Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Hiểu đúng vấn đề biển Đông để chống luận điệu xuyên tạc

 Thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những sự kiện “nóng” để quy chụp, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động tâm lý chống đối, kêu gọi quần chúng tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự, trong đó có các sự kiện liên quan đến biển Đông.

Một trong những sự kiện “nóng” được chúng “khuấy” lên trong thời gian qua là việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên vùng biển phía Nam biển Đông gần bãi Tư Chính, từ ngày 03/7/2019 đến nay. Chúng phát tán nhiều tài liệu, gồm những bài viết, video clip, hình ảnh có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, gây tâm lý bất an, hoài nghi và kích động biểu tình, chống phá.
“Dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong bối cảnh Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ vững chủ trương: “Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển”.
Bảo đảm sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ chủ quyền quốc gia. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; đồng thời, duy trì lực lượng chuyên trách tại thực địa, sử dụng biện pháp đấu tranh hòa bình không để xảy ra xung đột vũ trang.
Từ khi Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 xâm phạm chủ quyền Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta đã 7 lần tuyên bố chính thức khẳng định đây là vụ việc nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Không chỉ người phát ngôn của Bộ Ngoại giao lên tiếng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng chính thức phát biểu trên các diễn đàn trong nước và quốc tế: Tại hội nghị ngoại trưởng ASEAN, Phó Thủ tướng Chính phủ - Phạm Bình Minh lên án mạnh mẽ, chỉ đích danh tàu Trung Quốc đã xâm phạm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hay tại buổi gặp mặt Thủ tướng Australia - Scott Morrison, hội đàm với Thủ tướng Malaysia - Mahathir Mohamad, làm việc với Tổng Thư ký ASEAN - Lim Jock Hoi, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đều lên tiếng đề nghị các nước bày tỏ quan điểm thẳng thắn ủng hộ duy trì hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng, bảo đảm tự do hàng hải, hàng không trên biển Đông với tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế. Và cũng trong thời gian này, Bộ Ngoại giao của ta đã đưa vấn đề biển Đông ra tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Nhưng đó chưa phải là tất cả, trong bối cảnh căng thẳng, Việt Nam vẫn tiến hành hoạt động bình thường của giàn khoan Hakuryu-5 tại mỏ Lan Tây - Lan Đỏ thuộc lô 06.1 trong bể Nam Côn Sơn. Đây là dự án dầu khí liên doanh giữa PVEP thuộc PVN của Việt nam, Rosneft của Nga và ONGC của Ấn Độ, thuê Công ty Japan Drilling để thực hiện hoạt động khoan dầu. Đồng thời, nước ta đã hạ đặt giàn khoan “Sao Vàng - Đại Nguyệt” khổng lồ nặng trên 14.000 tấn, thuộc lô dầu khí 05-1b và 05-1c ở bồn trũng Nam Côn Sơn, cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 350km về phía Đông Nam và nằm ở độ sâu 120m. Dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng sản lượng dầu khí cho quốc gia, góp phần bảo đảm nguồn việc cho các đơn vị trong ngành Dầu khí, đặc biệt, đây là việc làm hiệu quả và thiết thực nhằm khẳng định cột mốc chủ quyền trên biển.
Biển, đảo là của tiền nhân để lại, một viên đá trên đảo, một ngụm nước biển thuộc chủ quyền của nước mình cũng không thể để mất đi. Vậy nên kiên quyết đấu tranh trên thực địa, mạnh mẽ phản đối về ngoại giao, tranh thủ sự lên tiếng của cộng đồng quốc tế chính là kế sách hợp lý nhất lúc này để đối phó với Trung Quốc. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta luôn vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Các chính sách, biện pháp giải quyết trong các tình huống tranh chấp trên biển Đông của Đảng, Nhà nước ta thể hiện nhất quán nguyên tắc, mục tiêu đó. Việc bảo vệ chủ quyền trên biển Đông được thực hiện một cách có lộ trình với những bước đi, tính toán kỹ lưỡng, chứ không phải là vấn đề thích là làm và làm thiếu tính toán, bất chấp mối tương quan và những hệ lụy có thể xảy đến.
Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng việc Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông để gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc hòng làm cho người dân “sập bẫy”, kích động biểu tình, đập phá nhà xưởng, xí nghiệp của nước ngoài (mà chủ yếu là của Trung Quốc), gây tổn thất lớn về kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội như năm 2014.
Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi con người dân Việt Nam. Hãy hiện thực hóa tinh thần đó bằng những việc làm cụ thể để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm phiến diện, sai trái, thù địch, xuyên tạc trước tình hình biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước.
Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc xử lý các vấn đề phức tạp trên biển Đông; nhận thức rõ luận điệu xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay./.
St

KỲ DIỆU CỦA LỊCH SỬ

 



Năm 1911, khi người thanh niên yêu nước Văn Ba ra đi từ bến Nhà Rồng đến tận góc bể, chân trời xa lạ tìm đường cứu nước cho một dân tộc đang bị nô lệ thì tại làng An Xá - chốn quê nghèo Quảng Bình - cậu bé Võ Nguyên Giáp vừa cất tiếng khóc chào đời.

Một sự xếp đặt ngẫu nhiên nhưng vô cùng kỳ diệu của lịch sử: 34 năm sau hai người trở thành đồng chí, thành hai thầy trò và đều được nhân loại tôn vinh và là hiện thân cho hai thế hệ nối tiếp nhau làm nên lịch sử hào hùng của thế kỷ XX./.
St

PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học
C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.
Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.
Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận
Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.
Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.
Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.
Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.
Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.
Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).
Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.
Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.
Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.
St

TA ĐI GIỮA TÌNH THƯƠNG CỦA ĐẢNG

 Đảng ta sinh vào mùa Xuân, Xuân mang sức sống cho Đảng, Đảng đưa đất nước tới những “mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi”. Mùa xuân đó được hợp thành bởi những nhành xuân tươi đẹp, với những đơm nụ, khai hoa của mỗi đảng viên. Khái niệm “vui Xuân, mừng Đảng” đã in đậm, khắc sâu trong tiềm thức của nhân dân, mãi mãi là nguồn cảm xúc mãnh liệt để mỗi người nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn trái ngọt mà Đảng mang lại cho cuộc sống hôm nay.

Nhà thơ Thanh Hải trong bài “Một mùa xuân nho nhỏ” đã viết:“Đất nước bốn ngàn năm, vất vả và gian lao/ Đất nước như vì sao, vững vàng phía trước…”. Từ khi ta có Đảng, dưới ánh sáng búa liềm, tròn 93 năm sải bước cùng dân tộc, dù trải qua nhiều chặng đường đấu tranh gian khổ, biết bao giông tố, bao máu xương trải dọc dải đất hình chữ S, bao thử thách cam go theo thế cuộc thăng trầm, Đảng ta vẫn vững tay lái nhằm hướng bình minh, cập bến bờ thắng lợi; một lòng trung hiếu với đất nước và dân tộc, chiến đấu hy sinh vì lợi ích của Nhân dân.
Dù hoàn cảnh có ngặt nghèo đến mấy, Đảng cũng luôn lo cho Dân và lòng Dân đều hướng về Đảng: “Với Dân giữ vẹn tròn chữ hiếu, với Đảng vẹn tròn niềm tin yêu, trọn đời lòng ta gắn bó, sắt son bước theo bóng cờ” (Đảng là cuộc sống của tôi - Nguyễn Đức Toàn). Linh khí mùa xuân hòa quyện với hào khí toàn dân, trở thành thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý, bền chặt tựa vào nhau thủy chung, son sắt. Đó chính là sức xuân, sức mạnh trường tồn ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Hơn 36 năm đổi mới, ánh sáng mặt trời nâng bước dân tộc ta đi với bao niềm tin và hy vọng, biết nâng niu, trân trọng quá khứ từ ông cha dựng xây nền móng, biết chắt chiu bao giọt mồ hôi mà dựng cơ đồ. Đất nước thoát khỏi đói nghèo và đang vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng với tầm vóc của lịch sử ngàn năm văn hiến. Trên vời vợi non cao Trường Sơn đến mênh mang biển Đông muôn trùng sóng vỗ, từ cột cờ Lũng Cú thiêng liêng đến mũi Cà Mau dâng tràn sinh khí, đất nước như công trường hối hả: “Trời xanh vươn ống khói xuân sang khắp nơi nơi...”.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết Trung ương soi rọi, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được kết quả khá toàn diện, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, đưa ra ánh sáng và xét xử nghiêm minh nhiều vụ án lớn, nhiều tổ chức và cá nhân vi phạm. Những kết quả quan trọng ấy được nhân dân ghi nhận, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, với chế độ.
Đất nước phát triển được khẳng định bằng những thành tựu trên các bình diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…, đặc biệt là thành tựu trong cuộc chiến chống dịch COVID-19… Tất cả những thành quả đó là biểu hiện mạnh mẽ nhất cho sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, cho tính ưu việt và vững mạnh của chế độ chính trị XHCN của đất nước ta, thể hiện ý chí và khát vọng vươn lên không ngừng của dân tộc Việt Nam.
“Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi”. Dưới ánh sáng soi đường của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đang viết tiếp những bản anh hùng ca, thực hiện khát vọng phồn vinh, thịnh vượng, khẳng định vị thế của một dân tộc độc lập, tự do: “Và kỳ diệu thay! Ta bỗng lóa bất ngờ/ Ta đã thấy cuộc đời vô hạn/ Giữa đất đai, nhân dân, bè bạn/ Ta tìm ra ánh sáng của Con Người/ Những Con Người làm sông núi sáng tươi” (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm).
Bằng ý chí quật cường, truyền thống đoàn kết, dân tộc ta đã và đang tạo dựng được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của sự phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng; kỳ tích mà hàng trăm năm dưới chế độ thực dân cũ và mới không làm được. Điều đó khẳng định chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ có CNXH mới đem lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Nhà thơ Chế Lan Viên có những bài thơ hay về Đảng, Bác Hồ, trong đó “Nghĩ về Đảng” vĩ đại trong những điều lo toan cụ thể: “Đảng ở đâu phân phối trái vườn thơm/ Đây ta đuổi ruộng mặn đồng chua thành ngon ngọt/ Mưa tám trăm ly, Bác phải lội bùn/ Hạn cháy lúa, Thủ tướng cùng dân đi tát nước/ Đảng nghĩ số triệu dân, nghĩ sức nước sông Cả, sông Hồng/ Nghĩ vóc dáng những Trường Sơn, dung mạo những đồng bằng/ Những mâm cơm ta có gì, Trung ương phải nghĩ…”.
Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc và của Nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tư tưởng “Dân là gốc” của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của Nhân dân”. Từ mục đích thiêng liêng, cao cả đó, Nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, một lòng theo Đảng: “Con chim biết nhớ đàn, nhớ tổ/ Ta nhớ người đau khổ nuôi ta/ Ơn người như mẹ, như cha/ Lòng dân yêu Đảng như là yêu con” (Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu). Nếu nhân dân không “yêu Đảng như là yêu con” thì Đảng làm sao tồn tại được; nếu Đảng không có đường lối đúng đắn, sáng suốt, không phải là đạo đức, là văn minh thì làm sao Nhân dân tin yêu Đảng?!
Tình Dân với Đảng mãi mãi là tình cây với đất, gắn bó bền chặt, thủy chung, son sắt, khẳng định chân lý vững chắc: Ở Việt Nam, Đảng với dân tộc, Nhân dân là một. Đảng và mùa xuân dân tộc là giá trị văn hóa bất tuyệt, kế thừa truyền thống lịch sử, tinh hoa, bản sắc của tiên tổ, ông cha. Đó là bức tường thành vững chãi ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Không thế lực nào có thể ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên và lập nên những kỳ tích mới: “Xứ sở mình có đủ nắng quanh năm/ Cuộc sống ấm ân tình, với Ðảng/ Lớn khôn chung, một sẽ hóa thành trăm/ Ðời rạng rỡ, mỗi con người tự sáng” (Với Đảng, mùa xuân - Tố Hữu).
Xuân Quý Mão đang về trên đất nước Việt Nam thân yêu. Hoa mai miền Nam, hoa đào miền Bắc cùng khoe sắc thắm, cùng điểm tô cho mùa xuân thêm rực rỡ sắc màu. Trong thời khắc linh thiêng giao hòa giữa Trời - Đất - Con Người, từng gia đình “từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau” đều thắp nén nhang thơm trên bàn thờ tổ tiên, lòng nặng ân tình bồi hồi tưởng nhớ đến Người - Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị cứu tinh của dân tộc. Người đã để lại một di sản văn hóa tinh thần bất diệt cho giống nòi, Người là linh hồn của mùa xuân dân tộc, như nhạc sỹ Văn Cao viết trong “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”: “Người về đem tới ngày vui... Người về đem tới mùa xuân...”.
Trước vận mệnh của đất nước, trách nhiệm với lịch sử, Đảng ta tiếp tục làm tròn sứ mệnh, phát huy vai trò, trí tuệ và bản lĩnh cách mạng, quyết liệt đấu tranh với những hạn chế, yếu kém, kiên quyết loại bỏ những căn bệnh trong Đảng, loại bỏ nạn tham nhũng, lãng phí; sàng lọc đảng viên suy thoái, vi phạm đạo đức, lối sống… với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đắp bồi thế nước, vun đắp lòng Dân, xây dựng Đảng xứng đáng là “con nòi” của dân tộc, “là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”, dẫn dắt công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên!
Dọc đường xuân, những ca từ trong bài hát “Đường chúng ta đi” của Huy Du “Dặm đường xa, ta đi giữa mùa xuân, ta đi giữa tình thương của Đảng, tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim, đường ta đi ánh lửa soi đêm dài, đường ta về trong nắng ấm ban mai”… cứ âm vang, dâng trào xúc động, tự hào trong mỗi chúng ta. Từ “đất bom đào đã lên màu cỏ mới”, chúng ta lại đi “qua xóm, qua làng” để ta thấy “Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh/ Gương mặt người, ai cũng sáng long lanh/ Những đôi mắt trong lành vui ấm lạ” (Trên đường thiên lý - Tố Hữu).
Đường xuân đã mở. Dải đất hình chữ S thân yêu như dải lụa đào mềm mại, rực rỡ hoa và sắc màu cờ đỏ. Dưới lá cờ vinh quang của Đảng, với sức sáng tạo luôn như “chồi non, lộc biếc”, cả dân tộc đồng tâm “xiết tay nhau đứng quanh Đảng Cộng sản Việt Nam”, thực hiện thành công mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn như Tố Hữu viết trong “Với Đảng, mùa xuân”:“Không chỉ hôm qua/ Hôm nay, mãi mãi/ Đất nước này vạn đại tươi xanh”./.
St

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM CHO RẰNG “CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 KHÔNG ĐEM LẠI DÂN CHỦ, TỰ DO THỰC SỰ CHO NGƯỜI DÂN”

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, tự do, dân chủ và làm chủ vận mệnh của mình. Tuy nhiên, hòng chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phản động luôn ra sức xuyên tạc, phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng, nhất là những giá trị về dân chủ, tự do. Vì vậy, cần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Đã từ lâu, hằng năm, cứ vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các thế lực thù địch, phản động lại tìm mọi cách tung ra những luận điệu cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng hòng hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần đây, khi các luận điệu cho rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là nhờ sự “may mắn”,… đã bị bác bỏ, họ lại đưa ra luận điểm: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không đem lại dân chủ, tự do thực sự cho người dân”, v.v. Đây là luận điệu hết sức lố bịch, sai trái, xuyên tạc lịch sử. Tuy nhiên, để che đậy sự lố bịch ấy, họ đã vin cớ vào những “vấn đề” còn tồn tại; sự yếu kém của một số chính quyền cơ sở trong quản lý xã hội; các hành vi vi phạm pháp luật của một số phần tử cơ hội, phản động đội lốt các “nhà dân chủ” đã bị xử lý theo pháp luật và cả sự suy thoái của một số cán bộ, đảng viên,... hòng “minh chứng” cho luận điểm nói trên. Điều đó cho thấy, âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng của chúng là không hề thay đổi; và sự chống phá đó không phải căn cứ vào hiện thực khách quan của đất nước để “lên tiếng vì dân chủ”, “bảo vệ người dân”, mà nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, có chủ đích, hòng gieo rắc hoài nghi và làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Song, dù có cố tình chống phá, xuyên tạc, họ cũng không thể phủ nhận ý nghĩa to lớn cùng những giá trị tự do, dân chủ đích thực mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mang lại cho đất nước, dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại dân chủ thực sự cho người dân
Trước hết, phải khẳng định rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến và ách đô hộ của thực dân, phát xít, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đây là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; dấu mốc của việc xác lập thể chế chính trị dân chủ nhân dân; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ; nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Đây là thành tựu nổi bật về dân chủ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà không ai có thể phủ nhận.
Hai là, một trong những mục tiêu quan trọng của Cuộc Cánh mạng Tháng Tám năm 1945 và là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhằm xóa bỏ chế độ người bóc lột người, tạo các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để dân chủ, công bằng xã hội, bình đẳng thực sự giữa nữ và nam, giữa các giai cấp và dân tộc. Quan điểm đó được thể hiện xuyên suốt trong nội dung các Cương lĩnh và văn kiện các kỳ đại hội của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”1. Quán triệt quan điểm đó, trong tất cả các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam đều quy định: “Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” và được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, như: Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN, ngày 17/4/ 2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22, Điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Ngày 10/01/2022, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Ba là, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các bản Hiến pháp, văn bản pháp luật, mà được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày; được đặt trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, thông qua hình thức dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ ở cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Theo đó, ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước; mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn; nhà nước luôn tạo điều kiện bảo đảm vật chất và tinh thần để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với nhà nước và xã hội cũng như không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Điều này được thể hiện rõ trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là thời gian gần đây, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng nhiều. Việc đổi mới các phiên chất vấn của Quốc hội; thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ,… với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội là minh chứng cho việc người dân thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại tự do thực sự cho người dân
Tự do là quyền cơ bản nhất của công dân, là giá trị nhân văn to lớn của xã hội loài người và mang tính lịch sử đối với mỗi quốc gia - dân tộc; xuất phát từ các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người, như: quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, v.v. Những quyền này đối với người dân Việt Nam trước năm 1945 hầu như không có, khi phải chịu thân phận nô lệ, lầm than, chỉ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công người dân mới được hưởng quyền tự do, độc lập.
Điều này được thể hiện trước hết trong Tuyên ngôn thoái vị (ngày 30/8/1945) của vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, đã phải thốt lên rằng: “… làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”. Đây là cảm nhận chân thực nhất của vua Bảo Đại lúc đó. Bởi, Ông cũng như nhiều vị vua của triều đình nhà Nguyễn đã phải nếm trải thân phận “Vua là tượng gỗ, dân làm thân trâu” của một nước nô lệ, lầm than, cơ cực, mất tự do, không có tên trên bản đồ thế giới. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã hồi sinh đất nước Việt Nam, giành lại nền tự do, độc lập mà dân tộc ta có quyền được hưởng. Hơn ai hết, Ông là người thấu hiểu được giá trị của tự do thật sự do Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mang lại cho đất nước, cho dân tộc, cho nhân dân và cho cá nhân Ông.
Hai là, quyền tự do của nhân dân Việt Nam được thừa nhận. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”2. Quyền tự do thật sự ấy là kết quả đấu tranh, hy sinh biết bao máu xương của các thế hệ người Việt Nam yêu nước mới giành được. Quyền tự do đó được Chính phủ Pháp, tại Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, phải thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Mặc dù quyền tự do đó chưa được trọn vẹn như chúng ta mong muốn, nhưng đó là nền tự do thực sự mà cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng bền bỉ đấu tranh mới giành được. Điều đáng nói là, chính kẻ thực dân trước đây giày xéo đất nước ta, biến nước ta thành thuộc địa, nhân dân ta thành nô lệ của chúng, nay đã phải công nhận quyền tự do, độc lập ấy. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Khi lẽ phải đã thuộc về chúng ta, thì hãy vững tin rằng, những bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo sự thật đó chỉ càng làm cho lẽ phải thêm ngời sáng tính chân lý mà thôi!
Ba là, thực tiễn ở Việt Nam đã minh chứng, từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng luật pháp, được hiến định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Công dân được quyền tự mình lựa chọn và thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình trong khuôn khổ của pháp luật mà không có sự ngăn cản, hạn chế nào, như: mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân, v.v. Không chỉ có thế, bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, nhằm đảm bảo quyền con người, Việt Nam đã sớm gia nhập, ký kết và cho đến nay đã tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người. Đồng thời, nội luật hóa các công ước này vào hệ thống pháp luật quốc gia. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Những xác thực từ các nhân chứng lịch sử và thực tiễn của nền tự do ở Việt Nam một lần nữa khẳng định, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đem lại nền tự do có thật và thật sự tự do cho nhân dân. Nền dân chủ, tự do đó gắn liền với nền độc lập dân tộc và là kết quả tất yếu của độc lập dân tộc. Đó quyết không phải là một nền tự do giả hiệu. Ngày nay, những giá trị đó tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử của dân tộc và thời đại. Không một mưu đồ đen tối nào, không một thế lực nào có thể phủ nhận giá trị nền độc lập, nền dân chủ và tự do mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc và nhân dân Việt Nam./.
St

M Lời Bác dạy Ngày 10 tháng 8 “Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau”.

 

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Điện gửi đồng bào xã Đoài”, Báo Nhân dân đăng số 5233, ngày 10 tháng 8 năm 1968.

Đây là giai đoạn đế quốc Mỹ dùng không quân, hải quân bắn phá miền Bắc để cắt đường tiếp tế của hậu phương cho chiến trường miền Nam, chúng đã tàn phá nhiều thành phố, làng quê; ngày 21 tháng 7 năm 1968 máy bay Mỹ bắn phá xã Đoài, tỉnh Nghệ An làm 02 giám mục, 03 linh mục bị thương; một số tu sĩ, đồng bào giáo và lương bị thương và tử vong, nhà thờ bị hư hỏng, hàng trăm nhà dân bị tàn phá. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Điện thăm hỏi, động viên nhân dân xã Đoài, tỉnh Nghệ An; trong Điện Bác kêu gọi: “Đồng bào lương và giáo hãy đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau”.

Việt Nam là đất nước đa dân tộc, tôn giáo, trong quá trình lãnh đạo đất nước Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng khối đoàn kết chặt chẽ giữa các tôn giáo, các dân tộc trong khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân với chính sách tôn giáo nhất quán: “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân”; công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều là công dân Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đoàn kết lương - giáo là đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác dân vận, nhất là trên các địa bàn có đồng bào theo đạo, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là những luận điệu xuyên tạc, mua chuộc, lôi kéo, xúi giục các chức sắc tôn giáo có quan điểm tiêu cực để kích động quần chúng nhân dân tụ tập đông người, biểu tình bất hợp pháp, bạo động… gây mất đoàn kết giữa đồng bào lương - giáo trên địa bàn, củng cố đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo và tình hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

THÁNG TÁM MÙA THU HOÀI NIỆM

 Đang chang chang nắng, một cơn mưa bất chợt ập đến báo hiệu đất trời đã sang thu. Mưa làm tiết trời dịu nhẹ với chút nắng hanh vàng quấn quýt trong mấy dải cầu vồng ngũ sắc. Vậy là mùa hạ đang nhẹ rời bước chân để mùa thu dịu dàng ghé lại, mặc cho lòng người thổn thức bao hoài niệm nhuốm màu thời gian.

Tháng Tám - mùa thu luôn ngọt ngào trong ký ức, đong đầy những cảm xúc yêu thương. Chiều nay lang thang trên phố đã nghe nồng nàn mùa hoa sữa như níu kéo bước chân. Thật may, thành phố nơi tôi sống vẫn có những cung đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ không ngập tràn hoa sữa như Hà Nội nhưng cũng đem lại cho tôi một mùi vị thân quen. Hồi còn ở quê, hoa sữa là hương vị đặc trưng cho sự chuyển giao mùa. Có lẽ, với nhiều miền quê cây hoa sữa đã gắn chặt với bao số phận người.
Tháng Tám, là thời buổi nông nhàn khi mùa gặt đã xong, mùa lạc cũng đã thu hoạch nhưng với bản tính cần cù nông dân không hề nghỉ tay để bắt đầu một vụ mùa mới. Đàn ông tất tả tìm kiếm việc làm, những giọt mồ hôi lại rơi mặn chát theo những công trình xây dựng. Phụ nữ lại quang gánh lên thành phố cùng mớ rau, rổ cá hay rong ruổi trên từng tuyến phố trĩu nặng gánh ve chai. Bản chất của người nhà quê là vậy, phải tranh thủ kiếm thêm chút tiền để chi tiêu trong cuộc sống.
Tháng Tám - thời tiết cứ đỏng đảnh, thất thường, mới nắng đó đã trút mưa ào ào như thác đổ. Mẹ tôi thường cẩn thận nhắc đi đâu cũng phải kèm theo cái áo mưa, vậy mà chiều nay tôi lại bị cơn mưa rào bất chợt làm ướt sũng. Mưa tưới tắm cơ thể với một cảm giác lành lạnh. Tôi lại cố tình để cảm nhận cái vị mưa ấy, để được sống lại thời con trẻ sau mỗi lần tắm mưa, thêm một lần tự thấy mình có lỗi vì không chịu nghe lời mẹ.
Nhìn sang con hẻm có mấy cụ già nhâm nhi chén trà, trầm ngâm. Mưa tạnh. Nắng lại thỏa sức rong chơi như bỏ quên mấy chiếc cầu vồng huyền ảo, long lanh. Nắng tháng Tám có một màu vàng trông nhẹ nhàng quá đỗi. Không còn bỏng rát và gay gắt như nắng của tháng Bảy. Nắng chiều buông mình trải dài cả miền quê, hiền hòa quấn lấy bao mái nhà quê mộc mạc. Nắng bịn rịn lúc chiều buông cũng là lúc gió lạnh lùa qua làn da thấm chút khí trời, tẩm chút hương vị mùa thu.
Tháng Tám - bọn trẻ lại náo nức chuẩn bị vào năm học mới. Nhiều sắc thái biểu cảm của sĩ tử vừa trải qua kỳ thi trong sự đợi chờ hồi hộp và phảng phất nỗi lo trong ánh mắt người lớn bởi một khoản tiền lớn phải chi ra khi con vào đại học. Với tôi, đã từng trải qua bao mùa thu - tháng Tám trên xôn xao đồng ruộng và bây giờ tháng Tám về lại mang theo bao suy tư của người con xa xứ.
Cứ mỗi năm khi tháng Tám về, tôi lại cầu mong đất trời cứ giữ mãi khí tiết mát mẻ, để những người cha bớt nhọc nhằn mưu sinh, để màu áo của mẹ thôi bạc màu vì mưa nắng... Tôi cảm ơn tháng Tám, cảm ơn mùa Thu đã cho tôi có những phút giây nhìn lại chính mình, để yêu thương và trân quý cuộc đời này./.
St

M Lời Bác dạy Ngày 09 tháng 8 “Lửa thủ vàng, gian nan thử bạn”.

 

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài: “Thực dân Pháp xâm lăng Bidéctơ”, đăng trên Báo Nhân dân, số 2697, ngày 09 tháng 8 năm 1961.

Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tâm địa đen tối của chủ nghĩa đế quốc, thực dân thông qua việc thực dân Pháp xây dựng căn cứ quân sự kiên cố ở Bidéctơ - một cửa biển của nước Tuynidi, sau đó được Mỹ bật đèn xanh (cũng có căn cứ quân sự tại đây) dùng vũ lực tiếp tục chiếm đóng nốt phần còn lại của thành phố Bidéctơ (Tuynidi). Nhân vấn đề ở Bidéctơ, Người muốn cảnh tỉnh quân và dân ta nhận rõ đâu là bạn, đâu là thù để không mắc mưu kẻ thù.

Quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh về bạn, thù đối với cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, thấu triệt tư tưởng của Bác, Đảng ta đã đổi mới tư duy “bạn và thù” sang “đối tác và đối tượng” - đây là bước đột phá mở đầu cho những thành tựu của cách mạng nước ta, góp phần xây dựng, củng cố đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế, đã được phát triển, bổ sung và cụ thể hóa trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp như hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác; trong mối đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”[2].

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã cùng với toàn Đảng, toàn dân đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta là sức mạnh tổng hợp của nhiều nhân tố; trong đó, có sự giúp đỡ, ủng hộ của bạn bè quốc tế, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy… công tác đối ngoại quốc phòng được triển khai đồng bộ, toàn diện trên các mặt công tác; xử lý linh hoạt, kiên quyết, có hiệu quả các tình huống phức tạp nảy sinh trên biển, đảo, thềm lục địa, biên giới, là kênh quan trọng, hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình, không để xảy ra xung đột, đối đầu, không để bị động bất ngờ trước mọi tình huống… góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…

VIỆT NAM TẠO NHỮNG DẤU ẤN MẠNH MẼ VỚI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ

 Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 37 thế giới và theo nhận định của Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2023, nước ta sẽ là quốc gia có quy mô kinh tế lớn thứ 35 thế giới.

Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao; khi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có quan hệ ngoại giao với 192 nước thuộc tất cả các châu lục. Việt Nam còn đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
Đặc biệt, việc Việt Nam trong hơn 9 năm qua đã cử các đội hình đơn vị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc còn mang ý nghĩa chính trị quan trọng, không chỉ khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, mà còn góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đi thực hiện sứ mệnh cao cả này theo hai hình thức cá nhân và đơn vị tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên Hợp Quốc. Các lực lượng của Việt Nam đã, đang hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên Hợp Quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Vui và tự hào nữa là theo xếp hạng của hãng US News & World Report - một công ty uy tín của Mỹ, về những đất nước hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, Việt Nam xếp thứ 30 với GDP đạt 363 tỷ USD, dân số vượt 98,2 triệu dân.
Vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì đà phục hồi mạnh mẽ bất chấp tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga - Ukraine, giá cả hàng hóa thế giới tăng cao và sự gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19.
Thấm thoắt 78 năm kể từ mùa thu ấy, đất nước ta đang tiếp tục vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự thống nhất, mối liên hệ mật thiết giữa mục tiêu và lợi ích của Đảng với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân làm sứ mệnh là cội nguồn sức mạnh. Công cuộc Đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam tiến vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" với nhiều thời cơ thuận lợi và đã giành được nhiều thành tựu, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế./.
St

M Lời Bác dạy Ngày 08 tháng 8


“Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam”.

Là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số 1248, ngày 08 tháng 8 năm 1957.

Trong chuyến thăm và làm việc của Đoàn cao cấp Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đến Nam Tư, phát biểu tại tiệc chiêu đãi của nước chủ nhà dành cho Đoàn ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo cho bạn biết về việc đế quốc Mỹ đã nhảy vào thế chân thực dân Pháp, cấu kết với bọn bù nhìn ở miền Nam Việt Nam bội ước, phá hủy các điều ước đã ký tại Hiệp nghị Giơnevơ, biến đường giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 17 thành một đường biên giới, cố tình chia cắt đất nước Việt Nam lâu dài.

Với tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành lấy độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn thể dân tộc Việt Nam. Lời của Bác là ý chí sắt đá của Đảng, quyết tâm của cả dân tộc, động viên quân và dân cả nước giữ vững ý chí, quyết tâm, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em để chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Quân đội nhân dân Việt nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, khắc ghi lời Bác Hồ dạy luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao đã cùng với toàn Đảng, toàn dân đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI, ĐƯA CÁC LUẬT, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI VÀO CUỘC SỐNG

 Sáng 6/9, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất triển khai luật, nghị quyết của Quốc hội khóa XV. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới 62 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội.
Cùng dự có các đồng chí: Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương…
Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, hội nghị hôm nay là thực hiện yêu cầu “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả” theo tinh thần Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết số 27 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đến hết Kỳ họp thứ 4, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai luật, nghị quyết của Quốc hội được ban hành vẫn còn một số tồn tại, hạn chế.
Cụ thể, công tác giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đối với việc triển khai luật, nghị quyết có trọng tâm, trọng điểm, nhưng chưa bảo đảm tính toàn diện, chưa chú trọng đối với các luật, nghị quyết mới được ban hành.
Việc giám sát văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết trong một số trường hợp chưa đánh giá đầy đủ về tính hợp pháp, thống nhất, tính khả thi và hiệu lực của văn bản; một số luật có số lượng nội dung quy định chi tiết nhiều, nhưng chưa bảo đảm tính cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay.
Đối với Chính phủ, công tác tổ chức triển khai một số luật, nghị quyết còn chậm; một số luật được ban hành từ năm 2022 nhưng đến nay chưa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện; một số văn bản chất lượng chưa bảo đảm, vừa ban hành thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ sung hoặc ngưng hiệu lực thi hành do không phù hợp với thực tiễn hoặc có bất cập, gây vướng mắc.
“Trên cơ sở đó, lần đầu tiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai các luật, nghị quyết của Quốc hội nhằm đưa các luật, nghị quyết của Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 5 sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả; đồng thời, rà soát, đôn đốc việc thực hiện các luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành từ đầu nhiệm kỳ khóa XV”, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nhấn mạnh.
Đây cũng là nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong giám sát việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, hội nghị sẽ đánh giá về công tác triển khai đối với 52 luật, nghị quyết, bao gồm 23 luật, 29 nghị quyết, trong đó, có 15 luật, 21 nghị quyết được thông qua từ đầu nhiệm kỳ cho đến trước Kỳ họp thứ 5 và 8 luật, 8 nghị quyết được thông qua tại Kỳ họp thứ 5. Một số nghị quyết về nhân sự, về chương trình giám sát và thành lập đoàn giám sát chuyên đề không thuộc phạm vi của hội nghị này.
Hội nghị sẽ nghe 2 báo cáo quan trọng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ khái quát về 4 nội dung chủ yếu:
Thứ nhất, việc tổ chức triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua từ đầu nhiệm kỳ khóa XV đến nay, những kết quả đạt được, vấn đề còn khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và một số giải pháp, kiến nghị.
Thứ hai, đánh giá một số vấn đề nổi lên về công tác tổ chức triển khai các luật, nghị quyết của Quốc hội từ đầu nhiệm kỳ đến trước Kỳ họp thứ 5.
Thứ ba, công tác chuẩn bị và kế hoạch triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV.
Thứ tư, một số yêu cầu và nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 5.
Ngoài ra, hội nghị sẽ nghe các tham luận của các cơ quan về việc triển khai đối với 21 luật, nghị quyết của Quốc hội, đây là những văn bản quan trọng, có tác động lớn, được dư luận xã hội quan tâm, có những vấn đề khó khăn, vướng mắc phát sinh cần tháo gỡ.
Trong đó có việc triển khai Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; việc tổ chức phiên tòa trực tuyến; thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam; thí điểm đấu giá biển số xe ô-tô; thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ; việc triển khai Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Khám bệnh, chữa bệnh; việc chuẩn bị triển khai Luật Đấu thầu, Luật Hợp tác xã, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam…
Để hội nghị đạt được kết quả tích cực, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung cao độ, thảo luận thẳng thắn, xây dựng, khách quan.
Các báo cáo, tham luận, ý kiến phát biểu cần phản ánh sâu sắc, rõ nét, chính xác những kết quả đã đạt được, thẳng thắn nhìn nhận những mặt còn hạn chế, cùng trao đổi, thống nhất những giải pháp khả thi, thiết thực, tiếp tục tăng cường sự phối hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác triển khai, bảo đảm đưa các luật, nghị quyết của Quốc hội vào cuộc sống.
Sau phát biểu khai mạc của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái thay mặt Chính phủ trình bày Báo cáo về tình hình tổ chức triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua từ đầu nhiệm kỳ khóa XV đến trước Kỳ họp thứ 5; công tác chuẩn bị và kế hoạch triển khai các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 5./.
St

Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM TRONG KỶ LUẬT PHÁT NGÔN

 Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.

Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".
Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.
Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.
Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.
Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.
Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...
Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.
Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.
Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.
Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.
Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.
Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.
Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...
Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.
Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.
Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.
Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước./.
St

M Lời Bác dạy Ngày 07 tháng 8


“Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội Thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của các lực lượng vũ trang nhân dân” tổ chức ngày 07 tháng 8 năm 1965 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội đầu tiên của các đơn vị anh hùng, chống Mỹ, cứu nước. Tại Đại hội này có 367 đơn vị quân đội, công an vũ trang và dân quân tự vệ toàn miền Bắc được tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng.

Là người sáng lập và rèn luyện Quân đội ta trưởng thành, lớn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng, phát triển quân đội một cách toàn diện, chính qui, hiện đại; Người đã dành cả tấm lòng thương yêu vô bờ như tình cảm cha con, bác cháu, đồng chí cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam với sự quan tâm ân cần đặc biệt về mọi mặt.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy “Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Các đơn vị đã làm tốt công tác quản lý bộ đội từ khâu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và trong suốt quá trình tại ngũ của người quân nhân với quy trình chặt chẽ, thống nhất; các đơn vị đóng quân và làm nhiệm vụ ở vùng biên giới, hải đảo, nhà giàn DK1… cấp ủy, chỉ huy đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp, mô hình, cách làm sáng tạo để bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị, nhiều phong trào, mô hình đã được triển khai đạt hiệu quả thiết thực trên thực tế, tiêu biểu: “Đơn vị là nhà, đồng đội là người thân”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, bà con các dân tộc là anh em ruột thịt”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”…; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có ý chí, nghị lực phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.