Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

BỨC TÂM THƯ CỦA MỘT THẦY GIÁO GỬI PHỤ HUYNH NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC MỚI

 


Nhân dịp đầu năm học mới, tôi xin gửi tới quý phụ huynh vài dòng chia sẻ về việc dạy dỗ con em chúng ta:


𝗖𝗵𝗼 𝗰𝗼𝗻 𝗰𝗼̛ 𝗵𝗼̣̂𝗶 đ𝘂̛𝗼̛̣𝗰 𝘁𝗿𝘂̛𝗼̛̉𝗻𝗴 𝘁𝗵𝗮̀𝗻𝗵

Mong phụ huynh đừng nuông chiều con thái quá, như vậy là tước đi quyền được trưởng thành của con. Quyền được thất bại, được sai lầm để học bài học trưởng thành là quyền của các cháu.


Phụ huynh đừng thương con đến mức không để con làm việc gì. Hãy dạy cháu tự mang cặp đến trường, hãy dạy cháu biết trồng cây, rửa chén, lau nhà và hãy để cháu tự đứng dậy từ chính nơi vấp ngã... Cháu muốn chiên trứng cứ mạnh dạn để cháu làm. Cháu có thể làm hư một lần, nhưng vài lần thì chắc chắn sẽ làm được.


𝗧𝗿𝗮𝗼 𝗰𝗵𝗼 𝗰𝗼𝗻 𝗻𝗮̆𝗻𝗴 𝗹𝘂̛̣𝗰 𝘁𝘂̛̣ 𝗵𝗼̣𝗰


Hãy giúp các cháu phát triển tư duy, trau dồi năng lực tự học, tự nghiên cứu và khám phá những kiến thức mới. Vì khi con đã có năng lực tự học thì cha mẹ sẽ bớt nhọc công trong việc dạy dỗ hơn rất nhiều.


Khi con hỏi, đừng vội trả lời ngay mà hãy nhẹ nhàng hỏi ngược lại. Chúng ta sẽ bất ngờ vì ý tưởng của con mình đấy. Quan trọng nhất là hãy tạo cho các cháu thói quen đọc sách và hãy để văn hóa đọc thấm sâu trong nếp sống của gia đình. 


Bằng mọi cách, hãy trao cho cháu kỹ năng tự học. Bởi vì tự học là vua của mọi kỹ năng, đó là nền tảng để cháu có thể phát triển bản thân và thành công mai sau.


𝗗𝗮̣𝘆 𝗰𝗼𝗻 𝘁𝗮̂́𝗺 𝗹𝗼̀𝗻𝗴 𝗻𝗵𝗮̂𝗻 𝗮́𝗶


Mong các bậc phụ huynh hãy dạy cho cháu có thái độ tôn trọng và dịu dàng với những người khó khăn, người bán hàng rong, người ăn xin hay những người quét rác bên vệ đường. Đôi khi chỉ một lời động viên từ trái tim cũng khiến người khác rơi nước mắt vì hạnh phúc.


Hãy hướng dẫn các cháu làm việc thiện từ những điều rất nhỏ, cháu sẽ học được bài học sâu sắc về tình thương vô điều kiện vốn là điều hiếm hoi trong thời đại ngày nay. Hằng ngày hãy dạy cho cháu biết quan tâm giúp đỡ người khác thay vì chỉ biết lo cho mình, điều đó sẽ giúp cháu nuôi dưỡng lòng nhân ái, tính hào hiệp và biết sống vì mọi người.

Lòng nhân ái hay đạo đức là nền tảng của mọi đức hạnh, là nền tảng của hạnh phúc.


Hãy hướng dẫn các cháu làm việc thiện từ những điều rất nhỏ, để học bài học sâu sắc về tình thương vô điều kiện vốn là điều hiếm hoi trong thời đại ngày nay. Hằng ngày hãy dạy cho cháu biết quan tâm giúp đỡ người khác thay vì chỉ biết lo cho mình. Điều đó sẽ giúp cháu nuôi dưỡng lòng nhân ái, tính hào hiệp và biết sống vì mọi người.


𝗖𝗵𝗼 𝗰𝗼𝗻 𝘁𝗶𝗲̂́𝗽 𝘅𝘂́𝗰 𝘃𝗼̛́𝗶 𝘁𝗵𝗶𝗲̂𝗻 𝗻𝗵𝗶𝗲̂𝗻


Hãy tạo điều kiện để các cháu thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, sống thật hơn với thế giới xung quanh thay vì đắm chìm trong iPhone, iPad. Hãy mạnh dạn cho cháu chạm vào những cây rừng, những bông hoa hay dòng suối mát. Hãy cho cháu thấy đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn cá bơi lội dưới sông hay những chú dê đang tung tăng trên đồng cỏ. Hãy cho cháu được chạy chân không, tắm mưa hay lội bùn để cháu được ôm ấp bởi mẹ thiên nhiên vĩ đại.


Hãy thường xuyên đưa cháu đi tham dự các lễ hội, sự kiện văn hóa, tham quan viện bảo tàng để cháu có thêm nhiều trải nghiệm. Một đứa trẻ được lớn lên như thế chắc chắn sẽ trở thành một con người khỏe mạnh, cởi mở, bao dung và biết yêu thương muôn loài.


𝗟𝗮̀𝗺 𝗴𝘂̛𝗼̛𝗻𝗴 𝗰𝗵𝗼 𝗰𝗼𝗻 𝘁𝘂̛̀ 𝘃𝗶𝗲̣̂𝗰 𝗻𝗵𝗼̉


Cha mẹ hãy làm gương cho các cháu. Con cái luôn nhìn vào cách hành xử của người lớn để bắt chước, học theo. Nếu cha mẹ xem tivi khi ăn cơm con sẽ học theo. Nếu cha mẹ lướt điện thoại con cũng lướt theo. Ngược lại, nếu cha mẹ tắt điện thoại, cùng trò chuyện với con hay đọc sách trước khi ngủ, con cũng làm vậy.


Có những cháu bật khóc ở cổng trường chỉ vì bố vượt đèn đỏ không như cô giáo dạy cháu ở trường. Hãy giúp giáo viên bằng cách làm gương và tập cho cháu những hành vi và thái độ mà phụ huynh muốn thấy ở con mình. 


Cha mẹ biết làm gương cho con, biết quan tâm và thấu hiểu sẽ tạo nên những đứa trẻ biết lắng nghe, trưởng thành và đầy tích cực.


𝗨̛́𝗻𝗴 𝘅𝘂̛̉ 𝗼̂𝗻 𝗵𝗼̀𝗮 𝗸𝗵𝗶 𝗱𝗮̣𝘆 𝗰𝗼𝗻


Mong phụ huynh hãy dạy các cháu trong ôn hòa. Nếu dạy cháu bằng roi vọt hay quát mắng, đánh đập thì một là cháu sẽ trở nên sợ sệt nhút nhát, hai là sẽ trở nên ngông cuồng, bất cần, dễ gây hấn với người khác, dần dần sẽ khiến cháu mất phương hướng, cảm thấy thế giới này thật đáng ghét và tệ hơn là mất đi sự kết nối với cha mẹ.

Con cái cần cảm xúc ôn hòa để hàm dưỡng và chỉ khi cha mẹ nhìn thấy ưu nhược điểm của con nhưng vẫn xem như bình thường, thì mới có thể bình tĩnh dạy con đúng đắn được. Ai cũng thiếu sót cả, quyền của con là được phép sai lầm và nhiệm vụ của cha mẹ là giúp con trưởng thành.


Nghệ thuật làm cha mẹ là có thể giữ gìn cảm xúc ôn hòa của mình với con. Chỉ khi tâm trạng của con bình ổn thì con mới là chính mình, mới trở nên dễ thương và đầy tử tế.


𝗕𝗶̀𝗻𝗵 𝘁𝗶̃𝗻𝗵 𝘁𝗿𝘂̛𝗼̛́𝗰 𝘃𝗶𝗲̣̂𝗰 𝗸𝗵𝗼̂𝗻𝗴 𝗻𝗵𝘂̛ 𝘆́


Gần đây có nhiều thông tin xôn xao dư luận về một số sự việc xảy ra ở các trường học, có lẽ ít nhiều phụ huynh đã có những bức xúc. Xin hãy tin rằng ở đâu đó những người làm giáo dục chân chính vẫn đang ngày đêm trăn trở và hành động, những điều tử tế vẫn đang kết trái, đơm hoa.


Là một phụ huynh chân chính, mong quý vị hãy có thái độ bình tâm trước những việc như ý cũng như bất như ý, đừng để bị cuốn theo cảm xúc, dư luận..., bởi điều đó sẽ làm chúng ta mất rất nhiều năng lượng.


Khi gặp chuyện bất như ý về trường hay về giáo viên, mong phụ huynh thay vì vội vàng buộc tội, hãy bình tĩnh lắng nghe, tìm hiểu đa chiều về sự việc ấy. Bởi có những chuyện thấy vậy mà không phải vậy. Hãy cùng đứng về phía giáo viên, chung tay với giáo viên để cùng giải quyết vấn đề trên nền tảng của sự tôn trọng, hiểu biết và yêu thương.


Nếu phụ huynh chung tay với giáo viên, con quý vị sẽ học tập tốt hơn và trưởng thành hơn. Nhà và trường là một, giáo viên và phụ huynh là một. Vì giáo viên và phụ huynh đều đứng về phía các cháu, là cha mẹ ở trường và ở nhà của các cháu.

Sự “gà mờ” thông tin và hệ lụy

Gần đây, một số ý kiến cho rằng “lẽ nào lực lượng thù địch đã cài cắm vào nội bộ ta?”; vì sao bọn phản động lại nắm được một số thông tin “thâm cung, bí sử” khi người dân vẫn chưa biết, chưa tỏ. Kẻ thù đã tiến hành những thủ đoạn gì để “đi guốc” trong lòng tổ chức?... Hàng loạt hoài nghi như thế xem ra cũng có tính hợp lý theo một phương diện nào đó. Bởi lẽ, sau nhiều thông tin mà thế lực thù địch tung ra trước đó, thì lại xuất hiện trong đời sống chính trị đất nước.

Xin khẳng định ngay rằng: Thực chất đây là những thông tin với hàm ý xấu. Có nghĩa, trong hàng nghìn, hàng triệu thông tin nhiễu loạn trên không gian mạng thì cũng có một số thông tin đoán mò và đúng. Vấn đề đáng bàn là chính cán bộ, đảng viên, quần chúng chưa cập nhật đầy đủ thông tin, chưa nhận rõ hình hài chiêu trò mà kẻ thù ngụy tạo, rồi sinh ra sự tin tưởng mù quáng. Sự thật là, khi tung tin thất thiệt, các lực lượng chống phá chủ ý vứt bừa lên không gian mạng với vô số phương án, câu chuyện vô căn cứ; chúng cố tình nhào nặn, giả định theo nhiều chiều hoặc đối ngược, hòng trông đợi: Nếu thông tin này không đúng thì có thông tin khác mang dáng vẻ của sự thuyết phục, rồi từ đó cấy ghép thêm tin giả, chi tiết bịa đặt nhằm chèo lái, gây nhiễu loạn dư luận. Ví như, vấn đề nhân sự của một cơ quan nào đó, phương án quy hoạch rõ mười mươi là một vài nhân sự cụ thể. Rõ là như thế nên chúng bịa ra nhiều tin đồn khác nhau: Tin thì đồng chí A sẽ nhậm chức, tin khác lại cho rằng đồng chí B sẽ xoắn ghế, tin khác nữa là đồng chí C được nâng đỡ, đấu đá nên ắt thành công... Cuối cùng, thể nào cũng có một tin được cho là đúng, hòng mục đích mị dân, bôi nhọ, chia rẽ đoàn kết nội bộ tổ chức.

VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH

 


Lý tưởng “Vì nước quên thân, vì dân quên mình” luôn là một phẩm chất cao quý của các chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ luôn là những người đi tiên phong, nêu tấm gương dũng cảm, bất chấp hiểm nguy để đem lại sự bình yên, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.


Câu chuyện mới đây về đồng chí Thiếu tá Trương Hồng Kỳ, Phó chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy quân sự TX.Sông Cầu (Phú Yên) đã anh dũng hy sinh khi lao xuống dòng nước dữ để cứu hai người dân bị đuối nước một lần nữa cho thấy sự quả cảm, phẩm chất cao quý của những chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời bình, sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ nhân dân.


Cụ thể, trong quá trình kiểm tra, nắm tình hình địa bàn, bảo đảm an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 vừa qua tại bãi biển Đồng Bé, Thiếu tá Trương Hồng Kỳ đã phát hiện có hai người dân đi bị sóng biển cuốn trôi. Bất chấp hiểm nguy, anh Kỳ dũng cảm bơi ra, đưa được một người vào bờ. Tuy đã thấm mệt nhưng thấy nạn nhân còn lại vẫn chưa có người cứu hộ, anh Kỳ tiếp tục lựa sóng nước, tìm cách đưa nạn nhân vào bờ, song cả hai đã bị sóng dữ nhấn chìm. Lúc này, người dân dùng thuyền bơi ra hỗ trợ, đưa hai người vào bờ và đưa đi cấp cứu, song người chiến sỹ bộ đội Cụ Hồ dũng cảm đã không qua khỏi.


Ghi nhận tấm gương hy sinh anh dũng của Thiếu tá Trương Hồng Kỳ, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã ký quyết định truy tặng Huân chương Dũng cảm; Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký quyết định truy thăng quân hàm sĩ quan trước thời hạn từ Thiếu tá lên Trung tá; UBND tỉnh Phú Yên và UBND thị xã Sông Cầu đã ký quyết định tặng Bằng khen, giấy khen đối với đồng chí.


Chắc hẳn chúng ta cũng không thể quên vụ việc cách đây đúng 1 năm khi ba chiến sỹ thuộc Đội cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an quận Cầu Giấy đã anh dũng hy sinh khi tham gia giải cứu 8 người trong vụ cháy quán karaoke ở phố Quan Hoa, hay gần đây là trường hợp của Thượng sỹ Nguyễn Văn Sỹ thuộc Tiểu đội 1, Phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Công an tỉnh Hà Nam đã mưu trí, dũng cảm, vượt qua ngọn lửa hung dữ đang lan rộng để cứu 6 người trong một gia đình thoát khỏi ngôi nhà bị hỏa hoạn ở thành phố Phủ Lý hồi cuối tháng 7 vừa qua.


Đó chỉ là một vài trong rất nhiều tấm gương về nghĩa cử cao đẹp của các cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cách mạng, sẵn sàng hy sinh thân mình vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Họ là những người luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, không đắn đo suy nghĩ trước những tình huống hiểm nguy, cho dù đó là những trận chiến trong các vụ hỏa hoạn, các đợt cứu hộ cứu nạn trong các trận bão lũ hay chỉ là những tình huống đột xuất trong đời sống như ví dụ kể trên. Họ là những người gánh trên vai sứ mệnh phục vụ nhân dân, mang tinh thần yêu nước thương nòi, chẳng nề gian nan, băng mình vào hiểm nguy để tìm cách cứu những người bị nạn.


Từ trong chiến tranh cho đến thời bình hôm nay, phẩm chất của những người chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam vẫn sáng mãi. Đó là chất thép được tôi luyện từ sự giáo dục của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Phẩm chất vì nhân dân quên mình đã ăn sâu vào máu thịt đối với mỗi cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Hai tiếng “Nhân dân” đã trở thành mệnh lệnh trong trái tim và vì vậy, không chỉ trong thời chiến mà cả thời bình, ngoài việc bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền đất nước thì nhiệm vụ phụng sự nhân dân cũng luôn được đặt lên hàng đầu. Đó là một nhiệm vụ nặng nề đầy hy sinh và đòi hỏi sự quả cảm của mỗi cán bộ, chiến sỹ.


Và quả thực, khi nghĩ về những người chiến sỹ trong lực lượng vũ trang luôn toát lên những cảm xúc tự hào và biết ơn về những đóng góp lớn lao của các anh cho cuộc sống bình yên của nhân dân. Hơn nữa, những cống hiến cao thượng và chiến công dũng cảm đó không chỉ của riêng mình các anh mà còn là sự hy sinh thầm lặng của những người thân trong gia đình các anh.


Thêm một lần nữa những câu chuyện về những người lính quên mình, bất chấp hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân càng tô điểm thêm hình ảnh đẹp và phẩm chất cao quí của người chiến sĩ trong lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Hy vọng bằng lời thề son sắt của mình, các cán bộ, chiến sỹ sẽ tiếp tục đóng góp cho sự bình yên trong cuộc sống của người dân, củng cố vững chắc lòng tin trong nhân dân và là biểu tượng cao đẹp của đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Với tư duy nhạy bén, cách mạng, khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Từ lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, cần khẳng định đó là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, phù hợp với quy luật, xu thế thời đại, tình hình đất nước, nguyện vọng của nhân dân. Do đó, dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) là giải pháp quan trọng hàng đầu, cần quyết liệt thực hiện.


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời, xác định rõ đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự mất còn của Đảng, chế độ, đất nước và dân tộc.


Xuất phát từ diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển bùng nổ của mạng internet, các mạng xã hội toàn cầu, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường,… các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới hết sức thâm độc để chống phá Đảng, Nhà nước. Trong khi đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn những hạn chế, bất cập; vì thế, ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị (khoá XII) đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong đó, Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, 6 quan điểm, 7 nhiệm vụ, giải pháp nhằm định hướng, chỉ đạo cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết, nhất là những nội dung lớn đã nêu ở trên, chúng ta thấy rằng: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ gắn liền với bảo vệ Tổ quốc - nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay. Với bản chất xâm lược, hiếu chiến, các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn thâm độc nào, hòng đạt được mục tiêu của chúng là phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng nước ta. Do đó, chúng ta phải thường xuyên nắm chắc tình hình, nêu cao cảnh giác, thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh; trong đó, “Dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” là một trong các giải pháp đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh tổng hợp làm thất bại mọi “mưu ma, chước quỷ” của chúng, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng.


Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, nhân dân có vai trò và sức mạnh vô cùng lớn. Dân là gốc, mọi công việc hệ trọng của quốc gia, dân tộc dù khó khăn, phức tạp đến mấy, nếu có sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân thì sẽ thành công và ngược lại, nếu thiếu điều đó sẽ thất bại. Bởi thế, các bậc tiền nhân đã đúc kết, “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Thấu suốt tư tưởng đó, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã luôn triệt để vận dụng, thực hiện vấn đề có tính quy luật ấy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chúng ta tự hào có Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có Nhân dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhân dân là lực lượng hùng hậu của cách mạng, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc, nên mọi công việc của Đảng, Nhà nước, của quốc gia - dân tộc đều cần phải dựa vào nhân dân. Nếu không làm vậy, tức là chúng ta đã tự từ bỏ nguồn sức mạnh to lớn của mình. Hơn nữa, trải qua quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước và xác lập mối quan hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân ghi nhận, tin yêu và vinh danh bằng tên gọi thân thuộc: Đảng ta - Đảng của Nhân dân. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân, và điều này đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp cần phải dựa vào nhân dân, do nhân nhân, vì nhân dân, và chỉ có như vậy mới đạt được hiệu quả thiết thực. Những năm qua, với quan điểm “dân là gốc” là chủ thể của công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định: “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng”1. Trên cơ sở đó đã có những phương thức sáng tạo để “phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”2 đạt kết quả tích cực. Việc làm trên không chỉ thể hiện ở chủ trương mà được thể chế hóa bằng văn bản với các quy định cụ thể, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng Đảng một cách thuận lợi, rộng rãi, hiệu quả, nhất là trong công tác kiểm tra, giám sát, thiết thực góp phần phòng, chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống tổ chức của Đảng.


Điều quan trọng là công tác xây dựng Đảng luôn được gắn chặt với bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, kết hợp với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong các tổ chức Đảng, Nhà nước,… thì việc dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng càng trở nên cấp thiết, quan trọng. Cần phải xác định rõ đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong hệ thống giải pháp được tiến hành đồng bộ để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn luôn sống động, phong phú, nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn, phức tạp đến đâu cũng phải luôn tuân thủ và thấm nhuần tư tưởng: “dân là gốc”, dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, chế độ, thành tựu của công cuộc đổi mới. Bởi, chỉ có như vậy mới tạo được sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi thách thức, trở ngại để thành công. Nếu xa rời quan điểm có tính nguyên tắc “dựa vào nhân dân” tất sẽ thất bại. Cổ nhân có câu “chúng chí thành thành”, có nghĩa là nhân dân là bức thành trì vững chắc nhất, không kẻ thù nào có thể phá vỡ. Tương tự như vậy, ngày nay Đảng ta khẳng định: “xây dựng thế trận lòng dân”3. Đó là thế trận vững chắc nhất trong các loại hình thế trận. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng phải dựa vào nhân dân, “bức thành trì” đó, “thế trận đó”. Mới đây, chúng ta đập tan vụ khủng bố ở Đắk Lắk (do tổ chức phản động chỉ đạo từ nước ngoài) là minh chứng điển hình về việc dựa vào nhân dân. Nhờ có nhân dân trên địa bàn cung cấp thông tin, phối hợp hoạt động nên vụ việc được xử lý nhanh, gọn, hiệu quả, sớm đưa cuộc sống yên bình của nhân dân trở lại bình thường. Nhưng đồng thời cũng để lại bài học quý về “lỗ hổng” “xây dựng thế trận lòng dân”, thể hiện trong việc nắm, quản lý, kiểm soát tình hình địa bàn, đối tượng; đặc biệt, chưa thật gần dân, dựa vào nhân dân. Bởi nhân dân chính là “tai, mắt” của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Các tổ chức, lực lượng phản động dù có xảo quyệt đến mấy cũng không thể qua được mạng lưới “thiên la địa võng” từ nhân dân.


Như vậy, chúng ta thấy cần phải dựa vào nhân dân bằng nhiều cách thức khác nhau để bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trong đó, chú trọng mấy nội dung chính sau:


1. Tiếp tục thể chế hóa bằng các quy định pháp lý tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng Đảng gắn liền với bảo vệ Đảng phù hợp, hiệu quả.


2. Giữ vững trận địa thông tin, kịp thời và chủ động thông tin, tuyên truyền về những vấn đề, vụ việc nhạy cảm để nhân dân nắm vững quan điểm của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời, thấy rõ sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, từ đó định hướng dư luận, tạo sự ổn định chính trị - xã hội, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.


3. Nhân dân là lực lượng tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy, chính quyền cơ sở. Do đó, phải dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong việc nắm chắc tình hình địa bàn, kịp thời phát hiện những “hiện tượng khác thường”, nhất là sự hoạt động chống phá dưới mọi hình thức của các tổ chức, lực lượng phản động ngay từ cơ sở.


4. Đẩy mạnh sự phối hợp hoạt động theo chức năng của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể,... làm nòng cốt cho nhân dân ở địa phương, cơ sở, chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch, phản động.


5. Thế hệ trẻ là hạt giống của cách mạng là tương lai của đất nước. Vì thế, cần chú trọng định hướng, giáo dục, bồi dưỡng liên tục cho họ về Đảng, về chế độ xã hội chủ nghĩa, về truyền thống dân tộc,… để trau dồi lòng tự hào, xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, thấy rõ trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhất là trên internet, mạng xã hội, v.v.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ gắn liền với bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tình hình mới. Trên đây chỉ là một số cách thức dựa vào nhân dân, khai thác, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong nhiệm vụ này. Trên cở sở nắm vững định hướng, quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng, trong quá trình thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo những cách làm mới phù hợp với thực tiễn, gắn “xây” với “chống”, gắn huy động sức dân với thực thi các chính sách hợp lòng dân. Làm được như vậy, tin tưởng rằng đây sẽ là giải pháp quan trọng để chúng ta đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động từ trong trứng nước.

                                                                                          

BIỂU HIỆN PHỔ BIẾN CỦA TÌNH TRẠNG TRẺ HÓA BỆNH SUY THOÁI

 Biểu hiện phổ biến của tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trẻ thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Thực trạng này ở một bộ phận không nhỏ người trẻ đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, đó là “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Khi một người trẻ bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường. Thực tế đã chứng minh không ít người giàu có sau khi có chân trong hệ thống chính trị, hành vi kiểu “trọc phú” của họ đã gây ra những hệ lụy phức tạp cho tổ chức. Đối với những người trẻ “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, từ suy thoái đạo đức, lối sống đến suy thoái tư tưởng chính trị là khoảng cách rất mong manh. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ BẢO VỆ HỒN CỐT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 


Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn... Bởi vậy, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị có nhiều âm mưu, thủ đoạn để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay.


1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, soi đường dẫn lối cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển.


Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển văn hóa của dân tộc. Năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng ta đã đề ra "Đề cương về văn hóa Việt Nam", trong đó chỉ rõ: "Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)"; đồng thời nêu 3 nguyên tắc vận động xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.


Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thế kỷ 20, văn hóa giữ nước được phát huy cao độ, lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết dân tộc được nâng lên một tầm cao mới, thực sự trở thành động lực tinh thần để huy động tất cả mọi nguồn lực, góp phần quan trọng làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành đổi mới đồng bộ và toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước khởi sắc. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới. Xây dựng con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.


2. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, đó là: Văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu, thực chất. Việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức cũng như chưa có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc.


Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào để tấn công vào lĩnh vực văn hóa. Ngoài việc công kích Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ra sức xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phủ nhận giá trị các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, làm lẫn lộn vai trò của những chiến sĩ cách mạng chân chính với những kẻ cướp nước và bè lũ bán nước. Chúng tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phương Tây; hạ thấp giá trị các sáng tác văn học-nghệ thuật ca ngợi cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân ta; tán dương các tác phẩm có khuynh hướng bôi nhọ lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang...


Những biểu hiện đó có nguy cơ làm thay đổi các thang giá trị về đạo đức, lối sống trong xã hội; khơi dậy bản năng chạy theo lợi ích vật chất, cá nhân mà quên đi đạo lý, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân trong một quốc gia văn minh, tiến bộ; thậm chí làm cho con người sa ngã, quay lưng lại với lịch sử truyền thống và những giá trị mang đậm cốt cách con người Việt, dân tộc Việt.


3. Để đấu tranh bảo vệ hồn cốt của dân tộc, trước hết, mỗi cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, quán triệt đầy đủ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa, thực hiện đúng quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.


Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là nhân dân; đề cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, của những người làm công tác văn hóa; tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc, các vùng, miền. Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh.


Kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "quét sạch chủ nghĩa cá nhân", nguồn gốc của mọi sự tham nhũng, tiêu cực, hư hỏng ngay trong các ngành văn hóa, các cơ quan làm công tác văn hóa. Thực hiện tốt quan điểm của Đảng là chủ động nâng cao "sức đề kháng" của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại.


Trong tình hình hiện nay, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động đối với nền văn hóa của dân tộc, bảo vệ vững chắc “bức tường thành văn hóa” của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong xã hội, cần quan tâm chú trọng lấy cái đẹp dẹp cái xấu, phát huy giá trị văn hóa giữ nước, tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý tốt đẹp của cha ông ta. Đó chính là giải pháp hữu hiệu để góp phần bảo vệ hồn cốt của dân tộc Việt Nam.


Đại tá, TS BÙI THANH CAO

Khi người trẻ mắc bệnh suy thoái

Thời gian gần đây, dư luận tích cực trên không gian mạng bày tỏ bức xúc trước việc nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều còn trẻ. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những trí thức trẻ, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc.

BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH CỦA ĐẢNG

 Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt, hoạt động và là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp vị trí, vai trò và phủ nhận nhằm làm cho cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng xem nhẹ, từng bước xa rời và từ bỏ nguyên tắc này. Do đó, nhận thức rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Hòng phủ nhận giá trị thực chất, cốt lõi của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: tự phê bình và phê bình chỉ là “cái quy định ngớ ngẩn” trong nội bộ Đảng Cộng sản, “một chiêu trò bịt mắt dân” nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “xu nịnh, tâng bốc thành tích” vì làm gì có ai tự “vạch áo cho người xem lưng”; hoặc trái lại, chỉ để “bới lông, tìm vết”, “đấu đá”, “thanh trừng” lẫn nhau, v.v. Cần khẳng định rõ, đây là những luận điệu sai trái, không đúng với bản chất, mục đích, cũng như thực tiễn tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Ngay từ khi thành lập tổ chức cộng sản quốc tế đầu tiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: tự phê bình và phê bình là rất cần thiết cho hoạt động và sự phát triển của đảng, là thuộc tính bản chất của một đảng cách mạng. Vì trong quá trình vận động, phát triển, những nhược điểm, khiếm khuyết nảy sinh trong nội bộ đảng là khó tránh khỏi, việc đấu tranh giải quyết những vấn đề đó, tạo sự thống nhất cao là rất cần thiết nhưng tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực, thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau mà phải thực hiện bằng tự phê bình và phê bình. V.I. Lênin coi tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của một đảng cách mạng, chân chính: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao, tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục”1. Và, cán bộ, đảng viên của đảng cũng là con người, không phải là “thiên thần, không phải là thánh, không phải là anh hùng mà cũng là người như tất cả mọi người khác. Họ cũng có khuyết điểm. Đảng sửa cho họ”2.

Để thực hiện tự phê bình và phê bình, V.I. Lênin còn chỉ ra yêu cầu, cách thức tiến hành. Theo Người, tự phê bình và phê bình không được theo khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”; “phê phán”, “luận chiến” là cần thiết, nhưng chỉ được phê phán công khai, trực diện rõ ràng, minh bạch chứ không phải “bới lông, tìm vết”, không phải “châm chọc, soi mói” lẫn nhau; phải kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, lợi dụng cái gọi là “tự do phê bình” để gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, phá hoại tổ chức đảng. Nó phải là nguyên tắc chỉ đạo nhận thức và mọi hoạt động của Đảng, là biện pháp để tránh mọi sai lầm.

Trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Hồ Chí Minh “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm”3, trong quá trình hoạt động, vì một lý do nào đó, cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm là điều không tránh khỏi, song vấn đề cơ bản là phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó. Đối với Đảng ta, Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”4. Để thực hiện được điều đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương thuốc tốt nhất là tự phê bình và phê bình.

Hồ Chí Minh đã nêu một cách mẫu mực về phương pháp, cách thức giáo dục, rèn luyện và sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm cho cán bộ, đảng viên thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân đạo, trên cơ sở nguyên tắc cộng sản, thể hiện sâu sắc tình nhân ái, đó là tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: cần xuất phát từ lợi ích của Đảng, từ tình thương yêu đồng chí mà tiến hành đấu tranh phê bình với tinh thần chữa bệnh cứu người. Phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; đoàn kết thống nhất nội bộ vững chắc hơn. Khi tiến hành đấu tranh phê bình phải ráo riết, triệt để thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm, khuyết điểm và cần phân biệt đúng mức độ của thiếu sót, khuyết điểm, sai lầm. Trong lúc phê bình “chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”, cần biết cách đấu tranh thích hợp để giúp đỡ đồng chí sửa chữa được thiếu sót, sai lầm, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong chi bộ. Nếu đấu tranh phê bình vì lợi ích cá nhân, phê bình người để đề cao mình, để dìm đồng chí, đấu tranh phê bình ngoài phạm vi tổ chức, kỷ luật của Đảng, hoặc không dám đấu tranh phê bình vì sợ bị trù dập, sợ bị thành kiến đều là trái với phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, đều là vô nguyên tắc, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết nội bộ, làm thiệt hại đến lợi ích của Đảng, hủy hoại thanh danh người đảng viên cộng sản.

Người luôn yêu cầu các cơ quan và cán bộ, đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, phải luôn “tự soi, tự sửa”. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phê bình phải trên cơ sở tình đồng chí và thương yêu lẫn nhau. Phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại cách để khuyết điểm chồng lên khuyết điểm, hay kiểu “tích tụ” để đưa ra phê bình, lợi dụng phê bình để “thanh toán” nhau, đánh bật “ghế” của nhau. Đó là thủ đoạn của bọn cơ hội, bè phái vẫn xuất hiện đây đó ở một số cơ quan, đơn vị; “phê bình” kiểu đó làm cho công việc trì trệ, đơn vị rối loạn, cán bộ, nhân dân chán nản, thực chất là sự phá hoại, làm suy yếu Đảng, mất cán bộ. Tự phê bình và phê bình thật thà, thành khẩn, chân thành luôn là tiêu chuẩn đánh giá thái độ, động cơ, tư cách và đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Muốn thực hiện có kết quả phải phát huy dân chủ, động viên nhân dân góp ý, phê bình cán bộ, cấp dưới góp ý, phê bình cấp trên, không chỉ có cấp trên phê bình, “uốn nắn” cấp dưới. Chỉ có làm như vậy, mới phát huy được dân chủ, mới bảo đảm cho việc phê bình được thực hiện đầy đủ và có kết quả, mới ngăn chặn được kẻ địch lợi dụng để phá hoại và bọn cơ hội “mượn gió bẻ măng”. Phương pháp khéo dùng tự phê bình và phê bình của Hồ Chí Minh là cách tốt nhất để “được người, được việc, được quan hệ”. Nó giúp cho mỗi người chủ động, tự tin và tin tưởng vào đồng chí và tổ chức của mình, tăng thêm ý chí, nghị lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thực tiễn hơn 90 năm qua cho thấy, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tình hình cách mạng. Nhờ đó mà Đảng ta ngày càng phát triển, lớn mạnh không ngừng, đủ sức lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời gian qua, trước yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) tiếp tục xác định: tự phê bình và phê bình là nhóm giải pháp quan trọng, được triển khai nghiêm túc, chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, từ cấp ủy đến cán bộ, đảng viên. Với tinh thần tự phê bình và phê bình thẳng thắn, nói rõ sự thật, những ưu điểm, thành tích được phân tích, làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức, cá nhân được chỉ ra cụ thể; các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng; không bao che, dung túng, “không có vùng cấm”, xét xử nghiêm minh5, đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, Đảng ta cũng nghiêm túc nhìn nhận: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”6.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản là cách mạng và khoa học; là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự trường tồn và phát triển của Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình mà cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong sinh hoạt, công tác để có giải pháp khắc phục kịp thời, hiệu quả, vì sự tiến bộ của cá nhân, tổ chức, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, hoàn toàn không phải như luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, chống phá.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra cấp bách, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng; xa rời, từ bỏ nguyên tắc này là xa rời, từ bỏ Đảng từ bản chất. Đồng thời, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình như soi gương, rửa mặt hằng ngày; thấy vết nhọ là phải lau ngay; thật thà tự xét và góp ý cho đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào thì phải thật thà, cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, vì nước, vì dân, góp phần làm cho Đảng ta luôn xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”.

Lộ diện những kẻ đứng đằng sau hệ thống kênh YouTube độc hại

 Điểm đáng chú ý, các tài khoản có thể định danh con người thật vào tương tác trong hệ thống kênh này là một số cá nhân, tổ chức người Việt Nam đang sống ở Thái Lan. Những người này tham gia vào tổ chức có tên gọi là “Người Thượng vì Công lý” (MSFJ, Montagnards Stand For Justice) do đối tượng Y Quynh Bdap cầm đầu. Đối tượng Y Quynh Bdap sở hữu riêng một kênh YouTube “Dak Lak News”, hằng ngày Y Quynh Bdap vẫn tiếp tục tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam bằng hai thứ tiếng Ede và tiếng Việt. Sau vụ tấn công khủng bố ở Đắk Lắk, Y Quynh Bdap tiếp tục xuyên tạc rằng chính quyền Việt Nam không có chứng cứ thuyết phục về hành vi vi phạm của các đối tượng khủng bố và biến kênh này thành một kênh chuyên tuyên truyền về tin tức phản động, lôi kéo nhiều người dân tộc thiểu số ở trong nước vào tương tác.  

Trong số những người đọc hệ thống kênh xuyên tạc này thì một “giọng đọc vàng” chuyên đọc mảng nội dung tin tức xuyên tạc, bịa đặt là Lê Văn Thương. Lê Văn Thương (SN 1988) trước đó đã bị Công an tỉnh Quảng Ngãi truy nã về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đã bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018, hiện đang sống lưu vong ở Thái Lan. Trước đây tên này thường xuất hiện trên kênh riêng là “TOV Tiếng nói Việt” đặt kênh ở Thụy Điển, cũng bình luận xuyên tạc chém gió như bao nhà “đấu tranh dân chủ” hải ngoại khác nhưng không có nhiều lượt xem. Nhưng kể từ khi tham gia hệ thống kênh độc hại này, Thương không còn chường mặt lên kênh như mọi lần và chỉ đứng đằng sau đọc tin tức bịa đặt. Sở dĩ y được mệnh danh là “giọng đọc vàng” do số lượng video đọc ước tính lên đến 3.000 video. Các nội dung video do Thương đọc được tái sử dụng trên hệ thống kênh có tên Saigonpost, Việt Voice, Giới Thạo Tin, Life News trong hệ thống. Ngoài ra, đối tượng Thái Văn Đường (chủ kênh Đường Văn Thái) cũng có sự tương tác với hệ thống kênh YouTube xấu độc kể trên. Thái Văn Đường trước đây lưu vong ở Thái Lan và hiện đã bị bắt. Thời gian đầu, kênh của Đường rất ít tương tác nhưng kể từ khi tiếp xúc với các đối tượng này thì kênh của Đường “thay da đổi thịt”, được các nick ảo chuyên đi “rải” bình luận cho hệ thống kênh xấu độc này cũng vào tương tác hòng để được thuật toán YouTube đề xuất, kiếm view, kiếm doanh thu từ quảng cáo. Những thông tin sai lệch từ kênh của Đường bắt đầu có lượng người xem khủng, doanh thu có tháng lên đến 10.000 USD.  

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA BÁC HỒ

 Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại tài sản vô giá cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, đó là bản Di chúc thiêng liêng, căn dặn bao điều hệ trọng mà cả dân tộc ta đã thực hiện và giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong hơn nửa thế kỷ qua.

54 năm qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã trở thành Cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thế nhưng các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lại hằn học trước những thắng lợi mà chúng ta giành được khi thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc việc thực hiện Di chúc của Bác. Nào là “Đảng Cộng sản Việt Nam hô hào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” nhưng lại làm sai ý nguyện của Hồ Chí Minh”; “Đảng Cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo”… Nguy hiểm hơn, chúng còn đòi “đưa thi hài Hồ Chí Minh đi hỏa thiêu theo ý nguyện của Bác Hồ”.

Trước hết, phải khẳng định rằng, việc Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) chọn bản Di chúc Bác viết năm 1965 để công bố chính thức là hợp lý, vì đây là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ. Lấy đoạn mở đầu Bác viết năm 1969 thay cho đoạn mở đầu Bác viết năm 1965 là hoàn toàn hợp lý vì Bác qua đời năm 1969, và nội dung bản viết năm 1969 cũng phong phú hơn. Đoạn về việc riêng, bổ sung thêm phần Bác viết năm 1968 vào bản Bác viết năm 1965 là rất cần thiết, để phản ánh được cuộc đời đẹp đẽ, trong sáng, vì dân, vì nước của Bác.

Về việc miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp theo Di chúc của Bác, trước đây chưa có điều kiện thực hiện do tình hình đất nước sau giải phóng miền Nam chưa yên. Bên trong thì thế lực thù địch chống phá; vùng biên cương thì bị quấy nhiễu, xâm lăng; chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh trong tình thế bị bao vây cấm vận. Có thể thấy, đây là khoảng thời gian cả nước “gồng mình gánh khổ”; vết thương cũ chưa lành đã phải chịu tiếp cảnh thịt nát xương tan ở hai đầu biên giới. Đó là một thực tiễn bất lợi nên không thể thực hiện theo Di nguyện của Người. Nhưng trong tận cùng sâu thẳm, Đảng đã hứa với Bác rằng sẽ thực hiện đúng như lời Người để lại. Thế nên, đến năm 1989, dù đất nước vẫn còn rất nhiều khó khăn nhưng Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã có kế hoạch thực hiện điều mong muốn ấy của Bác. Thực tế đến nay, Nhà nước không những chỉ thực hiện một năm miễn thuế nông nghiệp cho nông dân mà đã nhiều năm không thu thuế nông nghiệp.

Trong Di chúc, đoạn “về việc riêng”, năm 1965 Bác dặn dò việc tang và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro xương cho miền Nam. Đến năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc, Trung, Nam, mỗi miền một hộp. Ngoài ra, Bác bổ sung một đoạn nói về cuộc đời của bản thân. Sở dĩ trước đây Đảng ta chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa táng là thể theo nguyện vọng và tình cảm yêu kính, tiếc thương của nhân dân với Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác. Đây cũng là ý nguyện của hàng chục triệu người con đất Việt và bè bạn của chúng ta ở khắp năm châu.

Chính vì sự yêu thương, kính trọng, tôn thờ đó mà Bộ Chính trị đã xin phép Bác được làm khác với lời Bác dặn, không hỏa táng, gìn giữ lâu dài thi hài của Người để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện viếng thăm! Điều này dù trái ý nguyện của Bác, nhưng đúng với tiếng nói tự tâm của đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay và mãi mãi về sau vẫn là không gian thiêng liêng, nơi góp phần bồi đắp, hun đúc lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Sự thật của việc công bố Di chúc và làm theo Di chúc của Bác đã được Đảng ta thông báo công khai. Trước lúc đi xa, Bác không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc duy nhất một điều là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” cho dân, cho nước, càng phản ánh sâu sắc phẩm chất, đạo đức cao quý của một con người, một lãnh tụ cách mạng suốt đời chỉ biết phấn đấu hy sinh vì dân, vì nước. Chính vì lẽ đó, việc thực hiện và làm theo Di chúc của Bác sẽ mãi mãi là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Chúng ta cần cảnh giác trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch xuyên tạc việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.


VIỆT NAM PHẢN ĐỐI CÁI GỌI LÀ “BẢN ĐỒ TIÊU CHUẨN NĂM 2023” CỦA TRUNG QUỐC

 Ngày 31/8, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Tài nguyên Thiên nhiên của Trung Quốc công bố cái gọi là “bản đồ tiêu chuẩn năm 2023”, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Theo đó, Người Phát ngôn nêu rõ: "Việc Bộ Tài nguyên Thiên nhiên của Trung Quốc công bố cái gọi là “bản đồ tiêu chuẩn năm 2023”, trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như thể hiện yêu sách đường đứt đoạn, là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của mình được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982".

Do đó, bà Phạm Thu Hằng nhấn mạnh, yêu sách chủ quyền và yêu sách biển dựa trên đường đứt đoạn như thể hiện trong bản đồ nói trên là vô giá trị, vi phạm luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

“Một lần nữa Việt Nam khẳng định mạnh mẽ lập trường nhất quán của mình về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như kiên quyết phản đối mọi yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông dựa trên đường đứt đoạn".

THỦ ĐOẠN QUEN THUỘC TRÊN CÁC KÊNH YOUTUBE

Phương thức thủ đoạn quen thuộc của chúng là bịa đặt một nội dung từ bài viết cho đến hình ảnh cắt ghép lồng vào video, hình ảnh thu nhỏ (thumbnail), giật tít và biết sử dụng kỹ thuật SEO (tối ưu hóa từ khóa tìm kiếm) nhằm thu hút tối đa người xem. Điển hình là khi bà Nguyễn Phương Hằng bị bắt, chúng bắt đầu bịa đặt xuyên tạc trắng trợn về nhiều cá nhân lãnh đạo của TP Hồ Chí Minh và còn vu khống, tấn công vào người thân của các vị này để khai thác lượt xem, gây rối loạn thông tin trong dân chúng. Theo ghi nhận, hệ thống kênh này mỗi ngày sản xuất ít nhất 2 video xuyên tạc, thu hút hàng trăm triệu lượt xem, kéo theo doanh thu từ hệ thống kênh lên đến hơn 40.000 USD/tháng và tổng số lượng video chỉ về nội dung xuyên tạc này đã lên đến hơn 2.000 video.

Đặc điểm chung của những kênh này là trong phần giới thiệu kênh, các đối tượng để cùng một nội dung với luận điệu là “Không cố tình công kích, nhạo báng bất kỳ cá nhân hay tổ chức, đảng phái nào”. Chúng cũng cố tình đặt tên nhái theo các kênh chính thống trong nước như TOV, HOV, TV News, Vietnam Today, Bản tin an ninh 24h… với logo, có đoạn video mở đầu được tổ chức chuyên nghiệp để đội lốt đây là kênh truyền thông “chính thống” đánh lừa người xem.

Thực tế đã có những hội nhóm, cá nhân trên các nền tảng xã hội khác đã dẫn link và chia sẻ thông tin làm sai lệch ngày một lan rộng. Ngoài ra, chúng còn cóp nhặt những bài viết từ trong nước rồi “xào nấu”, lồng vào đó những nội dung xuyên tạc theo ý muốn. Đồng thời, các đối tượng còn lấy nguồn thông tin các báo đài nước ngoài như BBC, VOA, RFA… rồi video hóa để tuyên truyền vào trong nước nhằm thu hút người xem. Chưa kể, chúng còn lập các trang Facebook chia sẻ những nội dung trên nền tảng YouTube nhằm tăng lượt tương tác để lan truyền thông tin xấu độc này nhiều hơn và tăng doanh thu kiếm tiền. (Trích báo)

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ VIỆC LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG

 Đầu năm 2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 96-QĐ/TƯ về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (Quy định 96) thay thế cho Quy định 262-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Quy định này không chỉ có ý nghĩa tham khảo, góp phần vào đánh giá cán bộ mà kết quả có giá trị trực tiếp vào công tác đánh giá, bố trí, điều động và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở trực tiếp cho quá trình chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ tới. Thế nhưng, các lực lượng “khoác áo dân chủ ” tìm cách chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, coi đây là một tiêu điểm để xuyên tạc đường lối, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ

Ngay sau khi Quy định 96 được ban hành, trang RFA có một loạt bài chống phá quan điểm lấy phiếu tín nhiệm của Đảng như: “Phức tạp hóa vấn đề lấy phiếu tín nhiệm, vì sao?”; “Quốc hội đánh giá tín nhiệm, có thể tham khảo ý kiến của người dân như lời của Thủ tướng?”; “Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm: Nên hay không?”; “Đảng thừa nhận không đoàn kết?; “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân?”. Trên kênh Youtobe, Trang Tâm Thức Việt cũng đăng tải video ngày 9/2/2023 với chùm bài: ‘Lấy phiếu tín nhiệm: Thêm một chiêu trò mị dân”. Đài Châu Á – Tự do cũng đăng tải môt loạt các bài trên nền tảng mạng qua mạng Facebook, trang web… Hầu hết các bài viết và các video của các thế lực phản động, thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Dưới các danh xưng “ nhà dân chủ”; “nhà báo tự do” như Nguyễn Ngọc Già, Nguyễn Vũ Bình…

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá Quy định 96 của các thế lực thù địch, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá mục tiêu của Quy định 96.

Trong bài viết “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân”, đăng vào ngày 09/02/2023 của Đài Châu Á Tự do, cho rằng mục tiêu của việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là để “chiêu trò mị dân”, chỉ là “việc của Đảng và những người đảng viên trong Đảng không liên quan tới nhân dân” để nhằm mục tiêu “loại trừ lẫn nhau”, “thanh toán các thế lực, phe cánh, nhóm phái đối lập trong Đảng”, để “xử lý các phần tử không theo hệ thống chung”; và từ đó cho thấy “Đảng không tin vào chính mình” và “Đảng toàn trị nhưng không đủ năng lực cầm quyền” hay “Đảng làm lu mờ và vi phạm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”. Trong một bài cùng nội dung, trang RFA còn “khuyên” rằng Đảng cần làm công tác cán bộ triệt để hơn và đó phải là “việc của toàn dân”. Thực chất luận điệu nêu trên không chỉ nhằm xuyên tạc mục tiêu của Quy định 96 của Đảng, mà qua đó, âm mưu sâu xa, nham hiểm của chúng là từ chỗ làm xói mòn, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ hai, thông qua việc xuyên tạc Quy định 96, các thế lực thù địch nhằm mục đích phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Việc các thế lực thù địch ra sức phủ nhận lịch sử, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “đánh” vào các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng nhằm chia rẽ nội bộ. Khi cho rằng việc lấp phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là việc “thanh trừng”, “xử lý các sinh mệnh chính trị thoái hóa không trung thành”, không đơn thuần là việc “xây dựng Đảng” mà là việc “loại trừ phần tử phe cánh, nội bộ trong Đảng”. Thông qua việc viện dẫn các ý kiến, quan điểm từ các danh xưng “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” việc bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa bằng cách lấy diễn đàn dân chủ ở nước ngoài để lên tiếng tố cáo và phản bác các quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng, như: “càng chống tham nhũng thì tham những càng nhiều”; “ kết quả người có phiếu tín nhiệm cao thì tỷ lệ thuận với danh sách những người bị kỷ luật trong Đảng”; “ bỏ phiếu tín nhiệm mang màu áo dân chủ trong Đảng chủ vì Đảng làm chủ cuộc cách mạng này, công việc chỉ có đảng viên tham gia”... Từ việc làm phép thống kê mối liên hệ có chủ đích giữa kết quả lấy phiếu tín nhiệm với các cá nhân có tên trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo các cấp thời gian qua, các “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” quy chụp sự suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, tệ quan liêu tham nhũng trong Đảng thànhbản chất, biến cái “hiện tượng” thành “phổ biến” và là “tất yếu” của một Đảng duy nhất cầm quyền. Từ đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”... Đây không phải là một điều mới mẻ trong các luận điệu chống phá Đảng của các thế lực phản động. Tuy nhiên, trước mỗi quyết định của Đảng có tính xây dựng tổ chức Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ thì chúng luôn lấy việc bài xích chủ trương, đường lối của Đảng và tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá làm mất uy tín và niềm tin vào Đảng.

QUY ĐỊNH 96 THỂ HIỆN TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Do đó, công tác cán bộ luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, từ khâu phát hiện, tuyển chọn, bố trí, phân công, phân cấp quản lý cán bộ; đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Những vi phạm trong công tác cán bộ của cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ và cán bộ, đảng viên rất đa dạng, phức tạp, với phạm vi, tính chất, quy mô, mức độ khác nhau ở từng cấp, từng loại hình tổ chức đảng. Xuất phát từ vị trí "then chốt của then chốt", công tác cán bộ ngày càng được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò, có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bất kể người đó là ai; không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là để thực hiện tốt hơn các chủ trương, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác để hoàn thiện bản thân, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch theo đúng Quy định số 96-QĐ/TW và Kế hoạch số 16-KH/TW của Bộ Chính trị, đồng thời là sự cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình của Đảng.

Từ khoa học lý luận đến thực tiễn cách mạng đã trải qua chứng minh học trong thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy công tác tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tự phê bình và phê bình là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng Đảng vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong chiều dài lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng ta luôn khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ dân chủ trong Đảng, là ý thức trách nhiệm của Đảng với Nhân dân. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, giai đoạn nào, dù hoàn cảnh có khó khăn gian khổ đến mấy nhưng tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả thì ở đó, giai đoạn đó, tổ chức đảng phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu và ngược lại ở nơi nào, thời điểm nào tự phê bình và phê bình không được tiến hành thường xuyên hoặc làm qua loa, hình thức là ở đó mất dân chủ, nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng không còn phát huy được vai trò lãnh đạo của mình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ việc tiêu cực, tham nhũng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã được Đảng ta chỉ ra trong thời gian qua là do tự phê bình và phê bình trong nội bộ ít được quan tâm, tính chiến đấu trong sinh hoạt không được đề cao. Nhiều trường hợp “mũ ni che tai”, thờ ơ, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm dẫn đến nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng yếu kém không phát huy được vai trò lãnh đạo của mình.

Do đó, từ thành công của việc lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII đã cho thấy, Đảng ta luôn tuân thủ đúng nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình trong công tác cán bộ. Đây là “hòn đá thử vàng” đối với mỗi đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng; đồng thời cho thấy quyết tâm của Đảng ta trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công tác cán bộ. Phát huy dân chủ chính là mục tiêu, đồng thời là động lực của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời luật pháp. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể tách rời việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, còn phải gắn với dân trí, với trình độ học vấn.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng điều này không có nghĩa là sẽ dẫn đến đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trên thực tế không chỉ phụ thuộc vào kinh tế, mà còn phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác như tương quan so sánh lực lượng giai cấp, vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, truyền thống lịch sử… Chế độ một đảng hay đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ hay không dân chủ. Trước những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng từ các thế lực phản động, thù địch, chúng ta đấu tranh bác bỏ bằng những luận cứ thật sự khoa học để làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng; đồng thời, để không phụ lòng của Nhân dân đã trao trọn, gửi gắm niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch trước hết phải xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, những quan điểm đòi phủ nhận vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái, phản động và hết sức nguy hiểm. Quy định 96 là sự kiện chứng minh và khẳng định tính đúng đắn trong việc đấu tranh bảo vệ vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta là chính đáng, chính nghĩa và phù hợp với nguyện vọng, sự tin tưởng của Nhân dân. Quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, trách nhiệm cao, luôn hết lòng vì nước, vì dân… đã và sẽ luôn là mục tiêu, quyết tâm lãnh đạo của Đảng ta. Đó cũng chính là minh chứng thuyết phục nhất, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.


TINH THẦN YÊU NƯỚC VÀ LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC: SỨC MẠNH NỘI SINH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HÙNG CƯỜNG

 Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam luôn gắn với các cuộc chiến tranh giành lại độc lập và bảo vệ Tổ quốc. Chính lòng yêu quê hương, Tổ quốc đã làm nên sức mạnh nội sinh không bao giờ vơi cạn, bảo đảm cho sự trường tồn và phát triển của đất nước qua mọi giai đoạn thăng trầm của lịch sử.


Lòng yêu nước luôn thường trực trong trái tim


Ngay từ khi Nhà nước Văn Lang ra đời cho đến nay, dân tộc ta đã đương đầu với vô vàn khó khăn, thử thách. Không chỉ phải chống giặc ngoại xâm, mà còn phải chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, bão lũ, hạn hán, dịch bệnh… Tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc, chúng ta không thể quên câu nói lẫm liệt, đầy khí tiết của Bà Triệu: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, dựng nền độc lập, chứ quyết không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Lòng tự hào dân tộc, ý chí độc lập còn thể hiện hùng hồn trong lời thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” của Lý Thường Kiệt; quyết liệt, mạnh mẽ trong lời kêu gọi “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” của Hoàng đế Quang Trung.


Có thể nói, từ thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung..., đến thời đại Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước luôn thường trực trong trái tim, tình cảm của mỗi người dân đất Việt, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn; nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước...”.


Tình yêu nước nảy sinh một cách tự nhiên trong mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng để rồi lớn dần thành Chủ nghĩa yêu nước, Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thôi thúc mỗi người sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ Tổ quốc. “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”..., từ lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ, lớp sau tiếp nối lớp trước như sóng biển Đông cuộn trào. Bởi lẽ, với mỗi người dân Việt Nam, tình yêu Tổ quốc cũng giản dị như tình cảm dành cho mẹ - cha, nồng nàn như dòng máu đỏ đang chảy trong tim mình: “Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt/Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng/Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết/Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Sao chiến thắng - Chế Lan Viên)…


Từ các phong trào cách mạng, nhiều tấm gương sáng ngời chủ nghĩa yêu nước đã đi vào lịch sử. Sự hy sinh anh dũng, chí khí quật cường của chị Võ Thị Sáu, anh Nguyễn Văn Trỗi, hay những anh giải phóng quân “không một tấm hình, không một dòng địa chỉ” đã làm nên một “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” và mãi tới mai sau.


Nguồn lực mạnh mẽ xây dựng đất nước


Trong nhiều văn kiện, Đảng ta tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước là một nhân tố quan trọng tạo thành động lực phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”. Nội dung này được Đảng ta nhắc đến nhiều lần, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong phát huy giá trị của chủ nghĩa yêu nước, gắn với sức mạnh con người Việt Nam thời kỳ mới. Đặc biệt, trong giai đoạn đất nước hội nhập sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc phải trở thành nguồn lực, một sức mạnh quốc gia, có thể thành lợi thế so sánh trên trường quốc tế để xây dựng đất nước hùng cường.


Yêu nước trước hết thể hiện ở niềm tin yêu Đảng và chế độ; chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; biết trân trọng những giá trị của thành quả cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, tình yêu nước còn thể hiện ở ý thức trách nhiệm với công việc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân…


Yêu nước không chỉ là tình cảm nguồn cội: “Hằng năm ăn đâu, làm đâu/Cũng biết cúi đầu nhớ ngày Giỗ Tổ”, mà còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo, giúp đồng bào mình ứng phó với khó khăn, nghịch cảnh. Yêu nước là biết yêu những sản phẩm của người Việt, để phong trào “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” lớn dần và lan rộng tới mọi miền Tổ quốc, thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển, qua đó từng bước tạo dựng thương hiệu, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là nỗ lực mỗi ngày để xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “để sánh vai với các cường quốc năm châu” như di nguyện của Bác Hồ kính yêu.


Trong mỗi thời kỳ lịch sử, dù điều kiện và tư tưởng có khác nhau, nhưng lòng yêu nước luôn hướng tới mục đích duy nhất là bảo vệ non sông, bờ cõi, gìn giữ nền độc lập, bảo vệ những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của quốc gia. Những tình cảm thiêng liêng đó luôn xuất phát từ lý do rất gần gũi, giản dị, như lời bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm: “Đất nước là máu xương của mình/Phải biết gắn bó và san sẻ/Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/Làm nên đất nước muôn đời”./.


Nguy hại từ phương thức chống phá mới của các đối tượng lưu vong

Hình thành từ cuối năm 2019, được đánh dấu với các kênh chuyên tổng hợp tin tức có địa chỉ đặt kênh ở Thái Lan, Hoa Kỳ, Thụy Điển… nhưng lại đưa tin tức bằng tiếng Việt nhằm khai thác lượng người xem và tuyên truyền chống phá Việt Nam. Dấu mốc ban đầu của tổ chức này là kênh “MOV Giai điệu cuộc sống”, lúc đầu kênh chuyên khai thác chủ đề giải trí của giới showbiz Việt Nam vốn dĩ thu hút lượng người xem rất đông. Kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” ban đầu cũng nằm lọt thỏm trong số hàng ngàn kênh khai thác chủ đề này, tuy nhiên bắt đầu lộ bản chất khi lợi dụng vụ việc lùm xùm trong chuyện bà Nguyễn Phương Hằng tố cáo công tác từ thiện của một số ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng. Có được ảnh hưởng rộng, kênh này bắt đầu đưa những hình ảnh được cắt ghép và nội dung xuyên tạc, bịa đặt về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Một lượng lớn người xem hóng tin vụ việc nhưng lại thiếu sự kiểm chứng đã đăng ký kênh này mang lại doanh thu quảng cáo lớn cho kênh. Tuy nhiên, do đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc và bịa đặt nên kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” đã bị sập do vi phạm nguyên tắc cộng đồng của YouTube.

Dù vậy, khi đã hiểu được thị hiếu người xem và có kinh nghiệm sau lần bị xóa kênh trên nền tảng này, chúng bắt đầu “đẻ” ra hàng loạt các kênh mới như Vietvoice, TOV, HOV Tiếng nói Việt, KSD News, Life News… để tiếp tục tuyên truyền và lách luật kiểm soát của YouTube một cách có tổ chức. Với số lượng khoảng hơn 20 kênh như kể trên, chúng đã đăng lại những nội dung đã bị xóa bỏ ở kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” trước đó và tiếp tục sản xuất nội dung xuyên tạc khai thác chủ đề này. Đáng nói, những kênh này đều đặt địa chỉ ở Thái Lan hoặc Hoa Kỳ với số lượng người theo dõi hàng vạn. Mặc dù đặt địa chỉ ở nước ngoài nhưng người Việt trong nước vẫn xem được, do thuật toán của YouTube gợi ý cho người xem vì biết nắm bắt khai thác trend (xu hướng) các chủ đề được dư luận quan tâm như lùm xùm từ thiện của giới showbiz; các vụ án về tham nhũng lớn đang bị điều tra, xét xử ở Việt Nam.

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ KHÁT VỌNG VỀ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN

 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập". Những lập luận khẳng định đanh thép trong bản "Tuyên ngôn độc lập", được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào và công bố với thế giới vào ngày 2/9/1945, đã nêu bật một sự thật và cũng là một chân lý: Việt Nam là một đất nước có lịch sử lâu dài, với đầy đủ chứng cứ bảo vệ tư cách của một quốc gia độc lập. Nhân dân của một Nhà nước độc lập thì tất yếu phải có "quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Từ giữa thế kỷ 19, trước sự hủ bại của các thế lực phong kiến, thực dân Pháp đã dễ dàng áp đặt ách đô hộ trên lãnh thổ Việt Nam. Sau gần một thế kỷ sống dưới ách cai trị của chế độ thực dân, nửa phong kiến, đất nước ta đã trở nên "xác xơ, tiêu điều" cả về kinh tế, chính trị, và xã hội.

Vì thế, các biểu hiện áp bức, bóc lột đầy tính chất phản động của chế độ cai trị đương thời được nêu ra trong "Tuyên ngôn độc lập" không chỉ là lời tố cáo, mà còn là những bằng chứng đầy sức thuyết phục cho quyết tâm tập thể nhằm lật đổ chế độ thực dân, nửa phong kiến, giành lại các quyền bất khả xâm phạm cho nhân dân và dân tộc, thành lập chính quyền nhân dân để cùng nhau bảo vệ nền tự do, độc lập của đất nước.

Để khẳng định khát vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam khi đó, "Tuyên ngôn độc lập" đã nêu rõ quan điểm: "thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam".

"Tự Do, Độc Lập" là những quyền bất khả xâm phạm của một quốc gia, một dân tộc cho nên "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Và thực tế lịch sử diễn ra sau đó đã khẳng định thêm cho ý chí của một dân tộc đã phải vượt qua rất nhiều thách thức sinh tử để xây dựng và bảo vệ đất nước: người dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả đề bảo vệ nền độc lập và tự do.

Những thông điệp từ bản "Tuyên ngôn độc lập" cũng chỉ ra rằng: giành lại nền độc lập, tự do cho dân tộc và đất nước mới chỉ là một nửa nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng; nửa nhiệm vụ thứ hai là phải đem lại cuộc sống tự do, ấm no, và hạnh phúc cho đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Để thực hiện được vế thứ hai trong sự nghiệp cách mạng, "Tuyên ngôn độc lập" đã nêu ra định hướng thiết lập "chế độ Dân chủ cộng hòa", trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với Chính phủ "đại diện cho toàn thể dân Việt Nam". Có thể nói, "Tuyên ngôn độc lập" đã điểm trúng khát vọng cháy bỏng của đại đa số người dân nước ta khi đó về một chế độ chính trị có thể bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, hệ thống chính quyền gắn bó mật thiết với lợi ích của nhân dân, ý thức rõ bổn phận phụng sự nhân dân, hành động theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân, và luôn đồng hành cùng lợi ích của dân tộc.

Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ 21, những tinh thần mãi vẹn nguyên giá trị của bản "Tuyên ngôn độc lập" năm xưa vẫn được khẳng định rõ ràng trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII: xây dựng một "hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn bó mật thiết với nhân dân".

Đại hội XIII cũng đã khẳng định nhận thức đúng đắn về đích đến của tiến trình phát triển đất nước, đó là phải đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân. Sứ mệnh này thể hiện qua tầm nhìn lãnh đạo được Đảng cộng sản Việt Nam đề ra tại Đại hội XIII: "phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Những âm hưởng truyền cảm hứng bất tận của bản "Tuyên ngôn độc lập" trong không khí cách mạng hào hùng 78 năm về trước không chỉ giúp chúng ta nhận thức lại chân giá trị của sứ mệnh cách mạng, mà còn củng cố tâm thế của chúng ta trước những thách thức trong thời gian tới...

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN SAI SỰ THẬT

 Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.

Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là "Việt Nam cướp đất của Campuchia". Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh - vàng - đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền "dân tộc tự quyết" cho người Khmer, lập "Nhà nước Khmer Krom"…

Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc "Lịch sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam"… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.

Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.

Thực tiễn những năm qua, nhờ các chủ trương, chính sách hỗ trợ về mọi mặt của Đảng và Nhà nước, diện mạo vùng đồng bào dân tộc Khmer đã thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt. “Bà con rất phấn khởi vì được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, vì thế luôn nỗ lực và thực hiện đúng nếp sống “tốt đời đẹp đạo” - Hòa thượng Tăng Nô - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng cho biết.

Trong khi đó, Thượng toạ Trần Văn Tha, Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn thì nhấn mạnh: “Cấp uỷ Đảng, chính quyền luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc ở thị xã hoạt động; góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống. Đặc biệt, trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Khmer, chính quyền cũng đã hỗ trợ các kinh phí về giảng dạy và giúp các sư sãi trong chùa vận động bà con xung quanh cho phép con em mình được tham gia các lớp học tiếng Khmer vào dịp hè. Những việc này đã thể hiện rõ chính sách nhất quán của Nhà nước về việc bình đẳng và đoàn kết các dân tộc Việt Nam”.

THIÊNG LIÊNG NGÀY QUỐC KHÁNH-TẾT ĐỘC LẬP

 78 năm đi qua nhưng tin chắc rằng những cảm xúc về ngày Tết Độc lập vẫn sẽ vẹn nguyên trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Niềm tự hào về ngày Quốc khánh của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác chính là dòng cảm xúc bất tận, là tài sản tinh thần vô giá làm nên quyết tâm, ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ. Mỗi mùa thu về, trong mỗi chúng ta lại thấy rạo rực, bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử năm ấy.

78 năm trước, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, người dân Việt Nam lần đầu tiên biết đến quyền và nghĩa vụ công dân. Giá trị của độc lập, tự do được đánh đổi bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu bao thế hệ đồng bào, chiến sĩ. Giá trị ấy tiếp tục được bảo vệ, giữ gìn, phát triển qua các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. 

Cụm từ “Tết Độc lập" được dành riêng cho Tết Bính Tuất 1946 - một cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công. Kể từ ngày đó, Tết Độc lập được nhân dân ta sử dụng trong dịp mừng Quốc khánh hằng năm. Đối với người dân Việt Nam, Ngày Quốc khánh 2-9 còn mang ý nghĩa và giá trị lớn hơn cả Tết Nguyên đán, bởi đó là ngày ghi nhận sự kiện một nước Việt Nam mới ra đời. Từ đêm trường nô lệ, lần đầu tiên trong đời, mọi người dân Việt Nam nhận thấy tất thảy giá trị làm người, quyền và nghĩa vụ công dân thiêng liêng, cao cả của mình. 

Ngày Quốc khánh - Tết Độc lập, mỗi người dân Việt Nam đều có quyền tự hào về thành quả cách mạng, tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, dân tộc anh hùng. Lá Quốc kỳ là biểu tượng thiêng liêng cao cả của đất nước, ngày lễ, tết, nhất là ngày Tết Độc lập tung bay khắp góc phố, đường làng ngõ xóm, ngoài hải đảo xa xôi, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghi lễ chào cờ và hát Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình được duy trì hằng ngày, được cử hành nghiêm trang với sự chứng kiến của rất nhiều người dân Thủ đô. Vào ngày 2-9 hằng năm, lễ chào cờ, hát Quốc ca ở trung tâm Thủ đô như thiêng liêng hơn, với sự chứng kiến của đông đảo người dân, đánh dấu hơn bảy thập niên Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.


Không chỉ vậy, vào ngày đặc biệt này, khắp nơi trên đất nước diễn ra nhiều hoạt động vui Tết, trong đó có các lễ hội của đồng bào vùng sâu, vùng xa. Với người Mông trên cao nguyên Mộc Châu, tỉnh Sơn La, trong một năm có hai dịp lễ quan trọng nhất, đó là Tết cổ truyền và Tết Độc lập 2-9. Tết Độc lập của người Mông ở huyện Mộc Châu ra đời từ cuối những năm 1950 của thế kỷ trước để tỏ lòng biết ơn Đảng, Bác Hồ, Chính phủ đã đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào cả nước nói chung và người Mông nói riêng. Lễ hội thường kéo dài từ ngày 31-8 đến ngày 2-9. Vào dịp này, đồng bào dân tộc Mông không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo nô nức rủ nhau đến trung tâm huyện vui ngày Tết Độc lập. Người Mông mong chờ lễ hội, chuẩn bị chu đáo từ nhiều ngày trước đó, lựa chọn cho mình những bộ trang phục đẹp nhất, rực rỡ nhất để tham dự lễ hội. Đồng bào Mông đến lễ hội để hò hẹn, trao gửi tình cảm, gặp gỡ, giao lưu, tâm tình, tham gia các trò chơi dân gian thỏa thích sau những ngày làm lụng vất vả. 


Cũng mấy năm gần đây, trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), Lễ hội Khèn Mông được tổ chức và duy trì hằng năm chào mừng ngày Quốc khánh 2-9. Với ý nghĩa đó, Tết Độc lập ở Mộc Châu và Lễ hội Khèn Mông ở Đồng Văn trở thành một trong lễ hội truyền thống, một nét văn hóa đặc trưng của vùng cao Tây Bắc. 


Niềm vui của Ngày Quốc khánh - Tết Độc lập hiện diện từ ánh mắt, nụ cười, gương mặt của bao thế hệ người Việt Nam suốt hơn bảy thập niên qua. Bởi ai cũng hiểu rằng, ngày Tết đặc biệt ấy là thành quả cách mạng vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là hạnh phúc của người dân Việt Nam. Vậy nên, bổn phận của mỗi người dân là làm cho niềm hạnh phúc ấy ngày càng lan tỏa và trở thành một động lực, niềm tin nâng bước chúng ta vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

QUAN ĐIỂM “ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Trong bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - đây là luận điểm sâu sắc, nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản Việt Nam; là kết tinh những giá trị đặc sắc của danh dự, sự đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh và trong sáng của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng. Chính vì lẽ đó, Đảng ta luôn kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của Người vào việc xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.


Nội dung và ý nghĩa sâu sắc trong quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là sự phản ánh bản chất tốt đẹp của một đảng cách mạng chân chính. Đồng thời, khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, “Đảng ta phải thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng có sứ mệnh vẻ vang là lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, mang đến ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc, vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm nhắc nhở: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của nhân dân và giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Vì nước, vì dân; vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành lẽ sống cao cả, thiêng liêng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, luôn “dĩ công vi thượng”. Đó là yếu tố quyết định để Đảng ta trở thành biểu tượng của trí tuệ, danh dự, lương tâm, trách nhiệm; là thước đo giá trị của một Đảng cầm quyền chân chính và liêm khiết.  


Sức mạnh của Đảng không chỉ biểu hiện ở lòng nhiệt tình cách mạng mà còn biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, ở trình độ trí tuệ của Đảng. Để có tầm nhìn, trí tuệ, Đảng phải nắm vững lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi vì không có lý luận cách mạng thì không nắm bắt được quy luật, không nhận thức một cách tự giác toàn bộ hoạt động của mình, dễ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, mù quáng trong hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”, là “cái cẩm nang thần kỳ”, “là mặt trời soi sáng”, là kim chỉ nam đúng đắn cho giai cấp công nhân và toàn thể Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và mang đến ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. 


Ngoài phương pháp tư duy khoa học biện chứng, cách mạng, Đảng còn phải tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hiện tốt nguyên tắc này tạo thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Đảng: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ kỷ luật”. Việc thường xuyên chỉnh đốn và đổi mới là nhằm làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”. 


Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi”. Trong bản Di chúc Người đã căn dặn: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Chỉ có luôn đổi mới và chỉnh đốn, Đảng ta mới loại bỏ được những yếu tố lạc hậu, bổ sung giá trị, nguồn lực mới, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 


Sự vận dụng, bổ sung và phát triển quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay


Để xây dựng Đảng thực sự trở thành Đảng “là đạo đức, là văn minh”, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII khẳng định: “Phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Và coi đây là sự phát triển rõ nét trong tư duy lý luận của Đảng, dựa trên nền tảng của một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, tiếp tục nhấn mạnh vai trò, vị trí, tầm quan trọng của xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.


Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phải kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vai trò, tầm quan trọng của việc kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng được Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được coi là vấn đề mang tính quyết định đến năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, là tư tưởng nhất quán trong quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện được nguyên tắc đó, Đảng ta phải không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.


Để xây dựng Đảng thực sự tiêu biểu về đạo đức, là văn minh trong điều kiện mới, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn là việc làm thường xuyên, quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong đó, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem là khâu then chốt, một mục tiêu mà Đảng ta cần phấn đấu, làm cho Đảng thực sự tiêu biểu cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”. Xây dựng Đảng về đạo đức thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.


Để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đề ra các giải pháp trọng tâm là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đồng thời, “Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận”. Trong đó, cần chú ý việc phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, giữa các vùng, miền; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc người dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của người dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.


Trải qua 93 năm qua, dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta, Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… đó là kết quả hội tụ của nhiều nhân tố, mà trước hết và trên hết là sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, toàn quân và toàn dân ta - qua đó tiếp tục khẳng định Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng, chân chính “là đạo đức, là văn minh”./. 

CHỐNG GIẶC ĐÓI

 Ngày 3/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người cho rằng vấn đề cấp bách đầu tiên trong sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” là “nhân dân đang đói”. Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.

Người cũng đề nghị: “Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”.

Giữa tháng 9/1945, Chính phủ ta đã tổ chức một lễ phát động phong trào cứu đói. Buổi lễ này được tổ chức tại Nhà hát lớn (Hà Nội). Nhà tư sản dân tộc yêu nước Ngô Tử Hạ, chủ tịch buổi lễ, đã đọc lời kêu gọi toàn dân hãy nhường cơm sẻ áo, mỗi nhà bớt một chút gạo để cứu giúp những người đang đói.

Đích thân cụ Ngô Tử Hạ kéo chiếc xe bò dẫn đầu đoàn người tham gia phong trào cứu đói qua phố Tràng Tiền (Hà Nội). Nhà nào cũng có người chờ sẵn bên hè phố, người thì bơ gạo, người thì đấu ngô, người thì góp tiền. Đi chưa hết một vòng thì xe gạo đã đầy. Về đến Nhà hát Lớn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Ngô Tử Hạ báo với Người xem chiếc xe chở gạo lẫn lộn đủ các thứ: gạo đỏ, gạo trắng, gạo nếp, ngô...

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đã chỉ vào xe gạo nói rằng: “Đây mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon nhưng bây giờ thì đây là thứ gạo ngon nhất”.

Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu quốc ngày 28/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.

Hưởng ứng kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên khắp cả nước, nhân dân ta lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào đang chịu thảm họa của nạn đói. Tiếp đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào các công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc...

Ngày 2/11/1945, Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố quyết định thành lập Hội Cứu đói. Hội Cứu đói được tổ chức xuống tận các làng. Ngày 28/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh thiết lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ngoài Bộ Cứu tế, một số bộ khác cũng có nhiệm vụ cứu tế và tiếp tế.

Trong tháng 10 và 11 năm 1945, Chính phủ ban hành nghị định giảm 20% thuế ruộng đất, miễn thuế hoàn toàn cho những vùng lụt. Bộ Quốc dân Kinh tế ra thông tri quy định việc kê khai số ruộng đất vắng chủ, số ruộng công và ruộng tư không làm hết, tạm cấp cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng.

Bên cạnh đó, ngày 19/11/1945, Chính phủ thiết lập Ủy ban Trung ương phụ trách vấn đề sản xuất. Nhiều chính sách đã được triển khai đồng bộ lúc này như việc ra báo để hướng dẫn nhân dân sản xuất, cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất, cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm, chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới.

Trong bài viết “Gửi nông gia Việt Nam” in trên báo Tấc đất (12/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc tăng gia sản xuất: “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất!

Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập”.

Cho đến đầu năm 1946, công tác đê điều đã hoàn thành. Đồng thời với việc đắp đê, chính quyền và nhân dân tất cả các địa phương ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất là hoa màu ngắn ngày.

Nhờ đó, chỉ trong năm tháng từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946, sản lượng lương thực, chủ yếu là hoa màu, đạt tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh diễn ra vào ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.