Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

CỜ ĐỎ SAO VÀNG - BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG ĐẶC BIỆT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Xuất hiện trong phong trào cách mạng năm 1940 ở Nam Kỳ, cờ đỏ sao vàng năm cánh gắn liền với lịch sử đấu tranh giành, giữ vững nền độc lập dân tộc và công cuộc đổi mới phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu của nhân dân Việt Nam.
Cờ đỏ sao vàng xuất hiện khi nào?
Cờ đỏ sao vàng năm cánh xuất hiện trong phong trào cách mạng năm 1940 ở Nam Kỳ.
Cờ đỏ sao vàng được ấn định là Quốc kỳ Việt Nam khi nào?
Năm 1941, trong chương trình Việt Minh xác định “sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”(1).
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, ngày 5/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 5-SL về việc bãi bỏ cờ quẻ ly và ấn định Quốc kỳ Việt Nam.
Sắc lệnh do Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký nêu rõ: Chiểu theo bản tuyên cáo của Hoàng đế Bảo Đại thoái vị ngày 24/8/1945 và bản Tuyên cáo ngày 28/8/1945 về việc thành lập Chính phủ lâm thời dân chủ cộng hoà, sau khi Hội đồng các Bộ trưởng đã đồng ý, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hòa ra sắc lệnh:
Khoản I: Cờ Quẻ Ly nay bãi bỏ.
Khoản II: Quốc kỳ Việt Nam ấn định như sau này:
a) Hình chữ nhật, bề ngang hai phần ba bề dài;
b) Nền mầu đỏ tươi, ở giữa có sao năm cánh mầu vàng tươi;
Kích thước và hình thể đã ấn định trong bản phụ đính theo sắc lệnh này.
Bản phụ Sắc lệnh ấn định Quốc kỳ Việt Nam:
Kích thước:
Nền cờ: Bề dài = a, bề ngang = 2/3a.
Sao: Từ trung tâm đến hết I góc lồi = 1/5a, từ trung tâm đến I góc lõm = 1/10a.
Mầu sắc: Nền mầu đỏ tươi, Sao vàng tươi.
Cách đặt sao: Ngôi sao vàng có 5 góc lồi và 5 góc lõm, trung tâm sao đặt đúng trung tâm nền cờ, một góc lồi quay thẳng lên phía trên theo đường AB.
Ý nghĩa của Quốc kỳ Việt Nam
Nền cờ màu đỏ tượng trưng dòng máu đỏ, màu của nhiệt huyết, ý chí, niềm tin, “tinh thần hy sinh chiến đấu cách mạng của nhân dân Việt Nam”(2), ngôi sao màu vàng tượng trưng “ánh sáng của vai trò lãnh đạo cách mạng” (3), nó còn là màu da vàng và năm cánh sao tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I, ngày 31/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội, khẳng định tầm vóc của cờ đỏ sao vàng: "Lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn, bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào còn ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó" (4).
Quốc kỳ Việt Nam nền đỏ sao vàng đã được Quốc hội Việt Nam chính thức công nhận trong bản Hiến pháp nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 9/11/1946: “Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh”.
Với việc Chính phủ ban hành Sắc lệnh ấn định Quốc kỳ và được Quốc hội thông qua thể hiện tính thống nhất về mặt pháp lý đối với việc sử dụng Quốc kỳ, quy định cũng như xác nhận đối với nhân dân và quốc tế về biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Cờ đỏ sao vàng năm cánh được sử dụng trang trọng trong tất cả các nghi lễ, các sự kiện quan trọng của nhà nước, trở thành biểu tượng thiêng liêng, đại diện cho sức mạnh tinh thần của dân tộc, thành niềm tự hào của nhân dân Việt Nam.
Trải qua quá trình phát triển của dân tộc, của đất nước, mỗi giai đoạn, lá cờ có thể được chỉnh sửa về hình thức để đẹp hơn và những quy định về sử dụng cũng có những điều chỉnh.
So với Quốc kỳ năm 1945, Quốc kỳ nền đỏ sao vàng theo mẫu năm 1956 có một chút điều chỉnh: “những cánh sao vàng từ nay không làm theo đường cong như trước mà làm theo đường thẳng”. Mặc dù vậy, hồn cốt của lá cờ và nội dung ý nghĩa không hề thay đổi, và trở thành một biểu tượng đẹp, ấn tượng, mang đậm nét dân tộc Việt.
Hướng dẫn về việc sử dụng Quốc kỳ
Năm 1956, cùng với việc ban hành mẫu Quốc kỳ, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã ban hành Điều lệ số 974-TTg ngày 21/7/1956 về việc dùng Quốc kỳ.
Ngày 2/10/2012, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã ban hành Hướng dẫn số 3420 /HD-BVHTTDL về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm thống nhất việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca. Hướng dẫn này được đưa ra căn cứ theo các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong đó có Điều lệ số 974-TTg ngày 21/7/1956 của Thủ tướng Chính phủ về việc dùng Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo hướng dẫn mới này, về hình Quốc kỳ: “…Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh…”
“…Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) Quốc kỳ.
Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều dài của Quốc kỳ.
Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ.
Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu.
Hai mặt của Quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau.
Nền Quốc kỳ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi...”
Về cách treo, “…Khi treo Quốc kỳ chú ý đừng để ngược ngôi sao. Treo ảnh, chân dung lãnh tụ cùng với Quốc kỳ thì ảnh phải thấp hơn Quốc kỳ hoặc để ảnh trên nền Quốc kỳ dưới ngôi sao…”
Thời gian treo: “…Quốc kỳ được treo trong các phòng họp, hội trường của các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước và các đoàn thể khi họp những buổi họp long trọng.
Quốc kỳ được treo ngoài trời vào dịp các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, tết cổ truyền của dân tộc và theo thông báo của Trung ương và chính quyền địa phương.
Quốc kỳ được treo hoặc mang đi ở những nơi tổ chức mít-tinh, diễu hành, động viên quần chúng, phát động thi đua sản xuất, thực hiện các phong trào cách mạng.
Các cơ quan Nhà nước, các nhà trường (kể cả học viện), các đơn vị vũ trang, các cửa khẩu biên giới, các cảng quốc tế phải có cột cờ và treo Quốc kỳ trước công sở, hoặc nơi trang trọng trước cửa cơ quan, Quốc kỳ phải đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định.
Trụ sở Phủ Chủ tịch, trụ sở Quốc hội, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trụ sở Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại các nước, Cột cờ Hà Nội, trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp (trừ Ủy ban nhân dân phường ở thành phố, thị xã), các cửa khẩu và cảng quốc tế treo Quốc kỳ 24/24 giờ hằng ngày.
Trụ sở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các đơn vị vũ trang, nhà trường treo Quốc kỳ từ 6 giờ đến 18 giờ hằng ngày.
Tất cả các cơ quan và đơn vị nói trên, đặc biệt là các cơ quan đối ngoại, khi có khách nước ngoài từ cấp Bộ trưởng trở lên đến thăm chính thức phải treo cờ quốc gia của khách cùng với Quốc kỳ…”
Dùng Quốc kỳ về việc tang:
“…Khi có quốc tang thì đính vào phía trên Quốc kỳ một dải vải đen, dài bằng chiều dài Quốc kỳ, rộng bằng 1 phần 10 chiều rộng Quốc kỳ.
Quốc kỳ để phủ lên linh cữu những người chết được Chính phủ quyết định làm lễ quốc tang. Những trường hợp khác được phủ Quốc kỳ lên linh cữu những người chết sẽ được quy định riêng…”
ST

TÁC HẠI CỦA VIỆC THIẾU TU DƯỠNG RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG

 Sáng 17/7, phiên tòa xét xử sơ thẩm 54 bị cáo trong vụ án “Chuyến bay giải cứu” chuyển sang phần tranh luận. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân đã trình bày bản luận tội và đề nghị mức án đối với từng bị cáo.

Bản luận tội nêu rõ, trong vụ án này, có 21/54 bị cáo bị truy tố về tội "Nhận hối lộ" xảy ra tại một số bộ, ngành, địa phương. Quá trình điều tra, truy tố và phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa xác định, các bị cáo đã có hành vi nhận tiền của đại diện các doanh nghiệp để đề xuất, trình duyệt, duyệt phát hành công văn để cấp phép các chuyến bay đưa công dân về nước.
Trong phần thẩm vấn tại phiên tòa, một số bị cáo cho rằng, hành vi nhận tiền của mình là do các doanh nghiệp cảm ơn sau khi thực hiện thành công các chuyến bay giải cứu. Viện Kiểm sát xác định đây là việc đánh tráo khái niệm cực kỳ nguy hiểm, có thể gây ra tiền lệ xấu cho xã hội; do vậy cần phải nhận thức cho đúng để loại bỏ văn hóa “phong bì” ra khỏi đời sống xã hội.
Đại diện Viện Kiểm sát khẳng định, hành vi nhận tiền của các bị cáo trong vụ án này là hành vi nhận hối lộ. Các bị cáo đang làm công việc thuộc chức trách nhiệm vụ của mình nên không thể coi là cảm ơn khi số tiền là bằng cả một gia tài mà nhiều người mơ ước, không thể coi là cảm ơn khi người đưa buộc phải đưa tiền. Đặc biệt là các bị cáo nhận một số tiền đặc biệt lớn cho cá nhân mình trong bối cảnh người dân và doanh nghiệp cả nước chắt chiu quyên góp cho Quỹ vaccine, cho công tác cứu trợ nhằm phòng, chống dịch.
Công tố viên nhấn mạnh, thủ đoạn phạm tội nhận hối lộ của các bị cáo được thể hiện dưới 2 hình thức chính, gồm: Đưa ra yêu cầu, thỏa thuận, mặc cả về giá buộc các doanh nghiệp phải đưa tiền; gây khó khăn trong việc thẩm định, đề xuất, duyệt cấp phép các chuyến bay dẫn đến các doanh nghiệp chi tiền theo “Luật bất thành văn” thì mới được cấp phép thực hiện chuyến bay.
Riêng bị cáo Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) bị đại diện Viện Kiểm sát đánh giá là đã lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao để gây khó khăn cho đại diện các doanh nghiệp tham gia chuyến bay combo và các doanh nghiệp xin cho công nhân, người lao động về nước phải chi cho Kiên theo mức tiền mà Kiên yêu cầu để được Bộ Y tế đồng ý xét duyệt các chuyến bay theo đề nghị của Bộ Ngoại giao. Kiên bị đánh giá là đã nhận hối lộ với số lần nhiều nhất, tổng số tiền nhiều nhất và thủ đoạn cũng trắng trợn nhất trong số các bị cáo với 253 lần nhận hối lộ, tổng số hơn 42,6 tỷ đồng.
Khi vụ án bị khởi tố, để che giấu hành vi phạm tội của mình, bị cáo Kiên đã chuyển khoản trả lại cho các doanh nghiệp và cá nhân đưa hối lộ số tiền hơn 12 tỷ đồng. Đồng thời, bị cáo nhờ các doanh nghiệp khai báo với cơ quan chức năng số tiền chuyển cho bị cáo là tiền vay mượn cá nhân. Do vậy, đại diện Viện Kiểm sát cho rằng cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cho bị cáo Phạm Trung Kiên.
Trong vụ án này, 4 bị cáo bị Viện Kiểm sát truy tố về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" đều nguyên là cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia gồm: Trần Việt Thái (cựu Đại sứ), Nguyễn Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Linh, Đặng Minh Phương.
Đại diện Viện Kiểm sát xác định, từ tháng 5-2021 đến tháng 1-2022, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia đã tổ chức được 8 chuyến bay đưa 1.891 người mãn hạn tù ở 19 trại chờ của Malaysia về nước. Trong quá trình tổ chức thực hiện 8 chuyến bay đưa người mãn hạn tù về nước, với vai trò là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Malaysia, Trần Việt Thái đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chỉ đạo Nguyễn Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Linh, Đặng Minh Phương thu, chi, sử dụng tiền của công dân trái quy định pháp luật, thu tiền cao hơn chi phí thực tế, gây hậu quả thiệt hại hơn 10 tỷ đồng.
Trong đó, Trần Việt Thái hưởng lợi cá nhân 580 triệu đồng, Nguyễn Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Linh mỗi người hưởng lợi cá nhân 480 triệu đồng. Còn bị cáo Đặng Minh Phương do hết nhiệm kỳ chỉ tham gia 4 chuyến bay nên liên đới gây thiệt hại hơn 5,7 tỷ đồng, hưởng lợi 220 triệu đồng./.
ST

Đoạn kết buồn cho trang mạng đen “Hội anh em dân chủ”

 Mấy hôm nay, cư dân mạng chộn rộn trước sự cáo chung của trang mạng đen “Hội anh em dân chủ” do Nguyễn Văn Đài làm chủ trò. Một số người còn tổ chức cái gọi là “hội luận”, đem “hoạn nạn” của Nguyễn Văn Đài ra chà xát thêm muối, thêm mắm. Có 2 luồng ý kiến:(1)Cho rằng vì Nguyễn Văn Đài đả phá nhiều đến chế độ chính trị ở Việt Nam, đặc biệt là gần đây nói nhiều đến vụ việc 11/6/2023 ở Đăk Lăk, nên bị Công an Việt Nam triệt xóa;(2)Cho rằng vì Nguyễn Văn Đài vi phạm một số điều cấm kỵ của Youtobe, bị đánh tới 3 gậy, buộc phải gỡ bỏ. Phần lớn các ý kiến nghiêng về loại ý kiến thứ 2. Những tưởng các ý kiến bình luận xung quang vụ việc này sẽ nghiêng về sự cảm thông, bênh vực đối với Nguyễn Văn Đài, nhưng ngược lại phần đông ý kiến lại tỏ thái độ bàng quan, đôi khi còn chế diễu Nguyễn Văn Đài. Có một điểm đáng lưu ý là, Nguyễn Văn Đài gửi tới cư dân mạng thông điệp từ nay về sau sẽ phân tích, bình luận “một cách nhẹ nhàng, tình cảm”, có nghĩa là không dùng ngôn từ bạo mồm bạo miệng nữa. Như vậy là, lâu nay Đài nói như bắn súng liên thanh vào chế độ chính trị ở Việt Nam, tung hô hết lời cho nền dân chủ phương Tây, nay nhận kết cục đắng ngắt trong họng, Đài mới có dịp tự kiểm lối phát ngôn cuồng nộ của mình. Có một số điều cấm kỵ trong ghi hình, phát tiếng trên các trang mạng xã hội như: không cổ súy cho tư tưởng bạo động, không thóa mạ uy tín cá nhân, tổ chức, không dùng mạng xã hội làm công cụ tấn công chính trị vào một nhà nước hợp hiến cụ thể. Thì xem ra, tất cả những lần “phát thanh truyền hình” trên trang mạng “Hội anh em dân chủ” đều vi phạm ở mức trầm trọng, nguy hại nhất. Cho nên, sớm muộn cái loa rè của Nguyễn Văn Đài bị tắc nghẽn là đương nhiên. Có ý kiến cho rằng, sau trang mạng của Nguyễn Văn Đài bị xóa thì sẽ đến trang mạng của ai? Với câu hỏi này, thật không khó trả lời, chắc chắn những trang mạng mà có nội dung và phương thức xuyên tạc kiểu như Nguyễn Văn Đài thì rồi sẽ đến ngày cáo chung. Trong đó, cái trang mạng mang danh Thoibao.de của Lê Trung Khoa ắt cũng phấp phỏng chờ ngày thần sấm trên không gian mạng gõ cửa, lôi đi gặp trang mạng “Hội anh em dân chủ”, bấy giờ tha hồ chúng liên kết trổ tài nói xấu chế độ chính trị ở Việt Nam.

Nhân việc này, có mấy lời gửi những ai chuyên doanh chính trị trên trạng mạng xã hội: Thứ nhất, bất kỳ quốc gia nào cũng có chủ quyền, không chỉ là chủ quyền lãnh thổ trên đất liền, trên biển, trên không, mà còn có chủ quyền trên không gian mạng; Thứ hai, trong sự phát triển xã hội và tồn tại thể chế chính trị ở từng nước, dù ở cấp độ quốc gia, tổ chức phi chính phủ hay cá nhân, thì đều phải tôn trọng các nguyên tắc trong quan hệ quốc tế, trong ứng xử chính trị; Thứ ba, văn hóa ứng xử giữa con người với con người dựa trên các giềng mối đạo lý, nếu ai đó đem lòng phản quốc thì kết cục đều bi thảm. Người quân tử không nên đâm kẻ ngã ngựa, nên khuyên mọi người đừng nên đả kích gay gắt đối với Nguyễn Văn Đài. Vì giờ đây, anh ta đã bắt đầu thấm thía thân phận bồi mép tuyên truyền phản động dưới chiêu bài đấu tranh vì “dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”. Chắc là những kẻ thuê mướn, lôi kéo, dung dưỡng cho Nguyễn Văn Đài cũng đang rơi vào tình cảnh bối rối, tìm cách trục vớt cái loa rè chống cộng Nguyễn Văn Đài, nhằm tiếp tục “vắt chanh” một kẻ vong ân bội nghĩa đối với Tổ quốc. Nhưng dù có làm thế nào đi chăng nữa, thì chắc rằng sau cú ngã ngựa này, Đài và đồng đảng cũng sẽ phải cúi mình, bịt tai, che mắt trước miệng lưỡi thiên hạ, nhất là trước các trang mạng xã hội đang mọc lên như nấm gặp mưa, buôn đủ thứ tầm phào. Có ý kiến cho rằng, sau việc Nguyễn Văn Đài bị triệt xóa, “các dư luận viên sẽ rất vui mừng”, vì đã nhổ được một cái gai lớn trên không gian mạng. Nói như thế chưa hẳn đã đúng, vì từng có nhiều ý kiến không phải là của dư luận viên (đối tượng mà Nguyễn Văn Đài thường miệt thị là “bò đỏ”, “bưng bô”), họ đòi tống cổ Nguyễn Văn Đài vào tù lần nữa. Những dư luận viên đủ hiểu, trên không gian mạng còn rất nhiều kẻ theo đuổi nghiệp chống phá chế độ như Nguyễn Văn Đài. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, mở rộng ra lịch sử nhân loại cho thấy, cái mới ra đời bao giờ cũng gặp phải sự cản trở, chống phá của cái bảo thủ, lạc hậu, phải đối mặt với lực lượng phản động. Ở Việt Nam, thời nào cũng có những bậc anh hùng kỳ tài giúp dân dựng nước, bảo vệ giang sơn gấm vóc, nhưng cũng nảy nòi không ít kẻ theo đóm ăn tàn, ôm chân ngoại xâm, “rước voi giày mả tổ”. Trên mặt trận tư tưởng của Đảng, không gian mạng là mặt trận vô hình, không thấy rõ nơi ở, nơi ẩn náu, nơi trà trộn của kẻ địch, nhưng hình ảnh và lời nói của chúng lại phát trực tiếp tới cư dân mạng, chúng lượm lặt một vài thông tin thật, trộn lẫn một ít thông tin bịa đặt, nhào nặn ra thứ bánh độc đầy màu sắc, người đọc, người nghe nếu thiếu thông tin, thiếu suy xét, thiếu bản lĩnh thì rất dễ mơ hồ, lung lạc, dao động, cứ như thế tự diễn biến, tự chuyển hóa. Thành công của các trang mạng xã hội được đo bằng số lượt truy cập (thành công kinh tế), nhưng đáng nói hơn là số cư dân mạng bị mê hoặc không biết đâu là thật hay giả trên mạng (thành công về tác động tiêu cực đến trí não con người). Sự tác động tiêu cực không mang tính vu vơ, mà có chủ đích lâu dài, có nghĩa là làm xói mòn lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ, hòng cản phá con đường đi lên CNXH của Nhân dân Việt Nam. Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa hay nhiều trang mạng xã hội khác đều chung âm mưu thâm độc như vậy. Hy vọng rằng, cái kết chát đắng của trang mạng “Hội anh em dân chủ” sẽ ít nhiều thức tỉnh, cảnh báo đối với các loa tuyên truyền phản động. Đừng có vô độ ngang tàng nói xấu chế độ, đó là một loại Chí Phèo thời hiện đại lang thang trên không gian mạng. Nhưng, muốn điều chỉnh cái mồm thì phải khắc chế cái tâm, phải cải cái não trạng, giảm đi sự cuồng nộ chống cộng. Đó mới thật sự là không ngoan./.
ST

10 ĐIỀU NGƯỜI DÙNG MẠNG XÃ HỘI PHẢI BIẾT VÀ CẢNH GIÁC CAO ĐỘ

 1. Người nổi tiếng chưa chắc nói gì cũng đúng. Giả mạo người nổi tiếng là một nguy cơ cao mà bọn phản động hướng tới. Thông tin được chia sẻ nhiều chưa chắc là thật. Hãy tìm hiểu kỹ trước khi cổ vũ, tuyên truyền.

2. Cái xấu bao giờ cũng lan truyền nhanh hơn cái tốt. Vì thế chịu khó tuyên truyền cái tốt nhé!
3. Các thông tin xuyên tạc nguy hiểm bao giờ cũng ẩn mình một cách kín đáo và khéo léo trong các vấn đề xã hội nhạy cảm.
4. Đảng và Nhà nước không lãnh đạo sai. Chỉ có cá nhân làm sai. Vì thế, khi nói về tiêu cực cần phải chỉ rõ là ai sai, động cơ và mục đích là gì. Không được phép đổ lỗi cho Đảng và Nhà nước.
5. Chỉ nên chia sẽ các thông tin không liên quan hoặc không có yếu tố chính trị gây mất ổn định tình hình bảo vệ và phát triển đất nước.
6. Cảnh giác cao độ, đừng quá cả tin. Hình ảnh, video hoàn toàn có thể làm giả. Cần xác minh tính chính xác của thông tin thông qua các kênh thông tin chính thống của Việt Nam.
7. Đối với một thông tin nếu có lợi cho Tổ quốc hãy tuyên truyền. Nhất quyết không tuyên truyền các thông tin tiêu cực, bất lợi với sự nghiệp cách mạng, bất lợi với Quốc gia, dân tộc.
8. Chung tay bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc là sứ mệnh của tất cả mọi người. Việt Nam chiến thắng mọi kẻ địch mạnh nhất đều phải sử dụng “chiến tranh nhân dân”.
9. Và đến nay, chiến trường mạng xã hội, các bạn hãy gương mẫu, thể hiện tinh thần dân tộc đoàn kết, chung tay góp sức vào công cuộc bảo vệ sự nghiệp cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.
10. Mỗi công dân Việt Nam yêu nước, nếu sử dụng Facebook đều phải trở thành những chiến sỹ trên mặt trận thông tin, đều là thành viên của lực lượng chống thông tin xấu độc trên không gian mạng. Đây cũng được gọi là sự nghiệp cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. /.
ST

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN, XUYÊN TẠC SỰ HY SINH CỦA CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ

 

Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 có ý nghĩa quan trọng với người dân Việt Nam - thể hiện truyền thống hiếu nghĩa, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thể hiện sự tri ân, trân trọng những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc, lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, cán bộ đối với thương binh liệt sĩ và người có công với cách mạng. Bên cạnh những hoạt động tri ân diễn ra trên khắp mọi nơi thì đâu đó, bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để hạ thấp giá trị sự hi sinh của các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, mạng xã hội đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền kích động, chống phá. Chúng xuyên tạc, đưa ra các bài viết, video clip với luận điệu lập lờ, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, xuyên tạc rằng: “Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là không cần thiết, vô nghĩa để hình thành chế độ cộng sản”. Hay chúng lợi dụng một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện chế độ, chính sách đối với người có công để xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước đã “lãng quên, không quan tâm đến thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng”. Chúng lôi kéo, kêu gọi, tập hợp những người bất mãn để lập ra các câu lạc bộ, hội, nhóm cựu chiến binh, từ đó kích động biểu tình, viết thư ngỏ đòi yêu sách, gây rối an ninh trật tự.


Những phương thức, thủ đoạn chống phá trên tuy không mới trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng.


Trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi thanh xuân, sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc, dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh hoặc mang thương tật suốt đời. Máu đào và sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ đã thấm vào mảnh đất quê hương, hồn cốt dân tộc, để đất nước độc lập, tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ mãi mãi không bao giờ được gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Các Anh hùng liệt sĩ, thương binh "đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi". Khúc tráng ca vang vọng ấy sẽ mãi muôn đời lưu truyền với sử xanh, đúng như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: Họ chiến đấu, hy sinh để Tổ quốc ta độc lập, tự do, thống nhất và dân tộc ta mãi mãi trường tồn. Tinh thần bất diệt, tấm gương sáng ngời của họ sẽ sống mãi với non sông Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời vinh danh, ghi nhớ công ơn, luôn tự hào, nguyện kế tục và thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, xứng đáng với những hy sinh, cống hiến to lớn của các bậc cách mạng tiền bối, các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, đồng bào, chiến sĩ cả nước.


Ngày 27/7 hằng năm đã đi vào lịch sử đất nước như một dấu ấn nhắc nhở mọi người về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, ghi công các Anh hùng liệt sĩ, quan tâm và dành những tình cảm đặc biệt, chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chăm sóc người có công đã thực sự trở thành phong trào rộng khắp, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương.


Phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, trong những ngày tháng 7 thiêng liêng, lực lượng Quân đội đã tích cực tổ chức các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa, thể hiện sự biết ơn sâu sắc của lực lượng Quân đội đối với những đóng góp, hy sinh của các vị cách mạng tiền bối trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đã tổ chức dâng hương tại các địa chỉ lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ; thăm hỏi, tặng quà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương, bệnh binh trong và ngoài lực lượng Quân đội


Chiến tranh đã lùi xa nhưng sự hi sinh quên mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân của các Anh hùng liệt sĩ, những thương bệnh binh, người có công với cách mạng sẽ mãi lã những tượng đài lịch sử bất tử sống mãi trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước chỉ càng bộc lộ rõ bản chất vô ơn, bạc nghĩa, mưu đồ xấu xa, đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc của các thế lực thù địch, phản động; mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn.

PBVN ST 

TỰ DO TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM LẠI ĐƯỢC ĐƯA RA ĐỂ BỚI MÓC?!

 "Việt Nam Có Tự Do Tôn Giáo Hay Không?"

Câu hỏi đó một lần nữa là chủ đề trong cuộc phỏng vấn giữa phóng viên Saigon Broadcasting Television Network với cha Mathew Nguyễn Khắc Hy là một thần học gia và là một giáo sư nổi tiếng đang dạy học tại Đại Chủng Viện Mẹ Lên Trời (Assumption Seminary) tại San Antonio, TX".
Về toàn bộ nội dung phỏng vấn những ai quan tâm có thể theo dõi trên Saigon Broadcasting Television Network. Ở đay Trang Người Công Giáo chỉ muốn nói rằng: Dường như với đám người Việt chống cộng ở hải ngoại, trong đó chủ yếu là những người theo tôn giáo quá nghèo nàn trong những chiêu trò chống phá của mình. Nghèo đến độ xoay đi, xoay lại chúng chỉ nói về "tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam" và đặt ra câu hỏi tại VN có hay chưa và tại sao? Ngoài ra chúng không nghĩ và thi triển cho được những chủ đề khác. Thế nên mới có chuyện chủ đề này lặp đi, lặp lại một cách tuần tự, đến hẹn lại lên mặc cho thành quả về tự do tôn giáo tại Việt Nam là một thứ không thể phủ nhận. Đến nhiều quốc gia từng có tư tưởng, thái độ thù địch với VN cũng phải thừa nhận và công nhận VN thực sự là điểm sáng về việc thực thi quyền tôn giáo, quyền tự do tôn giáo.
Vậy thì ở đây, việc nêu vấn đề "Việt Nam Có Tự Do Tôn Giáo Hay Không?" không vì VN đang có vấn đề vì điều này mà đơn giản đó là cái mà họ luôn nghĩ đến khi nhắc đến VN hoặc thực hiện mục tiêu chống phá Việt Nam.
Danh tiếng, tài năng và sự tinh tế trong nhìn nhận, đánh giá từng vấn đề của cha Mathew Nguyễn Khắc Hy là điều không thể phủ nhận. Nhưng nên biết và cần biết rằng, Ngài ở bên ngoài và thiếu thông tin thì đừng mong Ngài có được cái nhìn chân thực về tự do tôn giáo tại VN. Đó là chưa nói, với cách đặt chữ vào miệng người khác, định hướng chiều hướng phát biểu của người khác từ phóng viên Saigon Broadcasting Television Network thì không lấy làm khó hiểu khi câu trả lời vẫn luôn là không, thậm chí cho rằng VN vi phạm trầm trọng quyền tự do tôn giáo và khuyến cáo nhà nước VN cần có sự thay đổi để đảm bảo thứ quyền quốc tế này khi muốn bước vào sân chơi chung của thế giới.
Cần lắm những tiếng nói công tâm, khách quan về tự do tôn giáo tại Việt Nam là vì thế!
ST

KIÊN QUYẾT ĐẨY LÙI TỰ DIỄN BIẾN TỰ CHUYỂN HÓA

 Trận địa tư tưởng, báo chí là trận địa phức tạp, nhạy cảm, những biểu hiện tự diễn biến tự chuyển hoá diễn ra liên tục, lâu dài với những âm mưu chống phá vô cùng thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, dần dần tác động vào tâm lý, tư tưởng của nhân dân và cán bộ, đảng viên, dẫn đến phai nhạt lý tưởng, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chuyển hoá thành những hành vi chống phá Đảng, chống phá chế độ.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là tình trạng tiêu cực, là sự tự biến đổi, thay đổi trong tư tưởng chính trị, trong nhận thức và hành động của các tổ chức, cá nhân trong cả hệ thống chính trị, đi ngược với mục tiêu, lý tưởng, đạo đức cách mạng của Đảng và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; làm giảm sút, dẫn đến triệt tiêu vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Đảng, của chính quyền và đoàn thể các cấp; làm gia tăng các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội.
Thực tế thời gian qua, trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện và xử lý trường hợp nào có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tuy nhiên đã phát hiện và xử lý nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, trong đó năm 2021 đã xử lý 484 tổ chức đảng và đảng viên, vi phạm về: Vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có lúc còn tùy tiện, gây khó khăn cho người dân; nói không đi đôi với làm; chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, công chức, chưa thực sự là “công bộc của dân”; thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng dân, chưa thực sự thể hiện mối quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ; thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chưa gần gũi, lịch sự, nhã nhặn, nhiệt tình, trách nhiệm, tận tụy, trung thực; vẫn đùn đẩy, né tránh; mất đoàn kết nội bộ, không hợp tác, trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, chưa thường xuyên, tích cực học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tham mưu chuyên môn còn để sai sót; thiếu tu dưỡng, rèn luyện, có suy thoái, vi phạm... Điều đó cho thấy tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong nội bộ có thể bị các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng để phá hoại nội bộ.Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan văn hóa ứng xử trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý cán bô, đảng viên, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ bị các phần tử xấu lợi dụng bôi nhọ, kích động chống phá./.
ST

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 18/7

 “Dựa vào nhân dân thì việc gì, dù khó đến đâu cũng có thể làm được”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sức mạnh nhân dân” bút danh H.B, đăng trên Báo Nhân dân số 502, ngày 18 tháng 7 năm 1955.
Đây là năm đầu miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào khôi phục kinh tế, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, nhằm mục đích củng cố hòa bình, tiếp tục thực hiện sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cần phải phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ, sức mạnh của toàn dân để giành thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng và đề cao vai trò của nhân dân, Người chỉ rõ: Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Đây chính là triết lý về vai trò của nhân dân và mối quan hệ giữa Đảng với dân; là định hướng về tư tưởng, thái độ và hành động cho cán bộ, đảng viên trong quan hệ với nhân dân. Yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; luôn tôn trọng dân, lắng nghe và học hỏi dân; khơi nguồn sức mạnh trong dân, biết dựa vào dân để giải quyết các công việc cách mạng.
Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng và làm tốt công tác dân vận, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân để giành thắng lợi trong kháng chiến, kiến quốc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, tin tưởng và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mối quan hệ quân – dân là một hình mẫu tiêu biểu cho mối quan hệ máu thịt, cá – nước, thủy chung vẹn toàn, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực làm tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, giúp dân phát triển kinh tế – xã hội; xóa đói, giảm nghèo; xóa mù chữ; xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,… Qua đó, không ngừng củng cố, giữ vững mối quan hệ gắn bó quân dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, thiết thực thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới./.
ST

KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN, LƠ LÀ, MẤT CẢNH GIÁC TRONG CÔNG TÁC ỨNG PHÓ BÃO SỐ 1

 

Trước diễn biến bão số 1 tiếp tục mạnh thêm và có khả năng đổ bộ vào các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, sáng 17-7, Ban Chỉ đạo quốc gia về Phòng, chống thiên tai tổ chức cuộc họp trực tuyến với các địa phương bàn giải pháp ứng phó cơn bão số 1. Phó thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang chủ trì cuộc họp.
Phát biểu tại cuộc họp, ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về Phòng, chống thiên tai cho biết: Tính đến 6 giờ sáng nay (17-7), lực lượng biên phòng ven biển phối hợp với chính quyền địa phương đã thông báo, kiểm đếm, hướng dẫn cho 52.188 tàu với 226.183 người biết diễn biến, hướng đi của bão để chủ động di chuyển phòng tránh. Hiện không còn tàu thuyền hoạt động trong vùng nguy hiểm. Tuy nhiên, cần quan tâm đến các tàu nhỏ, tàu du lịch đi về trong ngày.
Về tàu vận tải, theo báo cáo của Bộ Giao thông vận tải, khu vực từ Quảng Ninh đến Nghệ An có 553 tàu biển và phương tiện thủy nội địa đang hoạt động; các phương tiện đã nhận được thông tin về bão số 1. Về nuôi trồng thủy sản, các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Nghệ An có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 119.803ha, 3.806 chòi canh, 20.189 lồng, bè; các địa phương đã thông tin về bão cho người dân để chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn.
Tình hình du lịch trên các đảo, tính đến 18 giờ tối qua (ngày 16-7), tại Quảng Ninh, Hải Phòng còn tổng số 17.414 khách du lịch lưu trú trên các tuyến đảo (Quảng Ninh 4.096 người, Hải Phòng 13.318 người). Toàn bộ khách du lịch đã nhận được thông tin về bão và bắt đầu di chuyển về đất liền từ ngày 16-7. Đối với khách có nhu cầu ở lại đảo, chính quyền địa phương đã chỉ đạo các doanh nghiệp du lịch tổ chức bố trí nơi lưu trú an toàn.
Về tình hình các hồ chứa, hiện mực nước các hồ thủy điện lớn khu vực Bắc Bộ: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang đang thấp hơn mực nước cho phép (tính đến 5 giờ ngày 17-7: Sơn La: thấp hơn 4,2m; Hòa Bình thấp hơn 9,41m; Tuyên Quang thấp hơn 5,2m; Thác Bà thấp hơn 7,35m).
Hồ thủy lợi khu vực Bắc Bộ có tổng số 2.543 hồ; trung bình đạt từ 32% - 80% dung tích thiết kế, một số tỉnh miền núi, hồ chứa ở mức cao như: Thái Nguyên 80%, Phú Thọ 79%, Ninh Bình 89%. Hồ xung yếu: 487; hồ đang thi công: 20.
Ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia cho biết: Dự báo bão số 1 sẽ đi vào bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc); do ma sát với địa hình, bão số 1 sẽ giảm cường độ khoảng 1-2 cấp. Từ trưa và chiều ngày 18-7, trong đất liền các tỉnh, thành ven biển khu vực Bắc Bộ sẽ có gió mạnh gây nguy hiểm.
Bão số 1 gây ra với lượng mưa phổ biến từ 200-400mm, một số nơi có thể lên 500mm, khu vực Thanh Hóa, Nghệ An có lượng mưa ít hơn khoảng 50-100mm. Cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất ở các địa phương: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Yên Bái.
Phát biểu tại cuộc họp, Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam cho hay: Trong những ngày qua, lực lượng quân đội không chỉ làm tốt công tác ứng phó bão tại các đơn vị mà còn triển khai lực lượng ở các Quân khu 1, 2, 3, 4, Cảnh sát biển... giúp dân chằng chống nhà cửa, hướng dẫn neo đậu tàu thuyền ứng phó bão số 1.
Kết luận cuộc họp, Phó thủ tướng Trần Lưu Quang lưu ý, các bộ, ngành và chính quyền các địa phương không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trong công tác ứng phó bão số 1; chủ động linh hoạt trong công tác ứng phó, đặc biệt không để thiệt hại về người và tài sản của nhà nước và nhân dân./.
ST

MỘT CÂU ĐỐI - MỘT ĐỜI NGƯỜI "VĂN LO VIỆC NƯỚC VĂN THÀNH VÕ VÕ THẤU LÒNG DÂN VÕ HÓA VĂN"

 

Chỉ vẹn tròn mười bốn chữ bấy nhiêu
Đã kiến tạo bức tranh siêu toàn mỹ
Một kiệt tướng khắc tạc vào thế kỷ
Một anh hùng tên vị sáng lung linh.
Cả dân tộc cả thế giới nghiêng mình
Văn thể hiện đỉnh TINH ANH trí tuệ
Là kiến thức uyên thâm người đời kính nể
Là quyện hòa văn thế giống Rồng Tiên.
Là sử thi thấm đẫm máu MẸ HIỀN
Là lắng đọng hồn thiêng xưa vọng lại
Như HỊCH Truyền như tiếng khèn vang mãi
Là biết đau nỗi đau dân tộc trải lầm than.
Là chứng nhân sự hy sinh khổ đớn ngập tràn
Võ là lấy võ nghiệp TÂM AN hành triết lý
Tính nhân văn sáng bừng trong ý nghĩ
Đã theo ông thành CHÂN LÝ cuộc hành trình.
Vị tướng tài nhạy ứng đối phân minh
Đỏ rực cháy tim mình câu: "Dĩ công, vi thượng"
Trên tột đỉnh vinh quang NGƯỜI không màng thụ hưởng
Trải thăng trầm cay nghiệp tướng cầm quân.
Mỗi chiến công ông lại khóc lặng thầm
Đau cùng tận triệu người nằm ngã xuống
Để non nước trường tồn trên máu cuộn
Tổ Quốc này giá trả quá lớn lao!
Trái tim ông luôn thấm chữ: "Đồng bào"
Trọn đời sống không tơ hào danh nổi
Rất giản dị thật khiêm nhường quá đỗi
Sáng tên Người vị tướng hội lòng dân
Đức thanh tao và hành xử ân cần
Mãi sáng rọi vang ngân giây phút cuối
Chân trần bước lời Tổ Tiên vẫy gọi
Theo người THẦY vào lối mộng Thiên Thai.
Sau Hồ Chí Minh càng thấu tỏ không phai
Võ Nguyên Giáp là TÀI SẢN tinh thần vô giá
Là danh xưng của Việt Nam với năm châu biển cả
Người mãi là: "Hoa đất" lạ đẹp lung linh.
Là ngôi sao chiếu rực rỡ nước mình
Ông rời cõi là mở SINH cái mới
Về giá trị nhân văn, về niềm tin chói khởi
Thắp nén nhang lòng nhớ vị tướng tài ba.
Nhắc đến ông dòng lệ ứa nhạt nhòa
Người là bản Thánh Ca câu: "Dĩ công, vi thượng"
"TRĂM TUỔI LỪNG DANH VĂN ĐẠI TƯỚNG
NGHÌN THU VANG TIẾNG VÕ ANH HÙNG"
ST

NGƯỜI MẸ ĐẤT THÉP

 Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.

Tuổi thơ nhọc nhằn
bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân.
Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích.
Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến
Trong vòng 22 năm (1920-1942).
Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.
Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích…
Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!
Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”.
Tượng đài bất tử
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời.
Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành./.
ST


CHÍNH SÁCH THÔI VIỆC VỚI CÔNG CHỨC TINH GIẢN BIÊN CHẾ TỪ 20.7.2023

 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2023/NĐ-CP quy định về tinh giản biên chế, có hiệu lực thi hành từ 20.7.2023 và được áp dụng đến hết ngày 31.12.2030. Nghị định quy định về đối tượng, nguyên tắc, chính sách tinh giản biên chế và trách nhiệm thực hiện tinh giản biên chế trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cấp xã, trong đó có chính sách thôi việc với công chức, viên chức, đối tượng tinh giản biên chế.

Nghị định số 29/2023/NĐ-CP quy định chính sách thôi việc như sau:
1. Chính sách thôi việc ngay:
Đối tượng tinh giản biên chế có tuổi thấp hơn tối thiểu đủ 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 5 Nghị định này nếu thôi việc ngay thì được hưởng các khoản trợ cấp sau:
a) Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;
b) Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương bình quân cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
2. Chính sách thôi việc sau khi đi học nghề:
Đối tượng tinh giản biên chế có tuổi đời dưới 45 tuổi, có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật nhưng đang đảm nhận các công việc không phù hợp về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, có nguyện vọng thôi việc thì được cơ quan, tổ chức, đơn vị tạo điều kiện cho đi học nghề trước khi giải quyết thôi việc, tự tìm việc làm mới, được hưởng các chế độ sau:
a) Được hưởng nguyên tiền lương hiện hưởng và được cơ quan, đơn vị đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp) trong thời gian đi học nghề, nhưng thời gian hưởng tối đa là 06 tháng;
b) Được trợ cấp một khoản kinh phí học nghề bằng chi phí cho khóa học nghề tối đa là 06 tháng mức lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở dạy nghề;
c) Sau khi kết thúc học nghề được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng tại thời điểm đi học để tìm việc làm;
d) Được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương bình quân cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội;
đ) Trong thời gian đi học nghề được tính thời gian công tác liên tục nhưng không được tính thâm niên công tác để nâng bậc lương thường xuyên hàng năm.
3. Các đối tượng thôi việc quy định tại khoản 1, 2 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và cấp số bảo hiểm xã hội hoặc nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; không được hưởng chính sách thôi việc đối với công chức, viên chức theo quy định của pháp luật./.
ST

ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC - NHỮNG NGƯỜI LÀM HƯNG THỊNH ĐẤT NƯỚC CẦN CÓ CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỂ "HÚT" NHÂN TÀI

 Trí thức là một trong những hạt nhân nòng cốt để phát triển đất nước. Vì thế, xây dựng đội ngũ trí thức hùng mạnh thì phải có tầm nhìn xa, trông rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong hiện tại, tương lai và cả trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Muốn làm được điều đó thì phải có những chính sách đãi ngộ phù hợp thì mới thu hút được nhân tài.

Chăm lo phát hiện nhân tài
Theo PGS,TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội:
Cần nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ trí thức, nhân tài đối với sự phát triển đất nước hiện nay. Từ nhận thức đúng đắn đó, chúng ta mới có những cơ chế, chính sách, hành động cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo, sử dụng nhân tài. Thêm vào đó, cần tạo ra môi trường thuận lợi, có tính cạnh tranh công bằng và khuyến khích sự phát triển cá nhân, điều này có thể bao gồm việc ban hành các chính sách và quy định để khuyến khích trí thức phát huy năng lực của mình, hay các chính sách cung cấp cơ hội đào tạo và học tập liên tục, và đảm bảo tiến bộ dựa trên khả năng và đóng góp thực tế của đội ngũ trí thức. Phải có hệ thống giáo dục đáp ứng được yêu cầu của phát triển bền vững đất nước, tạo ra những người học có kiến thức sâu rộng, kỹ năng phản biện, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tạo điều kiện và khuyến khích trí thức trong việc nghiên cứu, phát minh và đổi mới. Điều này có thể bao gồm hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng, và sự đồng hành của chính phủ và các tổ chức liên quan để tạo ra môi trường thích hợp cho sự phát triển và ứng dụng các ý tưởng mới.
Ngoài kiến thức chuyên môn, theo PGS,TS Bùi Hoài Sơn, đội ngũ trí thức cần được đào tạo và phát triển các kỹ năng mềm như lãnh đạo, giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian và khả năng giải quyết vấn đề. Các kỹ năng này cần được coi trọng và tích cực đào tạo để trí thức có thể thích nghi và đóng góp hiệu quả trong môi trường công việc đa dạng và năng động, của nền kinh tế thị trường. Đội ngũ trí thức cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động hợp tác và giao lưu quốc tế để tiếp cận với các xu hướng, công nghệ và kiến thức mới. Điều này có thể giúp mở rộng mạng lưới liên kết và tạo ra cơ hội học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia và đồng nghiệp quốc tế.
Chăm lo phát hiện nhân tài, đó là một trong những trọng tâm để phát triển đất nước trong tương lai. Theo GS, TS Hoàng Chí Bảo, phải chăm lo phát hiện nhân tài từ lớp trẻ để cho họ có thể trở thành nòng cốt trong việc giải các bài toán phát triển Việt Nam trong những thập kỷ tới. Xây dựng đội ngũ trí thức trẻ Việt Nam là phải hết sức chú trọng các chuẩn mực, các tiêu chí cả đạo đức, năng lực, tài năng, bản lĩnh và giáo dục văn hóa.
GS, TS Hoàng Chí Bảo cho rằng: Hơn ai hết trí thức phải là một người có văn hóa trong ứng xử với nhân dân, với thế giới và bạn bè quốc tế nên phải chú trọng giáo dục văn hóa của giới trí thức, nhất là văn hóa đạo đức và chính trị, văn hóa ứng xử bởi đây là diện mạo của cả dân tộc.
“Theo tôi có những giải pháp để xây dựng đội ngũ trí thức như sau: Một là phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức từ trong tầng lớp trẻ; chọn nhân tài từ lúc là còn thiếu niên, nhi đồng bởi nếu không phát hiện và bồi dưỡng kịp thời thì sẽ mai một hoặc phát triển tự phát và phát hiện đúng nhân nhân tài để bồi dưỡng. Hai là, phải đổi mới chính sách đãi ngộ đối với các nhân tài. Giải pháp thứ ba là phải đổi mới giáo dục từ trong các nhà trường để nhà trường thực sự là vườn ươm các nhân tài và thực hiện được các quan điểm của Đảng, đột phá về chất lượng nhân lực cao thì phải chú trọng vào giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ. Từ lâu Đảng coi đây là quốc sách hàng đầu. Đấy là một lời tuyên bố rất là sáng suốt và đúng đắn, nhưng tiếc là nó chưa được cụ thể hóa thành một chương trình hành động, nó vẫn dừng lại là một tuyên bố, phải có chính sách, phải có biện pháp, phải có cách làm quyết liệt để cho đúng là quốc sách hàng đầu mới phát triển được thì đấy là một giải pháp cần thiết. Một giải pháp nữa là phải tạo được môi trường dân chủ”, GS, TS Hoàng Chí Bảo cho biết.
Phải có các giải pháp phù hợp
PGS,TS Bùi Hoài Sơn đánh giá: Thực tế đáng buồn hiện nay là, chúng ta đang chứng kiến hiện tượng "chảy máu chất xám", nhất là từ khu vực Nhà nước ra khu vực tư nhân, chẳng hạn như việc nhiều người được cử đi học nước ngoài rồi không trở về, thậm chí ngay trong chính một tổ chức, người tài không được sử dụng đúng chỗ đúng lúc.
PGS,TS Bùi Hoài Sơn khẳng định: Để xảy ra hiện tượng trên, đầu tiên, tôi cho rằng chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ trí thức, tài năng của chúng ta chưa thực sự phù hợp. Nếu chính sách chỉ dựa vào “ngôn từ” mà thiếu đi những đãi ngộ cụ thể thì sẽ rất khó để chúng ta giữ chân hay thu hút nhân tài. Thứ hai là lý do xuất phát từ văn hóa. Văn hóa của chúng ta có xu hướng đề cao tinh thần tập thể, tính cộng đồng hơn thể hiện năng lực cá nhân. Điều này thể hiện ở trong các tổ chức, văn hóa công việc và quản lý tổ chức không đáp ứng đúng các giá trị và nhu cầu của nhân tài có thể góp phần vào việc nhân tài ra đi. Sự thiếu minh bạch, công bằng và đánh giá công việc không chính xác dẫn đến việc bổ nhiệm hay đãi ngộ không tương xứng có thể làm cho nhân tài không cảm thấy được đánh giá và đề cao.
Một môi trường làm việc không phù hợp với cá tính cá nhân, không đảm bảo sự phát triển chuyên môn và không tạo ra cơ hội thăng tiến có thể khiến nhân tài không cảm thấy động lực và hài lòng. Nếu không có cơ hội nâng cao năng lực và phát triển cá nhân, nhân tài có thể tìm kiếm môi trường làm việc tốt hơn để phát triển tiềm năng của mình. Thứ ba là vấn đề kinh tế. Thu nhập không phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc giữ chân nhân tài. Nếu những nơi làm việc không thể cung cấp mức thu nhập hợp lý và các lợi ích khác như bảo hiểm, đãi ngộ khác, khiến người ta có thể tìm kiếm cơ hội khác có lợi ích kinh tế tốt hơn”.
Phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức từ trong tầng lớp trẻ.
Việc đặt các giải pháp về phát triển đội ngũ trí thức trong các giải pháp chung về phát triển đất nước bên cạnh nhau để thực hiện sự phát triển đất nước bền vững, nhanh chóng và hiện đại là việc làm rất cần thiết.
Đưa ra giải pháp tháo gỡ những khó khăn cho vấn đề “chảy máu chất xám”, theo GS,TSKH Nguyễn Quốc Sỹ, trước hết, Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp nên thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, sự trân trọng cầu thị, lắng nghe, tôn vinh trí thức, kiều bào. Đồng thời đánh giá khách quan, khen thưởng kịp thời, có chế độ đãi ngộ hợp lý cho trí thức kiều bào và ghi nhận những thành quả thiết thực mà họ đem lại cho xã hội và đất nước. Như vậy, họ mới sẵn sàng trở về làm việc, cống hiến, đem sức mình phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.
Một giải pháp khác, theo GS,TSKH Nguyễn Quốc Sỹ, là cần tập trung mọi nguồn lực của đất nước, xã hội cho phát triển khoa học công nghệ, trong đó phải lấy tiêu chí hiệu quả ứng dụng lên hàng đầu. Đất nước chúng ta còn nhiều khó khăn, vì vậy nhiều dự án, nhiều nhiệm vụ đều cần phải đầu tư.
Không thể đầu tư cho khoa học, công nghệ và phát triển đào tạo nguồn lực trí thức một cách dàn trải mà phải trọng tâm, trọng điểm. Phải chọn ra những chuyên ngành, những dự án, những hệ thống công nghệ theo thứ tự ưu tiên cho phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với chiến lược, mục tiêu, lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Tôi có được tham khảo hỏi ý kiến và cũng được biết một danh mục gần một trăm chuyên ngành công nghệ cao ưu tiên làm trọng tâm, trọng điểm cho phát triển đất nước. Nhưng nếu đã là trọng tâm, trọng điểm thì nó phải ít thôi, chứ đến hàng trăm thì có lẽ là nó đã không trọng tâm, trọng điểm rồi”, GS, TSKH Nguyễn Quốc Sỹ nói.
Mặt khác, để đáp ứng mục tiêu nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới, cần cải tổ lại bộ máy tổ chức, quản lý hệ thống khoa học và tập hợp, thu hút trí thức, trong đó có trí thức kiều bào, theo hướng gọn nhẹ, chuyên sâu, chuyên nghiệp, gắn với thực tiễn, với thị trường, lấy các tiêu chí về hiệu quả hoạt động đầu tư và ứng dụng lên làm đầu.
Ví dụ, không nhất thiết phải tổ chức bộ máy quản lý khoa học công nghệ và tập hợp trí thức theo ngành dọc ở các cơ quan Trung ương và tất cả các địa phương mà nên tính tới đặc thù phát triển của vùng miền, của từng ngành, lấy thế mạnh của từng địa phương để phát triển.
Theo GS,TSKH Nguyễn Quốc Sỹ, chúng ta cũng nên chú ý tới việc thu hút, tập hợp trí thức là người nước ngoài. Trong thế giới mở, đây thực sự là lực lượng trí thức quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, phải xây dựng hệ thống luật định có ưu đãi đặc biệt cho các chuyên gia cao cấp người nước ngoài tới Việt Nam làm việc hoặc hợp tác với Việt Nam trong các dự án quan trọng của đất nước.
Cùng với đó, tập trung xây dựng và phát triển một số tập đoàn khoa học công nghệ. Đây sẽ là cái nôi để thu hút, tập hợp, đào tạo và phát triển lực lượng trí thức cho tương lai của đất nước. Trong điều kiện thiếu thốn hiện nay, đây là việc tuy khó khăn nhưng vô cùng cần thiết và cấp bách...
Đánh giá về vấn đề “chảy máu chất xám” hiện nay, Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho rằng: Hiện nay do Việt Nam chưa đủ phương tiện, điều kiện để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học để các trí thức cống hiến nên buộc họ phải ra nước ngoài để nghiên cứu, đó là điều đáng tiếc. Vì thế, tôi cho rằng, Việt Nam nên tạo các điều kiện như một số nước cho các trí thức. Dĩ nhiên, nền kinh tế của chúng ta chưa mạnh bằng một số nước nhưng chúng ta có thể tạo điều kiện cho những nhà khoa học đó thực hiện các đề tài nghiên cứu.
“Có nhà khoa học tâm sự với tôi rằng, khi về Việt Nam không có phòng thí nghiệm và không có đủ điều kiện để cống hiến nên buộc phải ra nước ngoài mới có phòng thí nghiệm để thực hiện những nghiên cứu. Tôi rất tiếc, chúng ta chưa có nhiều phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn quốc tế chứ chưa nói đến việc có các thí nghiệm rồi phải đưa qua thực tế kiểm nghiệm. Việt Nam cần phải có nghiên cứu, tiếp thu và nghe các nhà khoa học phản ánh, kiến nghị, từ đó chắt lọc, tìm giải pháp để giúp cho các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu mà không cần phải ra nước ngoài vẫn cống hiến được”, Thượng tướng, Nguyễn Huy Hiệu nhấn mạnh.
Đội ngũ trí thức là tinh hoa của dân tộc. Vì thế, việc đãi ngộ, trọng dụng nhân tài phù hợp sẽ thu hút nhiều trí thức cống hiến tài năng, chất xám của mình vào công cuộc xây dựng đất nước./.
ST



NGUYÊN TẮC VÀ GIỚI HẠN

 Con người muốn có một cuộc sống yên ổn hạnh phúc thì cần phải đặt ra nguyên tắc và giới hạn cho bản thân. Nói gì thì nói, làm gì thì làm nhưng phải biết điểm dừng. Tự biết nhìn nhận đánh giá đúng khả năng của bản thân để lựa chọn những việc phù hợp vừa sức.

Nói gì hay làm gì thì cũng nên cân nhắc lợi hại trước sau, lời đã phát ra khó mà thu lại được, việc làm không suy tính dễ sai lầm, có những cái sai có thể khắc phục, có khi sai một ly đi luôn một dặm khó cứu vãn. Bởi vậy nên việc đặt ra giới hạn cho bản thân trong cuộc sống là hết sức quan trọng .
Giới hạn là do tự bản thân mình tự đặt ra, cũng có thể do cuộc sống đặt ra cho chúng ta. Giới hạn là điều cần thiết nên có trong các mối quan hệ, trong mọi công việc thường ngày. Giới hạn là vòng tròn an toàn bảo vệ bạn khi cần thiết, là khoảng cách cần thiết để bạn có thể tự do sống với những suy nghĩ , nghiêm khắc với bản thân, tránh sa ngã để rồi đánh mất chính mình. Chiến thắng ai không quan trọng mà chiến thắng bản thân mình mới là chiến thắng ý nghĩa nhất. Học cách bằng lòng với những gì mình có, cũng là một trong những cách để con người tìm đến sự bình an, tham thì kiểu gì cũng thâm, quá đà kiểu gì cũng trượt chân.
Trong mỗi con người luôn có khát vọng và tham vọng,khát vọng để phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, tham vọng muốn có được danh vọng, tiền bạc, địa vị nhưng không biết lượng sức mình, làm những việc vượt quá khả năng dẫn đến thất bại. Giới hạn sẽ giúp bạn biết cách dừng lại đúng lúc…
Giá mà những con người có địa vị, có danh tiếng, có quyền lực không để lòng tham che mờ lý trí, biết đâu là giới hạn thì đã không đến nỗi. Phải có nguyên tắc khi những đồng tiền hối lộ bất chính có nhét tận tay, năn nỉ ỉ ôi cũng quyết không nhận, thì ai làm gì được nhỉ ??? Một số bị cáo trong chuyến bay giải cứu giờ đây đến tính mạng cũng chưa chắc đã giữ được, tiền bạc địa vị danh tiếng bỗng tan tành như mây như khói, con cái dòng họ cả đời không dám nhìn mặt thật đáng buồn, đáng trách, đáng tiếc và rất đáng lên án./.
ST