Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

 HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG VĂN HỌC HÔM NAY

Như mạch nguồn xuyên suốt và cảm hứng sáng tạo bất tận, hình tượng Tổ quốc Việt Nam vẫn là một dòng chảy bất tận trong huyết quản các nhà văn, nhà thơ Việt Nam từ thời chiến đến thời bình hôm nay.

1. Thời kháng chiến giải phóng dân tộc, các nhà thơ đã nói rất hay về Tổ quốc, gần gũi và thiêng liêng: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông” (Chế Lan Viên). Tổ quốc hùng vĩ mà thân thương hiện hình trong dáng núi, hình sông: “Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy/ Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Tổ quốc bình dị, đơn sơ trong khóm lúa gốc sim: “Nếu kẻ thù chiếm được/ Một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Thì Tổ quốc sẽ ra sao Tổ quốc?” (Hữu Thỉnh)... 

2. Trong văn học hôm nay, Tổ quốc được thể hiện ra sao?

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt những trang sử vàng của Tổ quốc là phẩm chất anh hùng, tinh thần quật khởi, ý chí tự chủ, tự cường, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ xâm lược nào. Điều ấy đã trở thành một hằng số lịch sử để trở thành tài sản văn hóa vô giá của dân tộc. Tên tuổi các bậc tiên liệt Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... như những ngọn núi sừng sững từ đó chảy ra những dòng mạch của lòng yêu nước, yêu hòa bình, yêu tự do, của bản lĩnh tự quyết. Họ bước vào truyền thuyết được dân gian kiến tạo, điêu khắc thêm những vẻ đẹp huyền thoại mang tính anh hùng ca. Ký hiệu học văn hóa gọi đó là những mẫu gốc, đi vào các thể loại văn chương, nhất là ở thể tài tiểu thuyết lịch sử lại tỏa thêm những ánh sáng mới.

Thế nên văn học Việt Nam, so với các nền văn học khác thường bội thu về tiểu thuyết lịch sử. Cũng là quy luật, giàu có “mẫu gốc” sẽ đẻ ra nhiều khu rừng những mẫu con”. Đầu thế kỷ 20 có các tiểu thuyết: “Thăng Long ký” (Nguyễn Khắc Phục), “Hội thề” (Nguyễn Quang Thân), “Tám triều Vua Lý” (Hoàng Quốc Hải)... Mấy năm gần đây có “Phùng Vương”, “Ngô Vương” (Phùng Văn Khai), “Trần Quốc Toản”, “Trần Khánh Dư” (Lưu Sơn Minh)...

Lịch sử còn là văn hóa, phong tục, tập quán, là những ứng xử của cha ông với xã hội, thiên nhiên... Về phương diện này, các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa...) không chỉ tái hiện một cách xuất sắc lịch sử mà còn làm sống dậy cuộc sống văn hóa thời xưa một cách sinh động. Các tiểu thuyết: “Thông reo Ngàn Hống”, “Nguyễn Du” (Nguyễn Thế Quang) phục dựng các chân dung (Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du) cũng là những mẫu hình văn hóa cho hôm nay tìm hiểu, học tập. Kết hợp cảm hứng Tổ quốc anh hùng quật khởi với ý thức tự chủ cùng cảm hứng văn hóa phong tục thì “Hùng binh” (Đặng Ngọc Hưng) thành công trong việc tái hiện một thời oanh liệt của cha ông trong việc bảo vệ quần đảo Hoàng Sa cùng lễ khao lề thế lính thiêng liêng, rất mực nhân văn.

Hình tượng Tổ quốc hôm nay thật mới mẻ trong “Biển bây giờ vẫn khát” (Trần Khánh Toàn). Không chỉ bao la, lộng lẫy, biển cũng đầy những cạm bẫy (của cả thiên nhiên và con người) mà những người lính cảnh sát biển thông minh, bản lĩnh đã vượt qua. Tổ quốc hiện lên trong “Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan với bao dáng vẻ văn hóa đặc sắc vùng Nam Bộ cùng phong cách sống phóng khoáng, yêu thiên nhiên, yêu tự do.

Địa bàn miền núi phía Bắc Tổ quốc đã được nhiều tên tuổi văn chương đưa vào những trang văn để đời nay lại hiện lên với bao dáng vẻ mới lạ từ sự khám phá của các tài năng mới. Biên cương Tổ quốc hùng vĩ và thân thương, gần gũi và thiêng liêng trong “Đường biên cương dệt mùa xuân”, “Dặm dài Tổ quốc” (Phạm Vân Anh).

Cùng là cây bút văn xuôi nổi tiếng, Phạm Duy Nghĩa miêu tả cảnh quê hương vùng cao tinh tế, trữ tình (Người bay trong gió xanh), Đỗ Bích Thúy lại đi sâu miêu tả phong tục, khám phá tâm lý con người vùng cao chân chất, tràn đầy sức sống trong “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”, “Bóng của cây sồi”... Miêu tả vẻ đẹp đậm tính thơ, giàu chất cổ tích của làng quê đồng bằng xứ Bắc tiêu biểu có Nguyễn Quang Thiều với “Hương khúc nếp cuối cùng”, “Chiều hoa tầm xuân”...

Nguyễn Ngọc Tư làm bừng sống dậy văn hóa miệt vườn kênh rạch với những con người vùng châu thổ Nam Bộ hồn hậu, vị tha trong “Qua cầu nhớ người”, “Cải ơi”, “Dòng nhớ”... Miền đất Tây Nguyên nhiều nắng, nhiều gió nhưng cũng đầy những trăn trở bao nỗi éo le của các cảnh đời còn nhiều thiệt thòi hiện lên xa xót trong văn xuôi Nguyên Hương (Tinh thần thượng võ, Mẹ con đậu đũa). Vùng đất miền Trung thời tiết khắc nghiệt nhưng trong văn Quế Hương lại nhẹ nhàng, da diết có chút khắc khoải của điệu Nam ai (Gặp lại ấu thơ)...

Chuyển sang cơ chế thị trường, đất nước như cơn “trở dạ” vặn mình để hoài thai những sự sống mới. Bộ tiểu thuyết dài “Cõi nhân gian” (4 tập) của Nguyễn Phúc Lộc Thành đề cập tới con người doanh nhân với cả một thế giới nhân vật đa dạng, phức tạp... Kiến tạo những mô hình của sự tiêu cực, đen tối, ma mãnh của “thế giới ngầm” nhưng vẫn toát lên một niềm tin vào thắng lợi của sự đổi mới, chỉ tiếc tác phẩm chưa vươn tới sự phân tích tâm lý một cách sắc sảo, nhân vật thiếu một logic nội tâm.

3. Cảm hứng lớn về Tổ quốc thường tìm đến trường ca dài hơi để gửi gắm tư tưởng, như một tất yếu, hình tượng biển cường tráng vạm vỡ trong sự đa nghĩa luôn xuất hiện. Trường ca “Tổ quốc nhìn từ biển” (Nguyễn Việt Chiến) được dư luận đánh giá cao nhờ một điểm nhìn mới mẻ về đất nước quật khởi, là tráng ca, hoan ca, có cả bi ca: “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa/ Đã mười lần giặc đến từ biển Đông/ Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử/ Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng...”.

Cùng chủ đề, Nguyễn Hữu Quý trong “Hạ thủy những giấc mơ” lại chọn điểm nhìn làng quê Việt nhìn ra Hoàng Sa, Trường Sa. Hình tượng Tổ quốc hiện lên đa chiều, vừa là ngôi làng bé nhỏ, gần gũi vừa là biển cả mênh mông, xa vời: “Hạ thủy giấc mơ xanh/ chia tay những nàng tiên cá/ con tàu bay về miền rơm rạ/ đậu xuống ao làng”.

Diễn đạt hình tượng Tổ quốc trong những đau đáu, nung nấu, trăn trở vươn mình đứng dậy cùng thế giới, trường ca “Dạ, tôi là Sáu Dân (Thanh Thảo), từ điểm nhìn của một nguyên thủ quốc gia (Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã thể hiện một tầm nhìn, một tâm huyết về tương lai tươi sáng của dân tộc. Gần 3 năm (2020-2022) đất nước căng mình chống dịch Covid-19 “như chống giặc”.

Với tinh thần chiến sĩ, văn chương lại “lên đường”, do đặc thù thể loại, trường ca vẫn là thể xung kích. Các tác phẩm “Giữa mùa đại dịch” (Lê Anh Dũng), “Corona” (Xuân Trường), “Hồi sinh” (Lữ Mai)... không chỉ tái hiện không gian “chiến trường” đặc biệt, cơ bản hơn làm nổi bật tình người Việt Nam đoàn kết, nhân ái, vị tha, thật giàu có niềm tin.

Thơ trẻ hôm nay viết về Tổ quốc vẫn hay, đầy hứa hẹn. Ví như thơ của Hoàng Anh Tuấn trong bài “Chơi hội chọi dê”: “Chọi dê mở giữa lòng mường/ Đạp mây phủ núi, vén sương giăng rừng/ Bàn chân ngấm rượu đỏ phừng/ Rộn ràng kèn trống, tưng bừng cồng chiêng”. Một lễ hội của người Tày rộn rã nhưng diễn tả tài hoa trong lục bát Việt.

Tổ quốc hùng vĩ và trong sáng, thân thương và đơn sơ, giản dị trong “Biên cương gửi nhớ” của nhà thơ nữ tài năng Phạm Vân Anh: “Ở nơi này tìm thấy một tình yêu/ Trong thế núi dáng sông/ Bên nhà dựng sát nhà, mái kề liền mái/ Dưới vầng mặt trời ngày lại ngày giục con gà gáy sáng/ Trên con đường sắc đỏ trải mênh mông”. Những khám phá tinh tế, mới mẻ ấy giúp chúng ta tin hình tượng Tổ quốc tiếp tục tỏa sáng, thăng hoa trong những sáng tác mới.

4. Về thi pháp, gần đây nổi lên hai hướng chính là kiến tạo biểu tượng và sử dụng ngôn ngữ đậm chất thơ. Thực ra, con đường kiến tạo chung của văn học là bằng biểu tượng nhưng không phải tác giả nào cũng thành công bởi biểu tượng luôn vừa mang nét nghĩa chung của cộng đồng, truyền thống vừa mang nét cá tính, ý nghĩa riêng, mới mẻ. Nếu không có cái riêng, cái mới thì chỉ là sự phục dựng lại những mô hình cũ.

Một số tác phẩm đã nhắc ở trên nói chung đã vượt thoát ra cái chung để nói lên tiếng nói riêng. Ở khu vực tiểu thuyết lịch sử, ngay tên gọi đã cho thấy hướng kiến tạo biểu tượng chính là nhân vật trung tâm (Phùng Vương, Hồ Quý Ly, Nguyễn Du...). Cái mới ở đây là cố gắng vươn tới sự phân tích tâm lý nhân vật, cao hơn là phân tích tâm lý cộng đồng (tộc người) để lý giải vì sao có hành động ấy, sự kiện ấy. Nhiều tác phẩm ở thể tài khác đã tự xây dựng một biểu tượng riêng. Tổ quốc hóa thân vào biển, vào dải biên cương, vào cây sa mộc, vào lễ hội...

Rõ ràng sự kiến tạo hình tượng mới mẻ như thế đòi hỏi vốn sống, sức tưởng tượng, liên tưởng... Tên trường ca “Sa mộc” thật gợi, gợi về nơi biên cương, về sự vươn cao, về ý chí... Đó chính là Tổ quốc biểu hiện cụ thể ở những phẩm chất của loài cây xanh thường chỉ mọc ở miền núi đá...

Chất thơ ngoài thể hiện ở hình ảnh, chọn từ đặt câu (tu từ) chủ yếu thể hiện ở tình cảm, tâm trạng, nhất là khai thác mạch nguồn văn hóa. Chất thơ của văn hóa luôn bay lên cùng huyền thoại, lãng đãng ẩn hiện trong các phong tục cổ xưa. Do vậy, một thủ pháp ưa thích là đẩy hình tượng vào không gian huyền thoại, nhờ vậy mới có thể “hạ thủy” được “những giấc mơ”, mới có thể bay “ngang bình minh”... để nhìn ngắm, chiêm nghiệm...

Nhưng đòi hỏi năng lực phân tích tinh tế và khái quát cao. Có vậy bạn đọc mới cảm thấy không còn là “tiếng đàn môi” mà là tiếng của tình yêu khắc khoải, da diết, vẳng xa hơn là tiếng của ngày xưa với những tập tục đầy mê hoặc. Mới hiểu sâu hơn không chỉ là hương vị cái bánh khúc mà đó là hương vị đồng đất quê hương, hương vị tình người, tình đời... Những hướng tiếp cận này trở về truyền thống để tạo ra sự khác lạ, phù hợp với hướng đi chung của văn chương thế giới trong thời buổi hội nhập và toàn cầu hóa./.


Quân đội đã thực hiện có hiệu quả chức năng tham mưu, đề xuất những chủ trương thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,

 

Quân đội đã thực hiện có hiệu quả chức năng tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ về những chủ trương thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tăng cường thế trận quốc phòng, khả năng tác chiến phòng thủ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định đường lối, nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, kế hoạch phòng thủ đất nước, phương án tác chiến chiến lược, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân. Trong đó đã coi trọng đề xuất hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, hệ thống quan điểm, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Tăng cường khả năng phòng thủ biển, đảo, phối hợp với các lực lượng, các mặt đấu tranh khác để xử lý các tình huống kịp thời, phù hợp, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia trên vùng biển đảo. Tổ chức có hiệu quả xây dựng các công trình trên tuyến biên giới đất liền, kết hợp với phân giới cắm mốc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Phối hợp với các lực lượng giữ gìn trật tự xã hội, không để xảy ra bạo loạn lật đổ, bạo loạn vũ trang, giải quyết kịp thời các vụ biểu tình, gây rối, giữ vững an ninh chính trị, phòng chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Duy trì tốt khả năng sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt việc huấn luyện, diễn tập trong các khu vực phòng thủ, thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - BIỂU TƯỢNG CỦA TINH HOA VÀ KHÍ PHÁCH DÂN TỘC VIỆT NAM

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói đến biểu tượng của tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Tất cả những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta trong hàng nghìn năm lịch sử đều được kết tinh, hun đúc, sống dậy, tràn đầy sức mạnh hơn bao giờ hết trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, trong thời đại Hồ Chí Minh. 

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị tinh thần cao quý như độc lập, tự do, hạnh phúc, loại bỏ bất công, bất bình đẳng, hòa bình và công lý, một thế giới mới chống lại đói nghèo, bệnh tật, dốt nát.

Chủ nghĩa yêu nước, giá trị hàng đầu, nhất quán, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam xuất hiện từ thời cổ đại, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, đến thời đại Hồ Chí Minh, là một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam và nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi thì đích thực là đạo Việt Nam”(1). Trải qua các giai đoạn lịch sử từ cái nôi Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc chống đô hộ Hán, Đường, qua kháng chiến chống xâm lược thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có cách biểu hiện cao thấp, sắc thái khác nhau, nhưng ngày càng phát triển cả bề rộng và sâu, đậm đà cốt cách Việt Nam. Đến giai đoạn lịch sử cận đại, khi triều Nguyễn lên ngôi, giai cấp phong kiến Việt Nam từng bước từ bỏ ngọn cờ yêu nước, giai cấp tư sản không đủ sức giương cao ngọn cờ yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được giai cấp công nhân nâng lên một tầm cao mới.

Được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin) soi sáng, Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Từ đó trở đi, Người cùng với Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam - Đảng do Người sáng lập và rèn luyện - phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống, đưa vào những nội dung mới, chất lượng mới, trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế, kết hợp nhuần nhuyễn, phát huy một cách hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong toàn bộ tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa yêu nước là thứ của quý, động lực tinh thần lớn nhất cho cách mạng, kháng chiến và xây dựng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước “có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống không phải bằng lý luận, sách vở thuần túy mà chủ yếu thông qua thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người sử dụng liên tục chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn luyện vũ khí ấy ngày càng sắc bén trong trường kỳ cách mạng và kháng chiến. Người chỉ rõ: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(4).

Sau gần 90 năm (1858-1945), dân tộc ta đánh Pháp, Nhật và chế độ phong kiến với tinh thần Hồ Chí Minh trong lời hiệu triệu: “Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật. Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không? Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!... Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”(5). Cuối cùng, chúng ta đã thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!(6).

Khi thực dân Pháp trở lại cướp nước ta một lần nữa, lời hịch của ông cha ta tự ngàn xưa vang vọng trong lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Chúng ta phải đứng lên… Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(7). Sau chín năm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn, đem thân làm giá súng”, chúng ta đã viết nên thiên sử vàng Điện Biên, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Hơn hai mươi năm tiếp theo, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở cả miền Nam và miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ hào khí Việt Nam, khảng khái tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(8). “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(9). Cuối cùng, Mỹ phải cút, ngụy phải nhào, Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối. Chúng ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(10).

Nhiều dân tộc trên thế giới bị xâm lược và đứng lên chống xâm lược, không riêng Việt Nam, nhưng như Việt Nam thì không nhiều. Nhiều người nước ngoài không hiểu nổi sức mạnh của dân tộc Việt Nam là gì? Vì sao dân tộc Việt Nam thời trung đại, không những không bị Hán hóa, mà còn giành được độc lập dân tộc? Ba lần đánh bại quân Mông, Nguyên, những kẻ luôn luôn chiến thắng từ Á sang Âu? Từ một nước nông nghiệp, khoa học kỹ thuật kém phát triển, đã vùng lên giải phóng, đánh bại các cuộc xâm lược của các đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ? Còn nhiều câu hỏi vẫn phải tiếp tục tìm câu trả lời hoàn toàn thuyết phục.

Việt Nam đất không rộng, người không đông, vũ khí súng đạn không nhiều, không lớn, luôn phải đối mặt với những cường quốc to lớn hơn mình gấp nhiều lần. Vậy khí phách của dân tộc Việt Nam là gì? Câu trả lời nằm ở chỗ một dân tộc biết đặt tâm lý tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu; luôn coi trọng luân lý biết hy sinh lợi ích cá nhân mình, làm lợi cho quần chúng. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh kéo dài hàng nghìn năm đã nhào nặn tâm hồn Việt Nam, đạo lý và khí phách Việt Nam. Chúng ta tự hào về một dân tộc rắn rỏi, kiên trung, hiên ngang, có tinh thần độc lập tự chủ, lạc quan, sáng tạo, thương người, chính nghĩa, đại nghĩa, trước “sóng cả không ngã tay chèo”.

Những giá trị đó có tự ngàn xưa, được vun bồi, kết tinh, sống dậy trong Hồ Chí Minh, phát sáng hào quang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do; là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính nhân đạo, tượng trưng cho tinh thần của dân tộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(11); “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12); “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp mình đã”(13). Để khởi nghĩa thắng lợi, Người khái quát và nâng cao tinh thần, khí phách của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(14).

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt vời về nhiệt tình, chí khí cách mạng kiên cường, khí phách anh hùng, tinh thần độc lập tự do, một lòng kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, lâu dài, phức tạp, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thắng không kiêu, bại không nản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.

Nguyễn Trãi viết: “Lấy đại nghĩa thắng hùng tàn/Dùng chí nhân thay cường bạo”.

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt tối rồi lại minh

Để mở nền muôn thuở thái bình

Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.

Đó là một khía cạnh đặc trưng thuộc tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam - tinh hoa và khí phách về khát vọng đổi mới, hạnh phúc và phát triển bền vững, thái bình. Hồ Chí Minh tiếp nối, phát triển, nâng cao khát vọng đó với tâm nguyện đến ngày thắng lợi sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, hơn mười ngày nay. Trong Di chúc, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(15).

Thế giới khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế, đồng thời tượng trưng cho dân tộc mình, một dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thời cổ trung đại đến cận hiện đại đã tiến hành liên tục các cuộc đấu tranh anh hùng để bênh vực những giá trị đạo đức cao cả, chân chính không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại, đó là quyền sống, độc lập, tự do, hạnh phúc, công lý cho mọi dân tộc và vì mọi người, bình đẳng giữa các dân tộc, thế giới hòa bình.

Năm 1980, trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, Rômét Chanđra nhấn mạnh: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.

Hai mươi năm sau, năm 2000, trên cương vị Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới, phát biểu trong Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Rômét Chanđa có một phát hiện độc đáo khác: “Trong nửa sau thế kỷ XX, có một từ đã xuất hiện trong tiếng nói của những người bảo vệ và kiến tạo hòa bình trên thế giới, một từ mà cùng một lúc mang rất nhiều ý nghĩa: đấu tranh, dũng cảm, anh hùng; và nó còn có ý nghĩa là chiến thắng, độc lập, tự do. Từ đó là Việt Nam. Và có một cái tên luôn luôn gắn với từ này - từ chỉ tên của một đất nước. Đó là Hồ Chí Minh… Người là niềm cảm hứng cho cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc mình, và cũng là nguồn cảm hứng cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho những điều tốt đẹp nhất của nhân loại. Lời nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vang vọng khắp mọi nơi và nó đã được phụ nữ, nam giới trên khắp các châu lục, những người đang chiến đấu để giành lấy những mục tiêu thiêng liêng đó, hưởng ứng”(17).

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, “một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(18).

Vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu”(19). Người “là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta”(20).

Đánh giá, ghi nhận của Đảng ta và bè bạn quốc tế là sự khái quát cao, cô đọng, súc tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng cho tinh hoa và khí phách của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Cần biết phân hóa kẻ thù để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và thành quả cách mạng

 

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi phải biết phân hóa kẻ thù, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà sử dụng các hình thức, phương pháp, sách lược đấu tranh để từng bước giải quyết các mâu thuẫn, giữ vững mục tiêu chiến lược, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.  “Vn biến” chỉ sự linh hoạt, sáng tạo về sách lược, “bất biến” mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “bất biến” phải xoay quanh cái trc “bt biến” ca nó. Mi quan h bin chng gia “bt biến” và “vn biến” đã được Người nhn thc và gii quyết trit để, nht quán và đầy sáng to trong các giai đon lch s cách mng khác nhau. Mc tiêu chiến lược - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bt di bt dch; nhưng tùy hoàn cnh c th trong nước và quc tế, tùy tng giai đon lch s mà đề ra nhng sách lược uyn chuyn, phù hp, khéo lựa chiều liên minh, thảo hiệp để tập trung lực lượng đánh thắng kẻ thù cơ bản, từng bước giải quyết các mâu thuẫn để bảo vệ thành quả cách mạng.

Sau khi Cách mng Tháng Tám thành công, đất nước gặp rất nhiều khó khăn, vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo si tóc”: nn đói hoành hành, tài chính kit qu, chính quyn còn non tr li phi cùng mt lúc đương đầu vi thù trong, gic ngoài. Nhn rõ mâu thun gia hai tp đoàn đế quc Anh - Pháp và M - Tưởng trong vn đề Đông Dương và căn c vào âm mưu, hành động c th ca của chúng đối vi chính quyn cách mng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương thc hin sách lược hòa vi Tưởng để kháng chiến chng Pháp. V phía ta, đồng ý cho mt s tên tay sai ca Tưởng tham gia chính ph liên hip lâm thi. Đây là gii pháp linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả nhất nhằm thêm bn, bt thù có li cho cách mng, là sng vn biến” trong tình thế đất nước đang lâm nguy để bảo vệ Tổ quốc và thành quả cách mạng mới giành được.

Tư tưởng đó được quán triệt và vận dụng sáng tạo trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo.

 

Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo. Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ phải đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh để thống nhất nước nhà, trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới”[1]. Người tin tưởng rằng: với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, với sự đoàn kết nhất trí, lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh của mình, sự giúp đỡ của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới nhất là nhân dân các nước Á - Phi, nhân dân ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ đã đề ra.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8,  Nxb CTGQ, Hà Nội 1996, trang 483.

Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

             Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đó là sức mạnh của toàn dân tộc, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, là sức mạnh của nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, sức mạnh truyền thống với hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, coi đó là lực lượng chủ chốt để bảo vệ Tổ quốc. Người căn dặn: “Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…”[1].



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 140.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng của các thế hệ người Việt Nam

 

Vận dụng sáng tạo học thuyết bảo vệ tổ quốc của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh đã hình thành những quan điểm tư tưởng cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng của các thế hệ người Việt Nam đối với tổ tiên, đối với dân tộc. Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ qua lời dạy của Người: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[1].

Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh. Trong bản Tuyên ngôn độc lập (02/9/1945), Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2]. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đứng lên đánh quân Pháp với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để gìn giữ đất nước”[3]. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”[4], “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”[5].

Đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc, Người đã đánh giá đúng thủ đoạn của đế quốc Mỹ và sớm dự báo khả năng địch đánh phá miền Bắc bằng đường không, kịp thời cùng Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân chủ động chuẩn bị mọi mặt, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của địch. Trước khi đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài mấy năm nữa, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[6].



[1] Hồ Chí Minh, Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, ngày 19/9/1954, tại Đền Hùng (Phú Thọ).

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 4.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 480.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 107.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 407.

[6]  Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 511.

Toàn bộ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

 


Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để tập hợp quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hy sinh bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng hướng dẫn, giám sát hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin không chỉ phát triển hoàn thiện học thuyết Mác về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn là người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống thù trong giặc ngoài, giữ vững thành quả cách mạng ngay trong những năm cách mạng Tháng Mười mới thành công, vừa có nội chiến bên trong, vừa có đế quốc can thiệp từ bên ngoài.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để tập hợp quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hy sinh bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng hướng dẫn, giám sát hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin không chỉ phát triển hoàn thiện học thuyết Mác về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn là người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống thù trong giặc ngoài, giữ vững thành quả cách mạng ngay trong những năm cách mạng Tháng Mười mới thành công, vừa có nội chiến bên trong, vừa có đế quốc can thiệp từ bên ngoài.

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng mọi biện pháp

 

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng mọi biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, phân biệt rõ bạn – thù, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp, kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân.

V.I.Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp để bảo vệ tổ quốc như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, củng cố khối liên minh công – nông và chính quyền Xô Viết các cấp, xử dụng bạo lực để bài trừ nội phản, tăng cường sức mạnh quân sự, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hoá, khoa học kỹ thuật làm nền tảng. Kết hợp chặt chẽ giữa các nhiệm vụ, các lĩnh vực là vấn đề có tính nguyên tắc để tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ tổ quốc.

V.I.Lênin đòi hỏi những người cộng sản phải phân biệt rõ bạn, thù và sự chuyển hóa trong quá trình đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp. Vận dụng đường lối đối ngoại khôn khéo, linh hoạt, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược. Với những đối tượng cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, nếu cần thiết phải thỏa hiệp để đạt mục đích cơ bản, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để phân hóa đối tượng. V.I.Lênin chỉ ra một căn bệnh “ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” là tuyệt đối hóa đấu tranh, dẫn đến sử dụng bạo lực một cách manh động, không biết sử dụng sách lược liên minh – thỏa hiệp trong những điều kiện cụ thể để giành thắng lợi từng phần. Người cũng nhắc nhở rằng nếu chỉ có đối đầu bằng bạo lực, không biết lựa chiều liên minh, thỏa hiệp thì không phân hóa được kẻ thù, không tận dụng được điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Ngược lại, chỉ có thoả hiệp, không nhận rõ đối tượng đấu tranh sẽ rơi vào ảo tưởng, hữu khuynh.

Kết hợp sức mạnh trong nước với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới; gắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân là một trong những đối sách có tính chiến lược thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.