Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Đặc thù nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và yêu cầu về cơ chế quản lý phù hợp.

  Trên cơ sở phân tích các đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bài viết chỉ ra những yêu cầu đặt ra với cơ chế quản lý khoa học lý luận chính trị, đề xuất cơ chế quản lý tài chính phù hợp, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ khoa học của Học viện trong thời gian tới.

1. Đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện đi đầu trong nghiên cứu khoa học, lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam và các chiến lược, chủ trương, định hướng phát triển đất nước qua các thời kỳ. Là trung tâm quốc gia về nghiên cứu lý luận chính trị, công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều điểm đặc thù so với các trung tâm nghiên cứu khoa học lớn (như: Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) hoặc cơ sở nghiên cứu khoa học khác của cả nước. Điều này được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

Một làđặc thù về chức năng, nhiệm vụ của Học viện (theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị)

Về chức năng: Học viện là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý. Đây là đặc thù mang tính bao trùm, riêng có của Học viện.

Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ chủ yếu trong nghiên cứu khoa học của Học viện là: (1) Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (2) Tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; (3) Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử phong trào cách mạng thế giới; (4) Nghiên cứu, xây dựng nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện; (5) Nghiên cứu, đề xuất, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch địch đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng Đảng và Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị.

Hai làđặc thù xét chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học

Hiện nay, việc tuyển chọn chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học được thực hiện thông qua 03 phương thức chủ yếu là: xét tuyển, đấu thầu hoặc giao trực tiếp. Tùy vào quy mô, tính chất, cấp độ của đề tài mà cơ quan quản lý lựa chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện một cách phù hợp, nhằm mục đích đạt kết quả cao nhất trong nghiên cứu. Việc tuyển chọn, xét tuyển, giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Đối với các nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia, việc tuyển chọn, xét tuyển, giao cá nhân, tổ chức thực hiện được thực hiện theo Thông tư số 08/2017/TT-BKHCN ngày 26-6-2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Trong nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, đặc biệt là một số ngành, chuyên ngành đặc thù, là thế mạnh của Học viện, như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Học viện là nơi tập trung nhiều chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành của cả nước. Do vậy, một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đỏi hỏi phải có phương thức xét chọn chủ nhiệm, tổ chức chủ trì thực hiện đặc thù. Để lựa chọn được các tổ chức có đủ năng lực, có uy tín cao thực hiện nhiệm vụ, các cá nhân có trình độ tốt, chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu làm chủ nhiệm, Học viện ưu tiên thực hiện phương thức giao trực tiếp hoặc chỉ định, hạn chế hình thức đấu thầu. Tuy nhiên, với hình thức giao trực tiếp hay chỉ định cá nhân làm chủ nhiệm, cần đặc biệt lưu ý đến năng lực, kinh nghiệm của cơ quan chủ trì, cá nhân làm chủ nhiệm để phân công đúng người, đúng việc, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của nhiệm vụ khoa học; tránh giao cho các tổ chức, cơ quan và cá nhân không đủ năng lực, kinh nghiệm trong triển khai thực hiện.

Ba là, đặc thù về phương thức quản lý khoa học

Đặc thù về phương thức quản lý khoa học xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của Học viện. Trong đó, có nhiều nội dung nghiên cứu do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp xem xét, quyết định liên quan trực tiếp đến nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất của chế độ chính trị XHCN ở nước ta và tiền đồ, vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, bên cạnh việc lan tỏa kết quả nghiên cứu trong xã hội, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng trong đời sống, thì một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, như: nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới, nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật... cần phương thức quản lý đặc biệt để bảo đảm tính mật của nhiều nội dung nghiên cứu.

Bốn là, đặc thù trong chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu

Khác với khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc triển khai chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, khoa học lý luận chính trị nói riêng luôn có độ trễ về thời gian trong đánh giá tác động của kết quả nghiên cứu đến các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nếu như trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu có tác động trong thời gian ngắn, thậm chí tác động ngay sau khi ứng dụng. Nhưng đối với kết quả nghiên cứu lý luận chính trị, sự tác động đến đời sống chính trị - xã hội cần một thời gian dài, thậm chí có những luận điểm phải mất 5-10 năm hoặc lâu hơn mới đánh giá được tác động. Do đó, trong quá trình tổ chức đánh giá, nghiệm thu, chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu, cần có một cơ chế đặc thù phù hợp.

Ở một khía cạnh khác, việc công bố các bài báo khoa học quốc tế (được xã hội hóa) của một số ngành khoa học lý luận chính trị, như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh... gặp rất nhiều khó khăn.

Năm là, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện vừa trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện

Trong thời gian qua, các nghiên cứu khoa học tiêu biểu của Học viện, như: Đề án Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Chương trình Nghiên cứu các luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, Đề án Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Những giải pháp thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, v.v. đã đóng góp quan trọng vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là: (i) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng các Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng và các nghị quyết Trung ương khóa XI, XII, XIII. (ii) Cung cấp các luận cứ khoa học, giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; nghiên cứu tổng kết Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. (iv) Bổ sung, hoàn thiện các chính sách phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo và đối ngoại. (v) Phân tích, đánh giá và lý giải những vấn đề nảy sinh trong quá trình đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống, từ đó đề xuất các kiến nghị về mặt chính sách đối với Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; đóng góp tích cực vào đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đổi mới công tác tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Sáu là, đặc thù trong quản lý tài chính về hoạt động nghiên cứu khoa học

Học viện là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, Học viện nhận được nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quan trọng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như: Chương trình nghiên cứu khoa học quốc gia KX.02/16-20: “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin - Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; tuyển chọn, biên dịch, xuất bản một số tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài... hoặc một số nhiệm vụ khoa học đột xuất, đòi hỏi kinh phí phát sinh ngoài dự toán ngân sách nhà nước hằng năm dành cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Học viện. Các nhiệm vụ đột xuất này cần triển khai ngay trong thời gian ngắn, song không thể sử dụng kinh phí hằng năm để thuê khoán các chuyên gia, nhà khoa học thực hiện các nội dung cụ thể của nhiệm vụ hoặc tổ chức các hoạt động hội thảo, tọa đàm nhằm thu thập ý kiến chuyên gia, đồng thời cũng không thể chờ đến năm kế tiếp để bổ sung kinh phí. Do vậy, đòi hỏi phải có cơ chế đặc thù trong việc bổ sung kinh phí cho những nhiệm vụ khoa học do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho Học viện để triển khai kịp thời, hiệu quả.

2. Những yêu cầu đặt ra đối với cơ chế tài chính phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện là đơn vị tài chính cấp 1. Các hoạt động quản lý tài chính của Học viện phải tuân theo các quy định pháp luật hiện hành về quản lý tài chính, như: Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, kiểm toán và các văn bản quy định khác của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, do những đặc thù trong nghiên cứu khoa học, Học viện cần một cơ chế đặc thù về tài chính, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Một là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu, làm sáng tỏ những giá trị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này, rất nhiều nội dung nghiên cứu không có tư liệu gốc, chủ yếu là tư liệu do Liên Xô dịch và xuất bản trước đây; song điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi khá nhiều so với thời kỳ các nhà kinh điển Mác - Lênin viết các tác phẩm đó. Để nghiên cứu được ý nghĩa, giá trị khoa học của các tác phẩm về chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cơ sở “nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới”(1), tất yếu cần có một lực lượng khoa học vừa am hiểu về các lĩnh vực khoa học, vừa có khả năng ngoại ngữ tốt... để góp phần làm rõ những quan điểm, tư tưởng còn nguyên giá trị, những quan điểm, tư tưởng đã bị thực tiễn vượt qua, những quan điểm, tư tưởng trước đây có thể chưa đúng...

Đây là nhiệm vụ lớn, khó khăn, đòi hỏi phải thực hiện trong thời gian dài, lực lượng tham gia phải có năng lực tốt, giàu kinh nghiệm và có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp... Do đó, kinh phí để chi trả, thuê khoán những chuyên gia, nhà khoa học không thể áp dụng như một nhiệm vụ khoa học thông thường mà phải có cơ chế hay quy định đặc thù. Có như vậy, Học viện mới huy động được đông đảo các nhà khoa học uy tín, có năng lực, các chuyên gia hàng đầu tham gia vào những nhiệm vụ trọng tâm của không chỉ của Học viện mà của Đảng, Nhà nước.

Hai là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trực tiếp cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, như: Nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam; Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật; Những giải pháp thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.... Những nhiệm vụ này yêu cầu rất cao về tính chính trị, tính khoa học của các sản phẩm nghiên cứu. Do đó, trong quá trình thực hiện, cần huy động được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, uyên bác trong một số lĩnh vực cụ thể, đồng thời bao quát được một số lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Để huy động được lực lượng chuyên gia này, đòi hỏi phải có mức chi kinh phí (thù lao) tương xứng, không nên áp dụng mức kinh phí thông thường.

Ba là, đối với các nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như chương trình sưu tầm, nghiên cứu tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, tiêu biểu. Do nhiều đồng chí lãnh đạo hoạt động bí mật trong thời kỳ đất nước bị thực dân, đế quốc xâm lược, tư liệu lưu trữ rất hiếm. Để hoàn thành các công trình này, các nhà khoa học cần nhiều thời gian, dày công nghiên cứu, kiên trì, tâm huyết với trách nhiệm cao để sưu tầm trong các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước; tư liệu nước ngoài; tư liệu lưu trữ thu được của chính quyền tay sai thực dân, đế quốc... Do đó, phải có nguồn kinh phí để chi trả cho cho các hoạt động này một các tương ứng, phù hợp.

Bốn là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu làm sáng tỏ những giá trị lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhiệm vụ này giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giá trị khoa học, giá trị lịch sử và ý nghĩa vô cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cụ thể: khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và dân tộc; làm rõ nguồn gốc tư tưởng - lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; làm rõ bản chất và những nội dung căn bản, cốt lõi nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ và khẳng định giá trị và sức sống lâu bền, bất diệt của tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp vận dụng những di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc vào thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Trong thời gian tới, để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Học viện cần huy động được đội ngũ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu am hiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này cũng có nghĩa là, cần xây dựng được nguồn kinh phí phù hợp để chi trả tương xứng cho công sức, trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu tham gia thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng các luận cứ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thời gian qua, Học viện đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao triển khai nhiệm vụ: “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật” với 10 đề tài nhánh. Bên cạnh đó, sau thành công của Cuộc thi viết chính luận khoa học: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện tổ chức, Ban Bí thư quyết định mở rộng quy mô tổ chức cấp toàn quốc và giao Học viện là cơ quan chủ trì, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương là cơ quan chỉ đạo tổ chức cuộc thi. Đây là nhiệm vụ lớn, thường xuyên, liên lục và lâu dài, đòi hỏi phải tập hợp được những nhà khoa học có năng lực, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời, cần có một nguồn kinh phí phù hợp và có cơ chế chi trả cho các hoạt động nghiên cứu một cách phù hợp.

Sáu là, đối với những hoạt động hợp tác nghiên cứu với các đảng cầm quyền, nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc hỗ trợ nghiên cứu tiểu sử Cayxỏn Phômvihản; tư tưởng Cayxỏn Phômvihản; biên dịch Hồ Chí Minh toàn tập sang tiếng Lào; nghiên cứu, tuyển chọn, xuất bản tuyển tập Hồ Chí Minh và biên dịch những tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang một số tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc) để giới thiệu ra thế giới... Đây là những nhiệm vụ lớn được thực hiện trong một thời gian dài bởi đội ngũ chuyên gia hàng đầu. Điều này đặt ra yêu cầu cần bố trí, chi trả kinh phí cho các chuyên gia một cách phù hợp, để phát huy được sức mạnh trí tuệ của các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu.

Bảy là, giảm tải các thủ tục hành chính trong quản lý, thanh quyết toán tài chính của các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học để phù hợp với đặc thù của các hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện và các quy định pháp luật hiện hành.

Công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều đặc thù so với các trung tâm, cơ sở nghiên cứu khác. Xuất phát từ những đặc thù riêng đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện cần có cơ chế, chính sách riêng trong quản lý, nhất là cơ chế quản lý tài chính, nguồn lực phù hợp, để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 543 (tháng 5-2023)

Ngày nhận bài: 27-4-2023; Ngày bình duyệt: 14-5-2023; Ngày duyệt đăng: 22-5-2023.

 

(1) Ban Bí thư: Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09-2-2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, Hà Nội, 2018, tr.3.


PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

     Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn; kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào râu ông nọ cắm cằm bà kia, ghép nước với lửa, hai củ khoai bỏ trong một rọ... Họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tức là, có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: gia tăng tình trạng tham nhũng; bội chi ngân sách; cạnh tranh gay gắt, “cá lớn nuốt cá bé”; mâu thuẫn tổng cung và tổng cầu; gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản; gia tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát; bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; tài nguyên bị cạn kiệt; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng… Những hạn chế cố hữu này, bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự định hướng và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và lực lượng vật chất Nhà nước có trong tay để định hướng, điều tiết nền kinh tế. Do vậy, khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên. Đồng thời, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhân lên tính nhân văn, nhân đạo, ưu việt, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác./.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người.

 Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (tháng 6-1993) khẳng định tính phổ quát của nhân quyền, nhưng luôn tôn trọng tính đặc thù về dân tộc, khu vực. Hiện nay, dựa vào những thành tựu hành động trong 30 năm qua, cần phải vượt qua những thách thức để tăng cường hợp tác và tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia theo hướng ưu tiên thực thi các điều ước quốc tế và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm tiếp tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Việt Nam tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người - Ảnh: VNP

1. Nội dung, ý nghĩa của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (Vienna Declaration and Programme of Action -VDPA) được thông qua dựa trên sự đồng thuận của đại diện 171 quốc gia tại Hội nghị thế giới lần hai về nhân quyền ngày 25-6 -1993 tại Viên (Áo). Trong Lời mở đầu, Tuyên bố khẳng định: Việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người (hay nhân quyền) là một vấn đề ưu tiên đối với cộng đồng quốc tế; hội nghị này là cơ hội đặc biệt để tiến hành phân tích toàn diện cơ chế và bộ máy quốc tế bảo vệ quyền con người, nhằm nâng cao và thúc đẩy việc tuân thủ đầy đủ hơn các quyền một cách thực sự và tương xứng với tầm quan trọng của chúng. 

Thứ nhất, những nội dung cốt lõi của Tuyên bố

a) Tính phổ quát của nhân quyền, mặc dù phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực: Lời mở đầu nhấn mạnh rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), cần phải đạt được chuẩn mực chung đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia và là cơ sở để Liên hợp quốc thúc đẩy việc xây dựng các quy chuẩn trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, nhất là trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966). Trong khi phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, đều phải có nghĩa vụ thúc đẩy, bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người.

b) Nhân quyền không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau: Tuyên bố nhấn mạnh rằng tất cả các quyền con người là bình đẳng về tầm quan trọng và phải theo đuổi mục tiêu chấm dứt sự chia cắt định lượng giữa các quyền dân sự - chính trị và các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa đã được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

c) Đói nghèo và quyền con người: Tuyên bố chỉ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa đói nghèo và tôn trọng nhân quyền. Nạn nghèo đói cùng cực và việc bị gạt ra ngoài lề của xã hội cấu thành sự vi phạm nhân phẩm con người. Điều cốt yếu đối với các quốc gia là khuyến khích sự tham gia của những người nghèo nhất vào quá trình hoạch định chính sách ở cộng đồng nơi họ sống và nỗ lực đấu tranh chống nạn nghèo đói cùng cực.

d) Dân chủ, phát triển và nhân quyền: Phần I, Điều 8 Tuyên bố khẳng định dân chủ, sự phát triển và việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người phụ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau. Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí được bày tỏ một cách tự do của nhân dân khi lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cho nước mình, dựa trên sự tham gia đầy đủ của nhân dân vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

đ) Quyền phát triển: Các quốc gia cần hợp tác với nhau trong việc bảo đảm sự phát triển và xóa bỏ những trở ngại cho sự phát triển. Để bảo đảm sự tiến bộ bền vững đòi hỏi phải có những chính sách phát triển có hiệu quả ở cấp độ quốc gia, cũng như những quan hệ kinh tế công bằng và một môi trường kinh tế thuận lợi ở cấp độ quốc tế trong việc thực hiện quyền được phát triển.

e) Thách thức đối với nhân quyền: Đó là việc thải trái phép các chất độc hại, nguy hiểm và rác thải là mối đe dọa nghiêm trọng, tiềm tàng đối với quyền được sống và quyền về sức khỏe của tất cả mọi người; hay một số thành tựu khoa học, nhất là trong y sinh và nhân sinh cũng như trong công nghệ thông tin có thể gây tác động tiêu cực đối với tính chính trực, nhân phẩm, các quyền con người. Các hành động, biện pháp và âm mưu khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó, cũng như mối liên hệ của nó với hoạt động buôn lậu ma túy ở một số nước là nhằm phá hoại các quyền và tự do cơ bản của con người, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia, làm mất ổn định các chính phủ hợp pháp. Từ đó, Tuyên bố kêu gọi cộng đồng quốc tế cần tiến hành các bước cần thiết để tăng cường sự hợp tác nhằm ngăn chặn và chống các thách thức này.  

Thứ hai, về ý nghĩa của Tuyên bố

Việc thông qua Tuyên bố cho phép làm mới lại cam kết của cộng đồng quốc tế sau Chiến tranh Lạnh để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người; vạch ra một tầm nhìn mới cho hành động toàn cầu ủng hộ nhân quyền trong thế kỷ tiếp theo. Qua đó, Tuyên bố cung cấp cho cộng đồng quốc tế một khuôn khổ lập kế hoạch, đối thoại và hợp tác mới toàn diện để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người với sự tham gia của các bên liên quan ở tất cả các cấp độ quốc tế, quốc gia và địa phương. Tuyên bố là cơ sở để thành lập Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền theo Nghị quyết 48/121 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (tháng 12-1993).  

2. Ba mươi năm hành động vì quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam

Dựa vào Tuyên bố, từ năm 1993 đến nay, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền đưa ra ý kiến độc lập và có thẩm quyền đối với các vấn đề về quyền con người trên thế giới; sẵn sàng can thiệp trong các tình huống khủng hoảng, hỗ trợ bảo vệ các quyền con người và giúp người dân tiến lại gần hơn với các quyền con người. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giám sát và đào tạo, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền phối hợp với các định chế quốc tế, khu vực và các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã góp phần tích cực vào các cải cách luật pháp và chính sách để thúc đẩy nhân quyền.

Các thành tựu cơ bản có thể kể, như: các quyền con người là thiết yếu để duy trì một thế giới hòa bình, an ninh và phát triển; các tiêu chuẩn mới về quyền con người được dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và việc áp dụng phổ quát các công cụ quốc tế về quyền con người đã được cải thiện đáng kể; các hình thức bảo vệ khác được luật quốc tế quy định hiện nay mở rộng ra đối với trẻ em, phụ nữ, nạn nhân bị tra tấn, người khuyết tật và các tổ chức khu vực. Trong trường hợp xảy ra vi phạm, các cá nhân có quyền khiếu nại đến các cơ quan được thành lập theo văn kiện quốc tế về nhân quyền; một khuôn khổ quốc tế được triển khai, như công nhận những khó khăn mà những người di cư và gia đình của họ, cũng như những người dân tại chỗ và dân tộc thiểu số phải đối mặt, đặc biệt là bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử;...

Với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển, Việt Nam đã tăng cường đối thoại, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu mà Tuyên bố và Chương trình hành động Viên đề ra, trên cơ sở đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Việc Việt Nam liên tiếp trúng cử Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2001-2003 và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025 với số phiếu cao chính là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với các thành tựu trong công cuộc đổi mới toàn diện nói chung, chính sách, nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về nhân quyền, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng.

Phương châm của Việt Nam trong 30 năm thực hiện Tuyên bố cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền là: “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”(1).

Với những đóng góp vào Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền, nên mới đây, khi chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam đã cho đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam thể hiện những nỗ lực cụ thể trong việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người(2). Thông qua việc thực hiện Tuyên bố này và các điều ước quốc tế khác về nhân quyền, Việt Nam đã đúc kết một số kinh nghiệm về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người: 

Thứ nhất, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người. Đó là mối quan hệ đúng đắn giữa dân chủ, phát triển và nhân quyền, xóa đói giảm nghèo bền vững, phát triển bao trùm để không bỏ lại ai ở phía sau, theo phương châm: Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác nhằm bảo đảm tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người.

Thứ hai, đa dạng hóa các cơ chế để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền con người, nhất là quyền của các nhóm yếu thế, gồm: (a) Cơ chế mang tính nhà nước: nghị viện, hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và tư pháp; (b) Cơ chế  mang tính xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,... (c) Cơ chế thông qua gia đình và các thiết chế tự quản (hương ước, luật tục,...) để bảo đảm nhân quyền trong đời sống hằng ngày;...

Thứ ba, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và tôn trọng, hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Trong quá trình đó, cần tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; và ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước thành viên.

3. Tăng cường hợp tác và tôn trọng khác biệt để thúc đẩy quyền con người

Hiện nay, những thành tựu của cộng đồng quốc tế và Việt Nam trong việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng và các điều ước quốc tế về nhân quyền nói chung, đang vấp phải những thách thức rất gay gắt như: chiến tranh, xung đột, bạo lực, đói nghèo, bất bình đẳng và thiếu công bằng, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, các nguy cơ về an ninh lương thực, an ninh nguồn nước hay những hệ quả của đại dịch Covid -19, suy thoái kinh tế toàn cầu,...

Trước những thách thức trên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã bày tỏ lo ngại về tình trạng suy giảm của gắn kết và lòng tin xã hội; từ đó ông đề nghị cộng đồng quốc tế quan tâm hơn nữa đến bảo đảm quyền con người trong bối cảnh tác động của các vấn đề toàn cầu như di cư, biến đổi khí hậu, lạm dụng công nghệ, nạn tin giả,... Cao ủy Nhân quyền thì kêu gọi các nước giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác đa khu vực và đoàn kết để xử lý những thách thức hiện nay(3).

Để đẩy mạnh thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người khác, Việt Nam đưa ra sáng kiến về việc Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nhằm khẳng định lại những mục tiêu và giá trị to lớn, bao trùm của các tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế vì toàn thể nhân loại(4). Để thực thi sáng kiến này, Việt Nam đã và đang triển khai một số phương hướng sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế và ưu tiên thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia

Từ kinh nghiệm của mình, cùng với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm chung về quyền con người, được thể hiện trên hai vấn đề: Tầm quan trọng không gì thay thế của nhân quyền đối với mỗi người, mỗi quốc gia - dân tộc, cộng đồng quốc tế và những giá trị phổ quát của quyền con người. Chính vì thế, phải tăng cường hợp tác trong tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người để có thể kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo của mỗi quốc gia và khu vực. Trong hợp tác quốc tế về quyền con người, xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, để gìn giữ quan hệ tương tác thường xuyên và lợi ích đan xen trong một thế giới ngày càng đa dạng; trong đó không một nước nào có quyền áp đặt cách tiếp cận quyền con người theo mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác.

Khi tham gia thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam chủ động thực hiện những nghĩa vụ của một quốc gia thành viên của điều ước, kể cả cơ chế giám sát do điều ước quy định. Việt Nam hiện đã tham gia 08 công ước và 02 nghị định thư về quyền con người; đã và đang nội luật hóa nội dung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập vào quá trình xây dựng, thực thi các văn bản pháp luật trong nước.

Để nội luật hóa, một mặt, phải tuân thủ, tôn trọng các nguyên tắc, chuẩn mực, thực hiện các cam kết quốc tế; mặt khác, cần xây dựng các quy phạm pháp luật bảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước. Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Khoản 1, Điều 6 quy định: Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp(5). Qua đó cho thấy, Việt Nam luôn tôn trọng và dành vị trí ưu tiên của các điều ước quốc tế về quyền con người mà mình đã ký kết trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Hai là, tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt của nhau và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới

Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, dẫn đến cách tiếp cận về quyền con người ở mỗi quốc gia, khu vực có sự khác nhau, vì vậy, cần có sự tôn trọng, hiểu biết và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới. Chẳng hạn:

Các nước phương Tây, chủ yếu là nhóm G7 và các nước thuộc khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ, đều thừa nhận tất cả các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền các nhóm xã hội (quyền tập thể), nhưng họ thường theo đuổi việc chia cắt các quyền dân sự, chính trị với các nhóm quyền khác. Đối với Việt Nam và các nước đang phát triển khác, quan điểm nhất quán là tiếp cận một cách toàn diện, bình đẳng tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tập thể trong một tổng thể hài hòa không xem nhẹ hay đề cao bất cứ quyền nào, đúng như sự nhấn mạnh của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về tính bình đẳng, không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau của tất cả các quyền con người.

Đối với quyền dân tộc tự quyết, các nước đều thừa nhận nội dung đã quy định trong Điều 1 của hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Việt Nam chủ trương bảo vệ quyền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị thống nhất với bảo đảm quyền của tất cả người dân và của các nhóm (cộng đồng) xã hội; trong đó có các cộng đồng dân tộc thiểu số và tôn giáo. Do đó, không thể tách rời việc bảo đảm quyền của người dân và của các cộng đồng xã hội với quyền dân tộc tự quyết, hay ngược lại.

Về quan hệ giữa tự do cá nhân với việc bảo vệ cộng đồng, các nước phương Tây cho rằng, trong vấn đề quyền con người thì chủ quyền quốc gia là một chủ quyền hạn chế; thậm chí có quan điểm tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân đến mức cao hơn hoặc đối lập với quyền của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Về vấn đề này, Việt Nam chủ trương, quyền gắn liền với nghĩa vụ; quyền và nghĩa vụ cá nhân phải gắn liền và nằm trong quyền, nghĩa vụ của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa quyền cá nhân với quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc thì quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc được đề cao hơn.

Về tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ký kết các Điều ước quốc tế về quyền con người: Chẳng hạn đối với Việt Nam, trong nhiều năm qua, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước ở phương Tây, các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài... thông qua việc ra bản báo cáo phúc trình hằng năm về nhân quyền, thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam. Trong trường hợp có sự phản biện, phê phán như vậy, cơ quan giám sát của các điều ước quốc tế cần có sự tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ một cách khách quan quyền, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên với tư cách là chủ thể ký kết các điều ước này. 

Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người

Thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền như: quyền thoát nghèo; quyền về sinh kế, việc làm, thu nhập; quyền sở hữu; quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe; quyền được học tập, giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, trước hết là của các nhóm yếu thế trong xã hội.

Khuyến khích đa dạng hóa nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên các diễn đàn quốc tế.

Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thực hiện các chính sách, pháp luật về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác để nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận, từng bước thu hẹp bất đồng và sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm, lập trường, pháp luật, lợi ích quốc gia - dân tộc về quyền con người của Việt Nam.

Phối hợp với các nước thành viên, tiếp tục thực hiện hiệu quả việc lồng ghép giới trong chiến lược về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, phù hợp với mục tiêu cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, trong khuôn khổ “Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu” theo Quyết định số 888/2022/QĐ-TTg, ngày 25-7-2022 của Thủ tướng Chính phủ. Các phương hướng cụ thể gồm:

(1) Vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu được thể chế trong Hiến pháp năm 2013 là tối thượng; trong văn bản pháp luật nếu chưa có quy định hoặc quy định chưa phù hợp với pháp luật quốc tế thì ưu tiên bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với pháp luật quốc tế.

(2) Xác định nội dung vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế và thực hiện hợp tác với các nước thành viên Hội đồng Nhân quyền về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm: (a) Tăng cường nhận thức của các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ; (b) Xây dựng, thực hiện thể chế trên cơ sở cách tiếp cận giới; (c) Bảo đảm nguồn lực thích đáng; (d) Bảo đảm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa có tính đổi mới và cầu thị.

(3) Thực hiện việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua: (a) Đẩy mạnh chuyển đổi các chuẩn mực văn hóa - xã hội truyền thống sang hướng bình đẳng giới và bao trùm, chẳng hạn tuyên truyền  và thực hiện lồng ghép bình đẳng giới vào các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương và địa phương. (b) Quyền tham chính bình đẳng của nữ giới cần được đưa vào tất cả các lĩnh vực, giai đoạn của chính sách cùng với việc xúc tiến xây dựng đạo luật thúc đẩy biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu về giới và sức khỏe. (c) Xây dựng, thực hiện cơ chế giải trình để bảo đảm thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu tại các cơ quan, tổ chức trong việc thúc đẩy thực hiện đại diện của phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý; có giải pháp đột phá khi hoạt động của cơ chế này chưa hiệu quả. (d) Cần xem xét một cách nghiêm túc các chính sách, biện pháp thực hiện trên thực tế đối với Luật Bình đẳng giới, đặc biệt là về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng lý luận chính trị, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ.

(4) Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam với các đối tác quốc tế và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trước hết là các nước thành viên thuộc Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, về nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thúc đẩy, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ khi ứng phó với biến đổi khí hậu.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 13-3-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

 

(1) Tố Uyên - Văn Tuấn: Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang phát biểu tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://www.vietnamplus.vn/, ngày 27-2-2023.

(2) PV: Khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/, ngày 13-12-2022.

(3), (4) Hải Minh: Phương châm tham gia Hội đồng Nhân quyền của Việt Nam, https://baochinhphu.vn/,

ngày 27-2-2023.

(5) Xem: Luật Điều ước quốc tế năm 2016, https://thuvienphapluat.vn/

TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG

 Thành tựu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua đã khẳng định sự đúng đắn, nhất quán trong chủ trương, quan điểm của Đảng, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiếp tục kiên định, kiên trì nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Có thể thấy thời gian qua, với việc tiếp tục thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm”. Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”. Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.
Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.
Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn.
Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm”; “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.
Bên cạnh đó, để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất.
Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 Báo chí là vũ khí sắc bén của Đảng, có đóng góp tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm qua, “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(1). Bài viết làm rõ những đóng góp của các cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

 

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Họp Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ ba năm 2022-2023 - Ảnh: baodantoc.vn

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc chiến đấu khổng lồ, là việc làm có ý nghĩa sống còn, “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”(2), trong đó, sự tham gia của báo chí có vị trí quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.

1. Tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là trách nhiệm của báo chí và người làm báo

Theo thống kê, đến nay, cả nước có gần 800 cơ quan báo chí, truyền thông, với trên 40 nghìn người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, trong đó có trên 20 nghìn người được cấp thẻ nhà báo(3).

Vai trò của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Điều 75 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí và nhà báo trong việc phòng, chống tham nhũng như sau: “1. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.

2. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng”.

Ngoài ra, Điều 13, 14 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 còn quy định cụ thể về việc họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; quyền yêu cầu cung cấp thông tin...

Những năm qua, báo chí đã cung cấp một lượng lớn thông tin về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên tất cả các loại hình báo chí, từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình... Nhiều bài phóng sự điều tra sau khi đăng tải, phát sóng đã tạo được tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao. Các tuyến bài về chủ đề này đi sâu phân tích, nêu bài học kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo tham nhũng đã tạo những góc nhìn đa chiều về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Báo chí đặt ra và trả lời nhiều câu hỏi lớn mà dư luận quan tâm, như: nguyên nhân tham nhũng, tiêu cực; hậu quả; giải pháp phòng, chống..., từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

2. Báo chí tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Công tác thông tin tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật cũng như việc tuân thủ pháp luật.

Hiện nay, báo chí có nhiều hình thức, cách thức tham gia công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng: (1) xuất bản các tác phẩm báo chí về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (2) đưa tin về những vụ việc tham nhũng, tiêu cực; (3) xuất bản các báo lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (4) sản xuất, phát hành những phim ảnh có nội dung về phòng, chống tham nhũng; (5) đưa các thông tin về hội thảo khoa học, tọa đàm của các chuyên gia, nhà quản lý về công tác phòng, chống tham nhũng; 6) mở các chuyên mục giáo dục và đào tạo về phòng, chống tham nhũng trên báo chí, các cuộc thi tìm hiểu nội dung về phòng, chống tham nhũng; (7) đưa tin về xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật trong việc phòng, chống tham nhũng...

Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; các nội dung về xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tuyên truyền các nội dung liên quan đến việc hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Tuyên truyền các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý...

Qua đó, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử; vai trò của Mặt trận Tổ quốc, của nhân dân và báo chí, truyền thông trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được phát huy tốt hơn”(4)...

Như vậy, báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, phản ánh những ý kiến, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi những bất cập về chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Tất cả những phương thức, cách làm đó của báo chí là nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí”(5).

3. Báo chí, truyền thông tham gia phát hiện các vụ tham nhũng, tiêu cực

Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện quy chế, chương trình phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về nội chính và phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan: Ban Nội chính Trung ương, Báo Nhân Dân, Ðài Truyền hình Việt Nam, Ðài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam được tổ chức vào cuối năm 2021, đồng chí Phan Ðình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nêu rõ: trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã có những bước đột phá rất quan trọng nhờ sự hoạt động tích cực của các báo nói chung cũng như sự phối hợp của các cơ quan báo chí nói riêng. Các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt vai trò xung kích, đi đầu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi của đất nước và nhân dân; là tai mắt của Ðảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Các cơ quan báo chí đã đồng hành cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức, cách làm, trong đó đáng chú ý là: báo chí phát hiện nhiều vụ việc liên quan đến tham nhũng, sau khi nghiên cứu, thu thập thông tin, điều tra kỹ lưỡng, các cơ quan báo chí, truyền thông đưa tin, sau đó các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc.

Bằng biện pháp nghiệp vụ báo chí, các cơ quan báo chí sử dụng nhiều kênh thông tin để phát hiện những vụ việc tham nhũng, tiêu cực như: thông tin từ bạn đọc gửi đến các phóng viên, cơ quan báo chí; tiếp nhận những thông tin, phản ánh, tố giác của người dân; cơ quan báo chí điều tra, xác minh, chuyển các chứng cứ đến cơ quan công luận cũng như cơ quan tư pháp. Các cơ quan báo chí đã thực hiện các biện pháp điều tra đặc thù của nghiệp vụ báo chí phát hiện những dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.

4. Báo chí tham gia giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Đánh giá vai trò của báo chí trong giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(6).

Cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phối hợp với các cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; do đó, khi đưa tin, các cơ quan báo chí luôn bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan cũng như thể hiện rõ trách nhiệm về những nội dung thông tin mà mình đã công bố. Báo chí cũng đã thể hiện rõ vai trò của mình trong việc tạo áp lực, tạo dư luận để các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ từ điều tra, thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy tố cũng như xét xử những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Báo chí đã góp phần vào thực hiện nghiêm phương châm chỉ đạo: không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Báo chí, truyền thông đã phản ánh khách quan, đa chiều, công bằng về những vụ việc liên quan đến tham nhũng, thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” như Bác Hồ đã dạy”(7).

Để biểu dương, tôn vinh và khuyến khích, động viên các nhà báo, các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức nhiều giải báo chí phòng, chống tham nhũng, như Giải báo chí toàn quốc “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, được tổ chức từ năm 2017 do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức. Đến nay, đã tổ chức thành công 3 mùa giải, mỗi mùa giải, đều có trên 2.000 tác phẩm tham dự. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt và trách nhiệm của nhà báo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

5. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của báo chí trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý đối với báo chí trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí”(8). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Các cơ quan truyền thông cần đăng tin, bài định hướng đúng đắn dư luận xã hội để thấy rõ những kết quả tích cực của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như những hạn chế, yếu kém, những khó khăn, phức tạp; khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủ động cung cấp một cách kịp thời, đúng pháp luật cho các cơ quan báo chí những thông tin có liên quan đến tham nhũng”(9).

Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Đồng thời, kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội”(10).

Thứ hai, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”(11). Báo chí khi thông tin cần phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thật, phản ánh đúng bản chất vấn đề. Khen ngợi, biểu dương cần đúng mực, không tô hồng, hoặc khi lên án, phê phán cũng không bôi đen.

Thứ ba, tiếp tục phát huy, cổ vũ, lan tỏa những mặt tích cực của báo chí, truyền thông trong đưa tin, bài về tham nhũng. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “tăng cường thông tin, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, hành vi tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”(12).

Báo chí cần thực hiện tốt các nhiệm vụ: “chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt”(13). “Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(14).

Thực tế chứng minh “phòng, chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”(15).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh”(16). Báo chí có nhiệm vụ quan trọng là phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực, các kinh nghiệm tốt, tạo đồng thuận và niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, tạo thành sức mạnh tinh thần để Việt Nam bứt phá vươn lên thành nước phát triển, thực hiện “Đôi cánh cho Việt Nam bay lên thì một bên là sức mạnh tinh thần, một bên là sức mạnh vật chất dựa trên công nghệ”.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023) 

Ngày nhận bài: 31-5-2023; Ngày bình duyệt: 17-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1), (2), (4), (5), (6), (7), (9), (12), (15) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 33, 13, 33, 21, 33, 40, 61, 50, 16.

(3) Báo cáo công tác báo chí năm 2020 và đánh giá khái quát giai đoạn 2016-2020, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021, Tài liệu Hội Nhà báo Việt Nam.

(3) Thống kê internet Việt Nam 2020, https://vnetwork.vn/, ngày 19-2-2020.

(8), (10), (11), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.234, 234, 234, 142.

(14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, Sđd, tr.146.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.465.

“KHÔNG QUÂN ĐỘI NÀO, KHÔNG KHÍ GIỚI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH NGÃ ĐƯỢC TINH THẦN HY SINH CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN TỘC”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29 tháng 10 năm 1945.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Cam-pu-chia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.



Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sỹ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.


QĐND