Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023
VÌ SAO NGHỆ SỸ, NGƯỜI NỔI TIẾNG LẠI IM LẶNG?
TÂY NGUYÊN KHÔNG BAO GIỜ BỊ CÔ LẬP MÀ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh đã được đẩy mạnh
Triển khai các định hướng của Nghị
quyết 22, hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh đã được đẩy mạnh, nhất là
với các nước láng giềng chung biên giới, các nước ASEAN, các nước lớn thông qua
hàng loạt biện pháp như: Tạo dựng và nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác, xây
dựng tăng cường lòng tin, từng bước gia tăng mức độ đan xen lợi ích về quốc
phòng, an ninh. Một trong những điểm sáng của hội nhập trong lĩnh vực này là
xây dựng và triển khai chiến lược tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Hay
như cơ chế ADMM+ được đánh giá là một cấu trúc an ninh vượt tầm khu vực, có
đóng góp rất lớn của Việt Nam với tư cách là nước khởi xướng.
Ngoài ra, các hoạt động hội nhập
quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam luôn tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên
tắc mà Nghị quyết đã đề ra, đó là: “… không tham gia vào các tập hợp lực lượng,
các liên minh của bên này chống bên kia”. Điều này đúng với tư duy mới về bảo
vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia của Đảng ta khi triển khai các hoạt động
đối ngoại một cách công khai, minh bạch, “lựa chọn chính nghĩa không chọn bên”
và cũng tránh bị hiểu lầm là “đi với bên này chống bên kia”.
Hội nhập kinh tế là một điểm sáng của Việt Nam
Khi Đảng ta ban hành Nghị quyết số 22 về Hội nhập quốc tế, thế
giới vẫn đang phải gánh chịu hệ lụy từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất
phát từ Mỹ những năm 2007-2009 và kéo dài đến tận những năm đầu của thập niên
thứ hai của thế kỷ này. Việt Nam đã chủ động bứt phá, không chỉ vượt qua được
cuộc khủng hoảng đó mà còn tạo đà cho hội nhập rất nhiều. Minh chứng rõ nhất là
Việt Nam đã từng bước tham gia và mở rộng mạng lưới các thỏa thuận thương mại
về song phương và đa phương với các nước, đặc biệt là tham gia vào các Hiệp
định thương mại tự do đa phương chất lượng cao, như: CPTPP, EVFTA, RCEP và hiện
đang trao đổi về nhiều khuôn khổ khác, như Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái
Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF)…
Nhìn lại 10 năm qua, có thể thấy khi
có những thách thức về kinh tế, khủng hoảng về dịch bệnh, về an ninh… làm đứt
gãy chuỗi cung ứng, chính những dàn xếp và thỏa thuận thương mại tự do này đã
tạo cho Việt Nam lợi thế trong việc duy trì chuỗi cung ứng cũng như đà kinh tế,
thương mại của mình để tiếp tục phát triển. Điển hình như năm 2022 vừa qua,
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt hơn 700 tỷ USD, trong đó xuất
siêu hơn 11 tỷ USD. GDP năm 2013 chỉ hơn 200 tỷ USD, đến nay đã tăng hơn gấp
đôi, đạt hơn 400 tỷ USD. Việc thu hút đầu tư FTA cũng tạo đà rất lớn cho kinh
tế phát triển.
Định hướng hội nhập quốc tế
Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế chỉ rõ hơn định hướng hội nhập kinh tế quốc tế và lần đầu tiên nêu những định hướng hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác. Trong đó, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế. “Tạo thuận lợi có thể được hiểu là tạo ra môi trường thuận lợi, tạo ra hiệu ứng đòn bẩy hoặc ưu tiên nguồn lực… cho hội nhập kinh tế. Nói cách khác, hội nhập trong các lĩnh vực, kể cả quốc phòng an ninh, phải tiến hành song song hai nhiệm vụ: Hội nhập trong lĩnh vực của mình và tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế”.
Quan điểm chỉ đạo hội nhập quốc tế của Việt Nam
Về quan điểm chỉ đạo hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định hội nhập quốc tế “là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này xác định vị trí quan trọng của hội nhập quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt sự do dự trong hội nhập vì quá lo ngại về các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Và do đó, chính quan điểm này đã góp phần tạo nên sự đồng thuận trong nhận thức về tầm quan trọng của hội nhập quốc tế 10 năm qua. Quan điểm chỉ đạo cũng nêu, hội nhập quốc tế là “sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước”. Điều này xác định các chủ thể của hội nhập quốc tế, xác định trách nhiệm và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân phải tham gia vào và được hưởng lợi từ quá trình hội nhập quốc tế.
Ba loại hoạt động hội nhập quốc tế
Hội nhập là “Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế”. Điều này có thể coi là khái niệm hội nhập quốc tế. Khái niệm chỉ rõ 3 loại hoạt động hội nhập quốc tế gồm: Tuân thủ “luật chơi”; tham gia xây dựng “luật chơi” và tham gia các hoạt động chung của khu vực và quốc tế. Cách tiếp cận này làm cho các tổ chức, cá nhân thấy rõ những việc mình cần và phải làm khi tham gia hội nhập quốc tế.
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là đòi hỏi của thực tiễn
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến
lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tinh thần này được đề cập trong nhiều văn kiện của
Đảng, đặc biệt là từ sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đã đề ra chủ trương
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa
nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được Bộ Chính
trị khóa IX cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc
tế”, ngày 27-11-2001. Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta khẳng định chủ
trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp
tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”; ngày 5-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính
sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới”…
Việc thực hiện những chủ trương trên của Đảng đã đạt được
nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn
xã hội; cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân
vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đối
ngoại còn bộc lộ một số hạn chế, nhất là chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa hội
nhập kinh tế với hợp tác về quốc phòng, an ninh và ngược lại.
Từ 10 năm trước, khi đánh giá về tình hình thế giới, khu
vực, Đảng ta đã có nhận định sáng suốt: Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển sâu
rộng trên mọi lĩnh vực; kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức. Mức độ
tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày một gia tăng. Các cơ chế đa phương, các
tổ chức quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng trong mọi mặt của đời sống nhân
loại. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương phát triển năng động, đang trở thành
trung tâm phát triển của thế giới. Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đang
tiến tới hình thành Cộng đồng, tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong phần lớn
các cơ chế hợp tác ở khu vực, đồng thời, có vị trí ngày càng cao trong chiến
lược của các nước lớn.
Cũng từ 10 năm trước, nước ta đã trở
thành một nước có mức thu nhập trung bình và đang đứng trước nhiều cơ hội và
thách thức mới. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu khi đó là thực hiện thành công các
mục tiêu phát triển, nhanh chóng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, đồng thời
đáp ứng những yêu cầu mới về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Xuất phát từ đòi hỏi của nhiệm vụ
thực tiễn đó, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ tối đa sức mạnh của
thời đại để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 10-4-2013,
Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về Hội nhập quốc tế.
Đánh giá về ý nghĩa chiến lược của văn kiện này, PGS, TS Đặng Đình Quý, nguyên
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng, các vấn đề cơ bản về tư duy hội nhập, nhất
là về khái niệm, quan điểm chỉ đạo và các định hướng lớn cho hội nhập quốc tế
đã được làm rõ. Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng của Đảng ta về tư
duy và định hướng hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực
Từ khi tiến hành đổi mới đất nước (năm 1986), công
cuộc hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng dần được đẩy nhanh và mở rộng
với tinh thần ngày càng chủ động, tích cực, toàn diện hơn. Trong quá trình đó,
nhiều văn kiện của Đảng mang tính chất nền móng, đánh dấu bước chuyển quan
trọng về tư duy, định hướng nhận thức và hành động cho phát triển và hội nhập
quốc tế đã được ban hành. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013 của Bộ Chính
trị “Về hội nhập quốc tế” là một trong số đó.
Mười năm qua, dưới ánh sáng của Nghị quyết số 22,
hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh
vực. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng
cao, thể hiện không chỉ ở việc tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế, khu
vực quan trọng, mà còn là nghiêm chỉnh tuân thủ và tích cực tham gia xây dựng
“luật chơi”; kiến tạo và hoàn thiện các mục tiêu phát triển. Trong khi ngoại
giao kinh tế là một điểm sáng, hội nhập quốc phòng cũng được đẩy mạnh, tạo
thuận lợi cho phát triển kinh tế, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” và
đóng góp thiết thực vào các nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và thế
giới…
Công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt
Công
tác xây dựng Đảng bộ Quân đội tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt cả về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Các đồng chí đã triển khai nhiều chủ
trương, nhiệm vụ, giải pháp trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để không
ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, bảo đảm giữ vững tính mẫu mực,
làm gương của Đảng bộ Quân đội.
Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới và thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Các cấp ủy, tổ chức đảng luôn luôn giữ vững và phát huy vai trò là hạt nhân, lãnh đạo; làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ luôn luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh
Công
tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được đẩy mạnh cả trên
bình diện song phương và đa phương. Chúng ta đã xử lý hài hòa, mềm dẻo trong
quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác
chiến lược, bạn bè truyền thống. Đây là cách rất thiết thực để giữ cho
"ngoài êm", ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Một trong những hoạt động được bạn bè quốc tế đánh giá cao, đó là Quân đội ta đã tổ chức lực lượng tham gia cứu trợ thảm hoạ động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ; hành động quả cảm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã để lại trong lòng nhân dân và chính phủ nước bạn những ấn tượng rất tốt đẹp; lực lượng Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại các phái bộ cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lan tỏa hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, thông điệp yêu chuộng hòa bình của đất nước ta, Quân đội ta trên trường quốc tế.
Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực
Lãnh
đạo, chỉ đạo làm tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; lĩnh vực công nghiệp
quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực; tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt
Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030
và những năm tiếp theo,... từng bước bảo đảm tự trang bị vũ khí hiện đại, phù
hợp với nghệ thuật tác chiến của Quân đội ta, góp phần tạo nền tảng để xây dựng
Quân đội hiện đại trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới.
Toàn quân luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia
Toàn
quân đã duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời,
vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng. Chủ động rà soát, bổ sung, hoàn
thiện hệ thống văn kiện tác chiến; phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh
trật tự trên phạm vi cả nước. Tổ chức chặt chẽ, hiệu quả công tác huấn luyện,
diễn tập, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Tiếp
tục thực hiện có hiệu quả việc điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh,
gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đây là những điều chỉnh lớn về tổ chức, có tác
động đến việc bố trí, sử dụng lực lượng, tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ
và hậu phương Quân đội; song các đồng chí đã triển khai một cách bài bản, chặt
chẽ, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, qua đó đã tạo được sự đồng thuận cao, giữ
được ổn định các cơ quan, đơn vị, bảo đảm sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu
của toàn quân.
Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Quân
đội tiếp tục phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân. Cùng với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng
tăng cao, thì tiềm lực, thế trận, lực lượng của nền quốc phòng cũng không ngừng
được củng cố và phát triển; thế trận lòng dân ngày càng được tăng cường vững
chắc. Thành tựu đó có sự đóng góp rất quan trọng của Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán
bộ, chiến sĩ toàn quân.
Công
tác phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện
các chiến lược, đề án về quân
sự, quốc phòng, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm
quốc phòng, an ninh cũng được quan tâm thường xuyên, chặt chẽ, hiệu quả; đã làm
tốt việc tuyên truyền, vận động, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và
toàn dân trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phối hợp chặt chẽ
với Công an và các lực lượng có liên quan giữ vững an ninh, trật tự, bảo vệ an
toàn các sự kiện chính trị, xã hội của đất nước, nhất là trong việc giải quyết,
xử lý sự việc xảy ra tại địa bàn Đắk Lắk vừa qua.
Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2023
Quân đội Nhân dân Việt Nam thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc
Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tiếp tục thực hiện tốt chức năng tham
mưu với Đảng, Nhà nước các vấn đề có tầm chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không
để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống,
ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ
quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản,
lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của cuộc xung đột Nga - Ucraina đối
với Quân đội và giải pháp xây dựng Quân đội trong tình hình mới, nhất là xây
dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ.
Quân ủy Trung ương,
Bộ Quốc phòng cũng đã phát huy vai trò nòng cốt trong việc Tổng kết 10 năm thực
hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới ở các cấp. Đây là cơ sở rất quan trọng để Ban Chấp hành Trung ương
đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm và xác định phương hướng, nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc trong những năm tiếp theo. Chủ động tham mưu, đề xuất Bộ Chính
trị ban hành các kết luận, cho chủ trương đối với đề án quan trọng về quốc
phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 7 NĂM 1966!
Trung tá quân đội dũng cảm giúp dân cứu hỏa
Theo Báo Quân đội nhân dân
Lời Bác dạy ngày này năm xưa - Ngày 17/7/1966
“ ...Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, được Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng ngày 17 tháng 7 năm 1966 trong thời điểm đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân các nước chư hầu vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam; đồng thời, leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân nhằm đè bẹp ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đồng tâm, nhất trí, anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hiến dâng máu xương, chiến đấu, hy sinh đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giải phóng dân tộc và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường; song giá trị của lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn không hề thay đổi. Chân lý đó đã, đang và sẽ tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng chính là cội nguồn để tạo nên “những thành tựu có ý nghĩa lịch sử” góp phần nâng cao uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
Là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhận thức sâu sắc, tin tưởng vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, xây dựng bản lãnh chính trị kiên định, vững vàng, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, làm chủ vũ khí, trang bị, tinh thông về kỹ, chiến thuật, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
st.
hận thức về không giang mạng và đặc điểm không gian mạng trong giai đoạn hiện nay
Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễng thông, internet, mạng mày tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Không gian mạng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, không gian mạng không có biên giới. Trên không gian mạng con người tạo ra một “không gian ảo” với các “xa lộ thông tin toàn cầu”, hoàn toàn không có biên giới ngăn cách. Chỉ cần sở hữu một thiết bị điện tử có khả năng kết nối internet, người dùng có thể cập nhật thông tin ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, thậm chí truy cập vào bất kỳ kho tư liệu nào trên thế giới. Trên không gian mạng, chủ đề, lĩnh vực, nội dung nào cũng có thể ngay lập tức được đăng tải và tiếp cần tới hàng tỷ người, khiến những rào cảng thông thường như biến giới quốc gia, ngôn ngữ trở nên mỏng manh.
Thứ hai, không gian mạng là “sân chơi” thông tin của cả cộng đồng. Trên không gian mạng, mỗi cá nhân đều có hai vai trò chủ đạo: người cung cấp thông tin và người tiếp cận thông tin. Thông tin trên không gian mạng rất đa chiều, từ nhiều nguồn khác nhau nên đòi hỏi người tiếp nhận thông tin phải thông thái, sáng suốt để chắt lọc thông tin phù hợp và luôn trau dồi bàn thân, tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm khi tham gia tương tác trên không gian mạng.
Thứ ba, không gian mạng có khả năng đa phương tiện, tương tác cao, liên kết và lan tỏa nhanh chóng. Nhờ cấu trúc, tính năng của các diễn đàn, mạng xã hội, trang chia sẻ,.. mà người sử dụng có thể tìm kiếm, theo dõi các hoạt động của nhau và tham gia vào các hoạt động khác như đăng bài viết, bình luận, chia sẻ,… một cách thuận lợi, dễ dàng. Nhờ sự gia tăng liên tục các hoạt động đăng tải, chia sẽ và lưu trữ thông tin của hàng tỷ người trên thế giới với nhiều hình thức văn bản, âm thanh, hình ảnh, video,… đã làm cho thông tin trên không gian mạng trở nên vô cùng phong phú.
Thứ tư, không gian mạng không có bộ lọc, trong khi ảnh hưởng, tác động đến cuộc sống xã hội thì ngay lập tức. Không gian mạng là môi trường sinh hoạt ảo dành cho tất cả mọi người. Do không tuyển chọn người dùng nên bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào môi trường này, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, tuổi tác, giới tính, hay trình độ văn hóa. Từ những thông tin có giá trị có tính chất suy đồi, vô văn hóa đều xuất hiện trên không gian mạng và dễ truy cập, sử dụng một cách miễn phí. Vì vậy, thông tin trên không gian mạng thật – giã lẫn lộn, thiếu chính xác, khó kiểm chứng, gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật cá nhân, suy giảm quyền lực nhà nước và sức mạnh quốc gia. Thông tin giả trên không gian mạng đang là vấn nạn lớn của nhiều quốc gia, tác động tiêu cực đến cộng đồng, tạo ra những hệ lụy khôn lường, nhất là trong bối cảnh xung đột, khủng bố, dịch bệnh đang diễn ra ngày càng khốc liệt.
“Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình mới
“Diễn biến hòa bình” là hoạt động phản cách mạng do các thế lực thù địch phát động nhằm chống phá, chuyển hóa, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, các phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc, ngăn cản xu thế vận động phát triển của xã hội loài người, trong đó có cách mạng Việt Nam. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong “Diễn biến hòa bình” thể hiện trên những phương diện sau:
Một là, tuyên truyền, xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các thế lực thù địch lên tiếng đòi “viết lại lịch sử”, hòng phủ nhận những thành tựu cách mạng của dân tộc và nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với âm mưu này, chúng lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “nội chiến”, làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sĩ cách mạng hy sinh giành độc lập dân tộc với những kẻ làm tay sai bán nước.
Hai là, tuyên truyền nhằm xóa bỏ xã hội chủ nghĩa và văn hóa truyền thống dân tộc, truyền bá văn hóa phương Tây vào Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá tư tưởng, lối sống tư bản phương Tây vào nước ta, đặc biệt là lối sống thực dụng, vụ lợi và chủ nghĩa cá nhân, sùng bái đồng tiền và dâm ô trụy lạc,…; chúng mọc nối, mua chuộc, kích động đội ngũ tri thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,…Qua đó, lôi kéo họ vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng diễn đàn quốc tế, các phương tiện tuyên truyền khác nhau để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Lợi dụng khoảng cách về nhận thức, tồn tại lịch sử và hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện chính sách đối với đồng bào các dân tộc ít người để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các đảng phải, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ. Chúng vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Tuyên truyền, phát triển tôn giáo trái pháp luật, làm cho tôn giáo trở thành một lực lượng đối lập, đối trọng với Đảng cộng sản Việt Nam, xúi dục các hoạt động phá rối an ninh, gây bạo loạn lật đổ.
