Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội trong tình hình hiện nay

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện đang là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng hiện nay, giúp cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy; lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc.

Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cần tập trung vào những giải pháp chủ yêu sau:

Một là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cơ quan chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, trực tiếp và chủ yếu nhất là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, bí thư cấp ủy, người chỉ huy các cấp, trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị; từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Quân đội sát, đúng, hiệu quả, thiết thực. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội”(2). Ngoài ra, cần quan tâm, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, tập thể quân nhân, cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong Quân đội trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở, tiền đề cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong Quân đội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp.  Do đó, cần tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức  và cán bộ, trực tiếp góp phần giữ vững sự thống nhất, đoàn kết, nhất trí trong các tổ chức đảng, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị. Từ đó, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, cần làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị để nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm và tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, góp phần giữ vững bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong tình hình mới.

Ba là, tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay để gia tăng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ.

Cần tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay giữ vị trí, vai trò quan trọng, giúp cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc những giá trị cốt lõi tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Từ đó, xây dựng và củng cố vững chắc lòng tin, lý tưởng vào những giá trị bền vững và tạo cơ sở khoa học cho việc tự nguyện, tự giác phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, trung thành tuyệt đối với nhân dân, với Tổ quốc. Do đó, phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp, nhất là các học viện, nhà trường phù hợp với từng đối tượng quân nhân.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội luôn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng giúp mọi quân nhân có được niềm tin, bản lĩnh, trình độ… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay cần tập trung làm cho mọi quân nhân hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội... Trong giáo dục, cần làm cho họ thấy tính đúng đắn và sự cần thiết trong vai trò Đảng lãnh đạo Quân đội; lý tưởng khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của giai cấp, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Xây dựng hình thành, truyền bá những hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới đến bạn bè quốc tế; tập trung khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, tiếp thu những giá trị văn hóa tinh hoa của nhân loại.

Bốn là, làm tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Internet, mạng xã hội trong Quân đội hiện nay.

Cần quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội ở tất cả các đơn vị trong toàn quân, không để các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh trận địa thông tin. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội trong tình hình mới. Chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 và lực lượng 47 các cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoạt động có nền nếp, hiệu quả.

Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền bảo đảm chặt chẽ; phân định rõ các loại báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ việc đăng tải thông tin trên Internet, mạng xã hội của các quân nhân; đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, nhóm, trang diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”.

Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong bảo vệ tư tưởng của Đảng trong Quân đội và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến mạng xã hội, an ninh mạng Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47 trong toàn quân; thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp trên mạng xã hội để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những dịch vụ, hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến hoạt động quân sự.

Sáu là, tổ chức đấu tranh có hiệu quả, quyết liệt với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Trang bị những kiến thức cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, “miễn dịch” với những thông tin xấu độc, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Có thể khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà còn có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của Quân đội. Do đó, để Quân đội ta tiếp tục phát huy được những truyền thống anh hùng, vẻ vang, mỗi tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cũng như mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải luôn không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức “Bộ đội cụ Hồ” mà còn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội là cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. Đây là hoạt động có mục đích, có tổ chức chặt chẽ trong việc sử dụng các hình thức, biện pháp công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách kết hợp với các biện pháp khác dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị, sự tham gia của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân và mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng để chủ động đấu tranh chống lại các thủ đoạn, hoạt động phá hoại quân đội ta về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch. Trong giai đoạn hiện nay, để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm, ý thức cảnh giác trong chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với quân đội ta. Theo đó, nội dung giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội cần tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân đội, giáo dục xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức kỷ luật, tự giác nghiêm minh của “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục nâng cao tinh thần, thái độ văn hóa, khoa học kỹ thuật quân sự, nghiệp vụ chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hóa xấu độc, phản động, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, xây dựng ý chí chiến đấu, quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu chống phá quân đội ta trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Hai là, Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, bảo đảm thật sự là pháo đài vững chắc chống sự xâm nhập phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội. Thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên. Nâng cao khả năng quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương để đề ra nghị quyết lãnh đạo sát đúng. Phát hiện và giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết, bảo đảm sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nghị quyết và việc thực hiện. Tập trung xây dựng cấp ủy, chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh toàn diện; trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên nghiên cứu nắm chắc Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng và tình hình mọi mặt của Đảng bộ, chi bộ để xác định nhiệm vụ, nội dung lãnh đạo sát đúng nhằm lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đồng thời, đánh giá đúng tình hình số lượng, chất lượng cấp ủy, chi bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; tình hình chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng; quy chế, quy định thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; mối quan hệ giữa tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên với quần chúng.

Ba là, thường xuyên chủ động tổ chức đấu tranh phòng, chống các hoạt động phá hoại về chính trị tư tưởng, tổ chức của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng ở các đơn vị trong toàn quân. Trong các hoạt động phá hoại về chính trị tư tưởng đối với quân đội ta, các thế lực thù địch thực hiện nhất quán mục tiêu xóa bỏ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần quân đội; vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng trong quân đội, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội ta; phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị đất nước; truyền bá, gieo cấy đạo đức, lối sống tư sản vào trong quân đội, nhằm làm cho cán bộ chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ. Vì thế, cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và mỗi quân nhân phải nêu cao trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh này; tăng cường quản lý nội bộ, không để nảy sinh các khuynh hướng, quan điểm sai trái để kẻ địch lợi dụng; có biện pháp kiểm soát, ngăn chặn việc phát tán các tài liệu xấu, độc ngoài luồng vào đơn vị.

Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Chăm lo xây dựng nội bộ quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, tạo sức “đề kháng”, “miễn dịch” cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng về khả năng tự nhận biết và có ý thức, trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống các thủ đoạn phá hoại về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch hiện nay. Thực tế cho thấy, cùng với thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, lừa mị, kích động, chiến tranh tâm lý, các thế lực thù địch rất chú trọng các hoạt động ngầm, tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, sử dụng những phần tử cơ hội về chính trị, bất mãn thù địch với chế độ ta cài cắm vào trong quân đội nhằm phá hoại ta từ bên trong. Do đó, công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được đặc biệt coi trọng, được triển khai đồng bộ từ cơ quan đến toàn quân theo phương châm “giữ vững bên trong”, làm cho nội bộ thực sự trong sạch vững mạnh, không để địch lôi kéo, chia rẽ, lũng đoạn chống phá từ bên trong.

Năm là, thường xuyên chăm lo xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị trong toàn quân. Tập trung giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh, phù hợp với các chuẩn mực văn hóa, đạo đức, phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa. Duy trì các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng có nền nếp, hiệu quả thiết thực. Kiên quyết ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn xã hội và các hành vi tiêu cực trong từng cơ quan, đơn vị trong toàn quân./.

                                                                                                          VHT.


LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

 

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới diến biến phức tạp, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay. Với âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội. Các thế lực thu địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Để thực hiện âm mưu thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Cùng với đó, các đơn vị trong quân đội đã luôn chủ động trong công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng trên địa bàn đóng quân  được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ địa bàn an toàn, đơn vị an toàn. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính.  Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp đó là:

Một là, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước những sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng cho cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Qua đó, để cán bộ, chiến sĩ nắm chắc về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam và nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nêu cao tinh thần cảnh giác và ý thức tổ chức kỷ luật, “tự miễn dịch” trước hoạt động chống phá tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Các nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy, tổ chức đảng đều có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh trên không gian mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, bảo đảm tính nhạy bén, sáng tạo, nhưng phải chấp hành nghiêm quy định bảo vệ chính trị nội bộ, không để lọt, lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, ngăn chặn kịp thời các tài liệu phản động, văn hóa phẩm xấu độc thâm nhập vào nội bộ.

Hai là, cấp ủy, chỉ huy các cấp xác định đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng. Xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, vận dụng phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị bằng kế hoạch, chương trình cụ thể. Cần linh hoạt, sắc sảo, sáng tạo, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội của quân nhân, kịp thời phát hiện những biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm.

Ba là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Giáo dục cho mọi quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông báo thời sự và công tác tuyên truyền trong nhân dân. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo, định hướng của cơ quan cấp trên, chủ động thông báo, thông tin chính thống, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn; duy trì hiệu quả chế độ đọc báo, nghe tin, giao ban, hội ý để cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp tuyên truyền, đấu tranh. 

Bốn là, phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trên địa bàn xây dựng cơ chế và phát huy có hiệu quả các thiết chế để kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đóng quân. Trong đó, cần chú trọng thiết lập các trang, nhóm cộng đồng trên nền tảng có sẵn như: Facebook, Zalo, Mocha... thu hút được đông đảo người dân tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả Luật An ninh mạng và Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cũng cần phải thống nhất nhận thức là không phải thông tin phản ánh tiêu cực nào cũng đều là thông tin sai trái, phản động, thù địch; cần có cách nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, từ đó tránh quy chụp, tạo hiềm khích, gây mất uy tín và chất lượng của các trang, nhóm, làm giảm sút hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền trên địa bàn.

Như vậy, trong giai đoạn cách mạng hiện nay chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch dưới mọi hình thức, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                                                                                              VHT.



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “DÂN LÀ GỐC”

 

Từ thực tiễn ở nước ta, chủ nghĩa yêu nước có trước chủ nghĩa cộng sản, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân, lòng dân có trước ý Đảng. Đúc kết của Hồ Chí Minh: sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 cho thấy chính Nhân dân là người sinh thành ra Đảng. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã mang trong mình yếu tố dân tộc, bám rễ sâu trong lòng dân tộc. Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trò, vị trí, sức mạnh của Nhân dân với một chất lượng khoa học và cách mạng cao. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt”. Dân rất tốt là một chân lý, vì tuy đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, trải qua nhiều năm chiến tranh, nhưng Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Người còn khẳng định dân chúng khôn khéo; trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận; “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Từ những hiểu biết và nhận thức đúng đắn, toàn diện về dân như vậy, Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Gốc là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân, lòng tin của dân. Nói về tài trí dân, Người khẳng định “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”). Nói về lực lượng Nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định “trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Chúng ta biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong”. “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”. Người thường nhắc lại câu nói của Nhân dân Quảng Bình: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Nói về lòng dân, Hồ Chí Minh đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”, “được lòng dân, thì việc gì cũng làm được. Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”.

Hồ Chí Minh xác định: “Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Xuất phát từ chỗ gắn bó mật thiết với Nhân dân, sống giữa lòng dân, người thấu hiểu đời sống, tình hình, tâm lý, tâm tư, nguyện vọng Nhân dân. Bác nói dân chúng nhiều tai mắt, cái gì cũng nghe cũng thấy; dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, gọn gàng, hợp lý, công minh, “biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”. Nước ta là một nước dân chủ, vì vậy, theo Bác: “Bao nhiêu lợi ích đều “vì dân”. Bao nhiêu quyền hạn đều “của dân”. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”); “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”.

Như vậy, tư tưởng “dân là gốc” cần được hiểu trên mấy lát cắt: Dân chúng chứa đựng một xung lực mạnh mẽ vô cùng tận, cả tài, sức, quyền, trí, lòng dân; Nhân dân được hưởng tất cả lợi ích vật chất và tinh thần; Dân chúng có trách nhiệm trong cách mạng, kháng chiến, đổi mới, xây dựng đất nước; không chỉ nước, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc, do dân tổ chức nên. Trong mọi công việc, Đảng, Nhà nước đã xác định “dân là gốc” thì “đừng có làm điều gì trái ý dân”, “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”). Dân là chủ, là gốc, thì Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”. Khẳng định Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo không có nghĩa là “ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống các địa phương kiểm tra công tác”, mà “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. Bằng cách cắt nghĩa đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng… Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”. Làm “đầy tớ nhân dân” với ý nghĩa cao đẹp nhất là phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho Nhân dân hài lòng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không học hỏi nhân dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”. Một cách tiếp cận khác mang tính nguyên tắc thể hiện chiều sâu và bề rộng của nội hàm “dân là gốc”, cho thấy Đảng và Nhà nước khi đã xác định “lấy dân làm gốc” thì phải hoàn thành trách nhiệm, bổn phận với dân không chỉ là vấn đề lợi ích mà sâu xa hơn là tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, bàn bạc với dân, học hỏi dân, gương mẫu và tự phê bình trước dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ để chữa bệnh quan liêu, xa dân, khinh thường dân, phụng sự nhân dân tốt, có một “đơn thuốc”  với nguyên tắc là: “Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích Nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân; Việc gì cũng bàn với Nhân dân, giải thích cho Nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước Nhân dân và hoan nghênh Nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi Nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để Nhân dân noi theo”./.

                                                                                                VHT.


Lời cảnh báo với những kẻ muốn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam

Anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta”. Tinh thần yêu nước của Nhân dân ta sẵn sàng nhấn chìm tất cả những kẻ thù có dã tâm xâm chiếm, gây hại đến chủ quyền đất liền, vùng trời hay biển, đảo của Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đất không rộng, người không đông, lại nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối thông thương của khu vực, châu lục và thế giới, giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nên luôn là đối tượng bị các nước lớn nhóm ngó, xâm lược. Từ hàng ngàn năm trước, cha ông ta đã xác định phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, của mọi người dân để xây dựng đất nước, để chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu như chủ trương cả nước đánh giặc “cử quốc nghênh địch”, “trăm họ là lính”, “động vi binh, tĩnh vi dân”… Từ đó, hình thành nên nét văn hóa giữ nước trong từng người dân Việt, với suy nghĩ “nước mất thì nhà tan” và hình thành quyết tâm đánh giặc giữ nước của mọi tầng lớp Nhân dân, bất kể già, trẻ, gái, trai…Trên thế giới này có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử, đã có hơn 1000 năm phải trực tiếp cầm vũ khí chống ngoại xâm? Trong thời Cổ đại và Trung đại, tất cả các triều đại phong kiến thống trị ở phương Bắc: Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, mỗi triều đại có ít nhất là một lần mang quân sang xâm lược, thống trị nước ta, nhưng cuối cùng đều thất bại. Lịch sử thế giới đã phải ghi nhận: Khi các quốc gia - dân tộc khắp châu Á, châu Âu, từ các quốc gia nhỏ bé, đến các quốc gia đất rộng, người đông, luôn tự xưng là trung tâm thiên hạ, coi các nước xung quanh là man di, mọi rợ… đều phải quỳ gối thuần phục quân Nguyên Mông, thì chính dân tộc Việt Nam - một nước nhỏ, dân ít đã dũng cảm đứng lên ba lần đánh bại quân Nguyên Mông. Đến thời cận hiện đại, dân tộc ta lại đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Lạ thay, cứ mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, nước Nam chúng ta lại xuất hiện những vị anh hùng dân tộc hội tụ đầy đủ sức mạnh, trí tuệ,  tài thao lược, cùng năng lực hiệu triệu Nhân dân tham gia chống giặc, đã lưu danh sử sách như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Lê Hoàn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh… Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ của dân tộc ta, đã chứng minh cho những kẻ thù hùng mạnh, bạo tàn, tham lam, gian manh và thâm độc nhất thế giới thấy, chúng sẽ thất bại nhục nhã nếu chúng manh tâm xâm lược đất nước ta. 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch núp bóng đằng sau lời “kêu gọi” bảo vệ Hoàng Sa & Trường Sa

 

Theo đó, hiện nay Việt Tân triệt để lợi dụng tâm lý bất bình của quần chúng nhân dân trước việc Trung Quốc có những hành vi xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ta gần đây như: mở nhà hàng lẩu trái phép trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đưa máy bay vận tải cỡ lớn Y-20 để vận chuyển quân lính và tiến hành các cuộc tập trận đổ bộ trong điều kiện phức tạp tới đá Subi, Vành Khăn… thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ ngày 1/5/2023-16/8/2023 xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa… để kêu gọi cư dân mạng “bảo vệ” chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất đây là chiêu trò để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; âm mưu gây mất hình ảnh, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Hoạt động chống phá lợi dụng vấn đề trên tuy không mới nhưng vẫn được chúng triệt để sử dụng đó là “lời kêu gọi” đòi lại chủ quyền Hoàng Sa, Trường sa. Cụ thể, trên trang facebook Việt Tân ngày 18/4/2023 có đăng bài, nội dung “Hoàng Sa là máu của ta, Trường Sa là thịt của ta. Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại. Quân bành trước đừng mong xâm lấn…Hãy hành động để đòi lại biển đảo” và dẫn dắt đến trang web https://vietnameseparacels.org Hoàng Sa & Trường Sa, kêu gọi chữ ký để khởi phát việc trình lên Liên Hợp Quốc, vận động các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước can thiệp vào vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, gây áp lực lên Chính phủ Việt Nam phải có những hành động cụ thể để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: lên án hành động chiếm đóng của Trung Quốc tại các cuộc họp của ASEAN và tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc; đệ đơn kiện Trung Quốc tại Tòa Án Trọng Tài Thường Trực ở The Hague.

Lời Bác dạy

Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”, ngày 8-9-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011)

Đại hội diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Đến dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí mà mỗi người đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.

Nha Bình dân học vụ

 

  • 8/9/1945: Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. Nha Bình dân học vụ có nhiệm vụ phụ trách việc chống nạn mù chữ trong cả nước. Chỉ sau một năm, có hơn 1 triệu người biết đọc, biết viết.

HẠN CHẾ CỦA CÁC PHÁT NGÔN CHÍNH THỐNG

Thực tế cho thấy, sở dĩ ở nhiều thời điểm, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương việc phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống chưa được tiến hành kịp thời là bởi, những người phát ngôn ở các cơ quan công quyền hiện nay đều là kiêm nhiệm; chưa có bộ phận phát ngôn chuyên nghiệp. Thậm chí, trước nhiều thông tin, sự kiện, sự việc khác nhau, ai cũng có thể phát ngôn-cung cấp thông tin một cách tự phát. Có khi, việc phát ngôn còn nặng cảm tính, thiếu nhãn quan chính trị, thiếu độ chính xác hoặc bị mâu thuẫn với nhau... càng khiến thông tin rối ren, nhiễu loạn. Trong khi, kỹ năng của những người có trách nhiệm phát ngôn vẫn còn nhiều mặt hạn chế; khả năng và điều kiện thu thập, tổng hợp thông tin chưa đầy đủ, nắm bắt vấn đề chưa chắc chắn... dẫn đến thông tin dễ bị hiểu nhầm.

Hơn thế, một số tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phát ngôn, nhưng do nhiều nguyên nhân lại sinh ra biểu hiện “sợ chết vì cái miệng” nên chọn cách “im lặng là vàng”. Lại có nơi, vì một vài sai phạm nội bộ nên cố tình lấp liếm, giấu giếm khuyết điểm, không dám thẳng thừng phát ngôn, cung cấp thông tin chính xác đến với công chúng, dư luận... Sự im lặng không phải là phương cách hữu hiệu để xoa dịu dư luận mà ngược lại, điều đó còn nhen nhóm mầm mống cho sự nảy sinh tin đồn thất thiệt, suy diễn dẫn đến khó kiểm soát tâm trạng xã hội. Đến khi, ngọn lửa tiêu cực đã bùng cháy, dư luận rơi vào trạng thái bức xúc, thì giới chức năng mới hớt hải đi tháo gỡ, giải quyết theo kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Vấn đề đặt ra là phải trao quyền và gắn trách nhiệm đối với những người có trách nhiệm phát ngôn ở mỗi cơ quan. Phần việc này sẽ hiệu quả hơn nếu chúng ta xây dựng được một quy trình phát ngôn có hệ thống, hoạt động chuyên nghiệp, được bồi dưỡng về chuyên môn, có kỹ năng, kinh nghiệm xử lý, ứng phó trước các vấn đề, sự cố thông tin. Nên nhớ rằng: Thông tin chính thống đưa càng chậm, sự thật càng dễ bị xuyên tạc; thông tin chính thống càng lấp liếm, giấu giếm thì thông tin giả, thông tin bịa đặt càng có đất đua nhau nảy nở, làm vấy bẩn dư luận.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KGM.

 


Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.


Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.


Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).


Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.


Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.


Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.


Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.


Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.


Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.


Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:


Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.


Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.


Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        


Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.


Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân.

Dùng chính thống “khắc chế” nhiễu loạn

 Tất nhiên, giữa biển thông tin nhiễu loạn trong điều kiện xã hội số như hiện nay, việc dẫn dắt, định hướng thông tin dư luận xã hội là vấn đề không hề đơn giản. Bởi thông tin đúng-sai, thật-giả có giới hạn rất mỏng manh, thậm chí là dễ trà trộn, khó đối chứng, kiểm định. Có thông tin đúng lại bị dư luận nghi hoặc, nhưng cũng có thông tin sai lại được cộng đồng tiếp nhận, bày tỏ sự ủng hộ, đồng thuận. Trong thời gian qua, báo chí cách mạng dù khẳng định tốt chức năng, nhiệm vụ, hoạt động tích cực, có nhiều sáng tạo, đổi mới trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, nhưng chưa thể bắt kịp với tốc độ lan truyền thông tin trên không gian mạng. Nói cách khác, thông tin báo chí dù đúng đắn, chính thống là một dòng chảy thông tin chủ lực nhưng trong tổng thể các trào lưu, xu hướng thông tin đa chiều, khổng lồ, rộng khắp, nhiều khi lại chưa thật sự hấp dẫn. Do vậy, phát huy vai trò báo chí là một phương thức-một kênh quan trọng tham gia vào việc cung cấp, định hướng thông tin, cần phải đạt được mục tiêu dẫn dắt, định hướng cho nhận thức và hành động của toàn xã hội.

Theo nhiều chuyên gia xã hội học, vấn đề cốt tử ở đây nằm ở phía cơ quan chức năng có trách nhiệm phát ngôn và định hướng dư luận. Nghĩa rằng, những vấn đề nhạy cảm, thiết yếu, liên quan đến quốc kế, dân sinh, lợi ích cộng đồng, vấn đề xã hội quan tâm... thì rất cần phải có những phát ngôn chủ động, kịp thời, đúng lúc, minh bạch cung cấp thông tin chính thống cho nhân dân. Cùng với đó, khi xuất hiện nhiều luồng thông tin khác nhau, nảy nở tin đồn, hình thành dư luận tiêu cực thì những phát ngôn chính thống sẽ có sức mạnh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng nhiễu loạn thông tin. Ví như, dư luận bàn về tình trạng sức khỏe của một cán bộ cấp cao đang lâm trọng bệnh, thì cơ quan thẩm quyền cần sớm công khai rõ ràng, đúng đắn về sự việc ấy. Một khi có thông tin đúng, kịp thời, công khai rộng rãi thì sự hoài nghi sẽ bị khắc chế, không để kéo dài phức tạp. Hay như những tin đồn về việc cán bộ này, quan chức nọ rơi vào tiêu cực, nhũng nhiễu dân... thì cơ quan chức năng sẽ dập tắt được tin đồn khi và chỉ khi chủ động, thẳng thắn công khai thông tin về cán bộ ấy một cách thuyết phục.

NGUY HẠI CỦA SỰ DỐI TRÁ

 


Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.


Nguy cơ phá vỡ tổ chức từ bên trong


Dối trá được hiểu là những cử chỉ, hành vi, lời nói, việc làm trái ngược với sự trung thực của cá nhân, tập thể. Đó là hành vi đưa ra nhiều thông tin thiếu chính xác, sai sự thật, khiến cá nhân, tập thể nhận thông tin đưa ra các quyết định có lợi cho một người hoặc một nhóm người cung cấp thông tin. Dối trá trong xã hội là nguyên nhân căn cốt khiến các chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức công vụ và cao hơn nữa là đạo đức chính trị và văn hóa chính trị bị ảnh hưởng, tổn thương ở các mức độ khác nhau.


Trong giai đoạn hiện nay, dối trá chính là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng mất niềm tin ở nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Khi nghiên cứu nội hàm của 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra, nhận thấy các biểu hiện ấy đều có bóng dáng nương náu của dối trá. Ví dụ gần đây nhất về hiện tượng dối trá trong cán bộ cơ sở gây bức xúc dư luận là trường hợp ông Lương Văn Thuận, Chủ tịch MTTQ xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu (Nghệ An). Ông này thừa nhận đã tự ký danh sách 15 hộ nghèo nhận tiền quà Tết Nguyên đán Tân Sửu (năm 2021) để hợp thức hóa hồ sơ nộp lên huyện. Dư luận cho rằng, đó là hành vi dối trá, vi phạm pháp luật nhằm chiếm đoạt số tiền 7,5 triệu đồng của người nghèo.


Dối trá xuất hiện ở nhiều cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương thông qua những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nhiều cán bộ mua bằng, mua học vị để được đề bạt, bổ nhiệm, lên lương thay vì trau dồi đạo đức, năng lực công tác vốn rất tốn công, nhọc sức và mất thời gian. Dối trá thể hiện trong xin cấp ngân sách lớn hơn nhu cầu thực tế để sau đó làm hợp đồng khống, hợp thức bằng hóa đơn, chứng từ để giải ngân. Hoặc có hiện tượng thanh toán vượt giá thị trường, chi sai mục đích...


Hiện tượng dối trá trong các cơ quan, đơn vị, địa phương đã gây ra nhiều hệ lụy, là trở ngại lớn cho xây dựng Đảng và bộ máy Nhà nước; làm nhân dân hiểu sai lệch bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ; làm băng hoại đạo đức xã hội và các giá trị truyền thống; gây khó khăn trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm của nhân dân và là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc sự thật, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.


Dối trá cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, là “bà đỡ” cho nịnh hót, bợ đỡ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nguy cơ nhấn chìm động cơ phấn đấu của những người trung thực; phá vỡ tổ chức đảng từ bên trong...


Diệt trừ dối trá, cần giải pháp đồng bộ


Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau sinh ra dối trá. Theo các chuyên gia, nguyên nhân sâu xa và phổ biến nhất là do con người ham muốn lợi ích bằng mọi giá đã sinh ra dối trá. Do công tác kiểm tra, giám sát qua loa, đại khái, hình thức và chiếu lệ cũng khiến dối trá không bị hạn chế mà còn có cơ hội lây lan. Bên cạnh đó, việc một số nơi tổ chức nhiều hoạt động thi đua hình thức và bệnh thành tích cũng là tác nhân sinh ra dối trá. Vì thành tích mà có hiện tượng che giấu khuyết điểm, "làm láo báo cáo hay", "có ít suýt ra nhiều".


Để diệt trừ thói dối trá, nhất là trong hệ thống chính trị và cơ quan công quyền hiện nay cần phải tổ chức, duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt Đảng của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê bình mạnh mẽ, triệt để. Cấp ủy, chi bộ cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh.


Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(1). Người xem đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên nói riêng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, góp phần tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Bởi theo Người, khi đã tổ chức sinh hoạt Đảng chất lượng, hiệu quả thì mọi dối trá của cán bộ, đảng viên sẽ bị phơi bày ra ánh sáng, sẽ không có những việc làm khuất tất vụ lợi, không có hiện tượng dễ làm khó bỏ, đấu đá, chọn vị trí công tác nhiều lợi ích... Để làm được điều này thì các tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời có biện pháp cụ thể về đổi mới hình thức, nội dung sinh hoạt Đảng định kỳ và chuyên đề, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.


Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, coi trọng kiểm tra đột xuất thay vì kiểm tra báo trước và kiểm tra trên giấy, trên báo cáo và "nhúng" qua thực tiễn. Thực tế cho thấy, hiện tượng dối trá trong nội bộ đã làm cho Đảng bị "bịt mắt”. Tổ chức đảng cấp trên không thấy được thực tế đòi hỏi của nhân dân, không thấy được những “chướng tai gai mắt” trong nội bộ cấp dưới nên dễ dẫn đến thỏa hiệp và vô tình bảo vệ “con sâu, con mọt” thay vì bảo vệ cán bộ có tâm, có tầm và có trí, thủ tiêu động lực phấn đấu của các cán bộ, đảng viên chân chính.


Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, người chủ trì, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương. Hiện nay có một thực tế là, nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa cụ thể hóa nghị quyết vào trong thực tiễn nhiệm vụ lãnh đạo. Phổ biến là hiện tượng xây dựng quy chế lãnh đạo một đằng nhưng thực hiện một nẻo; thậm chí có hiện tượng copy quy chế lãnh đạo cốt để báo cáo. Việc này khiến công tác lãnh đạo không tập trung, sót việc nên dễ nảy sinh tiêu cực.


Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ có biện pháp quyết liệt trong tổ chức phân phối ngân sách, nhiệm vụ và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc thu, chi ngân sách hằng năm hoặc ngân sách đầu tư công. Thường ngân sách bao giờ cũng đi kèm với nhiệm vụ. Có nhiệm vụ thì có ngân sách và ngược lại. Thế nên không lạ khi các cơ quan, đơn vị, địa phương đua nhau xin nhiệm vụ, xin ngân sách. Đây chính là căn nguyên để hình thành cơ chế “xin-cho” tồn tại dai dẳng trong hệ thống chính trị và các cơ quan công quyền.


Một số quốc gia có cách làm rất hiệu quả để ngăn chặn sự dối trá nhằm trục lợi. Theo đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân muốn được sử dụng ngân sách hoặc được nhận tài trợ để làm một dự án do chính phủ duyệt thì phải hội tụ những điều kiện cứng và mềm về công tác quản lý và điều hành, bảo đảm không thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Thế nên, để ngân sách đến đúng đích và được sử dụng triệt để, mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thì cần có quá trình thẩm tra, kiểm tra, giám sát xem có đủ điều kiện mới giải ngân. Đây chính là cách phân phối công bằng, ngăn ngừa tham nhũng và thúc đẩy cách lãnh đạo, điều hành và quản lý chuyên nghiệp, văn minh, cần được nghiên cứu thấu đáo và ứng dụng trong thực tiễn nước ta.


Nếu trung thực được đề cao thì dối trá khó có đất để tồn tại, phát triển. Khi trung thực của cán bộ, đảng viên bị dối trá lấn át thì sẽ dẫn đến tình trạng né tránh sự thật. Đây là căn nguyên khiến sinh hoạt của tổ chức đảng rơi vào hình thức, mất sức chiến đấu, khiến nguy cơ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ngày càng có xu hướng nặng nề hơn. Tôn trọng sự thật khách quan và dựa trên sự thật để tìm biện pháp xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là cách tốt nhất diệt trừ tệ dối trá hiệu quả. Việc này chỉ thực hiện được khi cán bộ chủ trì và đứng đầu tổ chức đảng tận tâm, quyết liệt.

MẢNH ĐẤT MÀU MỠ CHO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Dưới góc độ khoa học tâm lý, người được tiếp nhận thông tin, khi cảm thấy có cái đúng thì thường ghi nhớ khá bền vững, tưởng rằng đó là thông tin thuyết phục, có tính xây dựng, rồi hồn nhiên cổ xúy, ủng hộ. Phần đông các đối tượng tiếp nhận thông tin không hề biết, hoặc quên đi hàng loạt thông tin sai lệch, bịa đặt, quy chụp do những kẻ hiềm khích chủ ý tạo dựng nên.

Nói như vậy để thấy, hệ lụy tiếp nhận thông tin theo kiểu không thể phân biệt thật-giả, đúng-sai là do chính cán bộ và quần chúng vô tình phạm phải. Nếu mỗi người thật sự có lập trường chính trị vững vàng, có niềm tin vào cái đúng tất yếu, thì đương nhiên mọi thông tin được cấy ghép dù tinh vi cũng sẽ bị miễn trừ bởi tính mục đích xấu xa của nó. Và rồi, sẽ không còn nữa hiện tượng a dua, likes, share, comment thể hiện chính kiến một cách dại dột...

Viện dẫn như vậy để khẳng định: Rõ ràng, nguyên nhân của hiện tượng sai lệch thông tin trước hết thuộc về phía chủ quan-đối tượng tiếp nhận. Thế nhưng, nguyên nhân khách quan là bởi việc cung cấp, định hướng thông tin chính thống của các cơ quan chức năng vẫn còn không ít vấn đề đáng bàn; nhất là việc chậm trễ trong cung cấp thông tin hoặc cố tình giấu giếm thông tin chính thống.

Ví như, một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nảy sinh điểm nóng trên không gian mạng và hình thành đám đông quấy rối trật tự xã hội ở tỉnh Bình Thuận và một số địa phương trong năm 2018 là bởi người dân chưa có đầy đủ thông tin chính thống; chưa được định hướng từ sớm và rõ ràng về vị trí, ý nghĩa, tinh thần, nội dung và tính đúng đắn của Dự luật đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt và Dự luật An ninh mạng được Quốc hội bàn thảo vào thời điểm đó.

Thực tế đó vô hình trung đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo sự thật, gây hoang mang trong cộng đồng. Kết quả khảo sát đối với đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín trên địa bàn Bình Thuận cho thấy: Vì không được thông tin kịp thời về hai dự luật nên khi trong dư luận bắt đầu có những biểu hiện tâm lý tò mò, muốn tìm hiểu về các dự luật thì cán bộ và những người có thẩm quyền không biết cách giải thích, giải quyết một cách thỏa đáng, thuyết phục. Cộng thêm những phát ngôn thiếu nhãn quan chính trị, thiếu tinh thần xây dựng của một vài cá nhân cực đoan; sự kích động, chống phá... đã khởi tạo nên dư luận xã hội tiêu cực. Bài học sâu sắc này đã được các cơ quan Trung ương nghiêm túc rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi đến các địa phương. Có nghĩa, khi đề ra chủ trương, chính sách lớn, những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến lợi ích người dân... thì công tác chuẩn bị phải hết sức kỹ lưỡng, khoa học; trong đó, nhất thiết phải xây dựng kế hoạch cho việc chủ động công khai thông tin minh bạch, chính thống về vấn đề được đề cập.

Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM TRONG KỶ LUẬT PHÁT NGÔN

 


Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.


Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.


Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".


Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.


Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.


Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.


Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.


Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...


Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.


Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.


Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.

Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.


Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.


Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.


Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...


Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.


Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.


Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.


Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.


Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước./.


PHONG TRÀO THANH NIÊN TÌNH NGUYỆN CỦA TPHCM LÀ GAM MÀU ĐẦY SỨC SỐNG



Ngày 6-9, tại Hội trường Thống Nhất, Thành đoàn TPHCM tổ chức chương trình gặp gỡ và biểu dương các thế hệ chiến sĩ tình nguyện, gia đình nuôi tiêu biểu nhân kỷ niệm 30 năm các chương trình, chiến dịch tình nguyện hè của thanh niên TPHCM (1994 – 2023).


KẾT NỐI HÀNG TRIỆU TRÁI TIM


Tại chương trình gặp gỡ, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Nên thay mặt lãnh đạo TPHCM trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Trung ương Đoàn, lãnh đạo thành phố và các địa phương cùng những thế hệ chiến sĩ tình nguyện, những người đã khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích, đi đầu, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của tuổi trẻ.


Theo đồng chí Nguyễn Văn Nên, tuổi trẻ thành phố đã làm nên nhiều phong trào có sức lan toả sâu rộng không chỉ ở TPHCM mà còn ở nhiều địa phương khác. Hoạt động tình nguyện đã để lại rất nhiều kỷ niệm tốt đẹp, ấn tượng sâu đậm không thể nào quên.


Đồng chí cho biết đã đọc nhiều trang nhật ký, xem nhiều hình ảnh của các chiến sĩ tình nguyện thời đó và khi được lắng nghe những câu chuyện và gặp các chiến sĩ hôm nay, đồng chí như được tiếp thêm năng lượng để tiếp tục hành trình cống hiến của mình.


“Có thể nói, chương trình và chiến dịch tình nguyện bắt đầu từ ngày đầu đất nước ta thống nhất. Nổi bật là chặng đường 30 năm không ngừng phát triển và tràn đầy sức sống, đã kết nối hàng triệu trái tim, hiện thực hóa khát vọng của các tầng lớp thanh niên với tinh thần tình nguyện, xung kích, năng động, sáng tạo trong học tập, lao động. Khẳng định vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng, phát triển thành phố. Đặc biệt trong phòng chống dịch Covid-19 vừa qua, hình ảnh của lực lượng tuyến đầu, của các bạn trẻ rất rõ nét”, Bí thư Thành ủy TPHCM nhấn mạnh. Đồng thời khẳng định, từ môi trường này, chúng ta đã có nhiều lớp cán bộ trưởng thành, đã trở thành cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành của thành phố và cấp cao của Đảng, nhà nước.


Cũng theo đồng chí, rất nhiều bài học từ thực tiễn qua phong trào tình nguyện sẽ là hành trang quý báu cho hiện tại và tương lai của mỗi chiến sĩ tình nguyện.


Điểm lại các nghị quyết mà Bộ Chính trị, Quốc hội ban hành cho TPHCM, đồng chí Nguyễn Văn Nên nhấn mạnh, TPHCM đang đứng trước nhiều thời cơ và thuận lợi mới, Đảng, Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc khi cho TPHCM cơ chế thí điểm chính sách đặc thù vượt trội trên một số lĩnh vực. Đồng thời khẳng định Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TPHCM đã và đang hành động quyết liệt đưa nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, sớm tạo sự đột phá mới trong giai đoạn hiện nay; huy động sức mạnh tổng hợp, khai thác hiệu quả, thúc đẩy thành phố phát triển nhanh, bền vững.


“Lãnh đạo thành phố luôn đặt kỳ vọng, hoàn toàn tin tưởng tuổi trẻ thành phố sẽ tiếp nối vẻ vang của mình, tiếp nối tinh thần của các thế hệ đi trước, phát huy mạnh mẽ thành quả và trách nhiệm thời gian qua để xây dựng các hoạt động đoàn mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, sâu rộng hơn, để viết tiếp trang sử hào hùng của tuổi trẻ thành phố”, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Nên gửi gắm.


Đồng chí cũng mong muốn Chủ tịch nước tiếp tục truyền kinh nghiệm, trải nghiệm và cảm hứng để tuổi trẻ thành phố tiếp tục vững bước trong hành trình sắp tới của mình. Đồng thời tin tưởng các cấp ủy, chính quyền tiếp tục quan tâm, đồng hành để hỗ trợ các bạn đoàn viên, thanh niên, chiến sĩ tình nguyện hoạt động có hiệu quả, hoàn thành tốt sứ mệnh của mình trong thời gian tới.


THÀNH ĐOÀN - BIỂU TƯỢNG CỦA LỚP TRẺ SẴN SÀNG XUNG KÍCH, CỐNG HIẾN


Phát biểu tại chương trình, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bày tỏ vui mừng và cảm động khi được gặp lại các thế hệ thanh niên tình nguyện của TPHCM, các gia đình nuôi tiêu biểu, lãnh đạo Thành đoàn các thời kỳ…


Đồng chí cho biết, ngoài vai trò Chủ tịch nước, bản thân đồng chí được tham gia cuộc gặp gỡ với tư cách của một người trong cuộc, vừa là tác giả, đồng tác giả của các hoạt động thanh niên tình nguyện trong một thời gian dài.


Chủ tịch nước nhận xét, TPHCM là thành phố Anh hùng, có truyền thống cách mạng kiên cường, năng động và sáng tạo, là nơi khởi nguồn và hình thành đường lối đổi mới và là nơi khởi đi nhiều phong trào quần chúng có ý nghĩa.


“Trong bức tranh ấy, phong trào thanh niên tình nguyện của TPHCM nổi lên như một gam màu đầy sức sống”, Chủ tịch nước nhận xét.


Theo Chủ tịch nước, khi nhắc đến các phong trào thanh niên tình nguyện và trong tổng kết các chương trình, chiến dịch, chúng ta hay nói nhiều về các con số. Song, Chủ tịch nước cho rằng vượt lên tất cả những con số là sự trưởng thành trong cách nghĩ, nếp sống, trong cảm nhận về thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, sự chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn và xác định thái độ trách nhiệm, cách hành xử của người trong cuộc về cuộc sống của mình.


Chủ tịch nước tin tưởng bản thân cũng như bất kỳ chiến sĩ tình nguyện nào cũng tự hào khi được các già làng, trưởng bản, người dân nơi mình đến đóng quân làm tình nguyện gọi bằng từ rất thân thương - “sinh viên, thanh niên Bác Hồ”.


Lý giải nguyên nhân phong trào tình nguyện của tuổi trẻ TPHCM có sức sống mạnh mẽ, theo Chủ tịch nước, trước hết là sự trăn trở, sự sáng tạo của một thế hệ cán bộ đoàn thời kỳ đổi mới. Điều này đã giúp các bạn luôn tìm tòi, phát triển các ý tưởng mới. Đó còn là sự tin tưởng giao việc và động viên kịp thời của lãnh đạo thành phố; là sự hưởng ứng, chăm lo của nhân dân trên các địa bàn.


Dành nhiều thời gian phân tích những kết quả của đất nước trên tất cả các lĩnh vực cũng như mục tiêu phấn đấu của Việt Nam trên trường quốc tế, Chủ tịch nước gửi gắm nhiều kỳ vọng vào thế hệ thanh niên, trong đó có thanh niên thành phố Bác.


Chủ tịch nước cũng chỉ ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới mà Đảng, nhà nước đặt ra cho thành phố. Theo Chủ tịch nước, yêu cầu này cũng đặt ra câu hỏi rất quan trọng, đó là tuổi trẻ thành phố sẽ lựa chọn đóng góp như thế nào và bằng cách nào?. "Dù như thế nào thì vẫn cần một tinh thần dấn thân, tình nguyện của người trẻ. Tinh thần ấy luôn tươi mới trong mỗi con người, được tăng thêm sức mạnh từ sự hun đúc bởi nhiều thế hệ và sự quan tâm dìu dắt của lãnh đạo và nhân dân thành phố", Chủ tịch nước gợi mở.


Theo Chủ tịch nước, Thành đoàn TPHCM không chỉ là tên một tổ chức mà phải là biểu tượng của lớp trẻ sẵn sàng xung kích, cống hiến. Do đó, Chủ tịch nước mong muốn Thành đoàn TPHCM tiếp tục phát huy giá trị 30 năm thanh niên tình nguyện để góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của thành phố, tạo ra nhiều phong trào mới có thể nhân rộng ra cả nước. Chủ tịch nước cũng mong mỏi mỗi cán bộ Thành đoàn nói riêng và thanh niên thành phố nói chung sẽ phát huy truyền thống quý báu để lập thêm nhiều thành tích mới, đáp ứng kỳ vọng của Đảng, nhà nước, nhân dân đối với thành phố.


ĐỜI SỐNG CỦA DÂN QUAN TRỌNG HƠN

 


Năm 1951, hai nhà quay phim chiến sỹ miền Nam Nguyễn Thế Đoàn, Lê Minh Hiền được tham gia vào đoàn cán bộ miền Nam ra Việt Bắc.


 

Đoàn đã được Bác Hồ tiếp thân mật và tổ chức đón tiếp long trọng tại Văn phòng Chủ tịch nước. Riêng mấy anh em điện ảnh miền Namcòn được Bác mời đến trong một cuộc liên hoan lửa trại đầm ấm. Anh em đề nghị Bác cho phép “quay” một số cảnh làm việc, sinh hoạt của Bác, Bác đồng ý. Với chiếc máy quay phim “cổ lỗ sỹ” và một số mét phim ít ỏi, Lê Minh Hiền đã ghi được một số hình ảnh quý giá – cho đến ngày nay là vô giá - về Bác Hồ. 

 

Đồng chí Hiền và đồng chí Đoàn vẫn còn áy náy là Bác mặc quần áo giản dị quá, sợ mang về miền Nam chiếu lên, đồng bào có thể là quá xúc động hoặc là chê trách người quay phim. Đồng chí Đoàn bàn với đồng chí Hiền là đề nghị Bác mặc bộ ka ki đại cán, kiểu Tôn Trung Sơn, bộ độc nhất của Bác để quay “cho đẹp”. 

 

Tưởng Bác đồng ý, nào ngờ Bác nói: 

 

- Bác như thế đấy, có thế nào các chú cứ thế mà quay. 

 

“Thua” keo này, lại bày keo khác. Lâu lâu hai anh em lại “xin” Bác mặc bộ đại cán “cho”. Thấy các nghệ sỹ năn nỉ mãi, Bác cũng đành mặc “cho” đôi ba lần, những khi cần thiết…Tổ làm phim còn quay được một số cảnh Bác đánh máy chữ, trồng rau xanh, đi công tác lội suối, cưỡi ngựa. Anh em còn định xin quay một số cảnh nữa về đời sống hàng ngày của Bác. 

 

Bác nói: 

 

- Thôi! Đời sống của Bác lúc này không quan trọng bằng đời sống của nhân dân.

Theo 117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Ban Tuyên giáo TW, Nxb. CTQG - 2007)