Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


 Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và  phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”(1).

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”(4). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu

Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”(5)… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”(6) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(7).

Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”(8)Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”(9).

 

Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.

Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

*          *

*

Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”(10). Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”(11)”./.

V3.

Linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc đấu tranh về chủ quyền quốc gia

 “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong bối cảnh Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn giữ vững chủ trương: “Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Bảo đảm sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ chủ quyền quốc gia. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; đồng thời, duy trì lực lượng chuyên trách tại thực địa, sử dụng biện pháp đấu tranh hòa bình không để xảy ra xung đột vũ trang.
Từ khi Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 xâm phạm chủ quyền Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta đã 7 lần tuyên bố chính thức khẳng định đây là vụ việc nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Không chỉ người phát ngôn của Bộ Ngoại giao lên tiếng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng chính thức phát biểu trên các diễn đàn trong nước và quốc tế: Tại hội nghị ngoại trưởng ASEAN, Phó Thủ tướng Chính phủ - Phạm Bình Minh lên án mạnh mẽ, chỉ đích danh tàu Trung Quốc đã xâm phạm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hay tại buổi gặp mặt Thủ tướng Australia - Scott Morrison, hội đàm với Thủ tướng Malaysia - Mahathir Mohamad, làm việc với Tổng Thư ký ASEAN - Lim Jock Hoi, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đều lên tiếng đề nghị các nước bày tỏ quan điểm thẳng thắn ủng hộ duy trì hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng, bảo đảm tự do hàng hải, hàng không trên biển Đông với tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế. Và cũng trong thời gian này, Bộ Ngoại giao của ta đã đưa vấn đề biển Đông ra tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Nhưng đó chưa phải là tất cả, trong bối cảnh căng thẳng, Việt Nam vẫn tiến hành hoạt động bình thường của giàn khoan Hakuryu-5 tại mỏ Lan Tây - Lan Đỏ thuộc lô 06.1 trong bể Nam Côn Sơn. Đây là dự án dầu khí liên doanh giữa PVEP thuộc PVN của Việt nam, Rosneft của Nga và ONGC của Ấn Độ, thuê Công ty Japan Drilling để thực hiện hoạt động khoan dầu. Đồng thời, nước ta đã hạ đặt giàn khoan “Sao Vàng - Đại Nguyệt” khổng lồ nặng trên 14.000 tấn, thuộc lô dầu khí 05-1b và 05-1c ở bồn trũng Nam Côn Sơn, cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 350km về phía Đông Nam và nằm ở độ sâu 120m. Dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng sản lượng dầu khí cho quốc gia, góp phần bảo đảm nguồn việc cho các đơn vị trong ngành Dầu khí, đặc biệt, đây là việc làm hiệu quả và thiết thực nhằm khẳng định cột mốc chủ quyền trên biển.
Biển, đảo là của tiền nhân để lại, một viên đá trên đảo, một ngụm nước biển thuộc chủ quyền của nước mình cũng không thể để mất đi. Vậy nên kiên quyết đấu tranh trên thực địa, mạnh mẽ phản đối về ngoại giao, tranh thủ sự lên tiếng của cộng đồng quốc tế chính là kế sách hợp lý nhất lúc này để đối phó với Trung Quốc. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta luôn vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Các chính sách, biện pháp giải quyết trong các tình huống tranh chấp trên biển Đông của Đảng, Nhà nước ta thể hiện nhất quán nguyên tắc, mục tiêu đó. Việc bảo vệ chủ quyền trên biển Đông được thực hiện một cách có lộ trình với những bước đi, tính toán kỹ lưỡng, chứ không phải là vấn đề thích là làm và làm thiếu tính toán, bất chấp mối tương quan và những hệ lụy có thể xảy đến.
Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng việc Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 08 xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông để gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc hòng làm cho người dân “sập bẫy”, kích động biểu tình, đập phá nhà xưởng, xí nghiệp của nước ngoài (mà chủ yếu là của Trung Quốc), gây tổn thất lớn về kinh tế, ngoại giao, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội như năm 2014.
Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi con người dân Việt Nam. Hãy hiện thực hóa tinh thần đó bằng những việc làm cụ thể để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm phiến diện, sai trái, thù địch, xuyên tạc trước tình hình biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước.
Mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc xử lý các vấn đề phức tạp trên biển Đông; nhận thức rõ luận điệu xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch để có hành động đúng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay./.

Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị

 



Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

V3.

Ðồng bào Tây Nguyên lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác

 Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.

Càng căm thù và lên án sâu sắc những kẻ giết người bao nhiêu, trong những ngày qua, tự tâm can, tôi càng thấy thương những người Amí (mẹ), những người Mo (vợ), những đứa Anak (con) tội nghiệp của chúng bấy nhiêu. Rất nhiều người thân của những tên khủng bố đã khóc cạn nước mắt, đã đau khổ tận cùng. Chính họ cũng không hiểu vì sao, vì điều gì mà người con, người chồng, người cha của mình lại trở thành những tên giết người máu lạnh. Ðược chính quyền và cơ quan công an động viên, giải thích, họ dẫn những người thân vừa gây nên tội ác tày trời ra tự thú, nhận tội.

Ðồng bào Tây Nguyên, nhất là cộng đồng người dân tộc thiểu số đã lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác. Họ đã hợp tác tích cực cùng chính quyền, các lực lượng công an, quân đội trong quá trình cung cấp thông tin, tham gia vây bắt những tên khủng bố. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã vãn hồi tình hình, trả lại sự bình yên vốn có cho mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.

Chúng tôi cũng hết sức đồng tình với nội dung bức tâm thư của người thanh niên dân tộc Ê Ðê, ca sĩ Y Vol Ênuôl (con trai của cố NSND Y Moan Ênuôl) gửi những người đồng tộc của mình. Y Vol viết: "Nhận thông tin vụ sát hại cán bộ, công an và nhân dân tại 2 xã thuộc huyện Cư Kuin, tôi rất căm phẫn và đau xót trước hành động man rợ của những kẻ sát nhân. Qua đây, tôi có đôi lời tâm tư với bà con dân tộc mình, đặc biệt là những người nhẹ dạ cả tin theo lời tuyên truyền, xúi giục của bọn phản động lưu vong (...). Kính mong các chú, các bác, anh em đồng bào hãy đoàn kết một lòng, đừng nghe theo lời dụ dỗ của kẻ xấu, chúng sẽ lợi dụng để chia rẽ chúng ta...".

Cũng cần chỉ rõ những kẻ chủ mưu, chỉ đạo bạo loạn, khủng bố thực sự là ai? Câu hỏi này không khó trả lời. Ðó chính là những tổ chức phản động, những kẻ lạc loài lưu vong bên ngoài Tổ quốc nhưng không nguôi nuôi lòng thù hận với đất nước, với chế độ, với quê hương, với mảnh đất đại ngàn đã sinh ra và nuôi dưỡng chúng. Dù là tên gọi nào, hình thức nào thì bản chất chỉ có một.

Ðơn cử như Fulro - dưới bàn tay giật dây của các thế lực thù địch với đất nước Việt Nam, là một tổ chức phản động cực kỳ nguy hiểm, độc ác, hoạt động kéo dài nhiều thời kỳ, nhiều năm tháng, có lúc tưởng chừng đã bị xóa sổ, nhưng tàn dư của nó vẫn tồn tại thông qua nhiều hình thức khác nhau.

Sau Fulro 1, Fulro 2, giờ đây là Fulro thế hệ thứ 3 và các nhánh, nhóm phản động núp bóng tôn giáo, sắc tộc vẫn đang ngày đêm rình rập, tìm cơ hội tạo nên những bất ổn cho vùng đất đại ngàn. Chúng không từ bỏ âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai, tự trị.

Bằng chiêu bài sử dụng công cụ đội lốt tôn giáo như "Tin lành Ðêga", "Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam" rồi "Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên", chúng tập hợp lực lượng, tuyên truyền, huấn luyện các đối tượng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và thành lập nhà nước riêng - cái gọi là "Nhà nước Ðêga độc lập" hay "Nhà nước Tây Nguyên tự trị".

Tại Hội nghị cấp cao những người đứng đầu lực lượng chống khủng bố các nước do Liên hợp quốc tổ chức tại New York (Mỹ) từ ngày 19 đến 22/6/2023, Thiếu tướng Phạm Ngọc Việt - Cục trưởng Cục An ninh nội địa (Bộ Công an Việt Nam), trong bài phát biểu của mình đã khẳng định vụ tấn công tại Ðắk Lắk ngày 11/6/2023 là hoạt động khủng bố có tổ chức với "hành vi manh động, liều lĩnh, man rợ, mất nhân tính".

Ông đã phân tích, nhận diện đây là hoạt động do các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các phần tử theo chủ nghĩa cực đoạn lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo trú chân tại một số quốc gia thiết lập cơ sở, chân rết, tổ chức huấn luyện cho các đối tượng trong nước và cử người xâm nhập vào Việt Nam chỉ đạo thực hiện hành động khủng bố. Trong các đối tượng tham gia vụ khủng bố, có một số đối tượng là thành viên một tổ chức có trụ sở tại Mỹ, nhận lệnh chỉ đạo từ tổ chức này xâm nhập về Việt Nam và dàn dựng vụ tấn công.

Như đã nói, tưởng chừng Fulro chấm dứt hoạt động, nhưng không phải thế, cái bóng ma ấy vẫn núp từ bên ngoài Tổ quốc và len lỏi vào những cánh rừng, những buôn làng, mái nhà. Ðược các thế lực thù địch với Việt Nam "hà hơi tiếp sức", cung cấp nhân lực, vật lực, chúng tìm mọi cơ hội nhằm phá hoại sự bình yên của vùng đất Tây Nguyên bằng các hình thức tuyên truyền kích động, tổ chức bạo loạn, chống phá, khủng bố. Các cuộc bạo loạn năm 2001, 2004 và điểm nóng 2008 cùng với vụ khủng bố đẫm máu vừa qua là những minh chứng rõ nét về tội ác của tổ chức Fulro thế hệ mới.

Hiểu đúng bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc

 


Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.

1. Lâu nay, chúng ta đã cởi mở hơn, tin cậy hơn trong những thảo luận nhiều vấn đề về đời sống xã hội. Xã hội chúng ta ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp.

Đại đức Thích Đồng Đạo, trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) có nói đại ý rằng, để có những trang văn hay và chính xác hơn nữa đối với văn học sử của Việt Nam thì các nhà văn nên nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì sử nước nhà có những giai đoạn song hành với sử Phật giáo. Nhiều vị quân vương nước ta lên ngôi dùng quyền lực trị vì thiên hạ đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo qua các thiền sư. Khi vương triều nào đó mất đi thì các thiền sư vừa đảm nhiệm vai trò giữ đạo, vừa giữ nguồn tri thức cho dân tộc nên phần lớn các vị quân vương đều nhờ sự giáo dưỡng rất lớn của các thiền sư, mà điển hình nhất là Lý Bí, Lý Công Uẩn... Khi chúng ta nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo sẽ giúp nhà văn dùng từ ngữ và các di tích liên quan đến Phật giáo và lịch sử dân tộc đúng đắn, hay hơn nhiều.

Tư duy trên của vị Đại đức phần nào nói lên rằng, nền Phật giáo Việt Nam chính là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, góp phần vào sự trưởng thành đi tới văn minh của con người Việt Nam hiện đại. Đây cũng là một trong những nền tảng căn bản hình thành nên cốt cách dân tộc Việt Nam.

2. Quay lại vấn đề quyền lực. Thực ra, trong bất kỳ thể chế chính trị nào đều là câu chuyện hành xử quyền lực như thế nào để ích nước, lợi dân. Quyền lực của thể chế chính trị triều Lý, triều Trần, triều Lê đều tập trung nơi các vị vua, nơi triều đình. Thế thì tại sao, cũng là quyền lực đó ở các vị vua khai quốc, các vị minh quân, các đại thần tài đức thì nhân dân và Tổ quốc được ấm no, hạnh phúc, đất nước được bình yên, cường thịnh; nhưng với khung khổ quyền lực ấy rơi vào tay các hôn quân, gian thần đều khiến chính thể rối ren, nhân dân đói khổ, mất tự do, thậm chí mất nước, mất vương triều?

Như thế, quyền lực và thực thi quyền lực của một chế độ chính trị phải trở thành thái độ văn hóa sâu rễ bền gốc chứ không phải sự thỏa thích thực thi tất cả quyền hành để thỏa mãn chế độ chính trị đó. Nền tảng của quyền lực không thể bất định, cứng nhắc, chỉ khư khư dựa vào nguyên tắc giáo điều, mà quyền lực thời nay thể hiện tốt nhất vai trò của mình là thực thi quyền lực dựa trên nền tảng thượng tôn hiến pháp, pháp luật gắn với giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

3. Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tham nhũng tràn lan, từ đó làm mất vai trò quyền làm chủ của nhân dân. Thực tế đó chỉ sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta đã hết sức kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.

Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đã nhận định: "Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng... Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không "ngừng" , không "nghỉ"; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

4. Trong xu thế thời cuộc và thời đại hôm nay, thế giới chuyển động không ngừng với nhiều điểm nóng phức tạp, việc thực hành và kiểm soát quyền lực một cách bền vững để phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc phải được đặt ra một cách có hệ thống trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Bác Hồ từng huấn thị: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó chính là phương lược lâu dài của chính thể chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh, khá toàn diện chính vì đã khơi dậy được nhiều nguồn lực và có cơ chế đúng đắn kiểm soát tốt các khu vực quyền lực. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, toàn diện đã và đang đặt ra không ít thách thức về quyền lực và thực hành quyền lực, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Một bộ phận cán bộ, trong đó có những cán bộ cấp cao đã tha hóa biến chất, bị quyền lực, vật chất cám dỗ làm hư hỏng bản thân đến mức phải bị kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Đây là bài học đau xót về sự thiếu giám sát, kiểm soát dẫn đến tha hóa quyền lực.

Xã hội ta đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ví như mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 205-QĐ/TW do Bộ Chính trị khóa XII ban hành năm 2019 chỉ nói đến kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Còn Quy định số 114 đã đề cập đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ với phạm vi rộng hơn. Bên cạnh đó, các cơ chế, giải pháp cũng được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Điều này cho thấy, Đảng ta không ngừng hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tha hóa quyền lực, nhằm bảo đảm mục tiêu ở đâu có quyền lực thì ở đó phải được kiểm soát chặt chẽ.

Phải khẳng định rằng, gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng của nó chính là phục vụ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán./.

          V3.

Nhìn lại 17 năm kể từ khi Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

 Trong 17 năm qua, kể từ khi Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến nay, việc học tập và làm theo Bác không ngừng được điều chỉnh, bổ sung nội dung, hình thức, giải pháp thực hiện. Đảng ta đã cụ thể hóa sự phát triển tư duy lý luận và đáp ứng yêu cầu gắt gao từ thực tiễn của đất nước bằng các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... Đặc biệt, trong những năm gần đây, việc ban hành, triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận 01 đã thể hiện yêu cầu ngày càng cao đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.


Kết luận 01 chỉ rõ: Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Bác, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật. Việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các khâu đột phá, các vấn đề cấp bách, bức xúc còn lúng túng, hiệu quả chưa cao...

Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi...

Với phương châm kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, sắp tới chắc chắn sẽ còn nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong hệ thống chính trị bị xử lý kỷ luật, lôi ra trước ánh sáng công lý. Đặc biệt là hiện nay, khi hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh tiếp tục được củng cố, đẩy mạnh, số lượng cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng bị kiểm tra, điều tra, xử lý ở các cấp chắc chắn sẽ còn nhiều thêm.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ tiếp tục diễn ra cam go, phức tạp, nhưng với tinh thần kiên trì, quyết liệt, không có vùng cấm, “lấy xây để chống”, chúng ta có niềm tin son sắt vào thắng lợi của Đảng.

Vấn đề cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị các cấp cần có là sự nhận thức thấu đáo, đầy đủ, sâu sắc bản chất của vấn đề bằng phép tư duy biện chứng. Tuyệt đối không tư duy kiểu “hớt váng” dẫn đến nghe theo, hùa theo, làm theo những luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội. Cán bộ, đảng viên có nhận thức thấu đáo, đầy đủ thì mới có cơ sở vững chắc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện ngày càng sâu rộng, hiệu quả việc học tập và làm theo Bác. Tinh thần “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được củng cố, tiếp lửa thường xuyên, liên tục bằng “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”... không để đứt gãy vì bất cứ lý do gì, bất cứ hoàn cảnh nào.

Thực hiện đồng bộ giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. "Xây" là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. "Chống" là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... (trích Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị)./.

CẢNH GIÁC VÀ CHỦ ĐỘNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

 


Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và dựng lên các tổ chức đội lốt để thực hiện mưu đồ là phương thức mà bọn phản động Fulro lưu vong đã và đang sử dụng và chúng coi đây là các chiêu bài hữu hiệu, đắc lợi. Thời kỳ trước, chúng dùng “Tin lành Ðêga” hay “Quỹ người Thượng” để tập hợp lực lượng, kích động tâm lý ly khai, xúi giục, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số nhẹ dạ gây nên các cuộc bạo loạn và điểm nóng chính trị. Gần đây, vẫn tiếp tục âm mưu thành lập “nhà nước Tây Nguyên tự trị”, chúng lập mới các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo mang tên “Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam” rồi “Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”.

Theo tài liệu do cơ quan công an công bố: Cái gọi là “Tin lành đấng Christ” là một tổ chức do cựu đại tá-Bộ trưởng Ngoại giao Fulro 3 Y Hin Niê đang lưu vong tại Mỹ lập ra. Tổ chức này có trụ sở chính tại bang North Carolina (Mỹ) và chi nhánh ở vài quốc gia khác. Tên trùm Fulro này thông qua tổ chức đội lốt tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đồng bào tư tưởng ly khai, tự trị nhằm hướng đến mục đích thành lập “nhà nước riêng” và “tôn giáo riêng”.

Vô cùng nguy hiểm là từ nước ngoài, chúng thò nọc độc về Việt Nam và dựng nên các chân rết trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và một số tỉnh, thành phố khác ở trong nước. Với tinh thần cảnh giác cao độ, đấu tranh tích cực, từ năm 2017 đến nay, chúng ta đã bóc gỡ và xử lý theo pháp luật hàng chục đối tượng cốt cán của tổ chức phản động này. Tuy nhiên, mầm độc của chúng vẫn gieo rắc khắp nơi.

Dù hình thức, tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của các tổ chức phản động lưu vong đều giống nhau. Nhóm “Người Thượng vì công lý” cũng là một thí dụ. Tổ chức này do tên Y Phíc Hdok (lưu vong tại Mỹ), Y Quynh Bdăp (lưu vong tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu vong khác nhóm lại. Tại nước ngoài, chúng câu kết với các tổ chức Fulro lưu vong (MHRO, MRO…) và “Ủy ban cứu trợ người vượt biển”-BPSOS.

Thông qua mạng xã hội, các đối tượng tìm cách liên lạc, kích động những người trong nước thiếu hiểu biết, thu thập thông tin sai sự thật nhằm mục đích xuyên tạc, vu cáo chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào. Chúng đã dùng những thông tin dối trá ấy làm các bản “báo cáo nhân quyền”, “nạn nhân tôn giáo bị đàn áp”,… nhằm phục vụ những âm mưu đen tối.

Dù luận điệu, hành vi của các phần tử chống phá chế độ, chống phá cuộc sống bình yên của miền đất đại ngàn có xảo trá đến đâu thì cũng không thể che đậy được bộ mặt của chúng, bộ mặt của những kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội buôn làng và đồng bào ruột thịt. Rất đáng tiếc, một số tổ chức và cơ quan truyền thông quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam lại tích cực “cổ vũ”, “đồng hành” và bênh vực cho cái xấu, kẻ ác.

Ví như, trong khi nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đang cực lực lên án vụ tấn công khủng bố tại huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) thì một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại ngày 23/5/2023 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc núi rừng trong lòng tôi”. Nội dung bài viết này cố tình đưa ra những luận điểm xuyên tạc sự thật, như “người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân”; hay “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”.

Hoặc đưa ra góc bình luận bóp méo, đầy tính thù địch rằng: “Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”. Tác giả bài viết này còn kích động sự chia rẽ cộng đồng các dân tộc bằng sự xảo ngôn, đánh lái nguy hiểm: Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Hay ở một bài viết khác thì cố tình đưa ra nhận định xuyên tạc rằng: “người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”…

Với những cách truyền thông sai lệch, bóp méo trên, các bài viết nhằm hướng dư luận của cộng đồng quốc tế về phía bất lợi cho Việt Nam; cố tình khoét sâu mâu thuẫn, tạo sự bất ổn và kêu gọi các quốc gia, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam…

Có thể thấy các thế lực phản động, thù địch luôn rêu rao rằng, đồng bào Tây Nguyên bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử, bị đàn áp và bị xóa nhòa bản sắc văn hóa! Thực tế lại trái ngược hoàn toàn. Hiện thực Tây Nguyên hôm nay với những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, về sự tiến bộ trong vấn đề bảo đảm nhân quyền, sự khởi sắc vượt bậc trong đời sống vật chất và tinh thần của hàng triệu đồng bào là minh chứng rõ ràng và thuyết phục về những đổi thay kỳ diệu trên xứ sở đại ngàn.

Ngày xưa, dù sống giữa vùng đất Tây Nguyên với kho tàng tiềm năng giàu có nhưng đồng bào các dân tộc thiểu số trên miền thượng du này mãi đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu. Hai cuộc xâm lăng, giày xéo của kẻ thù lên đất nước ta, người Tây Nguyên cũng cùng chung thân phận nô lệ như các dân tộc anh em trên mọi miền Tổ quốc. Ðánh Pháp, đuổi Mỹ thành công, nước nhà thống nhất, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên thực sự được giải phóng; được làm công dân của một nước độc lập; được phát triển bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc anh em.

Từ ngày hết chiến tranh, Ðảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, tổ chức nhiều chương trình và đầu tư những nguồn lực lớn để phát triển Tây Nguyên. Nhất là từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa IX về “Phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh-quốc phòng vùng Tây Nguyên”, nguồn lực tập trung đầu tư ngày càng cao, từng bước khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của địa bàn chiến lược này.

Ðường lối nhất quán của Ðảng ta là bảo đảm quyền tộc người, quyền bảo vệ văn hóa tộc người. Cũng như các dân tộc anh em, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có quyền tự do quyết định vị thế xuất thân, quyền sử dụng ngôn ngữ, khẳng định sự bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thành tựu về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên trong nhiều năm qua rất đáng ghi nhận. Ở Tây Nguyên không có sự kỳ thị sắc tộc mà chỉ có sự tôn trọng các giá trị đặc thù. Bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên được bảo tồn, phát huy và lan tỏa các hệ giá trị.

Các đối tượng chống phá rêu rao rằng, chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo. Chúng luôn cáo buộc Nhà nước ta không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Lập luận của chúng đã cố tình phớt lờ thực tế, xuyên tạc sự thật; dùng xảo ngôn để che đậy những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo thực hiện chống phá. Thực tế, Tây Nguyên là một không gian sinh hoạt lý tưởng của các cộng đồng tôn giáo khác nhau.

Theo thống kê, vùng Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều tổ chức tôn giáo, trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài với tổng số 2,3 triệu tín đồ, gần 4.000 chức sắc, 10.000 chức việc và trên 1.300 cơ sở thờ tự. Trong đó, Công giáo có trên 1,1 triệu tín đồ, khoảng 1.000 chức sắc, trên 2.500 chức việc và 500 cơ sở thờ tự; Phật giáo có 670.000 tín đồ, khoảng 1.900 chức sắc, 2.800 chức việc và khoảng 570 cơ sở thờ tự. Ðạo Tin lành có khoảng 580.000 tín đồ thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm được chính quyền địa phương cấp đăng ký sinh hoạt…

Các cấp ủy và chính quyền ở Tây Nguyên luôn phát huy vai trò, thế mạnh, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực an sinh xã hội, bảo vệ môi trường; khuyến khích và tạo điều kiện cho tôn giáo góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Cổ vũ mặt tích cực nhưng chúng ta cũng không dung thứ việc lợi dụng các hoạt động tôn giáo gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những kẻ giả hiệu tôn giáo để chống phá cuộc sống bình yên của buôn làng chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị.

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quốc gia. Không ai muốn nhớ lại những câu chuyện buồn từng xảy ra và vừa mới xảy ra trên vùng đất tươi đẹp này. Nhưng vì sự phát triển thịnh vượng vùng đại ngàn phía tây Tổ quốc, chúng ta cần phải lưu tâm sâu sắc các sự kiện này như một phần ký ức đáng phải suy nghĩ, những bài học thấm thía và đau lòng. Muốn giữ gìn sự bình yên, Tây Nguyên phải xây dựng cho mình sức mạnh nội sinh, tạo nên nguồn kháng thể mạnh mẽ trước mọi khó khăn, biến động.

Bên cạnh tập trung nguồn lực đầu tư, cấp ủy và chính quyền các tỉnh trong khu vực cần phát huy trí tuệ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo; có những điều chỉnh phù hợp, khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các chính sách, nhất là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp phát triển quê hương và nâng cao đời sống nhân dân, chúng ta cần đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch./.

          V3.

để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng

 Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.

Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.
Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước./.

Sự phi lý của một luận điệu

 



         Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế.

Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này.

          V3.

78 năm đất nước ta vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 37 thế giới và theo nhận định của Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2023, nước ta sẽ là quốc gia có quy mô kinh tế lớn thứ 35 thế giới.

Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao; khi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có quan hệ ngoại giao với 192 nước thuộc tất cả các châu lục. Việt Nam còn đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
Đặc biệt, việc Việt Nam trong hơn 9 năm qua đã cử các đội hình đơn vị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc còn mang ý nghĩa chính trị quan trọng, không chỉ khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, mà còn góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đi thực hiện sứ mệnh cao cả này theo hai hình thức cá nhân và đơn vị tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên Hợp Quốc. Các lực lượng của Việt Nam đã, đang hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên Hợp Quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Vui và tự hào nữa là theo xếp hạng của hãng US News & World Report - một công ty uy tín của Mỹ, về những đất nước hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, Việt Nam xếp thứ 30 với GDP đạt 363 tỷ USD, dân số vượt 98,2 triệu dân.
Vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì đà phục hồi mạnh mẽ bất chấp tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga - Ukraine, giá cả hàng hóa thế giới tăng cao và sự gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19.
Thấm thoắt 78 năm kể từ mùa thu ấy, đất nước ta đang tiếp tục vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự thống nhất, mối liên hệ mật thiết giữa mục tiêu và lợi ích của Đảng với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân làm sứ mệnh là cội nguồn sức mạnh. Công cuộc Đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam tiến vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" với nhiều thời cơ thuận lợi và đã giành được nhiều thành tựu, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế./.

NHẬN DIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỚI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 


Ngay từ khi ra đời, Quân đội Nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” trong quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng là cơ sở để xây đắp, tăng cường, củng cố đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội sẽ trực tiếp góp phần củng cố, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Một trong những nội dung trong hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội Trong cuốn sách mới công bố ngày 18/6/2023 với tên gọi “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Thực chất, “phi chính trị hóa” Quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước ta”(1). Sở dĩ Tổng Bí thư coi đây là “thủ đoạn cực kỳ nhan hiểm” vì các thế lực thù địch đã thực hiện thành công âm mưu này ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa.

Đối với Việt Nam, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội thực chất là mũi nhọn để phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam, làm cho Quân đội thay đổi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Trong thời gian gần đây, lợi dụng những thành tựu củaCuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo AI, các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam đã triệt để lợi dụng để tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả mạo, sai lệch, thật giả lẫn lộn gây hoang mang cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta. Các thủ đoạn của chúng là lập hàng loạt các trang web, blog, hàng loạt các nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt như: Người đưa tin, Sự thật 24h…; xây dựng các chiêu trò như: Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm tiếp xúc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn chính trị trong và ngoài nước để tuyên truyền, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng và tình hình đất nước. Với Quân đội, các phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng một số vi phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, sĩ quân, chiến sĩ trong Quân đội để xuyên tạc, thổi phồng, thậm chí khoét sâu làm trầm trọng hóa thêm tình hình nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa của Quân đội và tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, lối sống từng cán bộ, chiến sĩ. Đây là những chiêu trò chống phá rất nguy hiểm, chúng ta không thể lơ là, xem nhẹ.

          V3.