Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

VÌ SAO NGHỆ SỸ, NGƯỜI NỔI TIẾNG LẠI IM LẶNG?

Ở bất cứ thời điểm nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì Người Nghệ sỹ (theo đúng nghĩa chân chính của từ này) cũng là những người quan tâm đến thời cuộc, hướng tới những giá trị thẩm mĩ và nhân văn cao đẹp, phụng sự nhân dân và cất lên tiếng nói của dân tộc trong các giai đoạn lịch sử. Trong 02 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, rất nhiều nghệ sỹ đã lên tiếng hoà nhịp với tiếng nói, nguyện vọng chung của đất nước, nhân dân, động viên, khích lệ tinh thần cho chiến sỹ và đồng bào, đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Ngày nay, trong công cuộc Đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước càng đòi hỏi người nghệ sỹ với trách nhiệm xã hội phải là người tiên phong thể hiện thái độ, tình cảm, trí tuệ trước những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại thông qua tác phẩm và phát ngôn của mình, nhất là trong thời buổi bùng nổ truyền thông, mạng xã hội như ngày nay, nơi mà chỉ một dòng trạng thái của nghệ sỹ có thể tác động rất lớn đến một bộ phận công chúng, người hâm mộ. Thế nhưng đáng buồn thay, bên cạnh một số nghệ sỹ tích cực tham gia các hoạt động xã hội, thực hiện nghĩa vụ công dân, sử dụng sức ảnh hưởng của mình đối với công chúng để kêu gọi mọi người tham gia đóng góp xây dựng đất nước, định hướng dư luận theo hướng tích cực thì vẫn còn một bộ phận nghệ sỹ thờ ơ trước thời cuộc, im lặng trước những vấn đề thời sự của đất nước nhưng lại tỏ ra “sốt sắng”, “tích cực” bày tỏ thái độ, tình cảm cá nhân trước các vấn đề của nước ngoài dù đang sinh sống ở Việt Nam và được đất nước, nhân dân Việt Nam nuôi dưỡng, tạo điều kiện để làm việc, sáng tạo nghệ thuật. Vào sáng sớm ngày 11/6/2023, tại địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xảy ra vụ việc phức tạp về ANTT: Một nhóm người chưa xác định danh tính dùng súng tấn công trụ sở Công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur, khiến 04 đồng chí Công an xã và 02 cán bộ xã hy sinh, 03 người dân thiệt mạng. Người dân cả nước bàng hoàng trước vụ việc, xót thương cho các cán bộ, chiến sỹ hy sinh, cho những người dân vô tội đã bị số đối tượng mất nhân tính tấn công cướp đi tính mạng. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Công an đã kịp thời chỉ đạo công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn, chăm lo chế độ chính sách cho các cán bộ, chiến sỹ hy sinh và người dân bị thiệt mạng (04 đồng chí Công an xã hy sinh được truy thăng vượt cấp bậc hàm và được cấp bằng Tổ quốc ghi công; 02 đồng chí cán bộ xã được cấp bằng Tổ quốc ghi công), phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để truy bắt số đối tượng gây án, sau hơn 01 tuần tình hình an ninh, trật tự tại tỉnh Đắk Lắk đã trở lại trạng thái bình thường, lực lượng chức năng đã bắt, giữ hơn 60 đối tượng, vận động nhiều đối tượng tham gia vụ việc ra đầu thú để hưởng khoan hồng; các sinh hoạt xã hội trở lại bình thường, nhân dân các dân tộc không bị hoang mang, dao động, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, yên tâm lao động sản xuất. Trang thông tin điện tử của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, Đài truyền hình Việt Nam, các cơ quan truyền thông chính thống đã kịp thời đưa tin, bài định hướng dư luận, phản ánh vụ việc và kết quả công tác của chính quyền, lực lượng chức năng nhằm ổn định tình hình, sớm đưa cuộc sống của người dân trở lại bình thường. Một số trang tin và trang cá nhân của các KOLs (người có ảnh hưởng trên mạng xã hội) như ca sỹ Phương Thanh, “Bão lửa”, “Trung Hoàng”, ‘Com Com – Đơn vị tác chiến điện tử”… đăng bài thể hiện sự thương xót đối với các cán bộ, chiến sỹ hy sinh và người dân vô tội thiệt mạng, lên án hành vi vô nhân tính của số đối tượng trong vụ việc ở Đắk Lắk, riêng trang Facebook “Bão lửa” còn kêu gọi ủng hộ cho thân nhân các liệt sỹ Công an có hoàn cảnh khó khăn và được cộng đồng mạng hưởng ứng. Nhìn lại một số vụ việc xảy ra trước đây ở nước ngoài, một số nghệ sỹ đã đăng bài “khóc lóc, thương xót” trên trang cá nhân cho một công trình bị cháy ở trời Âu, thay ảnh đại diện (avatar) là cờ của 01 nước khi ở đó xảy ra vụ tấn công làm dân thường thiệt mạng, hay thậm chí ủng hộ cho hoạt động tuần hành, biểu tình mang màu sắc chính trị tại Hồng Kông– Trung Quốc. Thế nhưng đến thời điểm viết bài, chính những người được coi là nghệ sỹ đó và nhiều KOLs giải trí có sức ảnh hưởng lớn trên mạng xã hội, với lượt người thích (like), theo dõi (follow) lên tới hàng triệu lại không hề có bài viết bày tỏ thái độ thương cảm, chia sẻ với thân nhân gia đình cán bộ, chiến sỹ hy sinh và người dân bị thiệt mạng. Có thể thấy thực tế đáng buồn hiện nay là một bộ phận nghệ sĩ, KOLs chỉ lo làm sao để kiếm được nhiều tiền, làm sao để nổi tiếng, họ dễ dãi hơn với những phát ngôn của mình và thờ ơ với những vấn đề lớn của đất nước, chạy theo guồng máy của nền văn hoá tiêu thụ, xa rời, dửng dưng với thời cuộc, với những vấn đề thời sự. Những hành vi lệch chuẩn này cần được dư luận xã hội lên án và các cơ quan quản lý văn hóa, nghệ thuật, biểu diễn cần sớm vào cuộc, ban hành các quy định để nghệ sỹ, KOLs có hành xử đúng mực, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa dân tộc và thể hiện trách nhiệm trước xã hội, trước nhân dân, có chế tài nghiêm khắc (cấm sóng, cấm biểu diễn, cấm tham gia sự kiện, cấm lưu hành tác phẩm…) đối với những nghệ sỹ, KOLs có hành vi, phát ngôn lệch chuẩn. Bởi chính đất nước và nhân dân đã nuôi dưỡng và tạo điều kiện để nghệ sỹ được nổi tiếng, được cống hiến và trả công cho lao động nghệ thuật của họ thì chính bản thân nghệ sỹ phải có thái độ và hành xử sao cho xứng đáng với những gì đã được nhận.

TÂY NGUYÊN KHÔNG BAO GIỜ BỊ CÔ LẬP MÀ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng là một vùng lãnh thổ đặc thù của Tổ quốc - nơi bên chân dãy Trường Sơn đại ngàn, đồng bào các dân tộc thiểu số anh em đã tạo dựng lên vùng đất Tây Nguyên kiêu hãnh, hào hùng. Trong hàng ngàn năm kiến tạo, người dân Tây Nguyên bao đời phải chống chọi với gian nan, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và sự tàn bạo, coi thường của kẻ thù. Không cam chịu đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu, trong cảnh bị đối xử kỳ thị, bất công của chính sách ngu dân, chia để trị nhằm gây mâu thuẫn, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, đồng bào Tây Nguyên nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đất nước đứng lên, kề vai sát cánh chiến đấu chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước. Vì thế, Tây Nguyên không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới”. Bởi, trước năm 1975, dân số Tây Nguyên chưa đến 1 triệu người, nhưng hiện nay do nhiều đợt di dân, nên đã có hơn 5 triệu người (tăng hơn 5 lần trong vòng 40 năm qua). Theo Tổng cục Thống kê, địa bàn Tây Nguyên hiện có đủ 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và là vùng có đông thành phần dân tộc nhất Việt Nam/nơi duy nhất có đủ các nhóm ngôn ngữ - dân tộc của Việt Nam cùng sinh sống (đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ còn chiếm 26,58%, đồng bào Kinh chiếm 64,69%, các dân tộc nơi khác đến chiếm 8,73%). Thực tế cho thấy, những dòng người di cư từ khắp nơi đã không chỉ mang đến Tây Nguyên những phương pháp canh tác sản xuất khác cư dân tại chỗ, mà còn mang đến vùng đất này những lối sống, những bản sắc văn hóa vùng miền khác nhau, tạo nên một bức tranh đa dạng, sinh động về lối sống, văn hóa, tôn giáo…; trong đó, đáng lưu ý nhất là từ năm 1986 đến nay đã có khoảng 50. 000 người Hmông từ phía Bắc di cư vào Tây Nguyên (đa số người Hmông di cư là tín đồ theo Đạo Tin lành). Một Tây Nguyên suốt chiều dài lịch sử luôn là một phần “máu thịt” của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; từng đồng cam cộng khổ và kiên cường đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của triều đình nhà Nguyễn, chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để được giải phóng, để thống nhất trong lòng Tổ quốc chắc chắn không bao giờ bị “ngăn cách với thế giới” như các thế lực thù địch bịa đặt. Một Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, giữ một vị trí trong yếu trong quốc phòng, an ninh và sự phát triển bền vững của quốc gia luôn là “miền đất hứa” mà các thế lực muốn xâm chiếm Đông Dương, đe dọa sự tồn vong của Việt Nam, Lào, Campuchia và châu Á nhòm ngó. Và thực tế là, mặc dù các thế lực thù địch liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kỳ thị sắc tộc để gây ra cuộc biểu tình, bạo loạn (tháng 2/2001, tháng 4/2004 và gần đây là cuộc tấn công trụ sở công an xã trên địa bàn huyện Cư Kuin ngày 11/6/2023), hòng làm cho Tây Nguyên bất ổn, để từ đó xuyên tạc sự thật tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng đất này; nhất là bôi đen vấn đề thực thi nhân quyền và tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, song có thể khẳng định rằng: Tây Nguyên không chỉ ổn định mà còn tiếp tục phát triển. Với việc triển khai thực hiện Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên”, hệ thống chính trị các cấp ở Tây Nguyên đã không chỉ tập trung giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách, mang tính đột phá như đất đai, nhà ở, việc làm, nước sinh hoạt, xóa đói nghèo, y tế… cho bà con các dân tộc thiểu số, mà còn chú trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa, đặc sắc của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, việc huy động mọi nguồn lực phát triển mạng lưới giao thông như hệ đường bộ toàn vùng kết nối các tỉnh Tây Nguyên, mở rộng cơ hội giao thương với các trung tâm lớn cả nước và các nước trong khu vực. Hệ thống giao thông liên cửa khẩu nối liền Tây Nguyên với Campuchia và Lào, qua các cửa khẩu quốc tế ĐĐắk Ruê (Đắk Lắk), Lệ Thanh (Gia Lai), Bờ Y (Kon Tum). Đường hàng không phát triển với ba sân bay Liên Khương, Buôn Ma Thuột và Pleiku; đường Hồ Chí Minh cùng đường hành lang kinh tế Đông - Tây đi qua các tỉnh vùng Tây Nguyên… đã không chỉ tạo điều kiện để các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được thông thương thuận tiện, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và nâng cao đời sống nhân dân vùng Tây Nguyên. Thực tế, những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên đều tăng cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Cụ thể, “giai đoạn 2016 - 2020, tăng trưởng bình quân của vùng Tây Nguyên đạt 6,55%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 55,6 triệu đồng/người, gấp 1,4 lần so với năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ. Tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, thuế trợ cấp sản phẩm năm 2020 tương ứng là 33,51%; 21%, 40,83% và 14,66%”(1). Vì thế mà, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã ngày càng chuyển biến tích cực, khởi sắc; cuộc sống du canh, du cư, ốm đau bệnh tật được khắc phục dần; đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng... Cũng vì thế, Tây Nguyên không phải “là vùng đất gần như đóng cửa với thế giới” mà là kết nối để phát triển bền vững. Bởi, đánh giá đúng vị trí chiến lược và vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ quan tâm lãnh đạo, chăm lo đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nguyên sau hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm (1945-1975) đã để lại hậu quả nặng nề, mà còn đặc biệt quan tâm phát triển vùng đất này trên tinh thần làm tốt kinh tế, xã hội sẽ góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự xã hội; và ngược lại, tình hình ổn định tốt thì mới yên tâm phát triển kinh tế-xã hội như Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết 23). Quan điểm “phát triển Tây Nguyên nhanh, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước” và “xây dựng và phát triển Tây Nguyên kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại” đã, đang được triển khai. Đó chính là, phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, góp phần phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây, hàng lang kinh tế Bắc - Nam để kết nối vùng, tạo không gian phát triển mới; phát triển hạ tầng y tế, giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Đó là thực hiện các chính sách để nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của người dân; hình thành nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đồng bào các dân tộc. Đồng thời, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống tốt đẹp, các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu các dân tộc Tây Nguyên gắn liền với việc duy trì, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tiêu biểu đặc trưng của vùng và di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số… với dự kiến tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 là khoảng 7-8%. Các con số “cơ cấu kinh tế năm 2025: nông nghiệp 29,6%; công nghiệp - xây dựng 25,4%; dịch vụ 40,4%; thuế sản phẩm 4,6%. GRDP bình quân/người đến năm 2025 khoảng 85 triệu đồng. Tập trung huy động mọi nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, hạ tầng đô thị, công nghệ thông tin; chú ý phát triển giao thông kết nối các cảng biển miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, tập trung đầu tư phát triển các công trình thủy lợi lớn, kênh dẫn kết nối, các hồ chứa nhằm đảm bảo nước tưới cho sản xuất; tăng cường phối hợp và liên kết vùng, xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả nhằm khai thác được các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, của vùng”(2) … đã cho thấy: Mọi quyết sách liên quan đến Tây Nguyên là nhằm để chuyển khu vực Tây Nguyên từ trạng thái “ổn định để phát triển” sang “phát triển để ổn định” như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 23 ngày 20/11/2022. Vì thế, luận điệu Tây Nguyên bị “cô lập”, bị “đóng cửa”, bị “ngăn cách” đều là không khách quan; là xuyên tạc sự thật.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh đã được đẩy mạnh


Triển khai các định hướng của Nghị quyết 22, hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh đã được đẩy mạnh, nhất là với các nước láng giềng chung biên giới, các nước ASEAN, các nước lớn thông qua hàng loạt biện pháp như: Tạo dựng và nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác, xây dựng tăng cường lòng tin, từng bước gia tăng mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh. Một trong những điểm sáng của hội nhập trong lĩnh vực này là xây dựng và triển khai chiến lược tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Hay như cơ chế ADMM+ được đánh giá là một cấu trúc an ninh vượt tầm khu vực, có đóng góp rất lớn của Việt Nam với tư cách là nước khởi xướng.

    Ngoài ra, các hoạt động hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam luôn tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc mà Nghị quyết đã đề ra, đó là: “… không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia”. Điều này đúng với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia của Đảng ta khi triển khai các hoạt động đối ngoại một cách công khai, minh bạch, “lựa chọn chính nghĩa không chọn bên” và cũng tránh bị hiểu lầm là “đi với bên này chống bên kia”.

Hội nhập kinh tế là một điểm sáng của Việt Nam

 

        Khi Đảng ta ban hành Nghị quyết số 22 về Hội nhập quốc tế, thế giới vẫn đang phải gánh chịu hệ lụy từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ Mỹ những năm 2007-2009 và kéo dài đến tận những năm đầu của thập niên thứ hai của thế kỷ này. Việt Nam đã chủ động bứt phá, không chỉ vượt qua được cuộc khủng hoảng đó mà còn tạo đà cho hội nhập rất nhiều. Minh chứng rõ nhất là Việt Nam đã từng bước tham gia và mở rộng mạng lưới các thỏa thuận thương mại về song phương và đa phương với các nước, đặc biệt là tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do đa phương chất lượng cao, như: CPTPP, EVFTA, RCEP và hiện đang trao đổi về nhiều khuôn khổ khác, như Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF)…

        Nhìn lại 10 năm qua, có thể thấy khi có những thách thức về kinh tế, khủng hoảng về dịch bệnh, về an ninh… làm đứt gãy chuỗi cung ứng, chính những dàn xếp và thỏa thuận thương mại tự do này đã tạo cho Việt Nam lợi thế trong việc duy trì chuỗi cung ứng cũng như đà kinh tế, thương mại của mình để tiếp tục phát triển. Điển hình như năm 2022 vừa qua, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt hơn 700 tỷ USD, trong đó xuất siêu hơn 11 tỷ USD. GDP năm 2013 chỉ hơn 200 tỷ USD, đến nay đã tăng hơn gấp đôi, đạt hơn 400 tỷ USD. Việc thu hút đầu tư FTA cũng tạo đà rất lớn cho kinh tế phát triển.

Định hướng hội nhập quốc tế

 

        

        Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế chỉ rõ hơn định hướng hội nhập kinh tế quốc tế và lần đầu tiên nêu những định hướng hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác. Trong đó, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế. “Tạo thuận lợi có thể được hiểu là tạo ra môi trường thuận lợi, tạo ra hiệu ứng đòn bẩy hoặc ưu tiên nguồn lực… cho hội nhập kinh tế. Nói cách khác, hội nhập trong các lĩnh vực, kể cả quốc phòng an ninh, phải tiến hành song song hai nhiệm vụ: Hội nhập trong lĩnh vực của mình và tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế”.

Quan điểm chỉ đạo hội nhập quốc tế của Việt Nam

 

        Về quan điểm chỉ đạo hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định hội nhập quốc tế “là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này xác định vị trí quan trọng của hội nhập quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt sự do dự trong hội nhập vì quá lo ngại về các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Và do đó, chính quan điểm này đã góp phần tạo nên sự đồng thuận trong nhận thức về tầm quan trọng của hội nhập quốc tế 10 năm qua. Quan điểm chỉ đạo cũng nêu, hội nhập quốc tế là “sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước”. Điều này xác định các chủ thể của hội nhập quốc tế, xác định trách nhiệm và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân phải tham gia vào và được hưởng lợi từ quá trình hội nhập quốc tế.

Ba loại hoạt động hội nhập quốc tế

 

  

          Hội nhập là “Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế”. Điều này có thể coi là khái niệm hội nhập quốc tế. Khái niệm chỉ rõ 3 loại hoạt động hội nhập quốc tế gồm: Tuân thủ “luật chơi”; tham gia xây dựng “luật chơi” và tham gia các hoạt động chung của khu vực và quốc tế. Cách tiếp cận này làm cho các tổ chức, cá nhân thấy rõ những việc mình cần và phải làm khi tham gia hội nhập quốc tế.

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là đòi hỏi của thực tiễn

 


Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tinh thần này được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt là từ sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.

Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đã đề ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được Bộ Chính trị khóa IX cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”, ngày 27-11-2001. Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta khẳng định chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”; ngày 5-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”…

Việc thực hiện những chủ trương trên của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại còn bộc lộ một số hạn chế, nhất là chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa hội nhập kinh tế với hợp tác về quốc phòng, an ninh và ngược lại.

Từ 10 năm trước, khi đánh giá về tình hình thế giới, khu vực, Đảng ta đã có nhận định sáng suốt: Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực; kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức. Mức độ tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày một gia tăng. Các cơ chế đa phương, các tổ chức quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng trong mọi mặt của đời sống nhân loại. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương phát triển năng động, đang trở thành trung tâm phát triển của thế giới. Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đang tiến tới hình thành Cộng đồng, tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong phần lớn các cơ chế hợp tác ở khu vực, đồng thời, có vị trí ngày càng cao trong chiến lược của các nước lớn.

Cũng từ 10 năm trước, nước ta đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình và đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu khi đó là thực hiện thành công các mục tiêu phát triển, nhanh chóng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, đồng thời đáp ứng những yêu cầu mới về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

        Xuất phát từ đòi hỏi của nhiệm vụ thực tiễn đó, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ tối đa sức mạnh của thời đại để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế. Đánh giá về ý nghĩa chiến lược của văn kiện này, PGS, TS Đặng Đình Quý, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng, các vấn đề cơ bản về tư duy hội nhập, nhất là về khái niệm, quan điểm chỉ đạo và các định hướng lớn cho hội nhập quốc tế đã được làm rõ. Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng của Đảng ta về tư duy và định hướng hội nhập quốc tế.

Hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực

 


Từ khi tiến hành đổi mới đất nước (năm 1986), công cuộc hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng dần được đẩy nhanh và mở rộng với tinh thần ngày càng chủ động, tích cực, toàn diện hơn. Trong quá trình đó, nhiều văn kiện của Đảng mang tính chất nền móng, đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy, định hướng nhận thức và hành động cho phát triển và hội nhập quốc tế đã được ban hành. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị “Về hội nhập quốc tế” là một trong số đó.

Mười năm qua, dưới ánh sáng của Nghị quyết số 22, hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, thể hiện không chỉ ở việc tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế, khu vực quan trọng, mà còn là nghiêm chỉnh tuân thủ và tích cực tham gia xây dựng “luật chơi”; kiến tạo và hoàn thiện các mục tiêu phát triển. Trong khi ngoại giao kinh tế là một điểm sáng, hội nhập quốc phòng cũng được đẩy mạnh, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” và đóng góp thiết thực vào các nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới…


Công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt

 


Công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Các đồng chí đã triển khai nhiều chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, bảo đảm giữ vững tính mẫu mực, làm gương của Đảng bộ Quân đội.

Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới và thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Các cấp ủy, tổ chức đảng luôn luôn giữ vững và phát huy vai trò là hạt nhân, lãnh đạo; làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ luôn luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh

 


Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh cả trên bình diện song phương và đa phương. Chúng ta đã xử lý hài hòa, mềm dẻo trong quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống. Đây là cách rất thiết thực để giữ cho "ngoài êm", ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Một trong những hoạt động được bạn bè quốc tế đánh giá cao, đó là Quân đội ta đã tổ chức lực lượng tham gia cứu trợ thảm hoạ động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ; hành động quả cảm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã để lại trong lòng nhân dân và chính phủ nước bạn những ấn tượng rất tốt đẹp; lực lượng Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại các phái bộ cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lan tỏa hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, thông điệp yêu chuộng hòa bình của đất nước ta, Quân đội ta trên trường quốc tế.

Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực

 


Lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực; tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo,... từng bước bảo đảm tự trang bị vũ khí hiện đại, phù hợp với nghệ thuật tác chiến của Quân đội ta, góp phần tạo nền tảng để xây dựng Quân đội hiện đại trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Toàn quân luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia

 

Toàn quân đã duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng. Chủ động rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn kiện tác chiến; phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh trật tự trên phạm vi cả nước. Tổ chức chặt chẽ, hiệu quả công tác huấn luyện, diễn tập, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đây là những điều chỉnh lớn về tổ chức, có tác động đến việc bố trí, sử dụng lực lượng, tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ và hậu phương Quân đội; song các đồng chí đã triển khai một cách bài bản, chặt chẽ, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, qua đó đã tạo được sự đồng thuận cao, giữ được ổn định các cơ quan, đơn vị, bảo đảm sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân.

Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

 

Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Cùng với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng tăng cao, thì tiềm lực, thế trận, lực lượng của nền quốc phòng cũng không ngừng được củng cố và phát triển; thế trận lòng dân ngày càng được tăng cường vững chắc. Thành tựu đó có sự đóng góp rất quan trọng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Công tác phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện các chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh cũng được quan tâm thường xuyên, chặt chẽ, hiệu quả; đã làm tốt việc tuyên truyền, vận động, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phối hợp chặt chẽ với Công an và các lực lượng có liên quan giữ vững an ninh, trật tự, bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, xã hội của đất nước, nhất là trong việc giải quyết, xử lý sự việc xảy ra tại địa bàn Đắk Lắk vừa qua.

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2023

Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

 


Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tiếp tục thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước các vấn đề có tầm chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của cuộc xung đột Nga - Ucraina đối với Quân đội và giải pháp xây dựng Quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cũng đã phát huy vai trò nòng cốt trong việc Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới ở các cấp. Đây là cơ sở rất quan trọng để Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm và xác định phương hướng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong những năm tiếp theo. Chủ động tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị ban hành các kết luận, cho chủ trương đối với đề án quan trọng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 7 NĂM 1966!

     “…Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, được Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng ngày 17 tháng 7 năm 1966 trong thời điểm đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam; đồng thời, leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đồng tâm, nhất trí, anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hiến dâng máu xương, chiến đấu, hy sinh đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giải phóng dân tộc và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường; song giá trị của lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn không hề thay đổi. Chân lý đó đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng chính là cội nguồn để tạo nên “những thành tựu có ý nghĩa lịch sử” góp phần nâng cao uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

Là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhận thức sâu sắc, tin tưởng vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng bản lãnh chính trị kiên định, vững vàng, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí, trang bị, tinh thông về kỹ, chiến thuật, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
Môi trường ST.

Trung tá quân đội dũng cảm giúp dân cứu hỏa

Chiều ngày 12-7, Trung tá Đỗ Ngọc Thái, Chính ủy Trung đoàn 567, Sư đoàn 346, Quân khu 1 không quản nguy hiểm, lao vào dập hỏa hoạn giúp người dân xóm 6, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên. Hành động của đồng chí được người dân ghi nhận và tô đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.



 Theo Báo Quân đội nhân dân

Lời Bác dạy ngày này năm xưa - Ngày 17/7/1966

 “ ...Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, được Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng ngày 17 tháng 7 năm 1966 trong thời điểm đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam; đồng thời, leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đồng tâm, nhất trí, anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hiến dâng máu xương, chiến đấu, hy sinh đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giải phóng dân tộc và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường; song giá trị của lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn không hề thay đổi. Chân lý đó đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng chính là cội nguồn để tạo nên “những thành tựu có ý nghĩa lịch sử” góp phần nâng cao uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

Là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhận thức sâu sắc, tin tưởng vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng bản lãnh chính trị kiên định, vững vàng, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí, trang bị, tinh thông về kỹ, chiến thuật, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

st.

hận thức về không giang mạng và đặc điểm không gian mạng trong giai đoạn hiện nay

 Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễng thông, internet, mạng mày tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

Không gian mạng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, không gian mạng không có biên giới. Trên không gian mạng con người tạo ra một “không gian ảo” với các “xa lộ thông tin toàn cầu”, hoàn toàn không có biên giới ngăn cách. Chỉ cần sở hữu một thiết bị điện tử có khả năng kết nối internet, người dùng có thể cập nhật thông tin ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, thậm chí truy cập vào bất kỳ kho tư liệu nào trên thế giới. Trên không gian mạng, chủ đề, lĩnh vực, nội dung nào cũng có thể ngay lập tức được đăng tải và tiếp cần tới hàng tỷ người, khiến những rào cảng thông thường như biến giới quốc gia, ngôn ngữ trở nên mỏng manh.

Thứ hai, không gian mạng là “sân chơi” thông tin của cả cộng đồng. Trên không gian mạng, mỗi cá nhân đều có hai vai trò chủ đạo: người cung cấp thông tin và người tiếp cận thông tin. Thông tin trên không gian mạng rất đa chiều, từ nhiều nguồn khác nhau nên đòi hỏi người tiếp nhận thông tin phải thông thái, sáng suốt để chắt lọc thông tin phù hợp và luôn trau dồi bàn thân, tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm khi tham gia tương tác trên không gian mạng.

Thứ ba, không gian mạng có khả năng đa phương tiện, tương tác cao, liên kết và lan tỏa nhanh chóng. Nhờ cấu trúc, tính năng của các diễn đàn, mạng xã hội, trang chia sẻ,.. mà người sử dụng có thể tìm kiếm, theo dõi các hoạt động của nhau và tham gia vào các hoạt động khác như đăng bài viết, bình luận, chia sẻ,… một cách thuận lợi, dễ dàng. Nhờ sự gia tăng liên tục các hoạt động đăng tải, chia sẽ và lưu trữ thông tin của hàng tỷ người trên thế giới với nhiều hình thức văn bản, âm thanh, hình ảnh, video,… đã làm cho thông tin trên không gian mạng trở nên vô cùng phong phú.

Thứ tư, không gian mạng không có bộ lọc, trong khi ảnh hưởng, tác động đến cuộc sống xã hội thì ngay lập tức. Không gian mạng là môi trường sinh hoạt ảo dành cho tất cả mọi người. Do không tuyển chọn người dùng nên bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào môi trường này, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, tuổi tác, giới tính, hay trình độ văn hóa. Từ những thông tin có giá trị có tính chất suy đồi, vô văn hóa đều xuất hiện trên không gian mạng và dễ truy cập, sử dụng một cách miễn phí. Vì vậy, thông tin trên không gian mạng thật – giã lẫn lộn, thiếu chính xác, khó kiểm chứng, gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật cá nhân, suy giảm quyền lực nhà nước và sức mạnh quốc gia. Thông tin giả trên không gian mạng đang là vấn nạn lớn của nhiều quốc gia, tác động tiêu cực đến cộng đồng, tạo ra những hệ lụy khôn lường, nhất là trong bối cảnh xung đột, khủng bố, dịch bệnh đang diễn ra ngày càng khốc liệt.  

“Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình mới

 “Diễn biến hòa bình” là hoạt động phản cách mạng do các thế lực thù địch phát động nhằm chống phá, chuyển hóa, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, các phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc, ngăn cản xu thế vận động phát triển của xã hội loài người, trong đó có cách mạng Việt Nam. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong “Diễn biến hòa bình” thể hiện trên những phương diện sau:

Một là, tuyên truyền, xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các thế lực thù địch lên tiếng đòi “viết lại lịch sử”, hòng phủ nhận những thành tựu cách mạng của dân tộc và nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với âm mưu này, chúng lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “nội chiến”, làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sĩ cách mạng hy sinh giành độc lập dân tộc với những kẻ làm tay sai bán nước.

Hai là, tuyên truyền nhằm xóa bỏ xã hội chủ nghĩa và văn hóa truyền thống dân tộc, truyền bá văn hóa phương Tây vào Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá tư tưởng, lối sống tư bản phương Tây vào nước ta, đặc biệt là lối sống thực dụng, vụ lợi và chủ nghĩa cá nhân, sùng bái đồng tiền và dâm ô trụy lạc,…; chúng mọc nối, mua chuộc, kích động đội ngũ tri thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,…Qua đó, lôi kéo họ vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng diễn đàn quốc tế, các phương tiện tuyên truyền khác nhau để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Lợi dụng khoảng cách về nhận thức, tồn tại lịch sử và hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện chính sách đối với đồng bào các dân tộc ít người để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các đảng phải, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ. Chúng vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Tuyên truyền, phát triển tôn giáo trái pháp luật, làm cho tôn giáo trở thành một lực lượng đối lập, đối trọng với Đảng cộng sản Việt Nam, xúi dục các hoạt động phá rối an ninh, gây bạo loạn lật đổ.