Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

Những nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về mục tiêu: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập; tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhằm đưa đất nước phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045(4).

Những nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta được nêu trong phần phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đó là: Thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn; Nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia, xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Tiếp tục phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường; Tiếp tục thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Những nhiệm vụ, giải pháp này có tính đột phá chiến lược, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường, động lực, nguồn lực cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả; thể hiện sự sáng tạo, khát vọng phát triển, sức mạnh và ý chí, quyết tâm sắt đá của toàn Đảng và Nhân dân ta, phù hợp với tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao trong tổ chức thực hiện.

Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cần đặc biệt coi trọng xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, đầy đủ, đồng bộ, khả thi, hiện đại, hội nhập quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, kinh tế hợp tác, các yếu tố, các loại thị trường để nền kinh tế thị trường vận hành đồng bộ theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; trong đó, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học - công nghệ. Huy động, sử dụng các nguồn lực thực hiện theo cơ chế thị trường. Như vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bám sát, vận dụng đúng quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta. Điều đó làm cho thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động đồng bộ, đầy đủ, thông suốt và trở thành yếu tố quyết định trong phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam…

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ. Quá trình đó, có nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Theo đó, cần nhất quán trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân những vấn đề cơ bản sau:

Một làHoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhiệm vụ mới mẻ, quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, phải dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn; không thể tùy tiện, chủ quan duy ý chí, không thể nóng vội một sớm một chiều. Cần chủ động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ bản chất, đặc trưng và cơ chế vận hành của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; mối quan hệ, tác động qua lại của thể chế kinh tế ấy với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Hai là: Cần tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực hiện nay có nhiều diễn biến mới rất nhanh chóng, phức tạp và khó lường; bảo đảm cho hoạt động lãnh đạo của Đảng đồng bộ, toàn diện, hiệu quả trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phát triển kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Ba là: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc, công cụ, đòn bẩy kinh tế, đảm bảo đồng bộ, hiệu quả. Đẩy nhanh xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số (Digital Economic) theo kịp khu vực và thế giới. Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới. Sớm hoàn thành việc xây dựng và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) và nền tảng kết nối, chia sẻ quốc gia. Nhận thức đúng đắn, đầy đủ và xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh, nâng cao phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường; khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo bền vững, nhất là đối với vùng nông thôn, vùng núi, Tây Nguyên, vùng căn cứ địa cách mạng, biên giới, hải đảo, vùng di dân, tái định cư.

Bốn là: Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong Ðảng, trong các tầng lớp nhân dân và trong xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Ðảng. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Năm là: Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nền kinh tế theo những quy luật khách quan của thị trường với bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế đất nước với bảo đảm sự ổn định về chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và sự bền vững của chế độ XHCN. Nhân lên những giá trị tốt đẹp, bản chất của chủ nghĩa xã hội; giảm thiểu, hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực, khuyết tật của kinh tế thị trường đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc.

Nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cho chúng ta thấy rõ sự nhất quán, kế thừa và phát triển trong nhận thức, tư duy của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều đó càng khẳng định tư duy đúng đắn, sáng tạo và bản lĩnh vững vàng của Đảng ta trước thời cuộc. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện hiệu quả quan điểm, chủ trương và Nghị quyết của Đảng ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, là trách nhiệm chính trị và vinh dự của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

 

 Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Đó là, nhiều vấn đề về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chưa được nhận thức đầy đủ, đúng đắn, như: Vai trò của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, của kinh tế tập thể, của kinh tế tư nhân, của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường với bảo đảm định hướng XHCN; mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN… 

Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chậm được hoàn thiện, tổ chức thực hiện chưa nghiêm, còn nhiều vướng mắc, bất cập chưa được tháo gỡ. Luật pháp, cơ chế, chính sách có những nội dung, quy định không thống nhất, còn chồng chéo, thiếu ổn định và nhất quán; chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Quản lý của Nhà nước có những nội dung chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, hiệu quả, hiệu lực chưa cao; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm; tham nhũng, tiêu cực, lãng phí còn diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minh bạch, còn nhiều “điểm nghẽn”. Các chủ thể kinh tế chưa được bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực xã hội, các loại hình doanh nghiệp chưa thực sự bình đẳng trong hoạt động. Một số loại thị trường chậm hình thành, quá trình phát triển và vận hành còn nhiều vướng mắc, chưa hiệu quả, nhất là đối với thị trường quyền sử dụng đất và thị trường khoa học - công nghệ.

Hiện nay và thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước đan xen cả cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức, tác động nhiều chiều đến hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặt khác, từ thực trạng xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thời gian qua, đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để nền kinh tế vận hành đồng bộ, đúng mục tiêu và có hiệu quả. Kế thừa những thành tựu về nhận thức, tư duy và hoạt động thực tiễn của quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN của các kỳ đại hội trước đây, Đại hội XIII của Đảng đã có sự phát triển đột phá trong tư duy. Nổi bật là:

Thứ nhất, khẳng định rõ hơn nội hàm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, nhằm thống nhất và nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ nội hàm của kinh tế thị trường định hướng XHCN như sau: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(3).

Thứ hai, hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn

Tập trung xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia. Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đủ sức cạnh tranh trong nước, khu vực và thế giới. Điều đó hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số của thế giới và khu vực hiện nay.

Thứ ba, mở rộng và nhấn mạnh nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đầy đủ, hiện đại, hội nhập; đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại gắn với xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN tinh, gọn, hiệu lực và hiệu quả

Thứ tư, làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhân tố “xã hội” là một trong những điểm mới, nổi bật được Đại hội XIII của Đảng bổ sung trong mối quan hệ giữa thị trường, nhà nước và xã hội.

Nhà nước thực hiện tốt chức năng xây dựng và hoàn thiện thể chế, quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền kinh doanh; giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; sử dụng các nguồn lực, công cụ điều tiết, cơ chế, chính sách phân phối, phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh, nâng cao phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho sản xuất - kinh doanh; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém; kiểm chứng doanh nghiệp thành đạt, phát triển.

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng có vai trò quan trọng, tạo sự kiên kết, phối hợp hoạt động trong tham gia xây dựng, phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong thực thi pháp luật, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mặt trận và các đoàn thể trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Thứ năm, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa dịch vụ, kể cả các dịch vụ công cơ bản

Văn kiện Đại hội XIII xác định, cần phải nhất quán thực hiện tính đúng, tính đủ và công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá hàng hóa, dịch vụ, kể cả dịch vụ công cơ bản. Không lồng ghép các chính sách xã hội trong hàng hóa, dịch vụ. Chuyển từ cơ chế cấp phát sang cơ chế đặt hàng; từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng.

Tư duy nhất quán, đúng đắn của Đảng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

 

 Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nước ta đã trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó, có quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Có thể khẳng định rằng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới; chưa bao giờ nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Đây là minh chứng sinh động nhất, là cơ sở khoa học và thực tiễn để chúng ta tuyệt đối tin tưởng, vững bước theo con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và Nhân dân đã lựa chọn. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị đã và đang rắp tâm chống phá, phủ nhận, xuyên tạc, bôi đen những thành tựu to lớn và nỗ lực không ngừng của chúng ta.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không ngừng được phát triển và ngày càng hoàn thiện, thể hiện rõ sự nhất quán về nhận thức, tư duy đổi mới, sáng tạo của Đảng trước sự phát triển của tình hình thực tiễn. Để kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta phát huy được vai trò của nó, vấn đề mấu chốt là phải hoàn thiện thể chế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và trước tác động sâu sắc, nhiều chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến mọi lĩnh vực của đất nước. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được đề cập nhất quán, xuyên suốt, kế thừa và phát triển từ Đại hội lần thứ X đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Mỗi nền kinh tế thị trường có thể chế riêng, đặc trưng của nó. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (TBCN) có thể chế của kinh tế thị trường TBCN; kinh tế thị trường định hướng XHCN như ở Việt Nam cũng có thể chế đặc thù, để bảo đảm cho nó vận hành một cách có hiệu quả. Kinh tế thị trường định hướng XHCN được hiểu là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, các quy định, quy tắc chế định, điều tiết hành vi của mọi chủ thể, mọi quá trình diễn ra trong nền kinh tế nhằm tạo điều kiện cho việc hình thành, vận hành thông suốt và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các thành tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN bao gồm: hệ thống luật pháp, chính sách, các bộ quy tắc, chế định; các chủ thể tham gia kinh tế thị trường định hướng XHCN; các cơ chế vận hành kinh tế thị trường định hướng XHCN; thể chế các yếu tố thị trường và các loại thị trường.

Thuật ngữ “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN” được đề cập lần đầu trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và tập trung vào bốn nhiệm vụ: Nắm vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường; Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh. Quá trình thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đó là cơ sở, nhằm hiện thực hóa mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng”.

Nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta còn chậm, chưa theo kịp thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Hội nghị Trung ương lần thứ Sáu, khóa X đã ban hành một nghị quyết riêng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”(2). Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đã đề ra 05 nhóm chủ trương, giải pháp chủ yếu, gồm: Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh; Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường; Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường; Hoàn thiện thể chế nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của hoàn thiện thể chế trong phát triển kinh tế, trong Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước; đồng thời, đặt ra yêu cầu “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại”. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, nhất là đột phá về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tiếp tục khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững”.

Trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, có nội dung rất quan trọng được Đảng ta khẳng định, đó là: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong những năm tới. Điều đó cho thấy, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Đảng ta đã chỉ rõ nội hàm, đặc trưng và các yếu tố của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, những nội dung cốt lõi, rất quan trọng cần hoàn thiện trong thời gian tới, bao gồm cả ba bộ phận: Luật pháp, chính sách, quy định; chủ thể tham gia và sự phối hợp giữa các chủ thể trong bối cảnh tình hình mới. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đánh giá những kết đạt được về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời gian qua.

Nổi bật là, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta từng bước được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch thuận lợi. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng đầy đủ hơn. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã định hình rõ nét hơn, từng bước phù hợp với chuẩn mực thế giới và nâng cao hơn khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển đồng bộ, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, nhiều rào cản tham gia thị trường đã được dỡ bỏ. Phong trào khởi nghiệp sáng tạo và phát triển doanh nghiệp khá sôi động (Start up). Kinh tế nhà nước từng bước được sắp xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn; kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế tập thể từng bước được đổi mới, phát triển khá nhanh; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, hiệu quả, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế nước ta.

Hãy cẩn trọng và tỉnh táo khi sử dụng mạng xã hội

 

 Khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm cá nhân đối với các vấn đề xã hội mà mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

Trên cơ sở phân loại những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta rất dễ nhận thấy hiện đang tồn tại hai hình thức chính:

Thứ nhất, nhiều kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập ra các tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật, giả; cắt ghép hình ảnh, tán phát nhằm thu hút, lợi dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh thiếu niên để lừa đảo, trục lợi và đôi khi còn để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường... gây ra hậu quả khó lường. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, số đông người sử dụng tuy không có nhiều thông tin, chưa tìm hiểu sự việc nhưng lại thừa quan điểm và thường xuyên quan tâm, bày tỏ quan điểm hoặc chính kiến của mình trên mạng xã hội.

Thứ hai, trên mạng xã hội đang xuất hiện những thông tin sai trái, độc hại có tính chất chính trị như: chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam hòng phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận thành tựu, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; vu cáo, bôi nhọ, giả mạo lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Thậm chí nhiều đối tượng còn đưa thông tin kích động xu hướng ly khai, phá hoại sự thống nhất quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tổ chức các hoạt động bạo lực phá hoại dưới cái mác “ôn hòa”, “bất bạo động”; truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận đối với cá nhân và tổ chức; phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây.

Đáng lo ngại là những tin bài chống phá trên mạng xã hội có nội dung đa dạng trên tất cả các lĩnh vực; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt… đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng có lập trường tư tưởng không kiên định. Điều này dễ kiểm chứng nhất khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập, kích động bạo lực ở một số địa phương. Hậu quả là nhiều người chỉ thấy được bộ mặt của kẻ xấu khi các cơ quan chức năng đấu tranh, làm rõ thì đã muộn. Ngoài ra, về mặt pháp luật, việc nhận diện thông tin xấu, độc đã được thể hiện tại Khoản 1, Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP và trong Luật An ninh mạng vừa mới được thông qua.

 

 Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng các phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng các trang mạng lớn trên thế giới như Google, Facebook, kênh Youtube làm công cụ, sử dụng và nhân rộng mạng lưới cộng tác viên rộng khắp để xuyên tạc, chống phá ta; tận dụng tối đa những ý kiến, đánh giá, nhận xét của các cá nhân, tổ chức có uy tín, có tầm ảnh hưởng trong và ngoài nước, tạo dựng các trang web, các tài khoản cá nhân trên mạng nói chung, Facebook nói riêng để “chia sẻ”, phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt.

Những thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc bao gồm: sử dụng điện thoại smartphone, máy tính bảng… để quay phim, chụp ảnh, truyền tải video, hình ảnh livestream từ thực địa, tác động nhanh chóng và trực tiếp tới những người tham gia mạng xã hội, tạo hiệu ứng lan truyền rộng khắp; giả mạo các hình ảnh, video hoặc sử dụng các thông tin cũ có hiệu ứng kích động cao đối với cộng đồng mạng để xuyên tạc, lôi kéo người dân; giả mạo lực lượng chức năng (quân đội, công an) trà trộn vào lực lượng tham gia biểu tình hoặc có những hành vi phản cảm để quay phim, chụp ảnh phát tán lên mạng internet, mạng xã hội; huy động một số lượng lớn các tài khoản mạng xã hội (chủ yếu là các tài khoản ảo) gắn các biểu ngữ phản đối Đảng, Nhà nước để tạo ra hiệu ứng đám đông, từ đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực. Đặc biệt, có nhiều tài khoản được thế lực thù địch mạo danh các nhân vật nổi tiếng, có ảnh hưởng đến cộng đồng để phát huy tối đa khả năng lan truyền thông tin gây hoang mang trong quần chúng, kích động người dân tụ tập biểu tình ngoài thực địa và có hành vi vi phạm pháp luật.

Xu hướng tán phát thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội trong thời gian tới sẽ tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau: dựa trên những vấn đề phức tạp, mới nảy sinh, những yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là sự gia tăng nhanh chóng số lượng người sử dụng internet, mạng xã hội, các diễn biến theo chiều hướng phức tạp trong khu vực và Biển Đông; lợi dụng những biểu hiện mới xuất hiện trên thế giới, như khuynh hướng chống toàn cầu hóa để xuyên tạc, cản trở đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, kích động, cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan; khuyến khích xây dựng “Xã hội dân sự” ở Việt Nam, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền và hàng loạt vấn đề cốt lõi trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị để chống phá. Hướng nội dung tác động đến các đối tượng như: công nhân trong vấn đề cho phép hình thành tổ chức công đoàn độc lập; nông dân trong việc triển khai chủ trương tích tụ ruộng đất, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, cánh đồng mẫu lớn; văn nghệ sĩ, trí thức trong việc hình thành các hội nhóm đối lập dưới danh nghĩa phản biện xã hội… Bên cạnh đó, chúng còn tập trung lựa chọn những nhân tố “điển hình”, “sám hối”, “trở cờ”, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối từ bên trong, coi đây là nguồn tán phát trực tiếp thông tin xấu, độc. 

Xét về bản chất, những tài khoản, trang mạng xã hội không có chức năng thông tin như các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước. Do vậy, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần có bản lĩnh vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; nâng cao ý thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng. Bên cạnh vấn đề tự thân, việc quản lý và hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, trong đó có việc ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, tin giả, tin thất thiệt, tin xúc phạm danh dự tổ chức cá nhân, vi phạm các quy định khác của pháp luật của các cơ quan chức năng cũng cần được đẩy mạnh. Đồng thời, để định hướng kịp thời dư luận xã hội bằng những thông tin chính thống, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể phải luôn chủ động, nhanh nhạy, linh hoạt trong công tác quản lý con người; phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của “Lực lượng 47”; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội phù hợp./.

Bảo vệ “linh hồn, mạch sống của Đảng” là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên

 

 Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó lực lượng cán bộ, đảng viên là nòng cốt.

Những năm qua, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam, vào Cương lĩnh của Đảng, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh) được chú trọng và đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 22/10/2018 về Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Nghị quyết 35- NQ/TW). Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài; không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không tự diễn biếntự chuyển hóa” thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.

Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng “trở cờ” phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - bảo vệ linh hồn, mạch sống của Đảng, trận tuyến tuyên truyền/bảo vệ và đấu tranh theo Nghị quyết số 35-NQ/TW được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; trong đó, lực lượng cán bộ đảng viên các cấp là nòng cốt. Tại mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu và với mỗi cán bộ, đảng viên, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được quán triệt thường xuyên, trở thành công việc tự giác, chủ động, kịp thời, nhằm ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Mỗi đảng viên phải ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì danh dự và uy tín của Đảng không thể tách rời danh dự, uy tín của mỗi đảng viên. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định và tiếp tục cụ thể hóa: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Lực lượng cán bộ, đảng viên các cấp có vai trò quan trọng, kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài để đi tiên phong trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc thực thi nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh của toàn  Đảng, của cả hệ thống chính trị chính là nhằm tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh...

 

Đồng thời, thông qua tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh để nhận diện đúng, kịp thời; để nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị.

Trong thực thi nhiệm vụ tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh, một mặt phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về Internet, truyền thông, báo chí và mạng xã hội gắn liền với việc bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý các hoạt động trên không gian mạng để làm căn cứ cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Thực tế cho thấy, “sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”, không chỉ gây bức xúc, mất lòng tin của nhân dân mà còn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Đặc biệt, một quan điểm chỉ đạo quan trọng được nêu trong Nghị quyết số 35-NQ/TW chính là việc các cơ quan chức năng, các lực lượng chức năng cần phải chú trọng sự gắn kết chặt chẽ giữa xây và chống trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Trong đó, xây là giải pháp tập trung vào bên trong, nội tại để chống đạt hiệu quả hơn; còn chống là sự hướng vào việc ngăn chặn những tác động tiêu cực từ bên ngoài, để không chỉ tiếp tục phát huy những giá trị và những ưu thế đã và đang có, mà còn từng bước ngăn chặn, làm thất bại mọi hoạt động làm phương hại đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ để xây được ổn định và vững chắc hơn, để kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay./.

Tự phê bình và phê bình - giải pháp cơ bản khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Trong Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ tư (khóa XIII), về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cùng với tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần thực hiện mục tiêu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Hệ thống chính trị, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, nó là “giặc nội xâm”, kẻ thù ở trong lòng mỗi con người, muốn chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, một trong những biện pháp rất quan trọng là phải tự phê bình và phê bình, Người coi “thang thuốc tốt nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình”. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa một cách thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày” và phải gắn liền với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống suốt đời. Điều đặc biệt hơn, Người luôn căn dặn rất kỹ về mục đích, cách (phương pháp) tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn; để đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Người còn nhấn mạnh, muốn chưa khỏi bệnh cá nhân chủ nghĩa, tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải lấy lòng nhân ái, thành thật để phê bình đồng chí mình. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm; không “thâm thọc, mỉa mai”, “bới bèo ra bọ, vạch lá tìm sâu”. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người; hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và phải sửa chữa cho bằng được… làm được như thế thì sẽ sớm chữa được bệnh cá nhân chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và như thế “Đảng cũng khỏe mạnh vô cùng”.

 

Thấm nhuần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cần thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để nhận biết rõ những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong bản thân mình; đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân. Muốn nhận thức nhận thức sâu sắc về những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Kết luận số 21-NQ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Quy định về những điều đảng viên không được làm”. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, tiếp tục quán triệt, nghiên cứu, học tập nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Trong đó, nghiên cứu kỹ, nắm chắc 5 phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới và 10 biểu hiện nhận diện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã thống nhất. Có như vậy mới nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa cá nhân và sự cần thiết, cấp bách phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng đạo đức cách mạng.

 Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự phê bình và phê bình kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người, nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, nó cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hàng ngày, trước, trong và sau mỗi khi thực hiện nhiệm vụ hoặc ra quyết định nào đó. Từ trong suy nghĩ, hành động phải xem xét thật kỹ lưỡng suy nghĩ ấy, hành động ấy có vướng vào những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân hay không. Phải thiết thực, chân thành lắng nghe ý kiến phê bình thật thà của đồng chí đồng đội, từ đó nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm và biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong chính bản thân mình. Trên cơ sở đó, “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời, phấn đấu thực sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức đảng trong thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tế bào của Đảng, đều sinh hoạt trong một tổ chức đảng nhất định. Vai trò, chức năng của các tổ chức đảng là quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua các chế độ sinh hoạt, trong đó tự phê bình và phê bình là một chế độ, đồng thời là vấn đề quy luật trong xây dựng và phát triển Đảng. Do đó, thực hiện một cách có hiệu quả, thường xuyên, liên tục chế độ tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhận ra những khuyết điểm, những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, giao nhiệm vụ, xác định thời gian sửa chữa cho cán bộ, đảng viên, giúp họ tiến bộ và trưởng thành. Các tổ chức đảng, nhất là chi ủy, chi bộ phải phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thông qua các chế độ sinh hoạt như: sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Trong đó, nêu cao vai trò, trách nhiệm, kỹ năng, phương pháp công tác của bí thư cấp ủy, nhất là trong khơi dậy tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc Quy định số 37-QĐ/TW, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Những điều đảng viên không được làm”

 

 Ngày 25/10/2021, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khóa XIII) ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về “Những điều Đảng viên không được làm” (3) (sau đây gọi là Quy định số 37), nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Thế nhưng, với thái độ hằn học, dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đưa ra những lời lẽ xuyên tạc, với thủ đoạn “kẻ tung, người hứng”. Một số đài báo nước ngoài và các trang mạng xã hội, như: “Việt Tân”, “Việt Nam thời báo”, “Tiếng dân”… đã dùng những luận điệu dối trá để dẫn dắt dư luận rằng: “Quy định số 37 là không cần thiết, lấn sân sang cơ quan hành pháp; vì những điều trong Quy định số 37 pháp luật cũng cấm rồi, chỉ những đảng viên đứng trên pháp luật, nằm ngoài pháp luật thì mới cần quy định này”. Thực chất, những luận điệu xuyên tạc trên nhằm mục đích hạ thấp vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của Quy định số 37; phủ nhận những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tạo ra tình trạng “tự diễn biến tư tưởng” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân; đồng thời, gây dư luận tiêu cực để hạ thấp uy tín của Đảng với động cơ đen tối, nhằm chống phá Đảng ta. Do đó, chúng ta cần khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 về “Những điều đảng viên không được làm” là rất cần thiết, mang tính cấp bách bởi một số lý do sau đây:

Thứ nhất, quy định về kỷ luật Đảng là công việc hệ trọng, nhằm xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng; góp phần ngăn chặn từ sớm, từ xa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4).

Thứ hai, sau 10 năm thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 về “Những điều đảng viên không được làm” (2) đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên đã nhận thức rõ hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng và việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện, một số nội dung trong Quy định số 47 đã xuất hiện những bất cập trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên hiện nay. Chính vì vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 thay thế Quy định số 47 là để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ ba, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) được ban hành chính là cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”…

Như vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 là hết sức cần thiết, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên; từ đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn trái ngược với những luận điệu bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng đang suy yếu và rệu rã nên phải ban hành Quy định số 37”.

Ngoài những luận điệu chống phá trên, các thế lực thù địch còn công kích, xuyên tạc vào một số điểm mới bổ sung trong Quy định. Đáng chú ý, tại Điều 3 đã quy định: “Cấm đảng viên phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…”. Các thế lực thù địch cho rằng: “việc Đảng ta bổ sung điều này chứng tỏ Đảng đang đứng bên bờ suy vong, chế độ sắp suy tàn do sự tha hóa biến chất của cán bộ, đảng viên”. Điển hình như đối tượng Nguyễn Huy Vũ cố tình suy diễn rằng: “mục đích duy nhất hiện nay của đảng viên chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị; đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản vì lý tưởng thơ ngây”. Đây là những luận điệu phản động, thù địch, nhằm ý đồ quy chụp, phủ nhận bản chất cách mạng của Đảng ta. Bởi vì, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nên mỗi quần chúng ưu tú khi vào Đảng đều phải phấn đấu, rèn luyện vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng; kiên định, trung thành với nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Vì vậy, việc bổ sung, phát triển quy định trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị.

Trong Điều 9 của Quy định số 37, Đảng ta cấm: “… đảng viên không được nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Bằng sự suy diễn vô căn cứ, nhìn nhận vấn đề phiến diện, các thế lực thù địch cho rằng: “việc cấm đảng viên mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài là vi phạm quyền công dân mà Hiến pháp Việt Nam đã quy định”; chúng viện dẫn một số vụ tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên để đánh đồng hiện tượng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, nên Đảng mới bổ sung điều cấm này vào Quy định. Chúng ta thấy rõ, luận điệu trên của các thế lực thù địch đã cố tình lờ câu cuối của điều này, đó là: “trái quy định của pháp luật, trái quy định của Đảng” để công kích, chống phá.

Tại Điều 1, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã nêu rõ: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải trực tiếp tham gia lao động; có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm…” (1). Như vậy, quan điểm nhất quán của Đảng ta là động viên, khuyến khích mọi công dân Việt Nam; trong đó, có đội ngũ đảng viên tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng, làm giàu đúng pháp luật. Hơn nữa, trong thực tế, chỉ những đảng viên tha hóa, thiếu niềm tin, thiếu trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân mới nhập quốc tịch nước ngoài; những đảng viên chuyển tiền ra nước ngoài là biểu hiện cho sự suy thoái, phải làm như vậy để che đậy tài sản làm ăn phi pháp. Vì thế, đây là điều cấm thể hiện quyết tâm cao của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Có thể khẳng định, Quy định số 37 ra đời được ví như “chiếc gương” để mỗi tổ chức đảng, đảng viên “tự soi, tự sửa”, không để mình bị tha hóa, biến chất. Thực hiện tốt những điều đảng viên không được làm trong Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) sẽ góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Để phòng, chống, đấu tranh có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị cần quản lý, nắm chắc tình hình hoạt động trên các trang mạng xã hội; chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa với những luồng dư luận trái chiều. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đơn vị nắm chắc và thực hiện nghiêm những nội dung trong Quy định số 37, gắn với vạch trần tính chất nguy hiểm của chiêu trò thổi phồng mặt trái, khuyết điểm mà các thế lực thù địch đang tiến hành, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam nói chung, chống phá Đảng ta nói riêng.

Đối với mỗi cá nhân, nhất là những người tham gia mạng xã hội cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không “nối giáo cho giặc”. Trước mọi thông tin cần có nhãn quan chính trị rõ ràng; nhìn nhận vấn đề phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; phân tích thông tin một cách đa chiều, tìm ra bản chất của vấn đề, tránh mắc mưu địch. Khi tiếp cận thông tin, cần phải phân biệt được: đâu là thông tin chính thống; đâu là những thông tin sai trái, xuyên tạc, phản động; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội; kiên quyết phê phán, đấu tranh để bảo vệ cái đúng, loại trừ cái sai trái, tiêu cực. Đó chính là biện pháp hữu hiệu để mỗi cán bộ, đảng viên tự miễn dịch trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch.