính chiến lược.

Theo báo cáo “Đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2012”, có tới gần 1/3số người được hỏi cho rằng mức độ đáp ứng về số lượng như vậy là “quá ít” so với nhu cầu của công tác cán bộ trên cả nước (30,4%) và ở địa phương (32,7%). Ý kiến của nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phụ trách công tác nhân sự của các địa phương (Ban Tổ chức tỉnh ủy) cũng cho thấy còn có khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu ĐTBD cán bộ của các địa phương với thực tế đáp ứng của hệ thống Học viện trong thời gian qua.

Thứ hai, nội dung chương trình ĐTBD mặc dù đã đổi mới, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu, chưa khắc phục được tình trạng chồng chéo, trùng lặp giữa các loại hình ĐTBD

Theo kết quả khảo sát chothấy rằng vẫn còn có những kỳ vọng lớn hơn nữa từ cả đối tượng người học và người dạy đối với nội dung chương trình ĐTBD của hệ thống Học viện, trên cơ sở phân tích tình hình thực tế. Mặc dù đã có những đổi mới đáng kể trong thời gian qua, nhưng nội dung các chương trình ĐTBD vẫn chưa thường xuyên được cập nhật cho phù hợp với các nhóm đối tượng đào tạo, đặc biệt là các chương trình được thiết kế cho mục đích đào tạo theo chức danh. Đối với chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị, Học viện đã nhiều lần biên soạn, chỉnh sửa ngày càng hoàn thiện hơn. Về lôgic thiết kế, gần đây Học viện áp dụng chương trình có sự tích hợp cả hình thức môn học và hình thức học theo chuyên đề. Chương trình đào tạo mới này đã thể hiện những ưu điểm lớn so với các chương trình áp dụng trước đây. Tuy nhiên, qua thực tế sử dụng, chương trình mới này cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, cần được tiếp tục điều chỉnh. Đối với chương trình bồi dưỡng chức danh, thời gian gần đây, Học viện đã lần đầu tiên tổ chức biên soạn được bộ tài liệu dùng làm giáo trình giảng dạy cho các chức danh cụ thể, như: Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho Bí thư, Phó Bí thư cấp huyện và tương đương; Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho Tổng Giám đốc, Giám đốc và tương đương... Đây là nỗ lực rất đáng ghi nhận, nhưng trong thực tế, việc sử dụng các bộ tài liệu giảng dạy này mới đang trong quá trình thử nghiệm, cần tiếp tục được rút kinh nghiệm để chỉnh sửa cho phù hợp hơn với tình hình thực tế. Hơn nữa, việc biên soạn các bộ tài liệu này chủ yếu do đội ngũ giảng viên làm công tác lý luận đảm nhiệm, nên yêu cầu về tính thực tiễn và trang bị kỹ năng làm việc cụ thể cho các chức danh vẫn chưa hoàn toàn được đáp ứng.

Nhìn chung, tính hệ thống, liên thông giữa các chương trình ĐTBD vẫn chưa thực sự bảo đảm, khiến nội dung của các chương trình còn trùng lặp, gây lãng phí thời gian, công sức đào tạo, trong khi học viên vẫn chưa được trang bị đầy đủ khối lượng kiến thức và kỹ năng làm việc cần thiết cho vị trí công việc đang và sẽ đảm nhiệm của họ. Nhiều ý kiến đánh giá của học viên cho thấy vẫn có những khoảng trống đáng kể về tính cập nhật, tính thực tiễn, tính liên thông, kế thừa... của hệ thống tài liệu, giáo trình và nội dung chương trình học tậpnhư:

- “Nội dung các môn học, nhất là các môn phần lý luận chung trùng lặp nhiều với chương trình cử nhân chuyên ngành”;

- “Chương trình học chưa hợp lý: ví dụ một đồng chí đã đại học luật rồi đáng ra nên miễn học và thi những môn này những vẫn phải học và thi”;

- “Nặng quá về lý luận chung. Phần chuyên sâu nội dung còn đơn giản, thời gian quá ít, nhất là phần về các lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành, kỹ năng lãnh đạo quản lý”;

- “Nhiều môn thiếu hướng dẫn cụ thể để vận dụng trong ứng xử. Cần thêm kỹ năng xử lý tình huống phù hợp chức danh công việc”.

Báo cáo của các địa phương phản ánh những bất cập này ở cấp độ chung hơn, cho thấy rõ hơn về những vấn đề cần được xử lý một cách hệ thống:

- “Cần quy định rõ sự tiếp nối liên thông từ chương trình sơ cấp lý luận chính trị lên trung cấp, cao cấp, cử nhân chính trị, tránh cho học viên phải học trùng lắp các chương trình” (Báo cáo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

- “Nghiên cứu giảm bớt số môn học trùng lặp với các cơ sở đào tạo, các cấp học mà học viên đã tham gia học trước đây, tập trung đào tạo chuyên sâu đối với một số môn như phân tích xử lý tình huống, tâm lý lãnh đạo, công tác xây dựng Đảng” (Báo cáo của tỉnh Tây Ninh).

Vì còn có một số vấn đề như vậy mà bên cạnh tỷ lệ lớn các học viên thể hiện sự hài lòng, cũng còn một tỷ lệ nhất định bày tỏ sự chưa hoàn toàn hài lòng khi được hỏi về các khóa ĐTBD của Học viện. Như thể hiện trong Biểu đồ dưới đây, cao nhất là tỷ lệ chưa hài lòng đối với hệ đào tạo cao cấp tại chức (14,9%) và thấp nhất là tỷ lệ chưa hài lòng đối với hệ bồi dưỡng ngắn hạn (4,0%).

Thứ ba, ĐNGV đã có những trưởng thành đáng kể, nhưng chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là ĐNGVtrẻ và giảng viên ở các Học viện khu vực

Trong hoạt động ĐTBD, ĐNGV không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt tri thức mà quan trọng hơn là phải tổ chức trao đổi thông tin một cách hiệu quả. Đồng thời, đội ngũ học viên cũng được mong đợi không chỉ tiếp thu thông tin, tri thức do giảng viên truyền đạt, mà còn phải chủ động trao đổi kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm công tác, bàn bạc, thảo luận về các giải pháp cho những vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Do vậy, yêu cầu về đạo đức, trình độ, kinh nghiệm công tác, xử lý tình huống và phương pháp giảng dạy phù hợp của giảng viên là vô cùng quan trọng. Trong những năm qua, ĐNGVở Học viện, đặc biệt là Học viện Trung tâm đã có những thay đổi theo hướng ngày càng trẻ hóa, tỷ lệ được đào tạo bài bản ngày càng nhiều, chất lượng các bài giảng đã được cải thiện. Kết quả khảo sát cho thấy có rất nhiều ý kiến học viên đánh giá tích cực về ĐNGV, nhất là các giảng viên của Học viện Trung tâm. Đặc biệt, hoạt động giảng dạy ở một số chuyên ngành “đặc thù” của Học viện như Xây dựng Đảng, Triết học... được đánh giá khá cao, với sự ngưỡng mộ của không ít học viên.

Tuy nhiên, trong thực tế cũng còn có không ít giảng viên chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn, chưa kịp thời cập nhật tri thức chuyên môn và bồi dưỡng kiến thức về lý luận Mác - Lênin, chưa có nhiều kỹ năng xử lý tình huống nên việc giảng dạy còn mang nặng tính chất “rao giảng”, chưa thật sự thuyết phục người học. Ở nhiều đơn vị, việc đào tạo đội ngũ giảng viên kế cận chưa được ưu tiên, chưa có chiến lược lâu dài.

Thứ tư, phương pháp giảng dạy chưa được đổi mới toàn diện, chưa bắt kịp với sự cải tiến về nội dung,dẫn đến chất lượng giảng dạy chưa cao

Trong thời gian gần đây, Học viện đã có rất nhiều nỗ lực trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, đặc biệt là áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực trong hầu hết các hệ đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng bài giảng, tăng hiệu quả trong truyền tải những kiến thức lý luận vốn được xem là khô cứng. Đồng thời, để khuyến khích việc áp dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại, Học viện đã mở nhiều lớp tập huấn trong và ngoài nước dành cho các giảng viên. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại vẫn chủ yếu là việc làm tự nguyện của các giảng viên và hiệu quả của nhiều bài giảng cũng chưa thật sự đạt yêu cầu, còn có xu hướng chỉ đơn thuần thay việc viết bảng trước đây bằng việc trình chiếu. Không ít giảng viên vẫn nặng về thuyết trình mà thiếu sự trao đổi, giao lưu, thảo luận với học viên.

Về các chỉ báo định lượng, khi yêu cầu học viên đánh giá về năng lực chuyên môn của giảng viên, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và tài liệu học tập, trên cơ sở so sánh với quy chuẩn quốc tế (theo thang điểm 10), kết quả khảo sát cho thấy điểm số trung bình trong đánh giá về nội dung giảng dạy đạt cao nhất (5,67 điểm), và thấp nhất là điểm số đánh giá về tài liệu học tập (4,75 điểm).

Thứ năm, hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo chưa tương xứng với quy mô và tầm vóc của Học viện, chưa tận dụng được những kiến thức, kỹ năng và cơ sở vật chất trong hoạt động hợp tác quốc tế, chưa có chiến lược và kế hoạch hợp tác quốc tế mang tính dài hạn

Trong thời gian qua, Học viện đã dần mở rộng quy mô hợp tác quốc tế, tổ chức được nhiều hội thảo quốc tế, tọa đàm, mời chuyên gia nước ngoài đến tập huấn, nói chuyện với giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện. Hoạt động mở rộng quan hệ với các cơ sở đào tạo nước ngoài đã được chú ý tăng cường, với việc tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài để trao đổi kiến thức, kinh nghiệm trong đào tạo, nghiên cứu. Tuy nhiên, các hoạt động hợp tác quốc tế vẫn chưa thực sự gắn kết với kế hoạch và chiến lược ĐTBD của Học viện. Nhiều đoàn cán bộ nghiên cứu, khảo sát nước ngoài vẫn chỉ dừng lại ở mức độ tham quan, tìm hiểu kinh nghiệm chứ chưa gắn kết mạnh mẽ và trực tiếp với việc nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, giảng dạy.

Thứ sáu, công tác tổ chức quản lý đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo vẫn còn một số bất cập

Công tác quản lý đào tạo của hệ thống Học viện đã có những cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, bất cập nhất định. Một trong những khó khănlà việc điều chỉnh quy mô ĐTBD theo chủ trương tăng quy mô đào tạo tập trung, giảm quy mô đào tạo tại chức. Trong điều kiện cơ sở vật chất còn hạn hẹp, việc tăng quy mô đào tạo tập trung nhiều khi khiến cho các đơn vị chức năng lúng túng trong bố trí cân đối các nguồn lực, cơ sở vật chất cũng như công tác quản lý đào tạo. Hơn nữa, việc phụ thuộc quá chặt vào việc phân bổ chỉ tiêu ĐTBD của Ban Tổ chức Trung ương và sự kết hợp chưa chặt chẽ với các đơn vị, cơ quan đầu mối tuyển sinh cũng dẫn đến việc thiếu chủ động trong thực hiện kế hoạch chiêu sinh, gây ra tình trạng dồn ứ các lớp, bất cập trong phân công lực lượng giảng dạy tại một số thời điểm nhất định. Đối với một số lớp tổ chức theo hình thức đào tạo tại chức ở các địa phương, việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa tính hết những tình huống bất thường nên đôi khi gặp khó khăn, bối rối khi giải quyết, hoặc giải quyết không kịp thời các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

2. Một số đề xuất về giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng

Một là, chú ý xây dựng, điều chỉnh chiến lược và kế hoạch ĐTBD sát hợp hơn với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn

Kế hoạch và chiến lược có vai trò vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp đến hoạt động ĐTBD cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị. Do vậy, để bảo đảm sự chủ động tốt hơn,trong thời gian tới, hoạt động này cần có những điều chỉnh thích hợp. Chủ trương điều chỉnh quy mô đào tạo cần được tuân thủ, nhưng cũng cần chú ýtính khả thi trong điều kiện thực tế. Với những khó khăn, hạn chế về cơ sở vật chất và những bất cập về đội ngũ giảng viên như hiện nay, việc tăng cường quy mô đào tạo tập trung cần có lộ trình nhất định, đồng thời với việc thu hẹp quy mô đào tạo tại chức, nhất là các lớp tại chức mở tại các địa phương, nhằm chia sẻ khó khăn, cũng như tận dụng được một cách hiệu quả các nguồn lực hiện có của toàn bộ hệ thống. Bên cạnh đó, cũng cần chú ý phân bổ chỉ tiêu đào tạo hợp lý hơn giữa Học viện Trung tâm và các học viện trực thuộc, căn cứ vào các nguồn lực vật chất và đội ngũ giảng viên của hệ thống trong từng giai đoạn cụ thể. Trong công tác xây dựng kế hoạch và chiến lược ĐTBD, cũng cần chú ý hơn đến nhu cầu thực tế của các cơ quan, địa phương cử cán bộ đi học, để có kế hoạch phân bổ chỉ tiêu phù hợp, nhằm tránh tình trạng có những cơ quan, địa phương được phân bổ quá nhiều chỉ tiêu, trong khi cơ quan, địa phương khác lại được phân bổ quá ít chỉ tiêu cử cán bộ đi học. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cũng cần bảo đảm tính tổng thể, có sự phân bổ hợp lý giữa loại hình đào tạo dài hạn và bồi dưỡng ngắn hạn, nhằm kịp thời giúp đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức để có thể giải quyết nhanh và hiệu quả đối với những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Hai làđổi mới, cập nhật nội dung chương trình ĐTBD,bảo đảm tính khoa học, liên thông và kế thừa giữa các chương trình.

Đổi mới tổng thể hệ thống giáo trình của tất cả các hệ đào tạo, bồi dưỡng trong hệ thống Học viện là một nội dung quan trọng, đã nhận được sự chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo. Thời gian qua, Học viện đã đầu tư nhiều cho hoạt động này, nhưng vẫn còn khá nhiều ý kiến chưa hài lòng, từ cả người học lẫn người dạy, đối với nội dung chương trình, giáo trình ĐTBD. Vì vậy, trong thời gian tới, việc đổi mới nội dung chương trình ĐTBD vẫn rất cần tiếp tục được quan tâm điều chỉnh. Nhìn chung, các nội dung ĐTBD cần được chỉnh sửa theo hướng tăng cường trang bị kỹ năng làm việc cho đội ngũ, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Việc thiết kế nội dung chương trình ĐTBD cũng cần chú ý thỏa đáng đến việc tạo cơ hội chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong đội ngũ học viên. Về tổng thể, cần chú ý tăng cường tính liên thông, kế thừa giữa các chương trình ĐTBD, tránh tình trạng trùng lặp về nội dung kiến thức giữa các chương trình, nhất là giữa chương trình trung cấp và chương trình cao cấp lý luận chính trị.

Ba là, không ngừng nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của công tác giảng dạy

Giảng viên của hệ thống Học viện phải là những người vừa giỏi về chuyên môn, vừa vững vàng về quan điểm, lập trường; có niềm tin khoa học vào lý luận cách mạng; đủ sức lý giải các vấn đề khi người học đặt ra; đủ sức phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị. Để đáp ứng tốt những yêu cầu đó, đội ngũ giảng viên của hệ thống Học viện cần không ngừng được rèn luyện, trau dồi mọi mặt. Đội ngũ này cần được củng cố ngay từ khâu tuyển dụng, với việc ưu tiên tuyển chọn những người vừa có năng lực chuyên môn, vừa có năng lực sư phạm tốt, cùng với nền tảng tư tưởng chính trị, đạo đức vững vàng. Công tác bồi dưỡng giảng viên cũng cần được chú trọng, thông qua việc khuyến khích đội ngũ này thực hiện các biện pháp tự đào tạo, đồng thời cử họ đi ĐTBD nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ trong và ngoài nước; bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, phương pháp giảng dạy hiện đại, tạo điều kiện để các giảng viên phát huy tối đa năng lực cống hiến của mình. Bên cạnh đó, việc ĐTBD giảng viên cũng cần được quan tâm thỏa đáng, theo hướng gắn kết giảng dạy với nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên trẻ, đặc biệt là những người đã được đào tạo ở các nền giáo dục tiên tiến, từng bước tiếp cận và thực hiện tốt vai trò của mình. Trong bố trí và sử dụng giảng viên, cần chú ý coi trọng năng lực chuyên môn nghiệp vụ của mỗi giảng viên để có kế hoạch sử dụng đúng người, đúng việc, tránh tình trạng vị bằng cấp như hiện nay.

Bốn là, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy, thúc đẩy việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, phù hợp sự cải tiến về nội dung chương trình, nâng cao chất lượng giảng dạy.

Để tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy, trong thời gian tới, ĐNGVcủa toàn hệ thống Học viện cần tích cực và chủ động hơn trong hoạt động truyền tải tri thức đến học viên. Bên cạnh việc tăng cường áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, cần đổi mới căn bản về cách thức ra đề thi và chấm thi nhằm phát huy cao nhất tư duy độc lập, sáng tạo của học viên, khắc phục tình trạng học thuộc và làm bài thi theo kiểu nặng về sao chép tài liệu. Phương pháp đánh giá kết quả học tập cần được chú trọng đổi mới theo hướng từ đánh giá việc tái hiện kiến thức sang đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tế.

Năm là, đổi mới hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo xứng tầm với quy mô và tầm vóc của Học viện, xây dựng chiến lược và kế hoạch hợp tác quốc tế mang tính dài hạn, gắn với chiến lược và kế hoạch ĐTBD cán bộ

Hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng giúp nâng cao chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Để tăng cường hơn nữa hiệu quả, cần nhanh chóng có những sự điều chỉnh cần thiết về chiến lược và kế hoạch hợp tác quốc tế theo hướng gắn kết chặt chẽ với chiến lược và kế hoạch đào tạo, nghiên cứu khoa học của toàn hệ thống, có tính toán đến sự phối hợp giữa nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Việc cử cán bộ tham gia các đoàn nghiên cứu, trao đổi ở nước ngoài cần chủ yếu dựa trên tiêu chí đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, hạn chế việc cử cán bộ theo kiểu chế độ chính sách, nhằm nâng cao hiệu quả thực sự của các đoàn công tác nước ngoài. Bên cạnh đó, cần chú ý khai thác năng lực hợp tác quốc tế của các cán bộ đã được đào tạo dài hạn ở nước ngoài vì đây là cầu nối quan trọng trong việc mở rộng quan hệ với các đối tác quốc tế.

Sáu là, tiếp tục cải tiến công tác tổ chức quản lý đào tạo, đầu tư xây dựng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Đổi mới công tác quản lý đào tạo là một khâu quan trọng nhằm sử dụng tốt các nguồn lực phục vụ công tác ĐTBD, bao gồm cả việc sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có. Trong bối cảnh thực tế hiện nay, Vụ Quản lý đào tạo và các đơn vị chức năng cần nghiên cứu và kịp thời phối hợp đưa ra ý kiến tham mưu về tiến độ điều chỉnh quy mô đào tạo, bảo đảm thực hiện chủ trương tăng quy mô đào tạo tập trung, giảm quy mô đào tạo tại chức, nhưng không gây ra những xáo trộn hoặc bị động trong bố trí cân đối các nguồn lực, cơ sở vật chất cũng như công tác quản lý đào tạo. Học viện cũng cần chủ động hơn trong việc phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các đơn vị, cơ quan đầu mối tuyển sinh nhằm bảo đảm việc tiếp nhận cũng như phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh một cách hợp lý, phù hợp với khả năng đáp ứng của toàn hệ thống. Các đơn vị chức năng của hệ thống Học viện cần linh hoạt, chủ động hơn trong triển khai các lớp tổ chức theo hình thức đào tạo tại chức ở các địa phương. Trên cơ sở rút kinh nghiệm từ các khóa đào tạo trước, việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể cần chú ý đến tính đặc thù của mỗi địa phương, đơn vị để chủ động đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm ứng phó kịp thời với các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

Học viện cần rà soát tổng thể các nguồn lực và cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo của toàn hệ thống, từ đó có những điều chỉnh phù hợp về chiến lược và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cũng như điều tiết kịp thời về phân bổ chỉ tiêu đào tạo cho các đơn vị trực thuộc theo từng thời kỳ. Kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu và giảng dạy cần được xây dựng phù hợp với quy mô đào tạo, sát với yêu cầu thực tế. Bên cạnh đó, cũng cần chú ý khai thác hiệu quả hệ thống thư viện điện tử cũng như các hình thức chia sẻ thông tin hiện đại khác để tránh phụ thuộc quá nặng vào các điều kiện cơ sở vật chất truyền thống.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2016

Tài liệu tham khảo

1. GS, TS Tạ Ngọc Tấn (Chủ nhiệm): Báo cáo “Đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2012”, Hà Nội, 2014.

 

nguồn: TS Lê Thị Thục

Vụ Quản lý đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TƯỞNG NHỚ 58 NĂM NGÀY MẤT CỦA ANH HÙNG LLVTND ĐẠI TÁ TÌNH BÁO- PHẠM NGỌC THẢO (17/7/1965 - 17/7/2023)

 

Phạm Ngọc Thảo - Điệp viên 'có một không hai'

Lịch sử tình báo thế giới đã lưu danh rất nhiều điệp viên huyền thoại, nhưng nhiệm vụ mà nhà tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo đã làm, đến nay vẫn được coi là “có một không hai”.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng nhận định: "Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta".
Cán bộ tình báo mưu trí, sáng tạo
Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Thảo sinh ngày 14/2/1922 tại tỉnh Long Xuyên, là nhà tình báo cách mạng của quân đội ta, người đã dùng báo chí làm vũ khí sắc bén để hoạt động trong lòng địch.
Với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, với ý thức kỷ luật cao, ông luôn thể hiện là một cán bộ tình báo mưu trí, sáng tạo, giành thế chủ động tấn công địch.
Khi hiệp định Geneve được ký kết, Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo được đích thân Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn chỉ định ở lại miền Nam, với nhiệm vụ chiến lược là thâm nhập vào hàng ngũ cấp cao của chính quyền Sài Gòn để “phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước”.
Thực hiện nhiệm vụ bí mật mà tổ chức giao cho, bằng những hoạt động khéo léo và đầy biến hóa của mình, tranh thủ những yếu tố tranh tối tranh sáng đầy bất ổn của chính trường Sài Gòn, chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo đã xây dựng được cho mình vị trí khá nổi bật trong xã hội với những mối quan hệ thượng lưu đa dạng và rộng rãi.
Từ đầu năm 1957, sau khi tham gia biên tập nguyệt san Bách Khoa (ấn phẩm của nhóm trí thức đảng Cần Lao), Phạm Ngọc Thảo đã trở thành một tác giả thường xuyên xuất hiện trên ấn phẩm này, với những bài nghiên cứu về các hình thái chiến tranh nhân dân...
Ông đã phân tích rất hay và hấp dẫn về chiến lược, chiến thuật, về nghệ thuật cầm quân, về binh pháp Tôn tử và cách dụng binh của Trần Hưng Đạo... Những bài báo của ông đã thu hút được sự chú ý của giới quân sự Sài Gòn lúc đó, thậm chí của cả tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu...
Ông được ngụy quyền Ngô Đình Diệm trọng dụng. Ông gia nhập vào Ban Tuyên huấn của Đảng Cần Lao. Sau khi được thăng quân hàm thiếu tá, ông rút về làm việc tại Sở Nghiên cứu chính trị - xã hội (cơ quan mật vụ Phủ Tổng thống) do Trần Kim Tuyến làm Giám đốc.
Trong thời gian được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), với bình phong bất lợi nhưng ông đã cung cấp được nhiều tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân khu, đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các cuộc hành quân quy mô lớn của địch gây ra.
Lợi dụng chức vụ tỉnh trưởng, ông đã đẩy được một trung đoàn của Sư đoàn Bộ binh 3 của ngụy, 5 tiểu đoàn biệt động do địch đưa về đàn áp phong trào du kích Bến Tre ra khỏi tỉnh. Hoặc khi địch mở cuộc hành quân ở khu vực nào đó, ông đã bí mật báo cho lực lượng ta biết để đối phó…
Chỉ trong thời gian ngắn làm tỉnh trưởng, ông đã thả hơn 2.000 tù chính trị và khôn khéo lái các cuộc hành quân tảo thanh vào chỗ không người, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện mở rộng cuộc Đồng khởi ở miền Nam.
Cuối năm 1961, do bị nghi ngờ là nội tuyến của Việt Cộng, nên địch điều ông đi học nước ngoài, đến giữa năm 1962 về đảm nhiệm chức Tham vụ chuyên môn Phủ Tổng thống. Ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19/2/1965.
Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, vì vậy người ta còn gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19/2”.
Ngày 16/7/1965, Phạm Ngọc Thảo bị ngụy quân Việt Nam Cộng hoà bắt đưa về Tam Hiệp, Biên Hoà. Bị tra tấn dã man, đêm 17/7/1965, Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã hi sinh, khi ông mới 43 tuổi.
Điệp viên có một không hai
Nhiều nhà phân tích tình báo quốc tế đã gọi Phạm Ngọc Thảo là “điệp viên có một không hai” vì ông là điệp viên hoạt động đơn tuyến, không có đồng đội trực tiếp hỗ trợ, chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Trung ương. Nhiệm vụ của ông không phải là thu thập tin tức mà là tác động đến sự "rối loạn chế độ ngụy quyền".
Bằng hoạt động của mình, Phạm Ngọc Thảo là người có thể tác động trực tiếp đến ngụy quân, ngụy quyền. Là sĩ quan cao cấp trong ngụy quân Việt Nam cộng hòa, ông đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển, gây mất ổn định chính phủ ngụy quyền những năm 1964-1965.
Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái quân đội ngụy, Phạm Ngọc Thảo bị xem là đối tượng nguy hiểm và bị đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào. Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ mà không trốn chạy để bảo toàn tính mạng.
Thậm chí, cả khi bị bắt và tra tấn dã man, tàn bạo đến chết, Phạm Ngọc Thảo vẫn không hé lộ tung tích của mình. Mãi sau này, khi ông được truy phong Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, người ta mới biết ông là điệp viên cộng sản.
Đồng chí Trần Bạch Đằng (bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý), nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, nhận xét: "Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm.
Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai".
Đến nay, sự bí ẩn xung quanh đến con đường hoạt động tình báo của Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo vẫn chưa được giải mã hoàn toàn. Có nhà báo đã viết: “Sự bí ẩn không phải vì xung quanh ông vẫn còn những bí mật quân sự, cũng không phải xung quanh ông có những điều “nhạy cảm” khó nói.
Khó giải mã là do tầng tầng lớp lớp những biến cố lịch sử, những quan hệ, sự thiên biến vạn hóa của chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật, nghệ thuật chiến tranh tồn tại trên chiến trường, trên chính trường và trong cuộc sống nhưng nằm ngoài sách vở và các bản tổng kết”.
Cho tới phút cuối cùng của đời mình, chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo vẫn trung thành với lý tưởng mà ông đã chọn từ thời trai trẻ.
Ngày 30/8/1995, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và quân hàm Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đại tá Anh hùng QDNDVN Phạm Ngọc Thảo (1922–1965) là một tình báo viên bí ẩn trong suốt Chi*ến tra*nh ch*ống Mỹ. Một trong 4 tình báo viên xuất sắc nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam (cùng với Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ và Lê Hữu Thúy). Ông là đại tá của hai quân đội đối nghịch trong cuộc c*hiến này: Quân đội Nhân dân Việt Nam và ngụy quyền Việt Nam Cộng hoà. Ông là người có nhiều ảnh hưởng chính trị và cũng là một thành viên chủ chốt trong 2 cuộc đảo chính bất thành ở chính quyền ngụy vào những năm 1964–1965.
Ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết nổi tiếng Ván Bài Lật Ngửa của tác giả Trần Bạch Đằng.
Có 3 đặc điểm lớn để có thể xác định Đại tá Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20:
1/ Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là người duy nhất có thể tác động trực tiếp đến chính quyền ngụy Sài Gòn .
2/ Là sỹ quan cao cấp trong quân đội ngụy VNCH lai có lực lượng trong tay, ông chính là người đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị Miền Nam những năm 64-65, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ ngụy Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu cuộc đảo chính với Lâm Văn Phát gạt Nguyễn Khánh năm 1964 thành công, Phạm Ngọc Thảo trở thành thủ tướng ngụy VNCH thì lịch sử có thể đã có những thay đổi lớn.
3/ Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo hoạt động đơn tuyến, không hề có đồng đội trực tiếp hỗ trợ mà chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Ông không làm công tác đưa tin đơn thuần mà lớn hơn là được giao nhiệm vụ "thay đổi chế độ tại miền Nam" (tương tự như mục tiêu regime change của Mỹ từng áp dụng tại Iraq, nhưng nếu như Mỹ phải dùng đến hàng chục vạn quân thì Bắc Việt chỉ dùng 1 mình Phạm Ngọc Thảo và ở chừng mực nào đấy đã thành công). Sự nguy hiểm của Phạm Ngọc Thảo đối với tồn vong của chế độ miền Nam lý giải tại sao chính quyền Thiệu-Kỳ phải quyết bằng mọi giá thủ tiêu ông.
Đại tá Thảo là một con người cực kỳ dũng cảm và đầy tài năng. Ngay từ thời Ngô Đình Diệm, ông đã được Mỹ rất chú ý, nhiều chính khách Mỹ đưa ông vào tầm ngắm để đào tạo thành một nhà lãnh đạo ngụy VNCH trong tương lai. Ngay khi phút nguy hiểm đã cận kề, ông Võ Văn Kiệt chỉ thị ông ra căn cứ để bảo đảm an toàn, nhưng Đại tá Thảo vẫn quyết tâm xin ở lại để thực hiện cú đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, ông bị bắt và tra tấn dã man nhưng cho tận đến khi hy sinh, địch vẫn không hề biết ông là một chiến sỹ cộng sản. Nghe tin ông mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Lê Duẩn đã khóc. Sau này, trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Trần Bạch Đằng đã đề tựa những dòng trang trọng: "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng".
Ông Trần Bạch Đằng, nguyên Phó ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam nhận xét: "các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai". Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: "anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta"
Ngày nay, nếu có dịp ghé qua Nghĩa trang TP.HCM bạn sẽ thấy một ngôi mộ đề dòng chữ Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Anh hùng Các LLVTNDVN. Trên ngôi mộ nhỏ này, luôn có loài hoa Mimosa mà sinh thời Đại tá Thảo rất yêu thích./.
ST

Thể chế hóa một phương châm, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

 

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung  tiêu chí “dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 26 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được gọi là “phương châm” và 24 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với 3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân, nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở, nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước, tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:

Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí, vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra) nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp của người dân.  

Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6 tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng, phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây 20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ, liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới mà họ tham gia đóng góp.

Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.
 
Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại hình cơ sở còn lại.

Thứ năm, khi Đảng ta là đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng, người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người dân.

Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.

“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.

Quyết  định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn.   

Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất, hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...

Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ, đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng. 

HAIVAN