Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các nước phương Tây, đặc biệt là
Mỹ, thúc đẩy “diễn biến hoà bình", âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng, từng bước chuyển hoá xã hội ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Do đó, với chúng ta đây là cuộc đấu tranh thường
xuyên và lâu dài. Các nước phương Tây sử dụng chính sách dùng vấn đề nhân
quyền, tôn giáo làm công cụ trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế và hợp tác
chống khủng bố. Gần đây, vấn đề nhân quyền chống ta lại càng được đẩy lên. Lợi
dụng đường lối cứng rắn của chính quyền Bush, các lực lượng chống Việt Nam tại
Mỹ, đặc biệt là nhóm người Việt phản động, đẩy vấn đề nhân quyền lên để ngăn cản
đà cải thiện quan hệ Việt-Mỹ. Do nhiều nguyên nhân, các lực lượng có thiện cảm,
ủng hộ Việt Nam tại Mỹ và các nước Tây Âu có xu hướng giảm đi trong hai năm
qua.
Tuy nhiên, trong
nhiều vấn đề và ở từng thời điểm cụ thể, việc chống ta về tôn giáo, nhân quyền
còn nhằm phục vụ
mục tiêu tranh thủ nội bộ, nhất là tranh thủ cử tri gốc Việt. Vấn đề dân chủ, nhân quyền, đặc biệt quyền tự do cá
nhân là mối quan tâm chung của đại bộ phận công chúng ở Mỹ và các nước
xã hội dân chủ Tây Âu. Trong tiềm thức, họ luôn coi vấn đề bảo vệ nhân quyền là một vấn đề quan trọng. Do đó, hàng năm họ nêu vấn
đề này với hơn 190 nước. Đáng chú ý, Mỹ cũng chỉ trích Tây Âu và ngược lại. Điều này cũng sẽ tồn tại lâu dài do có
sự khác nhau về hệ thống giá trị, hệ thống quan niệm giữa các nước, các nền văn
hoá. Để tranh thủ cử tri, mỵ dân, và làm lá bài chính trị giữa các đảng phái
chính trị tại quốc hội, các lực lượng chính trị luôn lợi dụng vấn đề này. Những
diễn biến trong những hoạt động chống ta tronglĩnh vực này cho thấy, nhiều vấn đề họ thúc đẩy
chỉ nhằm phục vụ mục tiêu tranh thủ nội bộ, trong một thời điểm và ở một số
phạm vi nhất định Những, cũng có nhiều vấn đề họ đã và còn tiếp tục nêu
ra, cho dù ta có đáp ứng như thế nào.
- Các lực lượng thù
địch cũng lợi đụng những thiếu sót của chính quyền các cấp, các địa phương của
ta trong giải quyết các vấn đề đất đai, dân tộc thiểu số và tôn giáo; các vụ
khiếu kiện ở địa thường; và việc ta tăng cường trấn áp các phần tử cơ hội chính
trị vi phạm pháp luật để vu cáo ta.
Cho tới nay, mặc dù
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về chính trị,
kinh tế, xã hội, góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm tốt hơn các quyền cho người dân Việt Nam, chúng ta vẫn còn
nhiều mặt cần phải củng cố, như hoàn thiện
hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, tăng cường công tác thông tin tuyên
truyền và xử lý kịp thời các vấn đề nhạy cảm khi mới nảy sinh, tránh tạo kẽ hở
để kẻ địch lợi dụng tăng cường chống phá ta về nhân quyền. Trên tình
thần đó, chúng ta chủ trương tích cực tham
gia đối thoại và hợp tác quốc tế để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người./.
a. Một số điểm trong
lĩnh vực chính sách pháp luật, bị Mỹ và phương Tây
thường xuyên công kích hoặc đòi xoá bỏ hẳn
Một mặt, các nước phương Tây
phải thừa nhận những cải cách kinh tế, pháp luật của Nhà nước ta đã đảm bảo tốt hơn việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người tại Việt Nam.
Mặt khác, họ ra sức chỉ trích, thậm chí bằng các thông tin sai lệch, tố cáo ta vi phạm nhân
quyền, cho rằng một số điều khoản trong Hiến pháp của ta không đảm bảo quyền tự
do của người dân. Đơn cử một số vấn đề sau:
- Trong các báo cáo,
các lực lượng thù địch ra sức đòi ta phải bỏ Điều 4 trong
Hiến pháp Việt Nam về vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Một số điều của Bộ
luật Hình sự liên
quan đến tự do dân chủ và tôn giáo, phương
Tây thường cho là quá mập mờ và dễ bị Nhà nước ta lạm dụng để hạn chế hoặc thậm
chí đàn áp tự do dân chủ và tôn giáo của người dân, đặc biệt là người dân tộc
thiểu số theo đạo Tin Lành, cụ thể như:
+ Điều
87 về tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc;
+ Điều 88 về tội tuyên
truyền chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Điều 258 về tội lợi
đụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội và của công dân.
- Nghị định 31/CP về
Quản chế hành chính cũng thường bị lên án là vi phạm chính Hiến pháp Việt Nam
và đặc biệt là Công ước quốc tế về Quyền dân sự chính trị mà Việt Nam là thành
viên. Hiện nay Mỹ và phương Tây đang ra sức đòi ta xoá bỏ Nghị định này.
b. Trong lĩnh vực các quyền cá nhân, đối phương thường tập trung vu cáo ta vi phạm các
quyền sau:
- Quyền
tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo: Chúng vu cáo, chỉ
trích ta "đàn áp” và cấm nhiều giáo phái tôn giáo hoạt động, đồng thời
kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tôn giáo nào đã được Chính phủ công nhận và cho phép. Đòi ta chấm dứt việc phủ
quyết đối với việc bổ nhiệm các Giám mục
Công giáo, hạn chế "có tính độc đoán" về số lượng học sinh được phép
đào tạo thành mục sư, linh mục, bắt giam hoặc quản thúc "vô cớ" một
số trường hợp giáo sĩ, chức sắc tôn giáo, "buộc" nhiều người thiểu số
ở các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên phải "bỏ đạo" bằng cách đe doạ xâm
hại tính mạng hay tịch thu tài sản..; cấm các mục sư "đi lại truyền đạo tự do", thậm chí hạn chế và
nhiều khi "cấm bừa bãi” các hình thức tụ họp hoạt động tôn giáo, "không cho" con em những
người theo tôn giáo đến trường...
- Quyền được giam giữ,xét xử công bằng: vu
cáo Chính phủ ta bắt giữ và giam cầm công
dân một cách tuỳ tiện, kể cả đối với những người thể hiện quan điểm chính trị,
tôn giáo của họ một cách hoà bình; không cho những người bị buộc tội được hưởng quyền có luật sư bào
chữa hoặc tham dự khi bị hỏi cung; xét xử thiếu công khai; áp dụng chế độ đãi
ngộ tù nhân hà khắc...
- Quyền tự do ngôn luận và báo chí: các thế
lực chống đối ra sức công kích, vu cáo ta thực hiện chính sách "quấy
nhiễu', "phân biệt đối xử", "đe doạ", "bỏ tù” hoặc có
hình thức giam giữ
đối với những cá nhân bày tỏ ý kiến
bất đồng với chính sách của Đảng và
Nhà nước một cách hoà bình; Đặc biệt là áp dụng nhiều điều khoản được định
nghĩa "mập mờ" về an ninh quốc gia và chống xuyên tạc, nêu trong Hiến
pháp và Bộ luật Hình sự, để ngăn
chặn mạnh mẽ các "quyền tự do" đó. Cho rằng ta kiểm soát chặt chẽ báo
chí, Internet và không cho phóng viên được tự do hoạt động.
- Quyền tự do hội
họp và bày tỏ quan điểm: trên khía cạnh này Chính phủ ta thường bị
chỉ trích là hạn chế và giám sát tất cả các hình thức biểu tình công khai. Những người muốn tụ tập thành nhóm phải xin
giấy phép và chính quyền địa phương có thể cấp hoặc từ chối tuỳ tiện. Nhìn
chung, Chính phủ không cho phép những cuộc biểu tình bị coi là do mụcđích chính trị...
- Quyền
được đối xử bình đẳng: các thế lực thù địch tiếp tục vu cáo ta phân biệt đối xử, thậm
chí ngược đãi người dân tộc thiểu số
và đàn áp họ về tôn giáo, có chính sách kì thị đối với người dân tộc.
- Quyền
tự do đi lại trong nước, đi nước ngoài, di cư và hồi hương: chúng vu cáo ta hạn chế việc đi lại của
những nhân vật bất đồng chính kiến với tôn giáo, quản thúc người không căn cứ vào
pháp luật...
Trên đây là một số
quyền cá nhân các thế lực thù địch vẫn lên tiếng cho rằng ta vi phạm, đáng chú ý là các quyền này đều là các quyền dân sự, chính trị vốn được xem
trọng hàng đầu trong xã hội phương
Tây.
Trong vấn đề nhân
quyền, Mỹ, các nước EU, Bắc Âu và úc thường có quan điểm tương đồng khi chỉ
trích ta, tuy ở mức độ khác nhau. Mỹ và EU công kích thô bạo; còn cách đề cập của Bắc Âu và Úc có phần phải chăng. Nhưng một điểm chung là xu
hướng các nước này ngày càng thể chế hoá, cơ chế hoá việc lên án ta về nhân
quyền dưới các dạng báo cáo, nghị quyết, khuyến nghị và đối lập cơ chế đối
thoại song phương. Các thể chế này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh
của Việt Nam trên trường quốc tế
-Mỹ: hàng năm
Mỹ có 4 báo cáo về vấn đề nhân quyền của Việt Nam: hai báo cáo của Cục Lao
động, Dân chủ và Nhân quyền thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, về tình hình nhân quyền vào tháng
3, và tự do tôn giáo các nước vào tháng 9;
“Báo cáo về Tình hình tự do tôn giáo các nước" của Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vào tháng 5 (riêng năm
2003 lần đầu tách riêng phần báo cáo về Việt Nam). Kể từ tháng 12/2002, mục 702
Luật Chuẩn chi hoạt động đối ngoại của Mỹ cũng yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ phải
báo cáo về tiến bộ của Việt Nam sau mỗi lầnđối thoại song phương về nhân quyền. Ngoài ra vào
tháng 6 hàng năm, Quốc hội Mỹ còn xem xét lại việc gia hạn miễn áp dụng
Tu chính án Jackson-vanik trên cơ sở xem
xét vấn đề di cư. Bên cạnh phương thức thể chế hoá việc tố cáo vấn đề nhân
quyền, tôn giáo của ta qua con đường báo cáo và dự luật, Mỹ cũng không ngừng
đưa ra các đòi hỏi về nhân quyền, tôn giáo trong các đối thoại song phương với ta.
- EU: Tháng 5 hàng năm,
Nghị viện Liên minh châu âu ra Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam, tuỳ trường hợp cụ thể, cũng có thể ra thêm Báo
cáo về Tình hình tự do tôn giáo (năm 2001).
Năm 2002, họ cũng ra một nghị quyết mới về tình hình Tây Nguyên ở Việt
Nam. Cùng trong năm này, Quốc hội Đức lầnđầu tiên có nghị quyết yêu cầu Uỷ ban
châu Âu và Chính phủ của các nước EU thực hiện điều khoản quy định về nhân
quyền trong Hiệp định khung năm 1995 về hợp tác giữa EU với Việt Nam; Thụy Điển
cũng lần đầu tiên ra Báo cáo về Tình hình nhân quyền các nước, trong đó có Việt Nam. Trong đối thoại với
Việt Nam, Troika EU ở Hà Nội thường xuyên yêu cầu ta cung cấp cho họ những
thông tin liên quan đến tình hình nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam.
- Ôxtrâylia: cho đến nay tuy
Ôxtrâylia chưa có cơ chế ra báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam song Chính phủ Ôxtrâylia tỏ ra rất quan tâm đến vấn đề tôn
giáo, nhân quyền ở Việt Nam. Cũng giống như các nước phương Tây, Ôxtrâylia đề
nghị ta cũng cấp thông tin về nhiều trường hợp bị pháp luật Việt Nam xét xử mà
họ theo dõi và cho là gắn với lý do
bất đồng chính kiến hoặc tôn giáo. Kể từ năm 2002, việc Ôxtrâylia đề nghị đối
thoại thường niên với ta về nhân quyền cho thấy sự chú ý ngày càng tăng của Chính phủ và Quốc hội úc đối với tình
hình nhân quyền ở Việt Nam, mặc dù ở mức độ
nhẹ nhàng hơn so với Mỹ và Tây Âu.
Cơ chế chống ta
về nhân quyền của các nước nêu trên cũng hết sức đa dạng và linh hoạt: có thể
qua các kênh chính thức như Chính phủ, Quốc hội; qua kênh các phương tiện
truyền thông như báo chí, phát thanh, truyền hình của cả chính giới lẫn tư nhân; và qua kênh các diễn đàn quốc tế trong và ngoài Liên hợp quốc
(phát biểu, thảo nghị quyết, gửi các kháng thư vu cáo ta tới các cơ chế có chức
năng theo dõi vấn đề nhân quyền của
các nước, điển hình như Tiểu ban và
Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc, nhằm tác động để các cơ chế này phải đưa
"vấn đề nhân quyền của Việt Nam" ra xem xét tại các khoá họp hàng
năm).
Chỉ tính riêng các
tổ chức phi chính phủ quốc tế đã có thể thấy thực trạng vu cáo ta trong lĩnh vực nhân quyền không
phải là nhẹ: Các báo cáo và kháng thư kêu
gọi của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), tổ chức ân xá quốc tế (AI), tổ chức Nhà báo Quốc tế (IJ), tổ
chức Văn bút Quốc tế (IP)... tất cả đều chung giọng điệu chỉ trích gay gắt tình
hình nhân quyền ở nước ta. Một số tổ chức
quốc tế về tôn giáo sau khi trở về từ chuyến đi thực địa tại Việt Nam năm 2002
thậm chí còn mặc nhiên tuyên bố trong báo cáo của họ rằng, Chính phủ
Việt Nam đã và đang lừa gạt cộng đồng quốc tế là họ đang có chủ
trương cải thiện về tự do, nhân quyền và tự do tôn giáo; thực chất Việt Nam
đang tiến hành chiến dịch chống đạo Tin Lành. Khoảng 60 vạn người H'mông ở vùng
núi phía Bắc đang sống rất khổ cực; 14 nghìn người di cư vào Tây Nguyên thường xuyên bị người Kinh phân biệt đối xử, đàn
áp và ngược đãi... hoàn toàn trái ngược
với những gì diễn ra trên thực tế.
Dựa trên những tài liệu sai sự thật này, các phương tiện thông tin đại chúng ở
nhiều nước phương Tây, đặc biệt là báo chí của lực lượng người Việt phản động
sống lưu vong ở nước ngoài tăng cường đưa tin, bài tuyên truyền, xuyên tạc nhằm
tác động xấu đến dư luận quốc tế về Việt Nam, cũng như kích động các phần tử
chống đối trong nước hoạt động ráo riết hơn. Một số đối tượng phản động người
Việt ở nước ngoài còn núp bóng các tổ chức phi chính phủ có quy chè quan
sát viên tại Hội đồng Kinh tế - Xã
hội của Liên hội quốc (ECOSOC), đề tranh
thủ lợi đụng các diễn đàn quốc tế của Liên Hợp Quốc làm nơi vu cáo ta về các
vấn đề nhân quyền, tôn giáo. Trong nước, được chính các đối tượng này liên lạc
và hậu thuẫn về tài chính, các phần tử cơ hội chính trị cực đoan cũng không bỏ
lỡ cơ hội để tuyên truyền bóp méo các chính sách của Nhà nước ta và rêu rao về
cái gọi là "sự vi phạm dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam".
Nước mắt Đại ngoại bên bo bo
Trong những năm sau chiến tranh chống Mỹ, tình nước, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành thời gian đi thăm các cơ sở sản xuất, trong đó có Hợp tác xã cơ khí đóng tàu Quyết Thắng, xã Nam Dương, huyện Nam Ninh, nay là huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.
Hôm ấy là ngày 2-4-1983, nhận được điện khẩn của Tỉnh ủy Hà Nam Ninh, ông Vũ Đình Đê, chủ nhiệm hợp tác xã cùng với gần 700 xã viên, dưới sự chỉ đạo của công an huyện khẩn trương chuẩn bị cờ hoa để đón Đại tướng. Không ai bảo ai, tất cả như một guồng máy.
Đúng 9 giờ sáng ngày 2-4-1983, chiếc xe “nhà binh” chở Đại tướng cùng đoàn xe tùy tùng và xe của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua cầu Vân Tràng, theo đê sông Đào đến cổng hợp tác xã... Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước xuống xe giơ tay vẫy chào các xã viên đứng hai bên đường bảo: “Nắng nôi thế này, các đồng chí đứng thế này làm gì cho mệt”. Nói rồi ông bắt tay từng người và đi thẳng xuống phân xưởng đóng sà lan và tàu lưới thép. Ông Đặng Công Thuần năm ấy mới ngoài 40 tuổi được Đại tướng bắt tay đầu tiên, và được hỏi thăm sức khỏe, công việc của phân xưởng.
Ông Thuần kể về những năm chiến tranh chống Mỹ, phân xưởng này ban ngày đi sơ tán vào làng nhưng vẫn mang theo nguyên vật liệu để sản xuất. Tối ưu trở về lán trại, dưới ánh sáng tỏa sáng gắn kết thành những thuyền gỗ nhỏ trọng lượng tải 5 tấn đưa vào miền Nam để phát sóng theo dòng kênh nhỏ khí vũ khí, thực lương, thực phẩm đến cho khu du kích hoặc căn cách mạng nào đó để chiến đấu đáp lại những cuộc quét quét của Mỹ-giả. Sau ngày hòa bình chuyển sang đóng sà lan thép và thuyền xi măng.
Đại tướng Võ nguyên Giáp xuống tận tổ sản xuất thăm hỏi từng người. Ông cầm từng thanh thép lên bảo: “Bắt thép này chúng ta nhập từ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, nó quý hơn vàng. Tại thời điểm đất nước ta đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các đồng chí cần tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu để xây dựng cơ sở như Bác Hồ Ngộ phải không?”. Mọi người đồng thanh: “Thưa Đại tướng phải ạ”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến bên một con thuyền xi măng đang chuẩn bị hạ phóng xuống dòng sông Đào để thử máy. Ông gõ vào thành thuyền, lấy thanh sắt gõ vào thân con thuyền bảo: “Thuyền này các đồng chí đóng được bao nhiêu ngày rồi?”.- “Thưa Đại tướng, được 27 ngày rồi ạ”, một đồng chí nữ công nhân trả lời. Đại tướng nói ngay: “27 ngày mà xi măng khô, gõ boong boong thế này là đảm bảo kỹ thuật đấy”. Các đồng chí lãnh đạo võ phục và chính quyền tỉnh đi theo ai cũng trầm tĩnh trang hiểu biết thực tế của Đại tướng.
Sau khi đi thăm cả hai phân xưởng, ông về nhà ăn. Lúc này các đồng chí cấp dưỡng đang chuẩn bị bữa ăn chiều cho công nhân, ai ai đều phấn khởi động. Đại tướng mãng ra hiệu cứ làm không cần phải dừng tay. Đại tướng đến bên một mãng và một hầm hầm bo bo (đây là loại mỳ còn nguyên hạt làm các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu viện hỗ trợ. Lúc ấy thiếu tiền thực lương nên những người ăn bình bầu dùng nó để ăn thay bình. Các hộ gia đình thường rang để ăn thay cơm như ăn ngô rang), ông lấy khăn tay mềm nước mắt. Mọi người cảm động nhìn nhau không có tiếng xì xầm. Ông nói với mọi người: “Các đồng chí ạ! Đất nước ta còn khó quá. Đảng và phủ Chính biết nhưng chưa giải quyết được. Các đồng chí cố gắng nỗ lực. Trong chiến tranh chống Mỹ các đồng chí đã đóng tàu thuyền phục vụ kháng chiến, trong hòa bình các đồng chí quyết tâm giữ lấy kho báu quý giá này để xứng đáng với cái tên “Quyết Thắng” mà đơn vị ta mang tên”. Ông nói vừa dứt thì tiếng vỗ tay hoan chiến vang lên trong nhà ăn. Như mọi khó khăn còn thiếu sót của thời kỳ hậu chiến đã được giảm bớt.
Bà Mai Thị Thân, gần 70 tuổi đời, 35 tuổi Đảng, đang cư trú ở thôn Vân Tràng nhớ lại ngày ấy cho biết: “Nhìn thấy Đại tướng bước vào nhà ăn, chúng tôi vừa sống vừa lo. Lễ kỷ niệm lần đầu tiên được gặp ông. Lo vì thức ăn chả có gì đáng kể. Động cơ bo bo. Thức ăn thì chỉ có rau muống dồn xì dầu cọ miến (loại hơi dầu chế biến bằng phương pháp thủ công). Không ngờ Đại tướng rất thông cảm và động viên đáp ứng kịp thời”.
Sau khi ghé thăm cơ sở sản xuất, nơi ăn, nơi ở của cán bộ công nhân viên và xã hội, Đại tướng khen: “Tuy khó khăn nhưng đồng chí ăn ở Phá Sản gọn gàng. Đặc biệt là không có hiện tượng chênh lệch giữa bộ lọc và xã hội. Thế là rất tốt”. Đại tướng trở về hội trường, ông nói nhiều về tình hình biên giới, về việc làm Mỹ cấm vận Việt Nam. Không khí buổi họp tại hội trường rất sôi động.
Những người có mặt trong buổi đón tiếp hôm nay, giờ đây đã trở thành thành ông bà. Có người đã qua đời như chủ nhiệm Vũ Đình Đê… Những kỷ niệm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần ông về thăm Hợp tác xã Quyết Thắng thì mãi mãi không phai mờ. Họ truyền lại cho con cháu những ấn tượng khó quên này để con cháu họ nối tiếp truyền thống cha ông sống xứng đáng với mảnh đất còn ghi dấu chân một vị tướng tài của dân tộc và của cả thế giới.
Khắc sâu lời Bác, thi đua dạy tốt, học tốt, nghiên cứu khoa học và công tác tốt
Cách đây 65 năm, nhân chuyến thăm công trình thủy nông Gia Thượng, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm , nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học viên Trường Cán bộ hậu cần (nay là Học viện Hậu cần). Những lời khuyên căn bản, dạy bảo của Người đã trở thành kim chỉ nam để các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Hậu cần vượt qua mọi khó khăn, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ service.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác hậu cần và đào tạo đội ngũ cán bộ hậu cần Quân đội. Trong suốt 72 năm xây dựng, trưởng thành, Học viện Hậu cần vinh dự được Bác trực tiếp đến thăm, nói chuyện, gửi thư động viên và dành nhiều tình cảm, sự quan tâm đặc biệt. Lịch sử truyền thống của nhà trường còn ghi lại: Ngày 7-9-1958, Bác đến thăm không báo trước, lại vào ngày nghỉ nên cán bộ, học viên nhà trường rất bất ngờ, vui sướng. Bác đi thăm nhiều nơi, từ nhà ở học viên, bếp ăn đến khu tăng gia, chăn nuôi... Bác hỏi han, động viên, khen ngợi cán bộ, học viên trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu thốn vẫn thực hiện được nền nếp chính quy, ổn định và cải thiện đời sống. Bác căn dặn mọi người phải nắm vững, thực hiện tốt nhiệm vụ của cách mạng, Quân đội; học tập phải kết hợp nhuần nhuyễn với thực hành. Bác khẳng định: Hậu cần là công việc rất quan trọng, rất đáng tự hào, lái xe, cấp dưỡng đều có tiền đồ nếu như mọi người làm tốt nhiệm vụ, chức trách của mình. Và Người căn dặn: “Vừa phải cố gắng dạy tốt, học tốt, vừa phải chú trọng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đúng là trường đào tạo cán bộ hậu cần”.
Vinh dự và tự hào, sau ngày Bác đến thăm trường, Hiệu ứng và Ban hiệu đã phát động Phong trào “Thi đua làm theo lời Bác”. Các huấn luyện viên chỉ tiêu, xây dựng nhà chính, tăng sản phẩm xuất khẩu đều được điều chỉnh nâng cấp. Toàn trường sôi nổi hưởng ứng phong trào thi đua. Giáo viên đi sâu vào cải tiến phương pháp huấn luyện, làm thêm nhiều mô hình học cụ, trợ giúp hỗ trợ học viên với khẩu hiệu “Tất cả vì học viên”; học viên có Phong trào “Tiên tiến giúp chậm tiến”, “Chưa cảm được bài còn học” và thực hiện “4 tốt” (tư tưởng tốt, học tập tốt, điều lệnh tốt, sản phẩm tốt).
Những năm sau này, quá trình đào tạo, nhà trường thường xuyên giáo dục các thế hệ học nhận thức tầm quan trọng sâu của công tác hậu cần Quân đội, về vai trò, trách nhiệm, trách nhiệm của người cán bộ hậu cần; luôn coi trọng việc gắn thuyết với thực hành, nhà trường gắn liền với chiến trường, đơn vị. Nhà môi trường xây dựng chủ động, điều chỉnh chương trình, tổ chức bồi dưỡng, đào tạo các đối tượng khác nhau, đáp ứng yêu cầu, phương châm đào tạo cán bộ hậu cần theo từng cách mạng; thường xuyên quan tâm chăm sóc xây dựng đội ngũ nhà giáo, đã chiến đấu hoàn bộ, giáo viên đi thực tế ở các chiến trường, các đơn vị, vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ được giao, vừa nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung vào bài giảng, biên soạn chương trình, tài liệu góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện viên của nhà trường.
Để động viên, khơi dậy khát cống hiến của cán bộ, giáo viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ, nhà trường Thúc đẩy phong trào thi đua, nổi bật là “Thi đua làm theo lời Bác”, “Đẩy mạnh thi đua lập công ơn Bác, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thi đua tốt, học tốt, nghiên cứu khoa học và công tác tốt”, “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” ... biến phong trào thi đua thành hành động cách mạng, tập trung đột phá vào những nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn. Ghi sâu lời bác dạy, nhà trường thường xuyên Đẩy mạnh tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm, tạo thành phong trào sôi nổi với nhiều mô hình sáng tạo, hiệu quả; thực hiện tốt quan điểm “hậu cần hai trong một”, vừa cải thiện, nâng cao đời sống bộ đội, vừa phục vụ huấn luyện thực hành, bồi dưỡng kinh nghiệm tổ chức tăng sản phẩm cho người học.
Không ngừng học tập và làm bác sĩ, bằng công sức, trí tuệ, các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ của Học viện Hậu cần xây dựng nên truyền thống vẻ vang: “Tuyệt đối trung thành, chủ động sáng tạo, tập bó chặt, dạy tốt học tốt, gắn kết với chiến trường, hướng dẫn về đơn vị”. Dù thời chiến hay thời bình, nhiệm vụ thường xuyên hay đột xuất, Học viện luôn vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhà trường đã đào tạo được hàng vạn cán bộ, nhân hậu cần, tài chính cho Quân đội. Các thế hệ học sinh khi ra trường đã có mặt ở khắp các chiến trường, đơn vị trong toàn quân, hái tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng Quân đội. Hàng chiến đồng đã được tặng huân chương, huy chương các loại, nhiều đồng chí đã trở thành thành viên cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội; được phong tặng danh hiệu cao quý... Học viện vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đó là những chứng chỉ sinh viên tôi đã chọn làm lời giảng dạy của Bác sĩ của các thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên, nhân viên, nhà trường học.
65 năm trôi qua, những hình ảnh và những động lực, những đặc điểm cần có của Bác sĩ khi đến thăm trường vẫn tiếp tục được ghi trong tâm khảm, là động lực để các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân thành viên, chiến sĩ Học viện Hậu cần không ngừng kết nối xây dựng Học viện ngày càng phát triển. Giữ gìn và phát huy kho báu quý giá, hiện nay, quản bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện đang thúc đẩy thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới; xây dựng Đảng Bộ Học viện trong Firmware mạnh mẽ, Học viện vững chắc toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, xứng đáng là “trường đào tạo cán bộ hậu cần” như lời dạy và mong muốn của Người dùng.
TCCS - Trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn xác định phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô; đặc biệt, đã gắn việc thực hiện dân chủ ở cơ sở với triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị tinh gọn, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng trò chuyện với người dân trong diện giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 4 - vùng Thủ đô tại xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhandan.vn
Đảng bộ thành phố Hà Nội là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở, gần 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% đảng viên của cả nước, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên khá cao so với mặt bằng chung cả nước. Thành ủy Hà Nội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.
Phát huy dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội - Những kết quả đạt được đáng ghi nhận
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được tăng cường.
Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14, ngày 27-11-2019, của Quốc hội, về “Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” từ ngày 1-7-2021, tại 175 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, Thành ủy Hà Nội đã chú trọng lãnh đạo các quận, thị xã triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thịgắn với phát huy dân chủ, nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phù hợp với tính chất đô thị, hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Thành ủy, chính quyền và các đoàn thể thành phố đã khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị bảo đảm công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường trách nhiệm trong triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; về thực hiện mô hình chính quyền đô thị, trong đó tập trung vào những điểm mới, những lợi ích của việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tuyên truyền trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, địa phương, các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và thành phố.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp của thành phố Hà Nội tăng cường công tác vận động, nắm chắc tình hình, dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những vấn đề khó khăn, vướng mắc, tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị để phản ánh, tham mưu, đề xuất với Thành ủy, các cấp ủy trong công tác định hướng dư luận, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện.
Công khai, minh bạch trong công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy; phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường trong điều kiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.
Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố lãnh đạo, chỉ đạo các quận ủy, thị ủy và UBND các quận, thị xã tập trung chỉ đạo việc phát huy dân chủ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự;phát huy vai trò lãnh đạo của đảng ủy phường.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ tại UBND các phường được tiến hành công khai, minh bạch, bảo đảm phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn. Đến ngày 1-7-2021, các quận và thị xã Sơn Tây đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tại 175 UBND phường. Thực hiện chuyển công chức phường tại 175 phường thành biên chế công chức thuộc UBND quận, thị xã.Đội ngũcán bộ chuyên trách khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở phường vẫn được giữ ổn định theo quy định. Công tác sắp xếp, bố trí công tác và giải quyết các chế độ, chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) phường sau sắp xếp, kiện toàn được thực hiện đúng quy định, không có đơn, thư khiếu nại, tố cáo.
Sau sắp xếp, cơ quan hành chính phường đã tích cực, chủ động điều hành, hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách trên địa bàn, trên cơ sở xác định rõ người, rõ trách nhiệm, rõ việc, hướng đến phục vụ người dân tốt hơn. Đảng ủy các phường đã thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, đổi mới trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng sâu sát cơ sở; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phát huy dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo được chú trọng; phát huy vai trò lãnh đạo theo đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Những quy định mới trong mô hình chính quyền đô thị đã tăng cường cơ chế trách nhiệm, phối hợp trong giải quyết và thực hiện thủ tục hành chính giữa quận, thị xã và phường. Chủ tịch UBND phường chủ động, có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân về mọi vấn đề trong phạm vi thẩm quyền của phường do mình quản lý; nâng cao tính tự chủ, phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của các phường trong quá trình phục vụ người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của phường, quận, thị xã nhanh và hiệu quả.
Việc ủy quyền công chức Tư pháp - hộ tịch được ký chứng thực đã phát huy hiệu quả; tạo điều kiện thuận lợi giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, công dân đến làm thủ tục hành chính. Công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi, làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; giảm tải áp lực, công việc cho chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường để tập trung giải quyết các nhiệm vụ. Tổng số hồ sơ chứng thực bản sao tại phường do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 63,6%; hồ sơ chứng thực chữ ký do công chức Tư pháp - hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực và đóng dấu UBND phường chiếm 59,1% tổng số hồ sơ chứng thực chữ ký tại UBND phường. Nhiều mô hình thí điểm được thực hiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, điển hình như UBND quận Hoàn Kiếm đã triển khai thực hiện mô hình “Các thủ tục hành chính không chờ” (Thủ tục hành chính không giấy hẹn, thực hiện ngay) tại các phường với hàng chục loại thủ tục hành chính khác nhau.
Công tác giám sátviệc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND quận, thị xã ở phường, giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường, HĐND các quận và thị xã được tăng cường. Kết quả cho thấy, các chủ thể này đã thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quyết định các giải pháp lớn để thực hiện chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phân cấp. Hội đồng nhân dân các quận, thị xã đã tăng cường các hoạt động giám sát đối với hoạt động của UBND phường, tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân để lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt quyền đại diện cho cử tri trên địa bàn. Các ban HĐND, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã được giao trách nhiệm thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các phường tại đơn vị bầu cử, tham dự các cuộc họp, hội nghị đối thoại, hội nghị tiếp xúc cử tri để kịp thời tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi, giải quyết theo quy định. Hội đồng nhân dân, thường trực HĐND, các ban của HĐND và các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đã tiến hành các cuộc giám sát chuyên đề đối với UBND phường. Ngoài giám sát chuyên đề, các tổ đại biểu HĐND quận, thị xã thực hiện giám sát thường xuyên về giải quyết kiến nghị của cử tri.
Mối quan hệ công tác giữa UBND, chủ tịch UBND phường với đảng ủy, bí thư đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường được quy định cụ thể rõ ràng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như của người dân trên địa bàn phường đối với hoạt động của UBND phường.
Công tác đối thoại với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân được thực hiện tốt, đã phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ tịch UBND các phường đã thực hiện tốt việc đối thoại định kỳ hằng năm với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn phường theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Thành ủy Hà Nội, về “Ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn thành phố”.
Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, UBND các phường đã tổ chức thực hiện nghiêm túc hội nghị đối thoại giữa chủ tịch UBND phường với nhân dân theo đúng quy định tại Điều 12, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP, ngày 29-3-2021, của Chính phủ, “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27-11-2019, của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội” (được tổ chức mỗi năm ít nhất 2 lần trước các kỳ họp thường kỳ của hội đồng nhân dân các quận và thị xã); theo đó, đã có 389 buổi đối thoại được tổ chức, các buổi đối thoại đều được tổ chức đúng thời gian quy định. Tại các hội nghị đối thoại, lãnh đạo phường đã báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn...; đồng thời, giải đáp các kiến nghị, phản ánh của nhân dân trên địa bàn. Qua đối thoại, chủ tịch UBND các phường đã tiếp nhận 2.940 kiến nghị của tổ chức, cá nhân; các kiến nghị của công dân, tổ chức được chủ tịch UBND các phường trao đổi trực tiếp, giải đáp công khai, dân chủ tại hội nghị (có 2.732/2.940 kiến nghị, đạt 92,9%). Đối với những kiến nghị chưa thể giải đáp ngay tại hội nghị, chủ tịch UBND các phường sẽ trả lời bằng văn bản sau hội nghị; các nội dung vượt thẩm quyền sẽ được báo cáo lên UBND các quận, thị xã để tổng hợp, trả lời.
Thông qua công tác đối thoại, người đứng đầu chính quyền đã có thể kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, quan tâm giải quyết các kiến nghị, đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, cung cấp thông tin tuyên truyền, vận động, giải thích để nhân dân hiểu rõ hơn những việc chính quyền các cấp đã làm được, cũng như những vướng mắc đang gặp phải để cùng tháo gỡ, giải quyết trên tinh thần xây dựng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhìn chung, công tác tiếp dân đượcUBND các phường thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
Giai đoạn từ 1-7-2020 đến 30-6-2021, có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 15.376 lượt công dân, tiếp nhận 4.408 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 4.239 kiến nghị (chiếm 96,2%), với các kiến nghị còn lại đang giải quyết, tiến hành báo cáo lên cơ quan cấp trên các nội dung vượt thẩm quyền.
Giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tiếp theo (từ 1-7-2021 đến 30-6-2022), có 175 phường của 13 quận, thị xã đã tiếp 14.022 lượt công dân (giảm 9% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm), tiếp nhận 3.462 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (giảm 20% so với trước thời điểm thực hiện thí điểm). Ủy ban nhân dân các phường đã giải quyết, trả lời 3.110 kiến nghị (chiếm 89,8%).
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các phường đã tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội.
Mặc dù không tổ chức HĐND ở phường, nhưng quyền dân chủ và giám sát của nhân dân vẫn được duy trì và ngày càng được nâng cao, thông qua các hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở thành phố Hà Nội; trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gắn với thực hiện có hiệu quả quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn thành phố; qua đó, nâng cao được vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố Hà Nội trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn tiếp công dân tại trụ sở Ban tiếp công dân thành phố_Nguồn: hanoimoi.com.vn
Qua hơn một năm thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tổ chức 447 cuộc giám sát và hàng nghìn cuộc giám sát của các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; trong đó, có 582 cuộc về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường đã tổ chức 153 cuộc phản biện xã hội, tập trung vào dự thảo nghị quyết, đề án, chương trình, quyết định của UBND các phường.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thí điểm thực hiện mô hình chính quyền đô thị gắn với thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, như việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy và hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chưa đạt hiệu quả cao. Đội ngũ cán bộ, chuyên trách ở phường gồm các chức danh bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, chủ tịch hội cựu chiến binh, bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường vẫn là cán bộ cấp xã, chưa được chuyển thành cán bộ thuộc biên chế quận, thị xã; do đó, chưa có sự đồng bộ, thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức phường.
Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND quận, thị xã tăng lên, trong khi số lượng đại biểu chuyên trách của HĐND quận, thị xã còn ít, nên việc tổ chức các hoạt động giám sát mới chỉ được duy trì ở mức độ như trước khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, chưa có sự thay đổi rõ nét, chủ động thực sự về số lượng và chất lượng khi không tổ chức HĐND ở phường. Hoạt động của HĐND ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND quận, thị xã tại các phường đạt hiệu quả chưa cao. Một số tổ đại biểu HĐND quận, thị xã chưa chủ động trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là việc tổ chức giám sát hoạt động của UBND, chủ tịch UBND phường.
Việc nắm bắt và tổng hợp tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trước, trong tiếp xúc, đối thoại còn chưa kịp thời; công tác tham mưu giải quyết các ý kiến, kiến nghị trong quá trình tiếp xúc, đối thoại có nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, chưa sâu sát; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong thực hiện kết luận sau tiếp xúc, đối thoại còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa thực sự rõ trách nhiệm.
Một mặt, với quy mô dân số trung bình của các phường thuộc các quận lớn, với hơn 22.300 người (theo tiêu chuẩn là 15.000 người), trong đó có 41 phường, có quy mô dân số hơn 30.000 người; với một số phường có quy mô dân số rất lớn, như phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai) là 82.891 người, phường Đại Kim (quận Hoàng Mai) là 54.295 người, phường Trung Hòa (quận Cầu Giấy) là 54.770 người, thì khối lượng công việc tại các phường là rất lớn, gây áp lực khi thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công chức phường. Số lượng biên chế công chức làm việc bình quân tại các phường là 15 người/phường, về cơ bản bằng mức bình quân công chức cấp xã, mà chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đối với các phường có quy mô dân số lớn.
Mặt khác, ngoài các nhiệm vụ theo chuyên môn được tuyển dụng, thì đội ngũ cán bộ, công chức phường đều được giao thêm nhiệm vụ theo dõi, nắm bắt tình hình tại các tổ dân phố, trong khi chế độ, chính sách không có gì thay đổi, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ, công chức phường tận tâm, tận lực trong công việc, công tác. Thực hiện theo cơ chế quản lý mới, phường là một đơn vị dự toán, phụ thuộc vào dự toán của cơ quan cấp trên, nên một số nhiệm vụ phát sinh đột xuất không có trong dự toán sẽ gặp phải khó khăn trong triển khai, thực hiện. Việc bố trí kinh phí chi lương, phụ cấp, các khoản theo lương và chi hoạt động của đảng ủy, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong kinh phí dự toán của UBND phường chưa thật sự thuận lợi, chưa bảo đảm tính chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy và hoạt động của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tại phường.
Nguyên nhân khách quan: Tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Đồng thời, việc triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị là việc mới và khó; trong khi đó, hệ thống các văn bản quy định, hướng dẫn ở một số lĩnh vực ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, nên không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế nhất định. Chính sách cán bộ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, vừa chưa khuyến khích cán bộ phát huy hết năng lực, tâm huyết với công việc, vừa khó thu hút được cán bộ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn, nhất là ở cấp cơ sở.
Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên, công chức chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị, nên việc thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt, sâu sát, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Vai trò tham mưu của một số cơ quan, đơn vị trên một số lĩnh vực công tác chưa được thể hiện rõ nét, chưa thật sự chủ động tham mưu trong rà soát, đề xuất, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ sở. Công tác phối hợp triển khai nhiệm vụ ở một số cơ quan, đơn vị, có lúc, có việc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.
Một số cán bộ, công chức phường còn ngại thay đổi, chậm đổi mới tư duy, làm việc theo “kinh nghiệm”, một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự tích cực, chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và đổi mới phương pháp làm việc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của mô hình chính quyền đô thị. Tổ chức bộ máy, biên chế của một số địa phương, cơ sở còn chưa được quan tâm kiện toàn, bố trí đầy đủ người và phương tiện cần thiết.
Công chức, viên chức hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm_Ảnh: Tư liệu
Tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Thành ủy Hà Nội xác định, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị; theo đó, trong thời gian tới cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thành phố về việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ quan nhà nước, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thực chất và hiệu quả. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất ý chí và hành động trong các cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục triển khai hiệu quả việc tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.
Thứ hai,đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy, bảo đảm đồng bộ với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là công bộc của nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu tổ chức thí điểm chính quyền đô thị của Thủ đô Hà Nội.
Thứ ba,đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, ủy quyền, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý chính quyền của thành phố. Huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự phát triển của thành phố, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính, chuyển đổi số gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xây dựng thành phố thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, tác nghiệp, bảo đảm đồng bộ, liên thông từ thành phố đến cơ sở, để từng bước mở rộng việc cung cấp các loại hình dịch vụ công trực tuyến và vận hành thông suốt hệ thống thông tin trong hoạt động điều hành, tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên tự kiểm tra, giám sát của mỗi cấp ủy, mỗi cấp chính quyền và của cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị; nhất là hoạt động giám sát, tiếp công dân của HĐND thành phố, quận, thị xã.
Thứ năm,đổi mới việc thực hiện quyền giám sát khi không tổ chức HĐND phường. Việc thực hiện quyền làm chủ và giám sát của nhân dân khi không tổ chức HĐND phường được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố, HĐND quận; giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cơ quan nhà nước khác, như thông qua kiểm tra, giám sát của Đảng; giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thông qua báo chí, các kênh thông tin, truyền thông, mạng xã hội,... Vì vậy, tiếng nói của người dân ở cấp cơ sở của các đô thị vẫn được HĐND các cấp, cũng như cơ quan nhà nước lắng nghe, xem xét, giải quyết.
Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều để kiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đối thoại, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị là nhiệm vụ mới, khó, phức tạp. Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao, sự hướng dẫn của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phát huy sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là việc đề cao phát huy dân chủ ở cơ sở trong từng nhiệm vụ tổ chức thí điểm chính quyền đô thị. Do vậy, thời gian qua, việc thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, cơ bản bảo đảm các mục tiêu, mục đích, tiến độ đã đề ra. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương tổ chức thí điểm chính quyền đô thị đạt kết quả tốt./.