Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

 Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM TRONG KỶ LUẬT PHÁT NGÔN

Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.

Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".

Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.

Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.

Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.

Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.

Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...

Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.

Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.

Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.

Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...

Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.

Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.

Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước./.


 NHẬN DIỆN ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân./.


 BẢO VỆ HÒA BÌNH LÀ NHIỆM VỤ TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 


Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của Quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách mới ra mắt.

Mới đây, cuốn sách "Một số vấn đề về: đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Quân uỷ Trung ương đã được ra mắt. Trong cuốn sách này, tư tưởng cốt lõi được Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình.

Cuốn sách tập hợp 39 bài nói, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề cập về những vấn đề lớn, cơ bản về quốc phòng, đặc biệt là tiếp tục khẳng định vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng trong mọi tình huống.

Với sự am hiểu, trách nhiệm đối với nền quốc phòng Việt Nam, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách đã thể hiện việc tiếp cận đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi về tính chất chiến tranh trong tương lai, xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật; Mặt trận nào, lĩnh vực nào sẽ là trọng tâm. Một trong những điểm được coi là đột phá trong tư duy của Người đứng đầu của Đảng đối với vấn đề quốc phòng chính là tư tưởng "bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình".

Khái quát những vấn đề lý luận dựa trên thực tiễn phát triển của nền quốc phòng Việt Nam, cuốn sách định hướng rất rõ về xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Trong thời gian tới, những nội dung lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương sẽ tiếp tục được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 Cần tiếp tục hoàn thiện Luật phòng, chống tham nhũng bảo đảm ngày một chặt chẽ trong công tác phòng chống

Cần tiếp tục sửa đổi để quy định một cách toàn diện, bao quát, nhất là quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện việc công khai, minh bạch đầy đủ, kịp thời các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để mọi người biết. Cần quy định rõ các nguyên tắc, hình thức, nội dung, thời gian, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, để từ đó hạn chế sự tham nhũng.

Cần quy định các biện pháp hữu hiệu để quản lý, xác minh các tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cần có các cơ quan, tổ chức chuyên trách quản lý, xác minh các bản kê khai tài sản, thu nhập xem có đúng không, có trung thực, chính xác không. Đặc biệt, cần quy định một cơ chế hữu hiệu theo dõi sự biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm giải trình, làm rõ tài sản, thu nhập gia tăng không hợp lý, không rõ ràng.

Hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.

 BẢO VỆ HÒA BÌNH LÀ NHIỆM VỤ TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 


Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của Quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách mới ra mắt.

Mới đây, cuốn sách "Một số vấn đề về: đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Quân uỷ Trung ương đã được ra mắt. Trong cuốn sách này, tư tưởng cốt lõi được Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình.

Cuốn sách tập hợp 39 bài nói, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề cập về những vấn đề lớn, cơ bản về quốc phòng, đặc biệt là tiếp tục khẳng định vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng trong mọi tình huống.

Với sự am hiểu, trách nhiệm đối với nền quốc phòng Việt Nam, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách đã thể hiện việc tiếp cận đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi về tính chất chiến tranh trong tương lai, xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật; Mặt trận nào, lĩnh vực nào sẽ là trọng tâm. Một trong những điểm được coi là đột phá trong tư duy của Người đứng đầu của Đảng đối với vấn đề quốc phòng chính là tư tưởng "bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình".

Khái quát những vấn đề lý luận dựa trên thực tiễn phát triển của nền quốc phòng Việt Nam, cuốn sách định hướng rất rõ về xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Trong thời gian tới, những nội dung lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương sẽ tiếp tục được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 KHÔNG MƠ HỒ, LẪN LỘN GIỮA TƯ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ VỚI NGÔN LUẬN TỰ DO, BÁO CHÍ TỰ DO (P1)

Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.
 Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí
Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.
Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...
Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.
Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.
Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

 TẾT ĐỘC LẬP TRONG TÔI.

Dù không trực tiếp có mặt trong những thời khắc lịch sử năm 1945 nhưng những thế hệ đi sau chúng tôi vẫn không nén được cảm xúc, bồi hồi mỗi khi cả nước tưng bừng kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.    

Khi còn nhỏ, tôi được dạy rằng, Quốc khánh 2/9 là ngày sinh của đất nước, cả dân tộc ta giành được độc lập tự do, là ngày Tết Độc lập. Khi ấy, đối với lũ trẻ, chỉ hiểu ngày này là một ngày lễ lớn, được nghỉ học, nghỉ làm, cả phố xóm treo cờ, hân hoan chào mừng. Lớn hơn một chút, tôi hiểu được, để có được Ngày Độc lập ấy, thế hệ cha ông đã phải đánh đổi bằng máu xương, mồ hôi và trí lực... Vì giá trị thiêng liêng đó, ngày lịch sử trọng đại này được người dân chờ đón, như một nét văn hóa của cuộc sống hiện đại.

Ký ức của tôi nối dài cho đến hiện tại không hề thay đổi. Những ngày này, phụ bố treo cờ Tổ quốc, nghe thấy tiếng bác tổ trưởng tổ dân phố hào hứng đi nhắc nhở từng nhà, nhìn thấy mái nhà ai cũng tung bay cờ đỏ sao vàng, từ hẻm nhỏ đến phố lớn ngập trong sắc cờ, hoa, biểu ngữ…, đúng là không khí “vui như Tết”.

Tết Độc lập trong tôi, và hẳn là trong lòng mọi người khác nữa, ngoài không khí nô nức đi xem lễ thượng cờ, xem diễu binh ở quảng trường Ba Đình, còn là bữa cơm sum họp gia đình. Vào ngày vui của đất nước, đại gia đình tôi có truyền thống họp mặt đầy đủ, những người đi làm xa, những người bận rộn hay vắng mặt đều quây quần bên mâm cơm. Người lớn sẽ nói chuyện về những tháng ngày xưa cũ, kể cho nhau nghe về những câu chuyện họ được nghe hoặc những kỷ niệm chính họ trải qua về cuộc chiến giành độc lập dân tộc, về ký ức những ngày đất nước mới thống nhất… Có lẽ vì đó là câu chuyện chân thực của bố mẹ, của các bác, của cậu, dì nên chạm đến trái tim tôi, khơi dậy nhiều cảm xúc.

Quả thực, sự kiện Ngày Độc lập vẫn luôn sống động, gần gũi khi trở thành nét văn hóa thường niên, nhắc nhở thế hệ sau về đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc.

Lớn lên, được nghe nhiều, hiểu nhiều, đi nhiều mới thấm thía những giá trị của “độc lập”, tôi càng xúc động, tự hào về Ngày Quốc khánh, rung cảm sâu lắng trước khung cảnh phố phường bừng sáng bởi cờ đỏ sao vàng. Xúc động, tự hào vì đất nước qua bao gian khó vẫn quật cường vươn lên, kinh tế phát triển, đời sống mọi người ấm no, hạnh phúc hơn.

Hiểu được giá trị của cuộc sống thì mới càng biết cách gìn giữ. Và, bằng nhiều cách khác nhau, mỗi người trẻ chúng tôi đang thể hiện tình yêu đất nước theo những cách riêng, từ các công việc đơn giản, thiết thực nhất.

Trước đây, dưới những mái trường, thầy và trò thực hiện nghi thức chào cờ vào mỗi sáng thứ 2 đầu tuần và nghi thức ấy vẫn được duy trì đến bây giờ. Tôi không quên được cảm xúc của mình khi hát theo bản quốc ca trầm hùng vang dội và nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay. Tôi tin là mỗi thanh niên đứng dưới cờ đều có chung cảm xúc như tôi, đó là niềm tự hào dân tộc.

Sau này đi làm trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, nghề nghiệp cho tôi cơ hội may mắn được gặp gỡ các nhân vật lịch sử, các cựu chiến binh, những con người đã trải qua thăng trầm của đất nước. Tôi được nghe, được nhìn, được lắng lại để chiêm nghiệm về giá trị thiêng liêng của từ “độc lập”.

Tôi tin rằng, tại nhiều nơi khác nhau, những người Việt trẻ giống như tôi, cho dù không có những trải nghiệm tự thân trong quá khứ để cảm nhận được hết cảm xúc lớn lao của Ngày Độc lập, nhưng luôn học cách gìn giữ, phát huy những giá trị đó. Bắt đầu từ việc nỗ lực hoàn thành những nhiệm vụ, công việc thường nhật, đến việc đóng góp phát triển kinh tế, góp sức xây dựng một cộng đồng xã hội bền vững hơn… Bằng bản lĩnh, trí tuệ của tuổi trẻ, kết nối để tạo nên một thế hệ tốt đẹp, lành mạnh và lan tỏa tinh thần dân tộc đến cả những thế hệ sau này. Mỗi người có một cách yêu nước khác nhau nhưng tình cảm cho dân tộc, cho Tổ quốc chỉ là một, tình cảm đó luôn hiện hữu trong mỗi con người Việt Nam.

Nhìn lớp lớp cờ đỏ sao vàng tung bay trên các con phố, tôi bất giác gợi lên những câu ca mộc mạc, sâu lắng trong bài hát “Lá cờ” của nhạc sĩ trẻ Tạ Quang Thắng: “Một thời chiến đấu, cha tôi anh hùng. Một thời gian khó, mẹ tôi đảm đang. Vẫn giữ nụ cười và tiếng hát át tiếng bom. Để rồi nay bước trên con đường đời, dù bao gian khó, chông gai đời tôi, đứng dưới bóng cờ, là con tim ngân lên tiếng ca: Đoàn quân Việt Nam đi…”./. 


Cục diện thế giới nhìn từ cuộc xung đột Nga - Ukraine

 

Cuộc xung đột Nga - Ukraine, từ khi khởi đầu đến nay vẫn tiếp tục diễn biến khó lường, đã và đang tác động sâu sắc tới cục diện thế giới. Nhiều dự báo khác nhau về kết cục của cuộc xung đột và cục diện thế giới trong tương lai được đưa ra, song vẫn là những câu hỏi chưa có lời kết. Trong một thế giới đầy biến động đó, việc các nước vừa và nhỏ chủ động, linh hoạt hơn trong phát huy vai trò nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, cuộc khủng hoảng Nga - Ukraine hiện nay có lẽ là một biểu hiện cụ thể, khó tránh khỏi trong tiến trình cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương. Bản chất của cuộc xung đột là mâu thuẫn giữa việc Nga muốn khôi phục địa vị “siêu cường” thế giới, trước hết tại khu vực châu Âu, với nhu cầu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và tham vọng của Mỹ/đồng minh muốn duy trì một trật tự do Mỹ/Liên minh châu Âu (EU)/Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã thiết lập tại khu vực. Nằm trên lục địa Âu - Á, với vị trí hết sức quan trọng là “vùng đệm tự nhiên” giữa Đông và Tây, như cựu Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Zbigniew Brezinsky từng nhấn mạnh, ai kiểm soát được Ukraine sẽ kiểm soát được lục địa Âu - Á, Ukraine trở thành chiến trường giữa một bên là Nga cùng một số nước không hẳn là đồng minh, với một bên là Mỹ và đồng minh trong một cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Ý chí và quyết tâm của cả hai bên khiến “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine trở thành một cuộc chiến tranh truyền thống tàn khốc mà đến nay chưa tìm được lối thoát.

Điều này cũng đúng với mối quan hệ giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Mỹ cùng đồng minh, trong đó Trung Quốc quyết tâm thiết lập một trật tự thế giới mới, trước hết là ở khu vực châu Á, trên con đường tiến tới trở thành “siêu cường” toàn cầu. Đây là những mâu thuẫn đối kháng, không có nhượng bộ, vì vậy xung đột xảy ra như một hệ quả tất yếu, diễn ra ở những khu vực gắn với lợi ích địa - chiến lược thiết thân nhất của cả Nga và Trung Quốc, mà trước hết là những khu vực cận biên của hai nước.

Hiện vẫn khó có thể dự đoán sát kết quả của cuộc xung đột Nga - Ukraine, tuy nhiên có thể thấy, Nga dường như đang “đơn độc”. Mặc dù số đông áp đảo chưa chắc đã là bên chiến thắng như đã từng thấy trong lịch sử hào hùng bảo vệ nền độc lập của nước Nga, song tính chính danh trong mỗi thời kỳ một khác. Chưa thể dự đoán được điều gì, nhưng nếu cuộc xung đột càng kéo dài, nhiều dự đoán cho rằng, Nga có thể gặp khó khăn, trở ngại hơn trên nhiều mặt.

Cục diện thế giới từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay có thể chia làm hai giai đoạn: 1) Giai đoạn “đơn cực”, với Mỹ là “siêu cường” duy nhất, đơn phương áp đặt chiến lược trên toàn cầu ngay sau sự kiện ngày 11/9/2001; 2) Giai đoạn “hỗn độn”, với sự phục hồi của Nga và sự “trỗi dậy” của Trung Quốc, có thể lấy mốc từ năm 2014 khi Nga sáp nhập bán đảo Crime và Trung Quốc mở rộng sự hiện diện quân sự tại Biển Đông. Bên cạnh đó là sự suy giảm vai trò của các thể chế và luật pháp quốc tế trước những hành vi vụ lợi của các nước lớn. Chính vì vậy, giới nghiên cứu bắt đầu bàn về một trật tự thế giới mới với các cụm từ, như “vô cực” (hỗn loạn, vô tổ chức), “đa cực, đa trung tâm” (sự nổi lên của Nga và Trung Quốc, có xu hướng ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau, thách thức vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ), “lưỡng cực” (Mỹ và Trung Quốc được đặt ở vị thế ngang bằng). Cũng có lập luận cho rằng không còn khái niệm “cực” trong một thế giới mà lợi ích các nước đã tùy thuộc nhau sâu sắc…

Cũng có quan điểm cho rằng, thế giới đang diễn ra tiến trình “thế giới phân ba” với sự dẫn dắt của Mỹ, Trung Quốc và Nga. Trong cục diện này, Trung Quốc và Mỹ “chia đôi” châu Á - Thái Bình Dương, gắn với lập trường “châu Á là của người châu Á” của Trung Quốc; còn Ngagiành ảnh hưởng chi phối tại châu Âu. Cả Mỹ, Trung Quốc và Nga đều muốn trở thành siêu cường lớn nhất, chi phối toàn cầu. Tuy nhiên trong tiến trình này, về tổng thể, Mỹ vẫn được xem là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất, nhưng vị thế trên trường quốc tế tiếp tục đà suy giảm và vị thế số một thế giới về kinh tế của Mỹ có khả năng bị soán ngôi vào năm 2030. Trung Quốc là cường quốc có tiềm năng, thực lực mạnh nhất để cạnh tranh với Mỹ, trở thành “một cực” quan trọng nhất trong thập niên tới nhờ sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng nhanh và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong tham gia giải quyết nhiều vấn đề quốc tế. Nga tiếp tục có những bước chuyển quan trọng, từng bước khẳng định lại vai trò nước lớn trong các vấn đề quốc tế, tuy nhiên dường như ngày càng khó khăn trong củng cố nền tảng sức mạnh quốc gia, đặc biệt kể từ sau khi Nga tiến hành “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ukraine, cùng với việc kinh tế và quan hệ đối ngoại gặp nhiều khó khăn do các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây.

Tương lai của cục diện thế giới, trật tự quan hệ quốc tế trên toàn cầu có thể được định hình trong vài thập niên tới. Tiến trình này có nhiều đặc điểm, thể hiện qua một số nét chính sau:

Thứ nhất, diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ở mọi khu vực, song “trận địa” chính nằm ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương và châu Á - Thái Bình Dương, với trọng điểm là các khu vực cận biên của Nga và Trung Quốc. Đối với Nga, kết quả của cuộc xung đột Nga - Ukraine có lẽ là nhân tố quyết định đến chiến lược của Nga. Trong khi đó, đối với Trung Quốc, kết quả của tiến trình giải quyết vấn đề eo biển Đài Loan (Trung Quốc) và vấn đề Biển Đông là những nhân tố chính yếu góp phần quyết định triển khai sức mạnh của Trung Quốc.

Thứ hai, ba chủ thể chính trong tiến trình định hình cục diện thế giới, trật tự quan hệ quốc tế trên toàn cầu thời gian tới, bao gồm: 1) Quốc gia; 2) Liên quốc gia; 3) Phi quốc gia. Trong đó, chủ thể quốc gia đóng vai trò quyết định, tập trung vào các nước lớn. Ở phạm vi toàn cầu, có thể thấy: 1) Ba chủ thể quốc gia lớn nhất là Mỹ, Trung Quốc và Nga; các chủ thể quốc gia tầm trung, bao gồm: Anh, Pháp, Đức (châu Âu) hay Nhật Bản, Ấn Độ, Australia (châu Á); 2) Chủ thể liên quốc gia, bao gồm: Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực, như EU, NATO, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)…; 3) Chủ thể phi quốc gia là những tổ chức, tập hợp có tính văn hóa, dân tộc, kinh tế - xã hội, được thừa nhận hoặc không thừa nhận bởi quốc tế hoặc quốc gia, nhưng có ảnh hưởng đáng kể đến trật tự quan hệ quốc tế ở cả tầm toàn cầu, khu vực hay quốc gia.

Thứ ba, đây là một tiến trình lâu dài, toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh, thể hiện trong chính sách, chiến lược của mọi chủ thể. Tuy nhiên, lựa chọn lĩnh vực nào làm phương tiện, biện pháp chính lại tùy thuộc vào chính sách và thế mạnh của từng chủ thể cũng như tình hình cụ thể của chủ thể được áp dụng. Mỹ có xu hướng nhấn mạnh những “mối đe dọa an ninh” để tập hợp lực lượng và tận dụng ưu thế sức mạnh quân sự trong điều tiết các mối quan hệ quốc tế, trong khi Trung Quốc nhấn mạnh phát triển kinh tế - xã hội để tập hợp lực lượng và sử dụng ưu thế kinh tế để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế.

Trong cuộc chiến “thế giới phân ba” này, Nga được cho là có nhiều điểm hạn chế hơn điểm mạnh: Bị bao vây, cấm vận toàn diện; hầu như không có đồng minh thực sự; tính chính danh của việc triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine chưa thực sự thuyết phục được cộng đồng quốc tế; sự bền vững của cơ sở sức mạnh tổng hợp quốc gia vẫn là một câu hỏi... Trung Quốc hiện nắm giữ một số điểm mạnh nền tảng, như sức mạnh của nền kinh tế, khoa học - công nghệ, tinh thần dân tộc mạnh mẽ, tuy nhiên, Trung Quốc cũng có điểm hạn chế là không có đồng minh thực chất, bền vững và tính chính danh trong việc áp đặt các chiến lược đối ngoại trong khu vực và trên thế giới. Mỹ tiếp tục là nhân tố hùng mạnh nhất, tuy nhiên, khoảng cách so với Trung Quốc ngày càng bị thu hẹp; sức hút về mô hình phát triển vốn tạo nên hệ “giá trị Mỹ” đứng trước sự hoài nghi ngày càng tăng; phạm vi lợi ích trải rộng dẫn đến sự phân tán sức mạnh, nhất là hiện nay Mỹ gần như đã xa rời tư duy chiến lược truyền thống “chiến đấu và chiến thắng cùng một lúc ở hai mặt trận lớn”. Thế nhưng, Mỹ lại có mạng lưới liên minh, đồng minh, đối tác đông đảo nhất, đặc biệt trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, là điều mà cả Nga và Trung Quốc đều thiếu vắng.

Theo một số chuyên gia nghiên cứu quốc tế, Trung Quốc đang là bên hưởng lợi nhiều nhất trong cuộc xung đột địa - chiến lược kéo dài này, bởi ngoài những mối lợi cụ thể như thương vụ mua số lượng lớn dầu mỏ và vũ khí tối tân với giá rẻ từ Nga, Trung Quốc dường như đang gặp nhiều thuận lợi trên con đường “chinh phục” châu Á - Thái Bình Dương. Điều này có cơ sở nếu nhìn trong lịch sử, Trung Quốc thường mở rộng thành công ảnh hưởng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương mỗi khi Mỹ và Liên Xô (trước đây)/Nga vướng bận vào cuộc cạnh tranh địa - chiến lược. Tuy nhiên, trong khi đặt ưu tiên cao vào Nga và châu Âu, dường như Mỹ cũng đặt giới hạn cho sự can dự của mình, không để xao nhãng mục tiêu chính là Trung Quốc và châu Á - Thái Bình Dương. Hơn nữa, cũng khó có thể chắc chắn sức mạnh tổng hợp quốc gia của Mỹ sẽ suy yếu, khi cuộc khủng hoảng chính trị Nga - Ukraine hiện nay đã và đang mang lại cho Mỹ không ít lợi thế mà trong điều kiện bình thường Mỹ khó có thể đạt được, đó là châu Âu lệ thuộc nhiều hơn vào Mỹ và NATO đang mở rộng nhanh chóng, giúp vai trò lãnh đạo của Mỹ trên bình diện toàn cầu được tăng cường.

Cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc - Nga cũng thúc đẩy hình thành những xu hướng tập hợp lực lượng mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bên cạnh việc NATO đang được mở rộng, một số nước châu Âu từ bỏ đường lối trung tập truyền thống có lịch sử hàng trăm năm để gia nhập NATO nhằm đối phó với “mối đe dọa từ Nga”; xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương cũng dần rõ hơn với sự củng cố, mở rộng và nâng cấp cấu trúc “trục và nan hoa” của Mỹ cùng sự hình thành của Nhóm “Bộ tứ”, nâng cấp các “nan hoa” Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Australia, Hàn Quốc… và sự liên kết các “nan hoa” với nhau trong những vòng cung kiềm chế Trung Quốc. Mỹ vẫn chiếm thế thượng phong trong các tập hợp lực lượng mang tính quốc phòng - an ninh, còn Trung Quốc có thế mạnh trong các tập hợp về kinh tế - xã hội, trong khi Nga chưa thực sự có được thế mạnh nào. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng một liên minh thực sự sẽ được hình thành giữa Nga và Trung Quốc nếu Mỹ tiếp tục duy trì cùng lúc hai mặt trận đối đầu như hiện nay. Và tiến trình này, nếu tiếp tục gia tăng cũng kéo theo sự củng cố vững chắc một liên minh do Mỹ dẫn đầu, hạt nhân là Nhóm “Bộ tứ” tại châu Á - Thái Bình Dương.

Tùy thuộc vào kịch bản nào sẽ kết thúc đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine và tiền lệ nào đặt ra đối với Trung Quốc tại khu vực châu Á mà cục diện toàn cầu có thể được định hình trong tương lai. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề Ukraine đang đi đến chặng cuối và cục diện thế giới lâu dài sẽ phụ thuộc chủ yếu vào cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai chủ thể Mỹ và Trung Quốc tại châu Á - Thái Bình Dương. Theo giới chuyên gia, kết quả của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc sẽ là nhân tố quyết định trật tự quan hệ quốc tế mới hơn là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga. Các cuộc tiếp xúc kín đáo giữa Mỹ và Nga nhiều khả năng sẽ dày đặc và sâu sắc hơn để hai bên có thể tìm kiếm một giải pháp chính trị trung dung, có thể chấp nhận được.

Với những diễn biến hiện nay, Mỹ và đồng minh đang phải tập trung cao độ cho cuộc xung đột Nga - Ukraine, vì vậy dù muốn hay không, châu Á - Thái Bình Dương cũng sẽ bị xao nhãng và đây chính là cơ hội để Trung Quốc củng cố, phát triển một môi trường đối ngoại tích cực; từ đó áp đặt ở mức độ nhất định chiến lược của Trung Quốc tại Đông Á - Thái Bình Dương. Giới quan sát cho rằng, khả năng Trung Quốc thành công không phải là nhỏ nếu cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục diễn biến như hiện nay, trong đó “vai trò trung tâm” của ASEAN cũng gặp nhiều thách thức trước sự co kéo của các nước lớn.

Điểm hạn chế nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay là sự thiếu vắng những thể chế có tính ràng buộc giúp bảo đảm an ninh thông qua việc ngăn chặn, xử lý khủng hoảng khi xảy ra. Việc NATO thúc đẩy sự hiện diện tại Nhật Bản mới đây là dấu hiệu đáng chú ý, tác động hai chiều thuận - nghịch tới cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều này khiến “vai trò trung tâm” của ASEAN đứng trước nhiều thách thức, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về cách hành xử, lựa chọn chính sách của ASEAN nói chung, các nước thành viên ASEAN nói riêng.

Là trọng điểm tranh chấp chiến lược nước lớn, Đông Nam Á tập trung hai “siêu cường” Mỹ, Trung Quốc và nhiều “cường quốc” khu vực, như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc… Nga tham gia “cuộc chơi” với vai trò đồng minh trên thực tế của Trung Quốc. Sự cạnh tranh chiến lược tại Đông Nam Á có thể giúp phân định vai trò của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới và sau đó, kéo theo hình thái cục diện thế giới mới. Tại Đông Nam Á, có hai điểm tranh chấp chiến lược lớn là Biển Đông và Tiểu vùng sông Mekong. Trong khi cả Mỹ và Trung Quốc đều coi cạnh tranh chiến lược tại Biển Đông là nhân tố quyết định, thì Trung Quốc tìm cách gia tăng sức ảnh hưởng tại Tiểu vùng sông Mekong, coi đây là điểm mấu chốt để mở rộng ảnh hưởng đến toàn bộ Đông Nam Á. Tính toán này được cho là không phải không hợp lý, nếu suy xét rộng hơn nguyên tắc “đất thống trị biển” trong luật biển quốc tế. Trung Quốc dường như đang thành công trong tính toán này trước sự “thờ ơ” của Mỹ, trong khi ASEAN dường như chưa đủ sự thống nhất và vai trò của các cường quốc khác tại khu vực ở Tiểu vùng sông Mekong vẫn còn nhỏ lẻ, tách biệt.

Đây chính là không gian chiến lược quan trọng nhất đối với toàn bộ ASEAN. Trong một vài thập niên gần đây, không gian này thực chất đang bị thu hẹp khá nhanh chóng. ASEAN đang đứng trước thách thức rất lớn kể từ khi ra đời đến nay, đòi hỏi cần có tư duy và hành động mang tính đột phá. Bên cạnh đó, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là Mỹ - Trung Quốc, còn chưa ngã ngũ, với việc cả hai bên tăng cường thúc đẩy, thu hút tập hợp lực lượng, ASEAN cũng có cơ hội lớn để có thể chủ động củng cố, phát huy vai trò “trung gian”, đóng vai trò “trung tâm” thực sự trong tiến trình định hình cục diện khu vực, toàn cầu, trước hết là tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây cũng là điều mà ASEAN đã từng thành công trong những thời điểm khó khăn. ASEAN với “phương cách” riêng có, đang là một tổ chức khu vực được đánh giá thành công nhất, một “điểm sáng” trong tổng thể bức tranh khu vực và thế giới còn nhiều hỗn độn, phức tạp./.

                                                                                        ST

Tôn trọng và đảm bảo quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số


Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc thiểu số mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo, từ ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội, kiến trúc, trang phục cho đến các tập tục, phong tục, và cách sống. Những yếu tố này tạo nên sự phong phú và đa dạng trong bức tranh văn hóa chung của đất nước đồng thời cung cấp tính độc đáo, giá trị đặc trưng cho văn hóa quốc gia. Vì vậy, phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng đối với văn hóa chung của đất nước.

Đảm bảo quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số giúp xây dựng một xã hội đa văn hóa và tôn trọng sự đa dạng; đồng thời tạo điều kiện cho giao lưu, hòa nhập, và hiểu biết giữa các dân tộc trong đất nước, góp phần thúc đẩy đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những năm qua, Nhà nước đã đầu tư xây dựng và nâng cấp các thiết chế văn hóa, tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và giải trí, gìn giữ các giá trị văn hóa của dân tộc mình, tạo cơ hội kinh doanh và quảng bá du lịch cho các vùng dân tộc thiểu số.

Đến nay, đã có hơn 80 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc: Ê-đê, Mường, Thái, Tày, Vân Kiều, Cơ Tu, Mông, Nùng, Dao, Ba Na, Chứt, Khmer, X’tiêng, Khơ Mú, Lào, Giáy, Lô Lô, Co, Mạ, Bố Y, Pà Thẻn, Ơ Đu, Rơ Măm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phục dựng, bảo tồn và phát triển đúng mục đích, phù hợp với từng dân tộc.

Hơn 30 làng, bản, buôn truyền thống của 25 dân tộc thuộc các tỉnh đại diện cho vùng, miền trên cả nước được hỗ trợ đầu tư bảo tồn gắn với phát triển du lịch.

Xây dựng 14 mô hình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm khai thác tiềm năng từ văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc, từ đó nhân rộng, phát triển để xây dựng các làng văn hóa du lịch, điểm văn hóa du lịch, tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo cho địa bàn vùng dân tộc thiểu số.

Hiện nay, có một số mô hình tiêu biểu gắn văn hóa với phát triển du lịch như: Bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống của dân tộc Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; mô hình bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca, dân vũ của dân tộc Pà Thẻn, Phù Lá, La Ha, Si La gắn với phát triển du lịch tại các tỉnh: Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang; mô hình câu lạc bộ hát Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu gắn với công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc…

Tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa với nội dung phong phú, đặc sắc của 54 dân tộc thuộc 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 22 lễ hội là điểm nhấn góp phần tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời quảng bá hình ảnh Làng với nhân dân trong nước và quốc tế.

Những kết quả nổi bật này đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới, tạo ra một môi trường thuận lợi cho bảo tồn và phát triển văn hóa đặc trưng của từng dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và tạo sự đoàn kết trong xã hội.

Nhằm tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng, một trong những dấu ấn quan trọng nhất là Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 88/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể và Nghị quyết số 120/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ 2021 -2025.

Trong Chương trình có Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, nhằm phát huy vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số đóng góp chung vào sự phát triển bền vững đất nước.

Các văn bản này thể hiện sự tôn trọng, đảm bảo và thúc đẩy các quyền về văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc mà Việt Nam là thành viên.

                                                                     Thu Trang

Những người lạc lõng trước bức tranh máu và hoa


  Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam là một bức tranh có máu và hoa, được khắc họa nên bởi bản lĩnh, trí tuệ và lòng yêu nước của nhiều thế hệ người Việt.

  Mỗi năm, vào dịp Quốc khánh 2/9, chúng ta lại có dịp tưởng nhớ những sự kiện lịch sử quan trọng, để tôn vinh những anh hùng đã hy sinh trong cuộc chiến đấu vì độc lập và tự do cho đất nước, dân tộc.

  Lịch sử của dân tộc Việt Nam là một hành trình đầy thử thách và hy sinh. Vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và toàn thế giới rằng: "Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập".

  Đó là một cột mốc quan trọng, mở đầu cho một nước Việt Nam mới, thể hiện quyết tâm của người Việt trong cuộc chiến đấu vì tự do và độc lập. Ngày Quốc khánh 2/9 không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là dịp để tổng kết quá khứ và hướng tới tương lai, giúp củng cố quyết tâm bảo vệ và phát triển đất nước, xây dựng xã hội công bằng, văn minh và thịnh vượng.

  Tuy nhiên, còn có một số ít người lạc lõng, bất mãn với quá khứ vinh quang của dân tộc, thậm chí phủ nhận sự hào hùng của lịch sử. Họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc thông tin trên các trang mạng xã hội, đẩy lùi tầm quan trọng của những sự kiện lịch sử như Cách mạng tháng Tám và ngày 2/9/1945.

  Các bài viết của họ thường đưa một loạt lý do, từ việc bất cần Cách mạng tháng Tám đến việc ngày 2/9 không phải là ngày Quốc khánh mà là ngày "quốc hận" hay "quốc nạn"...

  Điều đáng ngạc nhiên hơn, họ tự xưng là "nhà nghiên cứu" hoặc "phân tích lịch sử" rồi đưa ra những đánh giá thiếu khách quan và sai sự thật thông qua việc sắp xếp dữ liệu lịch sử một cách khiên cưỡng, nhằm tạo ra một góc nhìn sai lệch về lịch sử.

  Một trong những luận điểm gần đây thường được nhóm người này sử dụng để xuyên tạc là việc đánh đồng tham nhũng với "lỗi hệ thống", nhằm kích động, chia sẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

  Thậm chí, những người này còn đưa ra quan điểm rằng mặc dù quốc gia đã giành độc lập từ cách đây 78 năm, nhưng người dân vẫn "chưa được tự do" và quyền lợi cơ bản của họ "bị chà đạp", từ đó kêu gọi "cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn…

  Những luận điệu như vậy đã tạo ra những luồng thông tin sai lệch trên mạng xã hội, có ảnh hưởng tiêu cực đến quan điểm và suy nghĩ của những người thiếu hiểu biết.

  Danh ngôn có câu: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng ngắn, thì tương lai sẽ nã vào anh bằng đại bác”. Đó là lời khuyên của tiền nhân cho chúng ta về cách ứng xử có đạo lý, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi từ lịch sử, bất kể đó là quá khứ đau thương hay hạnh phúc. Nhưng thật đáng buồn, hiện nay không ít người Việt đang có cách ứng xử hoàn toàn ngược lại, họ không chỉ bắn vào quá khứ bằng súng ngắn mà thậm chí còn nã bằng đại bác.

  Dối trá, phỉ báng lịch sử, kích động hận thù không chỉ là hành động thiếu đạo đức mà còn gây hại nghiêm trọng đến tương lai của dân tộc. Bằng cách xuyên tạc lịch sử và truyền tải sự bất đồng, mâu thuẫn và xung đột trong xã hội, những kẻ "trở cờ" đang đe dọa sự hòa bình, độc lập và thống nhất đang được xây dựng và bảo vệ.

  Tuy vậy, điều đáng mừng là những thủ đoạn này không thể ngăn cản được dòng chảy lịch sử của dân tộc và sự thật vẫn luôn tồn tại khách quan. Lịch sử hào hùng của Việt Nam với những khó khăn và hy sinh lớn lao đã tạo ra tính cách của người Việt Nam, với tinh thần yêu nước, đoàn kết và lòng tự hào về dân tộc, đất nước.

Việt Nam ngày nay được thế giới biết đến là một đất nước thanh bình, người dân hiền hòa yêu chuộng hòa bình. Trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0, việc kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như tình yêu nước, lòng thương nòi, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, trở nên vô cùng quan trọng. Đây là nền tảng để xây dựng một Việt Nam mạnh mẽ, phát triển và sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Trong tương lai, chúng ta hy vọng xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, đoàn kết và sẵn sàng cùng các cường quốc khác đóng góp cho hòa bình và thịnh vượng toàn cầu. Việc kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc là một nhiệm vụ thiêng liêng, để viết nên những trang sử hào hùng mới cho người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Đại văn hào người Pháp Victor Hugo khẳng định: "Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ". Hai câu nói này của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Victor Hugo đều thể hiện tầm quan trọng của việc hiểu biết và tôn trọng lịch sử.

Chúng ta cần hiểu rằng lịch sử không chỉ là một danh mục sự kiện đã xảy ra, mà còn là nguồn cảm hứng và bài học cho tương lai.

Bằng cách nắm vững lịch sử, người dân có thể học hỏi từ quá khứ, thấu hiểu giá trị của độc lập tự do và duy trì sự đoàn kết trong xã hội. Việc hiểu biết về lịch sử cũng giúp thúc đẩy lòng tự hào dân tộc và tôn vinh những người đã đấu tranh cho tự do và độc lập.

                                                                               Hòa Bình

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGHIÊN CỨU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ NĂM 2015!

         Chiều 5/9, tại Hà Nôi, Ban Chỉ đạo xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 tổ chức phiên họp lần thứ nhất để thông qua một số vấn đề về các quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo, Tổ nghiên cứu, kế hoạch chỉnh sửa Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 theo tiến độ quy định; đồng thời cho ý kiến vào các nội dung chỉnh sửa sơ bộ làm cơ sở hoàn chỉnh để soạn thảo báo cáo, trình Thường vụ Quân ủy Trung ương cho ý kiến hoàn thiện Dự án.Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo chủ trì hội nghị.

Tại phiên họp, các đại biểu đã tập trung cho ý kiến vào các nhóm vấn đề như: Việc đăng ký, quản lý nghĩa vụ quân sự đối với công dân trong độ tuổi nhập ngũ, thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ, độ tuổi gọi công dân nhập ngũ; các quy định về tạm hoãn bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự, và chế độ, chính sách với hạ sĩ quan, binh sĩ phụ vụ tại ngũ, xuất ngũ; việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực nghĩa vụ quân sự. Ban Chỉ đạo, Tổ nghiên cứu đã đưa ra tổng số đề nghị, đóng góp sửa đổi, bổ sung 18 điều của Luật này. 

Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh: Việc sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 là cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dụng Quân đội trong tình hình mới, bảo đảm cho công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc theo quy định của hiến pháp và pháp luật; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tốt quyền, lợi ích hợp pháp của quân nhân.Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu cơ quan thường trực tiếp thu ý kiến của Ban Chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để hoàn thiện, báo cáo Thường vụ Quân ủy Trung ương cho ý kiến; hoàn chỉnh toàn bộ kế hoạch triển khai thực hiện công tác sửa đổi, bảo đảm nội dung, tiến độ theo yêu cầu; Cục Quân lực, Vụ Pháp chế phối hợp hoàn chỉnh các hồ sơ bảo đảm đúng thời gian; các nội dung đề xuất sửa đổi cần bám sát tổng kết Luật nghĩa vụ quân sự của các địa phương, ý kiến đóng góp của cử tri cả nước hoàn chỉnh văn bản, bổ sung vào Luật một cách chi tiết, chặt chẽ, chất lượng./.

Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NGUY HẠI CỦA SỰ DỐI TRÁ!

     Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

Nguy cơ phá vỡ tổ chức từ bên trong
Dối trá được hiểu là những cử chỉ, hành vi, lời nói, việc làm trái ngược với sự trung thực của cá nhân, tập thể. Đó là hành vi đưa ra nhiều thông tin thiếu chính xác, sai sự thật, khiến cá nhân, tập thể nhận thông tin đưa ra các quyết định có lợi cho một người hoặc một nhóm người cung cấp thông tin. Dối trá trong xã hội là nguyên nhân căn cốt khiến các chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức công vụ và cao hơn nữa là đạo đức chính trị và văn hóa chính trị bị ảnh hưởng, tổn thương ở các mức độ khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, dối trá chính là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng mất niềm tin ở nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Khi nghiên cứu nội hàm của 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra, nhận thấy các biểu hiện ấy đều có bóng dáng nương náu của dối trá. Ví dụ gần đây nhất về hiện tượng dối trá trong cán bộ cơ sở gây bức xúc dư luận là trường hợp ông Lương Văn Thuận, Chủ tịch MTTQ xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu (Nghệ An). Ông này thừa nhận đã tự ký danh sách 15 hộ nghèo nhận tiền quà Tết Nguyên đán Tân Sửu (năm 2021) để hợp thức hóa hồ sơ nộp lên huyện. Dư luận cho rằng, đó là hành vi dối trá, vi phạm pháp luật nhằm chiếm đoạt số tiền 7,5 triệu đồng của người nghèo

Dối trá xuất hiện ở nhiều cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương thông qua những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nhiều cán bộ mua bằng, mua học vị để được đề bạt, bổ nhiệm, lên lương thay vì trau dồi đạo đức, năng lực công tác vốn rất tốn công, nhọc sức và mất thời gian. Dối trá thể hiện trong xin cấp ngân sách lớn hơn nhu cầu thực tế để sau đó làm hợp đồng khống, hợp thức bằng hóa đơn, chứng từ để giải ngân. Hoặc có hiện tượng thanh toán vượt giá thị trường, chi sai mục đích...
Hiện tượng dối trá trong các cơ quan, đơn vị, địa phương đã gây ra nhiều hệ lụy, là trở ngại lớn cho xây dựng Đảng và bộ máy Nhà nước; làm nhân dân hiểu sai lệch bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ; làm băng hoại đạo đức xã hội và các giá trị truyền thống; gây khó khăn trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm của nhân dân và là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc sự thật, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.
Dối trá cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, là “bà đỡ” cho nịnh hót, bợ đỡ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nguy cơ nhấn chìm động cơ phấn đấu của những người trung thực; phá vỡ tổ chức đảng từ bên trong...
Diệt trừ dối trá, cần giải pháp đồng bộ
Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau sinh ra dối trá. Theo các chuyên gia, nguyên nhân sâu xa và phổ biến nhất là do con người ham muốn lợi ích bằng mọi giá đã sinh ra dối trá. Do công tác kiểm tra, giám sát qua loa, đại khái, hình thức và chiếu lệ cũng khiến dối trá không bị hạn chế mà còn có cơ hội lây lan. Bên cạnh đó, việc một số nơi tổ chức nhiều hoạt động thi đua hình thức và bệnh thành tích cũng là tác nhân sinh ra dối trá. Vì thành tích mà có hiện tượng che giấu khuyết điểm, "làm láo báo cáo hay", "có ít suýt ra nhiều".
Để diệt trừ thói dối trá, nhất là trong hệ thống chính trị và cơ quan công quyền hiện nay cần phải tổ chức, duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt Đảng của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê bình mạnh mẽ, triệt để. Cấp ủy, chi bộ cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh.
Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(1). Người xem đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên nói riêng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, góp phần tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Bởi theo Người, khi đã tổ chức sinh hoạt Đảng chất lượng, hiệu quả thì mọi dối trá của cán bộ, đảng viên sẽ bị phơi bày ra ánh sáng, sẽ không có những việc làm khuất tất vụ lợi, không có hiện tượng dễ làm khó bỏ, đấu đá, chọn vị trí công tác nhiều lợi ích... Để làm được điều này thì các tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời có biện pháp cụ thể về đổi mới hình thức, nội dung sinh hoạt Đảng định kỳ và chuyên đề, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, coi trọng kiểm tra đột xuất thay vì kiểm tra báo trước và kiểm tra trên giấy, trên báo cáo và "nhúng" qua thực tiễn. Thực tế cho thấy, hiện tượng dối trá trong nội bộ đã làm cho Đảng bị "bịt mắt”. Tổ chức đảng cấp trên không thấy được thực tế đòi hỏi của nhân dân, không thấy được những “chướng tai gai mắt” trong nội bộ cấp dưới nên dễ dẫn đến thỏa hiệp và vô tình bảo vệ “con sâu, con mọt” thay vì bảo vệ cán bộ có tâm, có tầm và có trí, thủ tiêu động lực phấn đấu của các cán bộ, đảng viên chân chính.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, người chủ trì, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương. Hiện nay có một thực tế là, nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa cụ thể hóa nghị quyết vào trong thực tiễn nhiệm vụ lãnh đạo. Phổ biến là hiện tượng xây dựng quy chế lãnh đạo một đằng nhưng thực hiện một nẻo; thậm chí có hiện tượng copy quy chế lãnh đạo cốt để báo cáo. Việc này khiến công tác lãnh đạo không tập trung, sót việc nên dễ nảy sinh tiêu cực.
Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ có biện pháp quyết liệt trong tổ chức phân phối ngân sách, nhiệm vụ và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc thu, chi ngân sách hằng năm hoặc ngân sách đầu tư công. Thường ngân sách bao giờ cũng đi kèm với nhiệm vụ. Có nhiệm vụ thì có ngân sách và ngược lại. Thế nên không lạ khi các cơ quan, đơn vị, địa phương đua nhau xin nhiệm vụ, xin ngân sách. Đây chính là căn nguyên để hình thành cơ chế “xin-cho” tồn tại dai dẳng trong hệ thống chính trị và các cơ quan công quyền.
Một số quốc gia có cách làm rất hiệu quả để ngăn chặn sự dối trá nhằm trục lợi. Theo đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân muốn được sử dụng ngân sách hoặc được nhận tài trợ để làm một dự án do chính phủ duyệt thì phải hội tụ những điều kiện cứng và mềm về công tác quản lý và điều hành, bảo đảm không thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Thế nên, để ngân sách đến đúng đích và được sử dụng triệt để, mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thì cần có quá trình thẩm tra, kiểm tra, giám sát xem có đủ điều kiện mới giải ngân. Đây chính là cách phân phối công bằng, ngăn ngừa tham nhũng và thúc đẩy cách lãnh đạo, điều hành và quản lý chuyên nghiệp, văn minh, cần được nghiên cứu thấu đáo và ứng dụng trong thực tiễn nước ta.
Nếu trung thực được đề cao thì dối trá khó có đất để tồn tại, phát triển. Khi trung thực của cán bộ, đảng viên bị dối trá lấn át thì sẽ dẫn đến tình trạng né tránh sự thật. Đây là căn nguyên khiến sinh hoạt của tổ chức đảng rơi vào hình thức, mất sức chiến đấu, khiến nguy cơ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ngày càng có xu hướng nặng nề hơn. Tôn trọng sự thật khách quan và dựa trên sự thật để tìm biện pháp xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là cách tốt nhất diệt trừ tệ dối trá hiệu quả. Việc này chỉ thực hiện được khi cán bộ chủ trì và đứng đầu tổ chức đảng tận tâm, quyết liệt./.
Theo: Báo QĐND.
Yêu nước ST.