Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “VỊ THẾ CÔNG BỘC” CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo
Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”; như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”.Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.
Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác và chính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”, điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân” và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”,...
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”. Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”. Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.
Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân. Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”, tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”; rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.
Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm” là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”; mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.
Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.
Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”, dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy.
Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.
Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
Một số vấn đề đặt ra:
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...
Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể,... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.
Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay
Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.
Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.
Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản

KIÊN TRÌ CHỐNG LẠI TUỔI GIÀ VÀ BỆNH TẬT


Sang đến năm 1967, Bác Hồ của tất cả chúng ta đã già và yếu đi nhiều. Nhưng ngày ba bữa, Bác vẫn tự mình từ nhà sàn, đi bộ đến nhà ăn. Một phần, không muốn phiền đồng đội Giao hàng, phần nữa, Bác muốn đặt ra cho mình một kỷ luật, buộc mình phải hoạt động, rèn luyện, chống lại suy yếu của tuổi già.
Các chiến sỹ ship hàng Bác rất áy náy. Phần thương Bác khó khăn vất vả, ngày nắng, còn ngày mưa ; phần lo Bác già yếu, chẳng may vấp ngã, nếu có chuyện gì thì ảnh hưởng tác động lớn đến việc làm của quốc gia và của Đảng.
Ngày đó, con đường quanh ao cá chưa được tôn tạo như lúc bấy giờ. Sau những trận mưa to, đường đi còn ngập nước. Nhưng đến giờ ăn, dù đang còn mưa, Bác vẫn xắn quần quá đầu gối, cầm ô, cùng chiến sỹ bảo vệ, lội nước đi sang nhà ăn. Nhìn ống chân Bác gầy gò, nổi gân xanh, đồng đội thương Bác, trào nước mắt, nhưng không sao thuyết phục được Bác được cho phép dọn cơm bên nhà sàn. Bác nói: Các chú muốn chỉ một người khó khăn vất vả hay muốn cho nhiều người cũng phải khó khăn vất vả vì Bác.
Có hôm, buổi sớm, Bác vào thay quần áo xong, đến bữa, gặp trời mưa, Bác không muốn những chiến sỹ ship hàng phải giặt nhiều, Bác cởi quần dài, gập lại, cắp nách, sang đến nơi mới mặc vào. Bác coi mình cũng chỉ là một người Giao hàng và xem những chiến sỹ ship hàng cũng như mình nên không muốn làm phiền ai.
Tuy vậy, những chiến sỹ ship hàng Bác vẫn nỗ lực tìm mọi cách để hoàn toàn có thể đổi khác tình hình ấy.
Một hôm, Bác cho gọi chị Trần Thị Lý, người con gái miền Nam vào ăn cơm với Bác. Bác mời vào ngày Chủ nhật, nhưng hôm đó chiến sỹ Lý lại đi vắng thành ra hôm sau (3-7-1967) chị mới vào được. Hôm đó, trời mưa rất to. Đồng chí Vũ Kỳ cho dọn cơm ngay bên dưới nhà sàn để Bác ăn cùng chị Lý. Thương chị Lý thương tật, đau yếu, đường mưa trơn, đi lại khó khăn vất vả, lần tiên phong, bữa đó Bác Hồ đồng ý chấp thuận ở lại ăn cơm dưới nhà sàn.
Hôm sau, những chiến sỹ ship hàng lại dọn cơm dưới nhà sàn, mời Bác ăn, coi như đã có một tiền lệ và không thỉnh thị Bác. Nhưng Bác đã cho gọi chiến sỹ Vũ Kỳ đến và phê bình:
Các chú muốn để Bác hư thân đi có phải không?
Ý Bác đã rõ ràng. Bác muốn mỗi ngày ba bận, mỗi bữa ăn, đi vòng quanh hồ một lần, như một kỷ luật bắt buộc phải rèn luyện so với mình.
Tuổi già, cũng như trẻ thơ, đều muốn được chiều chuộng. Bác biết: Nếu dễ dãi với mình và để cho người khác dễ dãi với mình, từ từ sẽ hư thân đi.
Không ai sinh ra đã thành lãnh tụ. Muốn trở thành vĩ nhân, phải có chí rèn luyện. Làm quản trị nước rồi, trở thành lãnh tụ kính yêu của cả giai cấp và dân tộc bản địa rồi, Bác Hồ vẫn không ngừng rèn luyện. Vì vậy, ở vị trí càng cao, càng nổi tiếng, tinh hoa, phẩm chất, đạo đức của Bác càng sáng, càng trong.
Ý nghĩa câu chuyện:
Câu chuyện nói lên ý chí nghị lực vượt khó khác thường của Bác Hồ, dù ở tuổi cao sức yếu nhưng người vẫn kiên trì rèn luyện chống lại tuổi già và bệnh để có sức khỏe thể chất tốt ship hàng cách mạng, ship hàng tổ quốc, ship hàng nhân dân lâu hơn thế nữa và nhiều hơn thế nữa.
Bài học kinh nghiệm:
Phải có lối sống đơn giản và giản dị, thân thiện dễ thông cảm, luôn chăm sóc đến mọi người, luôn “ Vì mọi người ” không muốn mọi người vì mình, việc gì làm được thì hãy tự làm không nên phiền hà đến người khác. Trong đời sống luôn tôn trọng và chăm sóc đến mọi người, yêu thương con người, đó là đức tính đáng quý chị em phụ nữ cần phải học tập ở Bác.
Sức khỏe là gia tài quý giá nhất của mỗi con người tất cả chúng ta ai cũng mong ước có sức khỏe thể chất tốt. Vì vậy mỗi tất cả chúng ta cần siêng năng rèn luyện thể dục thể thao để có sức khỏe thể chất tốt, tích cực tham gia học tập, lao động, sản xuất đem lại quyền lợi cho bản thân, mái ấm gia đình và xã hội./.
ST

Nhận dạng nội dung của các loại tài liệu ngoài luồng phát tán

Thời gian qua, các loại tài liệu ngoài luồng phát tán tiếp tục gia tăng. Nội dung tập trung chủ yếu vào một số vấn đề sau:

- Bài xích, phủ định chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định CNXH ở Việt Nam; phủ định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như phủ định thành quả gần 20 năm đổi mới.

- Truyền bá các học thuyết, các quan điểm tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng; tuyên truyền cho "sự ưu việt" của CNTB, tập trung tuyên truyền cho cái gọi là giá trị "tự do", "dân chủ', "nhân quyền" của CNTB; truyền bá lối sống thực dụng của CNTB...).

- Tiến hành các hoạt động tuyên truyền phá hoại nội bộ các cơ quan dân chính Đảng, cơ quan an ninh, quốc phòng ở Hà Nội như khuyếch trương, thổi phồng các khó khăn về kinh tế để bài xích, đả kích đường lối kinh tế của Đảng ta; lợi dụng vấn đề đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng để nói xấu Đảng; tán phát các tài liệu bịa đặt, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp gây chia rẽ nội bộ, gây hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nhân các sự kiện chính trị trong nước như họp Quốc hội, Đại hội Đảng... hoặc vào những thời điểm các cơ quan pháp luật bắt, xử lý các đối tượng chống đối, chúng tán phát các tài liệu gây chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi trong nội bộ Đảng và nhân dân, kêu gọi ủng hộ các đối tượng chống đối nhằm chĩa mũi nhọn về phía các cơ quan bảo vệ pháp luật của ta.

Bẻ cong bút, xuyên tạc lịch sử?

Trên diễn đàn lịch sử Việt Nam, xuất hiện một số tài khoản mạng xã hội Facebook của cá nhân với Chủ nghĩa xét lại và tìm cách bẻ cong ngòi bút xuyên tạc lịch sử của dân tộc. Chắc hẳn khi nhớ lại hiệp định Giơnevơ, những thế hệ cách mạng đến nay vẫn còn đau đáu nỗi đau khi đất nước bị chia làm hai miền. Một lần nữa gia đình dân tộc Việt Nam lại ly tán chia cắt. Tất cả những nỗi đau đó đều xuất phát từ lợi ích của những kẻ thực dân đế quốc gây ra.

Sự kiện năm 1975, Đây là một sự kiện mà cả thế giới đều chấn động. Tất cả những quốc gia nằm trong phong trào giải phóng dân tộc Xem Việt Nam như là một bức tượng đài vững chắc về sự nghiệp giải phóng nô lệ thực dân để thống nhất dân tộc. Ấy vậy mà, đến nay vẫn không ít kẻ xuyên tạc lịch sử, cho rằng hiệp định Giơnevơ đã bị chính quyền Việt Nam phản Hiệp Định. Và suy cho cùng, những kẻ đang xuyên tạc lịch sử, bẻ cong ngòi bút để đánh lừa dư luận đều là những kẻ sống trong nhung lụa của chế độ ngụy quyền Sài Gòn cũ, chúng được nuôi dưỡng bởi bình sữa từ đế Quốc Hoa Kỳ, nay quyền lợi bị mất, những kẻ vong nô lại quay lại xuyên tạc tình hình đất nước.

Có lẽ rằng tôi cũng như các bạn, người ta đều không tin những lời lẽ xuyên tạc đó. Tuy nhiên với những người không nắm chắc về các thông tin lịch sử, nhất là một số bạn trẻ hiện nay không quan tâm đến lịch sử dân tộc thì dường như sẽ bị dắt mũi bởi những kẻ đầu độc thông tin.

Chúng ta cùng chia sẻ trách nhiệm giữ vững sự thật lịch sử . Điều này không chỉ là để bảo vệ di sản quốc gia mà còn để đảm bảo lịch sử sẽ không bị xuyên tạc và sử dụng vào mục đích cá nhân hoặc chính trị./.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU “TUYÊN TRUYỀN ĐEN”, BÔI NHỌ, CHỐNG PHÁ LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN!

     Trên thế giới có 4 nước Việt Nam, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, CHDCND Lào dùng tên “Công an nhân dân” đặt cho lực lượng Công an của nước mình. Như chính tên gọi, lực lượng CAND Việt Nam được sinh ra từ dân, do dân và hoạt động vì nhân dân. Bảo vệ chế độ, Nhà nước và nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng Công an.

Trải qua hơn 78 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, lực lượng CAND được tôi luyện và đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Lực lượng CAND luôn đóng vai trò là “thanh bảo kiếm”, là “lá chắn thép” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Hàng vạn chiến sĩ CAND đã không quản ngại ngày đêm giữ vững an ninh trật tự, góp phần đem lại bình yên cho đất nước, cho nhân dân.

Để có được sự bình yên, an ninh chính trị được ổn định, tội phạm được kiềm chế chính là nhờ công sức của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CAND cùng sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, sự ủng hộ của nhân dân. Phía sau sự bình yên đó là máu của biết bao chiến sĩ công an đã đổ xuống trong thời chiến lẫn thời bình.

Theo thống kê, từ năm 1975 đến nay, lực lượng CAND có hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hi sinh; hơn 2.000 đồng chí bị thương khi thi hành nhiệm vụ. Giai đoạn 2017 - 2022, Nhà nước đã cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” đối với 40 liệt sĩ, cấp giấy chứng nhận thương binh đối với 182 đồng chí và giấy chứng nhận bệnh binh đối với 12 đồng chí. Với mô hình tổ chức hiện nay là tinh, gọn, mạnh, hướng về cơ sở, CAND gần dân, sát dân, luôn cùng với nhân dân để đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự.

Thế nhưng, lực lượng CAND lại trở thành mục tiêu mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, bất mãn xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá.

Những hành vi này không chỉ nhằm phủ nhận công lao của các cán bộ, chiến sĩ Công an mà còn làm xấu đi hình ảnh, uy tín lực lượng CAND, tạo cớ chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong điều kiện Internet, mạng xã hội bùng nổ như hiện nay, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền chống phá Việt Nam, chống phá lực lượng CAND trên các lĩnh vực: Tuyên truyền đòi phi chính trị hóa CAND nhằm tách lực lượng Công an khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam; lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để vu cáo Công an là công cụ để thanh trừng, đấu đá trong Đảng; lợi dụng việc một số cán bộ, chiến sĩ sai phạm để nói xấu, bôi đen lực lượng CAND; cắt ghép hình ảnh, đưa ra các luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ uy tín, danh dự CAND; lợi dụng việc lực lượng CAND giải quyết các vụ gây rối an ninh, trật tự, xử lý các hành vi như dỡ nhà xây dựng trái phép, lấn chiếm đất công, lòng, hè đường... để tuyên truyên, vu cáo CAND “đàn áp nhân dân”... Các thủ đoạn tuyên truyền này trong khoa học an ninh phi truyền thống gọi là “tuyên truyền đen”.

Thực tế thời gian gần đây, mỗi khi ngành Công an phát hiện, xử lý kỷ luật những cán bộ, chiến sĩ thoái hóa, biến chất, có sai phạm về đạo đức, tác phong nghề nghiệp, vi phạm quy định của ngành và của pháp luật hiện hành thì các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội lại ra sức chống phá. Họ lợi dụng những bức xúc của dư luận xã hội, kết hợp “ngụy tạo chứng cứ” nhằm tạo ra làn sóng tiêu cực hướng tới công kích, bôi nhọ ngành Công an. Vụ 3 cựu chiến sĩ Công an bị khởi tố vì bắn trộm dê của người dân tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội vào tháng 6 năm nay là một ví dụ. Sau khi xác định đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng về lối sống, tư cách, vi phạm pháp luật hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã tước quân tịch những chiến sĩ vi phạm và khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Đây là quyết định thể hiện sự nghiêm minh, quyết liệt, quyết tâm của lực lượng Công an trong đấu tranh với hành vi vi phạm, không có vùng cấm. Thế nhưng, trên các trang mạng xã hội, một số đối tượng lại nhân cơ hội này để thổi phồng. Chỉ từ sự việc của các cá nhân như vậy, các nhà dân chủ giả hiệu đã quy hiện tượng thành bản chất, cho rằng những sai phạm của cá nhân là “phần nổi của tảng băng chìm”, từ đó kích động tâm lý hiềm khích, gây ấn tượng xấu về lực lượng CAND. Chưa hết, nhiều đối tượng còn dùng những hình ảnh cắt ghép ghi lại cảnh các cán bộ, chiến sĩ đang xử lý các đối tượng chống đối người thi hành công vụ rồi lập luận xảo trá rằng lực lượng Công an đang “đàn áp dân”… Các đối tượng đã dùng “miệng lưỡi diều hâu” để tìm cách phủ nhận những công lao của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ CAND đã không quản khó khăn, hiểm nguy, ngày đêm đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, cố tình quy hiện tượng thành bản chất, thổi phồng vụ việc sai phạm của cá nhân để hạ uy tín cả lực lượng.

Với thủ đoạn quy hiện tượng thành bản chất nói trên, các đối tượng xấu đã trực tiếp xâm hại tới danh dự, uy tín lực lượng CAND. Đồng thời nhằm phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết, tách rời, chia rẽ CAND với nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân có cái nhìn tiêu cực, ác cảm. Từ đó làm hạn chế sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân với lực lượng Công an và kích động chống đối.

Hiện nay, hầu hết cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đều nhìn nhận rõ vai trò của lực lượng CAND trong việc đảm bảo an ninh, trật tự, giữ gìn sự bình yên cho đất nước, cho nhân dân. Từ đó, chúng ta nhìn nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn của những kẻ cố tình xuyên tạc, bôi xấu lực lượng CAND. Tuy nhiên, không tránh khỏi việc có những người nhẹ dạ cả tin, thiếu bản lĩnh, không phân biệt được đúng sai, bị kích động lôi kéo.

Để phát triển bền vững, cần ngăn chặn hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các hành vi chống phá, bôi nhọ lực lượng CAND. Trong điều kiện Internet và mạng xã hội bùng nổ, nếu không kịp thời phát hiện, ngăn chặn các thông tin xấu độc nói trên, tác hại sẽ khó lường vì sẽ lan truyền rất nhanh trên không gian mạng. Vì vậy các cơ quan chức năng cần tăng cường phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh thông tin, an ninh mạng; phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm minh những đối tượng vi phạm pháp luật và phạm tội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ lực lượng CAND.

Việc xử lý các hành vi tuyên truyền xuyên tạc, bôi xấu Đảng, Nhà nước, lực lượng CAND cần được tiến hành trên nhiều phương diện. Trước hết, cơ quan chức năng cần yêu cầu các nhà mạng nước ngoài xóa bỏ thông tin xấu độc và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động mạng trên lãnh thổ Việt Nam, tôn trọng chủ quyền không gian mạng Việt Nam. Đối với các cá nhân, tổ chức đưa ra và tuyên truyền các thông tin xấu độc cần xử phạt về hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Các vụ việc nghiêm trọng cần đưa xét xử điểm để răn đe, phòng ngừa.

Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng hiện đại, nền công nghiệp 4.0 ngày càng tập trung vào công nghệ số với sự trợ giúp mạnh mẽ từ internet thì các thế lực thù địch sẽ tiếp tục lợi dụng mạng xã hội để tung nhiều thông tin xấu, độc, vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng CAND, tác động đến cộng đồng. Chúng ta khẳng định rằng, các thế lực thù địch, phản động dù có tinh vi đến đâu, thủ đoạn thế nào thì bản chất vẫn không thay đổi, cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục đích của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, chia rẽ, tách CAND nói riêng, lực lượng vũ trang nói chung ra khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, nhất là các em học sinh, sinh viên cần tỉnh táo, nhận rõ phải – trái, đúng - sai. Cổ nhân có câu “nhân vô thập toàn”, chẳng ai mười phần toàn vẹn cả mười. Công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên CNXH không thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động của Công an luôn tiếp xúc với các mặt trái của xã hội. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, chiến sĩ CAND cũng sẽ không tránh khỏi việc có những người mắc phải khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Bộ Công an đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài cụ thể để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên, cán bộ CAND vi phạm. Vì vậy, bản thân mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, hơn bao giờ hết cần nâng cao nhận thức chính trị và ý thức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc, vu khống và tiếp nhận có chọn lọc các nguồn thông tin trên internet, mạng xã hội để không bị mắc mưu kẻ địch mà “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự biến mình thành công cụ lợi dụng của kẻ thù. Để phòng, tránh thông tin giả, tin sai sự thật, trong đó có các thông tin giả, thông tin sai sự thật về lực lượng CAND cần áp dụng quy tắc 5K, đó là “Không tin ngay, không vội nhấn nút thích, không thêm thắt, không kích động, không vội chia sẻ”.

Đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc về lực lượng CAND, về lực lượng vũ trang cách mạng là vấn đề thời sự hiện nay. Về mặt “xây” bên trong, lực lượng CAND kiên quyết đấu tranh với những tiêu cực, sai phạm trong nội bộ; xử lý nghiêm cán bộ, chiến sĩ CAND có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm pháp với quan điểm không có vùng cấm, bất kể người đó đang nắm giữ chức vụ gì. Bên cạnh đó, tăng cường mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, để cán bộ, chiến sĩ Công an thực sự là “công bộc của dân”, do dân và vì dân. Trong xây dựng lực lượng CAND, ngoài lòng trung thành với Đảng, với chế độ, với nhà nước, phải tăng cường văn hóa ứng xử của lực lượng CAND trước xã hội, để trong mắt người dân, Công an phải là những hình mẫu tốt, đại diện cho chính quyền. Công an các đơn vị, địa phương cần thực hiện tốt “diễn đàn nhân dân góp ý cho lực lượng Công an” mà lãnh đạo Bộ Công an đang chỉ đạo. Diễn đàn cần được tiến hành thường xuyên, đặc biệt Công an cơ sở nghe nhân dân góp ý, những ưu điểm thì phát huy, mặt chưa được thì phải sửa chữa. Những mô hình tốt cần được nhân rộng, phát huy như Công an tỉnh Lạng Sơn với phong trào “Nụ cười chiến sĩ Công an Lạng Sơn”, quy định tất cả cán bộ chiến sĩ Công an khi tiếp dân phải có nụ cười vui vẻ, thái độ tốt; Công an tỉnh Nam Định có phong trào “Tiếp dân như tiếp khách quý” tại các cơ quan, trụ sở của Công an… Các hoạt động đó của ngành Công an cũng là cách thức gián tiếp để kẻ địch không có cớ thực hiện những hành vi bôi xấu, kích động.

Bên cạnh đó, mỗi một cán bộ, chiến sỹ CAND cần không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng, rèn luyện để xứng đáng với truyền thống hào hùng, cách mạng vẻ vang của lực lượng; xứng đáng với 6 điều Bác Hồ dạy CAND, xứng đáng với lời căn dặn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”./.
Yêu nước ST.

Đừng mang bom nguyên tử ra dọa người Việt!

Dù đã dùng nhiều chiến lược, thủ đoạn tác chiến và những vũ khí công nghệ mới nhất, nhưng quân Mỹ vẫn không sao thoát khỏi thế bị động trong cuộc xâm lược Việt Nam. Trong cơn khốn cùng, đã có lúc người Mỹ định sử dụng bom nguyên tử để giải nguy. Nhưng sau cùng, với nhiều lý do khác nhau, nước Mỹ đã không sử dụng nó.

Tại một cuộc đàm phán ở Paris, ngày 4/12/1972, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, ông Lê Đức Thọ tuyên bố với Kissinger rằng: “Chúng tôi đôi lúc nghĩ rằng các ông có thể dùng vũ khí nguyên tử bởi trong cuộc kháng chiến chống Pháp, phó Tổng thống Nixon đã đề xuất sử dụng vũ khí nguyên tử… Nếu chúng tôi không đạt được mục tiêu trong đời mình, con cháu chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh…Chúng tôi đã phải chịu hàng chục triệu quả bom và đạn pháo.

Chúng tương đương với 600 quả bom nguyên tử… Sự thật đơn giản đó là chúng tôi sẽ không chấp nhận và cam chịu làm nô lệ. Do đó những đe dọa và việc phá vỡ lời hứa của các ông, theo chúng tôi, không phải một cách nghiêm túc để tiến hành đàm phán”, ông Lê Đức Thọ nói.

Tổ tiên, cha anh người Việt chúng ta đã cực kỳ kiên cường và dũng cảm. Thậm chí họ đã từng phải đối mặt với những tình huống ngặt nghèo ngàn cân treo sợi tóc, nhưng vẫn không lùi bước.

Những hy sinh đóng góp đó trong biết bao thế hệ đã tạo nên hình hài nước Việt như ngày nay.

Con cháu ngày nay được sống trong hoàn cảnh độc lập tự do thì hãy cố gắng phát huy tinh thần yêu nước đó của cha ông, xây dựng đất nước giàu mạnh. Và đặc biệt hãy kiên quyết chống lại các chiến lược ngụy sử lật sử và tẩy trắng lịch sử đang lan tràn hiện nay, được phát động bởi các thế lực giặc nội phản và ngoại bang, để giữ gìn danh dự cho các tiền nhân cứu quốc./.

Thanh niên quân đội với việc làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

Thanh niên Quân đội (TNQĐ) là lực lượng có vai trò rất quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Là một bộ phận của thế hệ trẻ cả nước, TNQĐ luôn xung kích, đi đầu trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, là nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị. Bởi vậy, xây dựng lực lượng TNQĐ vững mạnh, bản lĩnh, đủ sức chống lại các âm mưu, thủ đoạn của lực lượng thù địch là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, giữ trọn niềm tin của Nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của thanh niên: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên”1, trong đó có vai trò không nhỏ của lực lượng TNQĐ. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, tinh thần “dám đánh, biết đánh và quyết thắng”, các thế hệ TNQĐ đã nêu cao ý chí chiến đấu, gan dạ, mưu trí, dũng cảm, góp phần vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Phát huy truyền thống vẻ vang đó, TNQĐ qua các thế hệ đã không ngừng rèn luyện, phấn đấu dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thể hiện vai trò quan trọng của TNQĐ trên tất cả các mặt trận.

Hiện nay, TNQĐ được tuyển chọn kỹ, có trình độ học vấn cao, được giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về chính trị, đạo đức, văn hóa và sức khỏe; là lực lượng chủ yếu, trực tiếp nâng cao sức mạnh tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội ta. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trực tiếp là của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, công tác vận động thanh niên và hoạt động của tổ chức đoàn trong Quân đội đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, đạt kết quả thiết thực.

Tuy nhiên, cũng giống như độ tuổi thanh niên nói chung, TNQĐ chưa biểu hiện rõ nét về xu hướng nhân cách, năng lực chuyên môn đang trong quá trình hình thành và phát triển, kinh nghiệm sống trong môi trường Quân đội chưa nhiều. Bởi vậy, cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Trong thời đại công nghiệp 4.0, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, in-tơ-nét và mạng xã hội đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên nói chung, TNQĐ nói riêng. Các thế lực phản động, thù địch với nhiều chiêu bài khác nhau, dùng nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm lôi kéo, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của một số ít TNQĐ, hạ thấp vai trò của thanh niên Việt Nam. Các thủ đoạn của chúng chủ yếu mang tính quy chụp, từ những hiện tượng đơn lẻ của một số thanh niên, chúng luận ra thành bản chất chung của toàn bộ tuổi trẻ Quân đội, đặc biệt là một số vụ việc diễn ra trên không gian mạng, với đối tượng nhắm đến là những tân binh mới nhập ngũ, những quân nhân ở các học viện, nhà trường Quân đội. Các thời điểm nhạy cảm như trước thềm Đại hội XIII của Đảng, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, các ngày lễ lớn của dân tộc..., chúng càng ra sức chống phá, tận dụng, thúc đẩy với những thủ đoạn tinh vi, diễn biến phức tạp. Vì vậy, tăng cường phòng, chống, đập tan âm mưu chống phá, hạ thấp vai trò của TNQĐ là yêu cầu hết sức quan trọng, cấp bách của Đảng ta hiện nay.

Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của TNQĐ, đồng thời đập tan âm mưu, thủ đoạn của lực lượng thù địch, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của TNQĐ và sự cần thiết phải đấu tranh chống lại âm mưu thủ đoạn nhằm làm giảm vai trò của TNQĐ

Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng, các tổ chức, các lực lượng cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của TNQĐ; sự cần thiết phải khơi dậy khát vọng cống hiến xây dựng đất nước phồn vinh của TNQĐ. Xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Trong đó TNQĐ là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Trên cơ sở đó, tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, phát huy vai trò to lớn của TNQĐ, trở thành lực lượng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Hai là, thường xuyên tổ chức, thực hiện có hiệu quả hoạt động thực tiễn, các cuộc vận động, các phong trào thi đua để làm sáng thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân.

Quá trình khẳng định vai trò của TNQĐ không thể tách rời mà phải luôn gắn với hoạt động lao động sản xuất và đấu tranh xã hội. Cần phải tích cực đưa TNQĐ vào hoạt động thực tiễn quân sự và các phong trào cách mạng của tuổi trẻ, của đất nước như phong trào thi đua “TNQĐ tiến quân vào khoa học, công nghệ”, “TNQĐ chung sức xây dựng nông thôn mới”, “TNQĐ xung kích chung tay đánh bay đại dịch Covid-19”; cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Muốn các phong trào phát huy hiệu quả trong TNQĐ, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải năng động, sáng tạo, bám sát hoạt động thực tiễn của đơn vị, vừa nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ công tác, vừa biết cách tổ chức, điều hành các hoạt động phong trào, phân công, bố trí, sử dụng lực lượng phù hợp.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động của TNQĐ trong học tập, rèn luyện, cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và đánh bại những âm mưu hạ thấp vai trò của TNQĐ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”2. Bởi vậy, với mỗi TNQĐ, trước hết phải tự nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với Nhân dân và Quân đội, từ đó luôn có tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mỗi thanh niên cần có tâm thế vững vàng, nỗ lực cao trong học tập, rèn luyện trong thực tiễn để nâng cao năng lực nhận thức và năng lực hành động. Cần nhận thức sâu sắc rằng, rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn là con đường cơ bản, tất yếu để mỗi TNQĐ hoàn thiện nhân cách của mình, thông qua đó để phát triển những phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta hiện nay.

Bốn là, đảm bảo tốt cơ sở vật chất, điều kiện, môi trường thuận lợi để phát huy vai trò, tính tiên phong, cống hiến xây dựng đất nước của TNQĐ, làm tiền đề để đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái về Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đấu tranh bảo vệ, tăng cường vai trò của TNQĐ và đập tan các luận điệu sai trái của lực lượng thù địch về TNQĐ là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua hoạt động bảo vệ, phát huy vai trò của TNQĐ sẽ góp phần giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nên những con người mới xã hội chủ nghĩa, lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Những luận điệu của lực lượng thù địch từ những sự việc nhỏ lẻ nhằm quy chụp thành bản chất của TNQĐ là hoàn toàn sai trái, thực chất là nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Bởi vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo, bản lĩnh, kiên trung của mình trên mặt trận đấu tranh tư tưởng chống lại các luận điệu sai trái đó. Đồng thời, thế hệ trẻ trong Quân đội cần “dưỡng tâm trong, rèn trí sáng, xây hoài bão lớn”, luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để giải quyết, nhận định đánh giá các hiện tượng trong xã hội. Tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, TNQĐ sẽ luôn tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, làm sáng mãi hình ảnh của người quân nhân cách mạng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ./.

Mong ước cũng mãi chỉ là ước mong

Cái tên nhà "rân chủ" Thái Bá Tân không quá xa lạ khi trong suốt bao năm qua Thái Bá Tân vẫn miệt mài chống Đảng, chống Nhà nước. Cũng như nhiều kẻ phản động hay rân chủ trước đây, họ đều dự báo về ngày Đảng mất quyền lãnh đạo đất nước nhưng tất cả dự báo đó không thành hiện thực. Càng dự báo thì đất nước càng phát triển, Đảng lại càng có nhiều thành tựu trong lãnh đạo đất nước.

Thái Bá Tân cũng không phải ngoại lệ. Thậm chí, Thái Bá Tân cũng đã lớn tuổi rồi nên có lẽ thấy rằng mục tiêu chống Đảng của mình đến cuối đời vẫn không thể hoàn thành. Do đó, trong vài dòng trạng thái trên facebook của mình, Thái Bá Tân đã thể hiện một “mong ước” mãnh liệt, “mong ước” cuối đời của mình.

Nhiều người đọc mong ước của Thái Bá Tân xong thì cười, cười cho cái sự ngô nghê của lão, cười cho một cuộc đời lãng phí, cười vì “mong ước” đó mãi chỉ là ước mong. Rồi cũng nhiều người tỏ ra thương cảm bởi cho đến cuối đời, Thái Bá Tân vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn mãi chạy theo những thứ chân lý lừa phỉnh của đám phản động. Và nhiều người cũng tiếc cho Thái Bá Tân khi là một người có học thức nhưng đã lầm đường lạc lối. Thái Bá Tân cũng như nhiều kẻ phản động, rân chủ khác thôi, rằng rất nhiều kẻ dành cả đời để chống Đảng, chống lại đất nước nhưng cuối cùng kết quả cũng lại về không.

Cuộc đời Thái Bá Tân được đất nước, được Đảng nuôi ăn học, tạo điều kiện cống hiến nhưng Thái Bá Tân lại quay ra chống phá. Buồn vì chắc chắn Thái Bá Tân sẽ không thực hiện được mong ước của mình. Một mong ước phi lý./.

“Cuộc chiến không tiếng súng” Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Không gian mạng đã trở thành một vùng lãnh thổ bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời của một quốc gia. Chính vì vậy, bên cạnh không gian vật chất truyền thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn cần được thực hiện thường xuyên, liên tục trên không gian mạng trong kỷ nguyên số hiện nay.

Thế giới đang bước vào “kỷ nguyên số” với sự phát triển như vũ bão của các công nghệ thông tin và ứng dụng internet, sự phát triển này tạo ra một không gian chiến lược mới - “không gian mạng”, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, với đặc trưng mở, phổ biến, liên kết cao, không gian mạng là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động, bóp méo dư luận với các mục tiêu chống phá chế độ, chống phá Đảng. Không gian mạng đã trở thành một vùng lãnh thổ bên cạnh đất liền, vùng biển, vùng trời của một quốc gia, chính vì vậy bên cạnh không gian vật chất truyền thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn cần được thực hiện thường xuyên, liên tục trên không gian mạng trong kỷ nguyên số hiện nay.

Bản chất, cốt lõi của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Nền tảng tư tưởng là hệ thống quan điểm chỉ đạo nhận thức và hoạt động thực tiễn của một cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng đã được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong đó nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại; liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử trong nước và thế giới.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có nghĩa là làm cho cán bộ, Đảng viên, nhân dân hiểu đúng và vận dụng các học thuyết nói trên trong thực tiễn; Đấu tranh phản bác các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về lãnh đạo Đảng, nhà nước, về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước; Cung cấp thông tin thường xuyên kịp thời về thành tích phát triển kinh tế-xã hội của đất nước để củng cố, gia tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, bảo vệ nền tảng của Đảng còn là việc giữ vững hình ảnh, uy tín của từng Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng. Mỗi Đảng viên, cơ sở, cấp ủy Đảng không làm tốt công việc được giao, bị dụ dỗ, mua chuộc hoặc có biểu hiện tham ô, tham nhũng hay tự diễn biến, tự chuyển hóa đều tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và niềm tin của nhân dân vào Đảng và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ mang mục đích tự thân mà còn là mang lại nhiều phúc lợi hơn, giảm chi phí, phiền hà, mang lại cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn cho người dân, xã hội.

Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Thời gian qua, các cơ quan, đơn vị đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo vệ tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, tuy nhiên trong thời gian tới cần tập trung đổi mới về công cụ, phương pháp, bổ sung nguồn lực, mở rộng không gian, đối tượng đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, phải xây dựng được công cụ hữu hiệu giúp nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn, xử lý các thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Công cụ này có thể là các thuật toán tự động sàng lọc, phân loại, ngăn chặn xử lý thông tin trên mạng xã hội dựa trên các từ khóa hoặc các đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh về thông tin xấu độc trên mạng xã hội.

Thứ hai, về nguồn lực, cần huy động sự tham gia của tất cả cán bộ, Đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên phải là “người lính xung kích” trong việc đưa trang mạng xã hội của cá nhân mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đề cao kỷ luật phát ngôn, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia các mạng xã hội, mỗi người phải tỉnh táo phân tích, kiểm chứng thông tin trên mạng trước khi bình luận, chia sẻ, tuyệt đối không lưu trữ, cung cấp, phát tán, chia sẻ thông tin xấu độc, không nói trái chủ trương, chính sách, pháp luật trên mạng xã hội.

Thứ ba, bên cạnh việc cung cấp thông tin chính thống, kịp thời phát hiện ngăn chặn thông tin xấu độc thì cần yêu cầu cán bộ, Đảng viên, nhất là Đảng viên giữ cương vị lãnh đạo nêu gương trong sinh hoạt và công vụ. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, Đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo, qua đó, góp phần bảo vệ và phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, kiểm soát thông tin trên không gian mạng để phát hiện thông tin xấu độc từ sớm, từ xa. Tập trung phát hiện các trang web, mạng xã hội thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; Phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá; Phát hiện, xử lý cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá Đảng.

Thứ năm, mở rộng không gian, đối tượng đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Hiện nay, nhiều cá nhân có ảnh hưởng trong xã hội tuy không dùng mạng xã hội nhưng thường xuyên phát biểu, bình luận trái chiều, bài xích, phủ nhận tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Phát biểu của những đối tượng này được các thế lực thù địch lợi dụng đăng tải trên không gian mạng để chống phá Đảng. Vì thế, cần phải mở rộng đối tượng đấu tranh, xử lý đến cả những đối tượng không tham gia không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thúc đẩy ký kết các văn kiện hợp tác đa phương và song phương, ký kết thỏa thuận hợp tác với các nền tảng mạng xã hội nước ngoài để giải quyết từ gốc đối với thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật vì phần lớn các thế lực thù địch đều hoạt động ở nước ngoài để trốn tránh sự xử lý của các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam.

Có thể thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là công tác thường xuyên, lâu dài, mặc dù khó khăn nhưng công tác này chắc chắn sẽ thành công nếu huy động được sự tham gia rộng rãi của cán bộ, đảng viên, phát huy được sự kiên nhẫn, bền bỉ, lý tưởng, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm của mỗi Đảng viên cũng như cấp ủy các cấp./.

 Môn thể thao nào được cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội yêu thích và tập luyện nhiều nhất? Câu trả lời là bóng đá và bóng chuyền. Chứng kiến trận chung kết bóng chuyền nam trong nhà giữa đội tuyển Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1) và đội tuyển Quân chủng Hải quân (QCHQ) tại Hội thao bóng đá, bóng chuyền toàn quân năm 2023, chúng tôi hiểu hơn về nhận định này.

Trời nhá nhem, bên trong nhà thi đấu Trường SQLQ1 không còn một chỗ trống. Phía bên ngoài, ban tổ chức bố trí hai màn hình lớn để phục vụ hàng nghìn cổ động viên (CĐV) trực tiếp đến cổ vũ. Tiếng trống, tiếng kèn sôi động khiến các vận động viên (VĐV) cảm nhận rõ sức hút của một trận đấu hấp dẫn. Được đánh giá cao hơn bởi kinh nghiệm, đội tuyển QCHQ nhanh chóng vươn lên dẫn 2-0 sau 2 set với cùng điểm số 25-23. Những CĐV trung lập bụng bảo dạ, chắc trận đấu kết thúc sớm, thậm chí có thể là một trận thua trắng cho đội tuyển Trường SQLQ1.Dù trận đấu diễn ra bất lợi cho chủ nhà nhưng không vì thế mà các khán đài giảm đi sự sôi động. Mỗi lần CĐV đội tuyển QCHQ hô khẩu hiệu "chiến thắng" thì nhận lại sự đáp trả gấp nhiều lần từ những người hâm mộ Trường SQLQ1. Các CĐV cổ vũ thật văn minh. Họ chỉ hò hét khi kết thúc mỗi pha bóng, trong trận đấu lại im lặng để các cầu thủ tập trung nhất. Và trong mỗi pha bóng tranh chấp, công nghệ VAR (video hỗ trợ trọng tài) đã phát huy hiệu quả để bảo đảm sự công bằng.

Trong set 3, có thời điểm đội tuyển QCHQ dẫn 13-10, nhưng với quyết tâm không bỏ cuộc cùng sự cổ vũ nồng nhiệt của CĐV nhà, đội tuyển Trường SQLQ1 đã thi đấu ấn tượng để giành chiến thắng với điểm số 25-21. Cũng từ đây, tinh thần của các VĐV Trường SQLQ1 lên cao hẳn. Đội chủ nhà thi đấu thăng hoa với màn ngược dòng khó tin khi thắng 25-21 trong set 4 và 15-7 trong set 5 để ấn định thắng lợi 3-2. Chức vô địch trên sân nhà trở nên ý nghĩa hơn khi đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đội tuyển Trường SQLQ1 bước lên bục cao nhất của môn bóng chuyền toàn quân.

Trong bóng chuyền, đôi khi bản lĩnh thắng trình độ và chiến thắng của Trường SQLQ1 là minh chứng. Điều này được chính VĐV Trần Quang Hùng của Trường SQLQ1 lý giải: “Trước trận đấu, khi so sánh lực lượng, chúng tôi thấy đội bạn rất mạnh. Khi vào trận, anh em động viên nhau phải nỗ lực hết mình, vượt qua cảm giác là đội mình thua kém bạn. Thật hạnh phúc khi toàn đội đã vượt qua chính mình”.

Không chỉ chung kết, các trận bóng chuyền tại Hội thao bóng đá, bóng chuyền toàn quân năm 2023 luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và người hâm mộ. Những khán đài sôi động, những màn cổ vũ đậm chất lính là một lời khẳng định cho sức hút của môn thể thao này trong toàn quân. Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định: “Bóng đá, bóng chuyền được đông đảo cán bộ, chiến sĩ hâm mộ và luyện tập rất rộng rãi. Việc tổ chức hội thao hai môn này tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao và đáp ứng lòng mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân”.

KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG: THỨC TỈNH TINH THẦN DÂN TỘC

 

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu vào năm 40 (Canh Tý), đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử người dân Việt đứng lên vì nền độc lập cũng như niềm tự hào của mình.
Tức nước vỡ bờ
Từ khi nhà Triệu tiêu diệt An Dương Vương và thiết lập quyền cai trị trên lãnh thổ Âu Lạc cũ, chế độ thống trị dừng lại ở cấp quận với đại diện là 2 viên quan sứ ở 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đến khi nhà Tây Hán diệt nhà Triệu (111 trước Công nguyên), cấp độ thống trị vẫn ở cấp quận; chế độ các Lạc hầu, Lạc tướng của người Việt với quyền thế tập trên lãnh thổ Âu Lạc cũ được các chính quyền phương Bắc chấp nhận cho duy trì, nhưng ngày càng suy yếu.
Từ khi nhà Đông Hán thành lập, Hán Quang Vũ Đế tuy chưa dẹp xong các lực lượng cát cứ phương Bắc nhưng vẫn quan tâm tới miền Nam. Tích Quang, Nhâm Diên làm Thái thú Giao Chỉ và Thái thú Cửu Chân của nhà Hán, ra sức thực hiện chính sách đồng hóa, thay đổi tập tục từ hôn nhân đến y phục, lễ nghĩa của người Việt bắt theo người Hán, dẫn đến xúc phạm nặng nề tới phong tục cũ nhiều đời của người Việt.
Từ khi Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ năm 34, ách thống trị của nhà Đông Hán càng nặng nề hơn với người Việt. Tô Định tàn bạo và tham lam, tăng cường phục dịch và thuế khóa đối với người Việt để cống nạp cho triều đình nhà Hán nhiều hơn, thúc ép các Lạc tướng nhiều hơn. Sự đụng chạm lớn về văn hóa, tín ngưỡng và kinh tế khiến mâu thuẫn giữa người Việt - không chỉ nhân dân mà cả các Lạc tướng - với chế độ thống trị của nhà Hán ngày càng gay gắt. Vì vậy các Lạc tướng đã đoàn kết nhau lại để chống đối.
Trong số các Lạc tướng có ý chống lại sự thống trị của nhà Hán, nổi lên nhà Trưng Trắc ở Mê Linh, Phong Châu và nhà Thi Sách ở Chu Diên. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách, hai nhà đồng lòng tập hợp lực lượng chống lại sự cai trị của nhà Hán và đã tập hợp được sự ủng hộ của khá nhiều thủ lĩnh địa phương khác. Trước khí thế chống đối của các thủ lĩnh người Việt, Tô Định đã giết Thi Sách để hy vọng dập tắt sớm ý định chống đối. Thù chồng bị giết càng khiến Trưng Trắc hành động gấp rút trong việc khởi binh chống nhà Hán.
Tuy nhiên, có những sử liệu cho thông tin khác về Thi Sách. Ngoài việc ông tên là Thi (chứ không phải Thi Sách), “Thủy kinh chú” cho biết ông cùng Trưng Trắc khởi nghĩa thắng lợi và 3 năm sau mới tử trận cùng vợ; sách “Thiên Nam ngữ lục” cho rằng Thi Sách có tham gia khởi nghĩa với Trưng Trắc và tử trận trước khi khởi nghĩa thắng lợi và sử gia Đào Duy Anh đồng tình với thuyết này.
Các sử gia khẳng định khởi nghĩa vẫn nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng dù chồng Trưng Trắc không bị giết. Do đó nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khởi nghĩa không phải là cái chết của Thi Sách mà là chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời. Lê Văn Siêu trong sách “Việt Nam văn minh sử” thậm chí còn cho rằng, việc Thi Sách tên thật là gì, có bị giết hay không trong sự kiện Hai Bà khởi nghĩa không phải là một chi tiết quan trọng.
Thời của các nữ tướng
Vai trò lãnh đạo nòng cốt là các Lạc hầu, Lạc tướng dòng dõi Hùng Vương, có uy tín với nhân dân và ít nhiều được chính quyền đô hộ phương Bắc vì nể. Ngoài 3 đại diện tiêu biểu là Trưng Trắc, Trưng Nhị và Thi Sách, các sử gia khẳng định còn có nhiều thủ lĩnh địa phương khác có nguồn gốc Lạc tướng.
Một nhân vật được xem là đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ trước khởi nghĩa là bà Man Thiện - mẹ của Trưng Trắc và Trưng Nhị. Bà được xem là cháu chắt bên ngoại của Hùng Vương, góa chồng sớm, nuôi dạy hai con gái nghề trồng dâu nuôi tằm và võ nghệ. Bà Man Thiện có vai trò tổ chức lực lượng, giao thiệp với các quan lang các vùng xung quanh ủng hộ con khởi nghĩa.
Điều đáng chú ý là phần lớn các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa là phụ nữ được các thần tích, truyền thuyết ghi lại: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Man Thiện, Diệu Tiên, Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Hoa, Lê Chân, Phương Dung, Trinh Thục, Thánh Thiên, Thiện Hoa, Nàng Tía, Xuân Hương, Ả Di, Ả Tắc, Ả Lã, Nàng Đô… Số tướng lĩnh nam chiếm số lượng ít hơn: Đỗ Năng Tế, Hùng Nguyên (chồng Trưng Nhị), ông Đống, ông Cai, ông Nà, Đồng Bảng, Đô Chính, Đô Dương…
Các tướng lĩnh này đều có quan hệ huyết thống bên nội hay ngoại, hoặc là bè bạn của nhau. Theo ý kiến của các sử gia, dù được đời sau gán cho những “mỹ tự” và được đặt “họ” (tên họ), mà vào những năm đầu Công nguyên người Việt chưa có "họ", nhưng tất cả cho thấy kết cấu quan hệ huyết tộc, vị trí, vai trò của người phụ nữ, người mẹ, người vợ còn rất lớn không chỉ trong gia đình mà cả trong mọi mặt của hoạt động xã hội Việt Nam khi đó. Điều đó được xem là tàn dư của chế độ mẫu quyền còn phổ biến thời Hai Bà Trưng ở Việt Nam.
Lên ngôi Vua bà
Tháng 9 năm 39, Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh cùng nhau làm Hội thề ở cửa sông Hát (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thuộc huyện Mê Linh thời đó. “Thiên Nam ngữ lục” ghi lời thề của Trưng Trắc như sau: "Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng /Ba kêu oan ức lòng chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này".
Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ.
Quân Hai Bà trước tiên tấn công Đô úy trị quận Giao Chỉ ở Mê Linh. Chiếm được nơi đây, Hai Bà Trưng tiến đánh huyện Tây Vu, chiếm thành Cổ Loa. Trên đà thắng lợi, từ Cổ Loa, Hai Bà Trưng mang quân vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh trị sở Giao Chỉ ở Luy Lâu bên bờ sông Dâu (lãng Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh). Quân khởi nghĩa tấn công quá nhanh khiến Tô Định không kịp trở tay. Trước thế mạnh của quân Hai Bà, các viên quan cầm đầu không dám chống cự, bỏ chạy về phương Bắc.
Thái thú Giao Chỉ là Tô Định hoảng hốt cũng tháo chạy. Để thoát thân, Tô Định phải cạo tóc, cạo râu, trà trộn vào loạn quân, vứt bỏ ấn tín mà chạy. Tương truyền người Việt đương thời vẫn có tục lệ phổ biến là cạo tóc, nên Tô Định bắt chước làm như vậy cho khỏi bị phát hiện trên đường trốn chạy. Cuối cùng, Tô Định thoát về quận Nam Hải, bị Mã Viện dâng sớ lên Hán Quang Vũ Đế hạch tội “thấy tiền thì giương mắt lên, thấy giặc thì cụp mắt xuống”. Vua Hán hạ ngục trị tội Tô Định.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Sau khi Luy Lâu bị hạ, các thành khác nhanh chóng tan vỡ và quy phục. Cuộc khởi nghĩa lan rộng vào Cửu Chân, Nhật Nam, sang Uất Lâm, Hợp Phố… Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng vương. Thần phả cho biết Trưng Nhị được phong làm Phó vương.
Giương cao ngọn cờ tự hào dân tộc
Dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, nhiều lực lượng chống ách đô hộ của nhà Đông Hán đã kết hợp làm một, trở thành một phong trào khởi nghĩa rộng lớn của người Việt, đánh đổ sự cai trị của nhà Hán trên toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc và Nam Việt cũ.
Điều này được các sử gia đánh giá là một sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc Việt, một sự tái nhận thức quan trọng về quyền sống theo cách riêng của người Việt. Cuộc khởi nghĩa phản ánh ý thức dân tộc đã khá rõ rệt của Lạc tướng và Lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ. Ý thức về độc lập chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt trên con đường hình thành qua hơn 200 năm mất nước - khoảng thời gian mà các triều đại phong kiến phương Bắc ráo riết thực hiện đồng hóa nhằm biến Âu Lạc vĩnh viễn là quận huyện của Trung Quốc - vẫn tồn tại và phát triển trong lòng người Việt.
Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1.000 năm Bắc thuộc. Các Lạc tướng cùng hậu duệ của họ là đại biểu của phong trào này. Hai Bà Trưng đã dựa vào nhân dân khôi phục lại sự nghiệp cũ của Vua Hùng. Cuộc khởi nghĩa là sự phủ nhận hiên ngang cường quyền của các triều đại phương Bắc coi các dân tộc xung quanh là “Man Di”, thuộc quốc buộc phải phục tùng “thiên triều”, “thiên tử”, phủ nhận tư tưởng “tôn quân, đại thống nhất”.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ đứng đầu, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam - Bắc, Việt - Hán./.
ST