Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.
Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.
Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.
Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.
Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.
Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.
Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:
Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.
Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.
Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.
Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.
Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Con đường đi tới tương lai - Những đánh giá mang tầm thời đại

 


 

Trong một bài viết gửi báo chí ở Việt Nam, bà Merle Ratner, nhà hoạt động xã hội người Mỹ, điều phối viên Chiến dịch hỗ trợ và công lý cho nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đã có phân tích rất xác đáng: "Người dân Mỹ đau đớn nhận ra rằng, CNTB đã giáng cho họ một đòn đau đớn. Tuy nhiên, điều mà họ chưa thể thấu hiểu hoàn toàn đó là đau khổ của họ không chỉ do những cá nhân tham lam chỉ coi trọng khối tài sản khổng lồ của họ hơn tình thương đối với nhân loại mà còn xuất phát từ bản chất của CNTB. CNTB luôn nhắm đến tối đa hóa lợi nhuận và giá trị thị trường. Tham lam và bất bình đẳng là gen di truyền của CNTB và chúng sẽ chỉ bị loại bỏ khi thay đổi hệ thống chính trị và kinh tế triệt để. Tương lai của loài người chắc chắn phải là chủ nghĩa xã hội (CNXH). Tương lai hoàn toàn thuộc về CNXH. Nhưng CNXH trong thời đại mới sẽ khác hơn những gì đã diễn ra trong thế kỷ 20. Có khả năng sẽ có nhiều cuộc thử nghiệm khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Tất cả cần phải được nghiên cứu, tổng hợp và rút ra bài học kinh nghiệm”. 

Nhìn vấn đề ở logic lịch sử như vậy càng cho thấy bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ có ý nghĩa trước mắt đối với nước ta mà còn là một bài viết mang tính tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận rất quan trọng giúp nhận diện những vấn đề có tính quy luật lớn của thời đại hiện nay, cũng là điều mà nhiều nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo trên thế giới quan tâm. Đó chính là một vấn đề mang tính toàn cầu như chuyên gia người Mỹ từng khẳng định: “Phải được nghiên cứu, tổng hợp và rút ra bài học kinh nghiệm”. 

Một giá trị hết sức quan trọng và to lớn khác là bài viết đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng; khẳng định những biện pháp, cách thức, các khâu đột phá cần làm, các vấn đề then chốt phải thực hiện để đi lên CNXH. Bài viết mang tính khái quát nhưng đã khẳng định rất rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn, con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn và đang từng bước được hiện thực hóa. Bài viết vừa có tầm vóc lý luận và thực tiễn to lớn, vừa là thông điệp mạnh mẽ của Đảng ta và nhân dân ta về sự lựa chọn con đường đi tới tương lai; tiếp tục cổ vũ quần chúng nhân dân kiên định, vững bước trên con đường đã chọn./.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 12 NĂM 1956!

         “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”!
Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 2 Trường Đại học nhân dân Việt Nam”, Người nói ngày 08/12/1956. 
Thấm nhuần tư tưởng mácxít và trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, Người đánh giá rất cao vai trò, sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân trong tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa là mỗi con người cụ thể. Đó là người nông dân, công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ, các cháu thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài… Bác cho rằng, tất cả đều là nhân dân và dưới bầu trời này, không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Lời khẳng định của Bác tuy ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân qua các thời kỳ cách mạng.
Thực hiện lời dạy của Bác, hơn 60 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời phát huy sức mạnh toàn dân tộc là nguồn lực chủ yếu để đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân nhằm phát huy vai trò và tập hợp rộng rãi lực lượng của quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhờ phát huy vai trò của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công cuộc đổi mới của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng và quân đội trong tình hình mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân, về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, tiêu chí phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tăng cường mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân dân, tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

NGƯỜI TỐT, VIỆC TỐT: PHỐI HỢP VỚI CÔNG AN TRẢ LẠI 719 TRIỆU DO CHUYỂN KHOẢN NHẦM!

     Ngày 06/12/2023, Công an huyện Đô Lương, Nghệ An cho biết, dưới sự chứng kiến của cơ quan chức năng, anh Nguyễn Xuân Phúc (sinh năm 1985) trú tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương vừa trả lại số tiền 719 triệu đồng bị chuyển khoản nhầm cho chủ nhân.
Trước đó, Công an huyện Đô Lương nhận được thông tin từ ngân hàng chi nhánh Bà Triệu, số 18 Ngô Quyền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nộ đề nghị đơn vị hỗ trợ để khách hàng được nhận lại số tiền chuyển nhầm.
Xác minh sự việc và xác định anh Nguyễn Xuân Phúc (sinh năm 1985) trú tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương được ngân hàng chi nhánh Bà Triệu chuyển nhầm số tiền 719 triệu đồng vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 29/11/2023. Lực lượng Công an đã làm việc với anh Nguyễn Xuân Phúc và đề nghị anh chuyển trả lại số tiền nói trên. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, toàn bộ số tiền 719 triệu đồng đã được anh Phúc chuyển khoản trả lại cho chủ nhân.
Ngân hàng chi nhánh Bà Triệu đã gửi thư cảm ơn tinh thần trách nhiệm, kịp thời, vì nhân dân phục vụ của tập thể Công an huyện Đô Lương và Công an xã Văn Sơn./.
Môi trường ST.

Để thanh niên vững vàng, tiên phong trên mặt trận đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

     Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ luôn sung sức, năng động, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, có năng lực tiếp cận, sáng tạo với công nghệ mới và luôn nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội.

    Bên cạnh đó còn một bộ phận thanh niên xa rời đạo đức, lý tưởng cách mạng, có lối sống thực dụng nên dễ bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường... Cũng bởi đặc điểm là nhạy cảm, dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình, lại chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích động. Cũng vì thế mà các thế lực thù địch luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện “Phi chính trị hóa Quân đội”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    Để giúp đoàn viên, thanh niên trong Quân chủng nhận diện và cùng nhau làm thất bại  âm mưu của các thế lực thù địch, trước hết, cấp ủy, chỉ huy và tổ chức đoàn các cấp phải nhận thức đúng, đầy đủ tính cấp bách và tầm quan trọng của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Để làm được điều đó, tổ chức Đoàn các cấp, nhất là ở cơ sở cần quan tâm đổi mới, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác thanh niên, trọng tâm là đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ.  Thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa tầm thường, văn hóa ngoại lai xấu độc, biết tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức Đoàn, không mắc vào bẫy “phi chính trị hóa”, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong đó, việc chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống về tình hình thế giới, trong nước và Quân đội cho thanh niên. Chú trọng tuyên truyền các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, quân sự. Trong đó, đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” có hiệu quả là việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài để thế hệ trẻ phát huy sức trẻ, vững vàng, tiên phong trên mọi mặt trận, nhất là mặt trận chống “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động.

Chủ động đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam

     Đối với Việt Nam, trong những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số luôn là một trong những vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

    Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện tốt các nội dung như sau:

    Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam;

    Thứ hai, không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, ưu tiên bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số.

  Thứ ba, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội;

Thứ tư, thường xuyên làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng quyền của người dân tộc thiểu số để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá cách mạng nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”.

Đấu tranh ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực chính trị

     Việc nhận diện rõ và có giải pháp ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Hiện nay, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiến hành trên tất cả các lĩnh vực nhằm chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà không cần chiến tranh. Chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc nhận diện rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    “Tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, là xu hướng chính trị tiêu cực, phản cách mạng, xa rời mục tiêu, lý tưởng, định hướng chính trị; dao động, mơ hồ, mất phương hướng, thực chất là sự biến đổi về chính trị theo chiều hướng xấu dần, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
    “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị là sự phai nhạt, từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhận thức sai lệch, từng bước phủ nhận những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Tán dương chủ nghĩa tư bản, đề cao, tuyệt đối hóa các quan điểm, tư tưởng phi mácxít. Phê phán, tiến tới phủ nhận quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật Nhà nước. Có những hoạt động chống lại Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Từ những biểu hiện trên, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng, mọi cán bộ đảng viên cần phải thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng . Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Luôn giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”.

 

Đáu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải đúng hướng và có hiệu quả

     Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay được đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Cụ thể bao gồm:

    Một là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

    Ba là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả.

    Bốn là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng.

    Năm là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.

    Việc xác định đúng đắn các hình thức, biện pháp đấu tranh là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất đa dạng, phong phú, bao gồm các hình thức của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; các hình thức, biện pháp về hành chính, kinh tế, pháp luật... trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thường xuyên được đổi mới phù hợp với sự phát triển của tình hình.

Vận dụng phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương

 Vận dụng phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương

   
Toàn cảnh Tọa đàm.

Toàn cảnh Tọa đàm.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Văn Thể, Bí thư Đảng ủy Khối; Phạm Tất Thắng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương cùng PGS, TS. Vũ Trọng Lâm, Tổng Biên tập - Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối chủ trì Tọa đàm.

Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

     Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bao gồm toàn bộ các nội dung công tác “phòng” và nội dung đấu tranh “chống” trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, ngăn ngừa, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, phải hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Thứ hai, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nội dung này, cần tiến hành đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện: Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”…

    Thứ ba, ngăn ngừa, khắc phục tác hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội. Đó là việc thực hiện các nội dung đấu tranh để ngăn ngừa, khắc phục tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi con người và tổ chức; làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất khả năng gây tác hại, không còn lây lan trong đời sống xã hội, dần dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người và tổ chức.

    Thứ tư, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học. Trong nội dung này, đặc biệt cần thực hiện tốt nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là xây dựng về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, phong cách sống, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên.

    Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Điều đó không những tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mà còn tạo nên động lực to lớn, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Thứ sáu, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập, bất đồng, bất hòa, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa Đảng, Nhà nước, đoàn thể CT-XH với nhân dân; giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội ta.

Kiên quyết phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 

    Diễn biến mới, phức tạp và khó nhận diện của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi chúng ta phải hành động kiên quyết và khôn khéo để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức, tạo ra hệ “miễn dịch” bảo vệ cán bộ, đảng viên.  để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của công nghiệp 4.0 cần có những giải pháp đồng bộ, sát thực với điều kiện, diễn biến thực tế. Trong đó, cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, đảng viên. Đây chính là trang bị cho cán bộ, đảng viên cả “thanh kiếm” và “khiên chắn” để tăng cường “sức đề kháng”, tạo hệ “miễn dịch” trong tư tưởng, nhận thức của mỗi người trước sự lôi kéo của các thế lực thù địch.

    Cùng với đó là phát huy vai trò của tổ chức Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ cơ sở. Mỗi cấp bộ đảng cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay; quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng chính trị; kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc và giáo dục, định hướng, giải quyết tốt để tạo sức đề kháng từ phía tổ chức. Đồng thời, đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện, công cụ truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Các chiêu thức chống phá tinh vi đòi hỏi công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén, thuyết phục; khai thác tốt vai trò công nghệ để giám sát các thông tin độc hại ngay từ nguồn phát tán để ngăn chặn từ xa; mở rộng tối đa phạm vi bao phủ của thông tin chính thống trên hệ sinh thái truyền thông, tạo khả năng áp đảo cần thiết trong các loại hình chiến tranh thông tin; sử dụng công nghệ để vạch trần, chỉ ra những mánh khóe, thủ đoạn, âm mưu ẩn chứa tinh vi trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, cần ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực, mặt trái, những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp. Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự tu dưỡng, tự học tập để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Đó là con đường tự thân nhằm nâng cao sức đề kháng thông qua khả năng tự nhận biết, tự phân loại, sàng lọc và định hướng thông tin để tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; không để lực lượng thù địch có cơ hội lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, chống phá.

Nhận diện, đấu tranh với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

      - Thời gian qua, lợi dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0), các thế lực thù địch, phản động đã thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thể hiện rõ tính chất, mức độ phức tạp của tình hình để có các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả, làm giảm nguy cơ dẫn đến các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Đảng.

    Thông qua là các trang mạng xã hội, các diễn đàn, hệ thống truyền thông đa phương tiện, các thế lực thù địch gieo rắc các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, tấn công trực diện, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hủy nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước. Với luận điệu xuyên tạc được lặp đi lặp lại nhiều lần, các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để tạo ra sự “thu hút” ảo, như số lượng người đọc, người bình luận, người chia sẻ “khủng” để gây chú ý, hoài nghi, hoang mang và dần làm lung lay tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên. Chúng đội lốt, nhân danh “công lý”, “tập thể”, “quyền dân sự” để lập các hội, nhóm nhằm tập hợp, lôi kéo một số cán bộ thoái hóa, biến chất; lập ra cái gọi là “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị” rồi phát tán nội dung trên các trang mạng xã hội hòng làm nhiễu loạn tình hình.

    Chúng còn tận dụng công nghệ thông tin, công nghệ trí tuệ nhân tạo để đầu tư tài chính, công nghệ, con người cho lĩnh vực truyền thông nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, lôi kéo, dần làm “đổi màu” truyền thông, tách truyền thông khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng công nghệ để đầu tư các sản phẩm truyền thông xấu, độc, phản giá trị; khoét sâu vào trí tò mò, thích cái mới lạ, tin giật gân về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nhanh chóng lan tỏa trên môi trường mạng toàn cầu. Thực tế cho thấy, một số cán bộ, đảng viên sau khi bị tiêm nhiễm thông tin tiêu cực, độc hại đã tỏ ra hoài nghi về con đường cách mạng, có tư tưởng xét lại một số chủ trương của Đảng, như đảng viên làm kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân hay vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Họ hoài nghi và cho rằng, đây chính là biểu hiện, là minh chứng về sự dần “đổi màu” của Đảng, của chế độ…

Mõi cán bộ, đảng viên phải nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VÈ VỤ ÁN “CHUYẾN BAY GIẢI CỨU”

 

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 54 bị cáo trong vụ án tổ chức những “chuyến bay giải cứu” được tổ chức công khai và thông tin rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, không có vùng cấm, đồng thời khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, lợi dụng việc xét xử vụ án, các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước cũng như hải ngoại đưa ra nhiều bài viết với nội dung xuyên tạc công tác phòng chống tham nhũng, ngụy biện cho rằng tham nhũng là do cơ chế, tạo cớ bôi nhọ đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Trên RFA, ngoài việc thông tin về phiên tòa xét xử, trang tiếng Việt này cũng không quên cài vào những bài viết mang tính hướng lái dư luận, xuyên tạc, bôi nhọ công tác phòng chống tham nhũng cũng như hoạt động tư pháp của nước ta như: “Vụ xử “Chuyến bay giải cứu”: Tòa đã “không đếm xỉa” quyền lợi của người dân, lại tỏ ra “yếu kém” về mặt chứng lý”; “Vụ “Chuyến bay giải cứu”: Tòa xử như “mua bán”, thua kém “nghiêm minh” so với thời phong kiến”; “Sơ thẩm vụ “chuyến bay giải cứu”: Hàng trăm ngàn nạn nhân thực sự bị “bỏ qua””... 

Các bài viết này, một mặt ngụy biện, quy chụp về tình hình đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam, cho rằng việc chống tham nhũng chỉ là “tỉa nhánh”, “sâu mọt càng bắt càng nhiều”…, mặt khác lại xuyên tạc hoạt động tư pháp của Việt Nam. Bài viết cho rằng “Phiên tòa xét xử vụ án “Chuyến bay giải cứu” cho thấy tòa án của Việt Nam xét xử như “mua bán”, về độ nghiêm minh còn kém xa so với thời phong kiến”... 

Rồi RFA phỏng vấn hàng chục đối tượng bất mãn, phần tử phản động, cơ hội chính trị nhằm hướng lái vụ án sang vấn đề khác. Ví dụ như RFA phỏng vấn Võ Văn Tạo, một phần tử bất mãn, tham gia nhiều hội nhóm chống phá Đảng và Nhà nước. Và Võ Văn Tạo đã “không bỏ lỡ cơ hội”, tiếp tục nói xấu, bôi nhọ đất nước rằng: “Vụ án này đưa ra, vì họ cho rằng nạn tham nhũng hoành hành quá lộ liễu, nên người dân sẽ không tin nữa. Niềm tin của người dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam bị suy suyển nghiêm trọng sẽ dẫn đến hậu quả rất xấu với xã hội, nên họ đưa ra xét xử với mục tiêu như thế, có tính chất là “rách đâu vá đấy”, chứ không phải cơ bản”...

Trên VOA cũng đăng tải một loạt bài viết mang tính xuyên tạc như: “Chuyến bay giải cứu: Xử cán bộ tham nhũng, không thấy bồi thường cho dân”; “Vụ “chuyến bay giải cứu”: Tòa xử cán bộ tham nhũng, không có đền bù cho người dân”; “Nhìn lại “tấn trò đời” chuyến bay giải cứu”... Đặc biệt, VOA đăng bài viết của Lê Quốc Quân, một phần tư cơ hội chính trị, nhiều lần lợi dụng danh nghĩa yêu nước để cùng nhiều người tụ tập gây rối trật tự công cộng. 

Trên bài viết của mình, Lê Quốc Quân xuyên tạc rằng các quan chức tham nhũng là do “không thể tử tế trong một cơ chế bất lương”. Quân viết: “Nếu muốn trở nên lương thiện, họ phải thoát ra khỏi cơ chế tội lỗi đã sản sinh và nuôi dưỡng họ. Không một ai có thể nắm được một chức vụ hành chính trung và cao cấp nếu không phải là đảng viên, không phải nằm trong “phe phái” thuộc “xâu chuỗi” nào đó, cùng ăn chia lợi ích với nhau”; hay “cả hệ thống toà án Việt Nam đang hành xử như một cái chợ”. Quân quy chụp với giọng điệu hết sức phản động rằng: “Trong một cơ chế tù mù và đầy cạm bẫy, những tham vọng cá nhân luôn luôn trỗi dậy và sinh sôi. Đó chính là nguồn gốc của mọi loại tham nhũng”. Nguy hiểm hơn, Quân còn xúi giục, kích động người dân “kiện Chính phủ Việt Nam” để đòi lại số tiền phải chi trả không đúng với bản chất của vụ việc.


TRÒ HỀ “GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN VIỆT NAM”

Như thường lệ, năm nay, VHRN lại công bố cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2023”. Theo đó, 3 đối tượng được VHRN “vinh danh” là Trần Văn Bang, Y Wô Niê và Lê Trọng Hùng. Cả 3 đối tượng này đều đang là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam. VHRN tô vẽ Trần Văn Bang là “nhà hoạt động” ở Thành phố Hồ Chí Minh, “là người lên tiếng phản đối sự bá quyền của Trung Quốc, ô nhiễm môi trường và đòi hỏi công bằng cho những tù nhân lương tâm”. Đối với Y Wô Niê, VHRN cho rằng đối tượng này đã “can đảm tiếp tục con đường đấu tranh bất bạo động cho quyền của đồng bào Êđê, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng”. Còn Lê Trọng Hùng được khoác chiếc áo “nhà báo độc lập, người từng nộp hồ sơ tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam vào đầu năm 2021”.

Trần Văn Bang bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử và tuyên phạt 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo cáo trạng, Trần Văn Bang đã sử dụng 3 tài khoản Facebook gồm "Trần Bang", "Bang Trần" và "Tran Josh" để soạn thảo, đăng tải 39 bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng, nói xấu chính quyền nhân dân, thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với chính quyền, Đảng, Nhà nước và các vị lãnh đạo. 

Ngoài ra, bị cáo Bang còn có hành vi tàng trữ nhiều tài liệu, sách báo, trong đó có 4 cuốn tài liệu có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc nhân dân các nước; kích động bạo lực. Hành vi của bị cáo Trần Văn Bang là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh quốc gia, cần phải được xử lý nghiêm.

Y Wô Niê (sinh năm 1970, ở buôn Pưk Prông, xã Ea Ning, huyện Cư Kuin), đã từng có 01 tiền án về hành vi phá hoại chính sách đoàn kết, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 9 năm tù. Tháng 12/2011, Y Wo Niê chấp hành xong án phạt tù và được trở về địa phương. 

Tuy nhiên, Y Wô Niê không tu chí làm ăn, mà tạo một tài khoản tên “Jing” trên mạng xã hội WhatsApp, rồi đăng tải lên đó nhiều bài viết, hình ảnh có nội dung không đúng sự thật, vu khống, xúc phạm, bôi nhọ uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và lực lượng công an trên địa bàn huyện Cư Kuin và tỉnh Đắk Lắk. Y Wô Niê khai nhận, qua điện thoại và tài khoản “Jing” trên mạng xã hội WhatsApp, Y Wô Niê đã làm quen, móc nối và tham gia vào một hội nhóm ở nước ngoài. 

Nhóm này giao cho Y Wô Niê nắm tình hình về tự do, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo trong tỉnh Đắk Lắk và chỉ cần thu thập viết bài, đăng ảnh chia sẻ trên mạng xã hội, rồi làm báo cáo gửi cho bên ngoài để họ lợi dụng thổi phồng, xuyên tạc rồi họ sẽ trả tiền cho Y Wô Niê. Ngoài ra, Y Wô Niê còn gửi danh sách một số đối tượng phá rối an ninh chính trị ở Việt Nam cho một số hội nhóm ở nước ngoài để chúng sử dụng với mục đích vu cáo, xuyên tạc. Với những hành vi đó, Y Wô Niê đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 4 năm tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Còn đối với Lê Trọng Hùng, theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, từ tháng 4-2020 đến tháng 9-2020, Lê Trọng Hùng đã tự làm, đăng tải phát trực tiếp 7 video lên mạng xã hội Facebook. Trong đó, có 4 video chứa nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; bao gồm: "Đào tạo dân biểu 4.0 ", Bài 8 "Tại sao công dân trưởng thành có bổn phận tranh cử"; "Trưa không ngủ 17-5-2020"; "Khi nền tư pháp đóng vai trò phá hủy pháp luật thì phải ứng xử như thế nào với nó?"; Thư khẩn gửi Quốc hội yêu cầu khẩn cấp mở Tòa Bảo hiến để xử về vụ Đồng Tâm; "Tại sao có quá nhiều công dân bị oan sai?... Hành vi của lê Trọng Hùng đã cấu thành tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự.


Phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa

     Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước.

    Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực không còn là một khái niệm trừu tượng mà đã biểu hiện rất cụ thể trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cấp cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Đảng cũng nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”.

Thực tế cho thấy, những sự suy thoái nêu trên ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Đó là hành vi lợi dụng quyền lực, biến quyền lực chính trị được nhân dân ủy thác thành “của riêng” để đổi chác, ban phát, mua bán... Bên cạnh đó là sự “a dua” “vào hùa” với những ý kiến lệch lạc, thiếu khách quan, thiếu toàn diện về sự nghiệp đổi mới của đất nước; đòi đa nguyên, đa đảng; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc....

    Kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước. Nếu  không kịp thời sửa chữa, Đảng sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo, đồng thời không còn là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.

    Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng phải “không lơi tay” trong thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa, trong đó tập trung vào một số khâu đột phá:

    Một là, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Hai là, phát huy hơn nữa vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  

    Ba là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức và cá nhân trong kiểm tra, giám sát cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong việc ngăn chặn, đẩy lùi, chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

    Năm là, kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, xuyên tạc, chống phá.

 

LỘT TRẦN ÂM MƯU CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG VHRN

 Tháng 11 năm 1997, một nhóm đối tượng phản động người Việt trên đất Mỹ do Nguyễn Thanh

Trang, Lê Minh Nguyên, Ngô Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lâm Thu Vân... cầm đầu đã


nhóm họp tại thành phố Santa Ana, thuộc quận Orange County (hay còn gọi là quận Cam), bang

California, Mỹ công bố thành lập cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” (tên tiếng Anh là

Vietnam Human Rights Network-viết tắt là VHRN). Dưới danh nghĩa “gia tăng có hiệu quả các

hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở

Việt Nam...”, mục tiêu thực chất của VHRN là tìm mọi cách, sử dụng mọi thủ đoạn xuyên tạc, vu

khống về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, tạo cớ kêu gọi sự can thiệp từ nước ngoài vào công

việc nội bộ của Việt Nam.

Sau khi công bố thành lập, để khuếch trương thanh thế, VHRN đã lập riêng một trang web trên

mạng Internet và liên kết với “đài phát thanh” của các nhóm phản động người Việt khác trên đất

Mỹ tiến hành mở “chiến dịch” tán phát tài liệu phản động vu cáo, xuyên tạc nhằm chống phá

Nhà nước Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền”. Những kẻ đứng đầu VHRN đã móc nối, xây

dựng quan hệ với nhiều tổ chức phản động lưu vong khác, trong đó có cả những tổ chức ngoại vi

của tổ chức khủng bố Việt Tân. Đặc biệt, VHRN còn móc nối quan hệ với một số tổ chức nhân

quyền quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam như “Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế” (HRW),

“Nhà báo không biên giới” (RSF), “Ủy ban bảo vệ ký giả” (CPJ)... thường xuyên có những hoạt

động vu cáo, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền”.

Trong quá khứ, VHRN đã nhiều lần móc nối, vận động một số dân biểu, nghị sĩ Mỹ không có

thiện cảm với Việt Nam như Christopher Smith, Loretta Sanchez... bảo trợ nhằm thông qua “Dự

luật Nhân quyền cho Việt Nam” (HR.3096); gửi “thư ngỏ” cho Tổng thống Mỹ và một số dân

biểu, nghị sĩ thuộc lưỡng viện Mỹ kêu gọi áp đặt 3 điều kiện về “dân chủ, nhân quyền” đòi Việt

Nam phải thả tự do cho tất cả “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị” hoặc “tù nhân lương tâm”,

chấm dứt “chế độ quản chế tại gia” đối với những “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền” khi xem

xét trao “Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam”. 

VHRN còn vận động một số nghị sĩ Quốc hội Mỹ gây áp lực để Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt

Nam trở lại danh sách “các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt” về tình hình tự do tôn giáo (CPC).

Luận điệu vu cáo, xuyên tạc của VHRN là “Mỹ đã can thiệp và mang lại một số tiến bộ về tự do

tôn giáo cho Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn không thừa nhận Giáo hội Phật giáo Việt Nam

thống nhất, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, tiếp tục giam giữ các nhà lãnh đạo tôn giáo, đàn áp các

tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên và Tây Bắc...” để kích động.

Bắt đầu từ năm 2002, nhân ngày “Nhân quyền quốc tế”, VHRN tổ chức cái gọi là “Giải thưởng

Nhân quyền” hàng năm cho số đối tượng cực đoan chống đối trong nước, mà chúng gọi là “các

nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền xuất sắc trong nước” để khuyến khích, động viên và trợ giúp

tài chính cho các đối tượng chống đối này. Chúng khuếch trương “Giải thưởng Nhân quyền” còn

nhằm “bày tỏ sự ủng hộ về tinh thần của người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh, đòi lại

quyền làm người cho dân tộc Việt Nam”... Trong năm đầu tiên tổ chức, VHRN đã trao “giải

thưởng” cho Thích Quảng Độ, đối tượng chống đối cực đoan lợi dụng “Giáo hội Phật giáo Việt

Nam thống nhất” và Nguyễn Văn Lý, đối tượng chống đối cực đoan lợi dụng đạo Thiên Chúa.

Tính từ năm 2002 đến nay, VHRN đã trao giải thưởng này cho 60 cá nhân và 6 tổ chức, trong đó

các cá nhân được “vinh danh” là những đối tượng có hành vi phạm tội, đã bị toà án xét xử, đã

hoặc đang chấp hành án tại Việt Nam.

QUYẾT TÂM CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 Kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định

quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của

bất kỳ cá nhân nào”. Cũng có nghĩa, không hề có chuyện “phe phái”, “đấu đá, thanh trừng nội

bộ”; tất cả, dù là ai, làm gì, ở đâu, khi sai phạm đều bị xử lý nghiêm khắc. Chính những hành

động quyết liệt, kiên trì, bền bỉ, bài bản, thận trọng, chắc chắn và kết quả đạt được của Việt Nam,

mà trong báo cáo của Tổ chức Minh bạch quốc tế, năm 2022, đã đánh giá: Việt Nam tăng 03

điểm CPI so với năm 2021, từ 39 lên 42 trên thang điểm 100 và tiến 10 bậc trên bảng xếp hạng,

từ vị trí thứ 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2021, lên 77/180, thuộc nhóm nước có tiến bộ

nổi bật cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

của Việt Nam những năm qua. Các nước, các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao sự nỗ lực, cố gắng


và những kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, cho rằng: công tác phòng

chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam hiện nay là “mạnh mẽ hơn lúc nào hết”; “Đảng Cộng

sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam đang phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và

theo một cách có hệ thống”.

Trong 10 năm (2012 – 2022) Đảng đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ,

đảng viên. Trong đó, có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 Ủy viên Bộ Chính trị,

nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 36 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ

quan cấp tướng). Qua thanh tra, kiểm toán, kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá

nhân, chuyển cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm (Nguyễn Phú Trọng

(2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng

Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, HN,

tr.26). Trong 6 tháng đầu năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 452 vụ

án/1.409 bị can về các tội tham nhũng (tăng 155 vụ/727 bị can so cùng kỳ năm 2022).

Mới đây Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã công bố kết luận điều tra vụ án xảy ra tại Tập

đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và một số đơn vị khác. Thông qua Ngân hàng SCB, bà

Trương Mỹ Lan đã huy động tiền gửi tiết kiệm của người dân và rút ruột 1.066.000 tỷ đồng, sau

đó thành lập hơn 1.000 doanh nghiệp lớn nhỏ hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát gồm các công ty con,

công ty thành viên trong và ngoài nước. Nhóm công ty này được chia thành nhiều tầng lớp, với

hàng trăm cá nhân được thuê đứng tên đại diện pháp luật, là người có quan hệ họ hàng, cán bộ,

công nhân viên Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, giúp Trương Mỹ Lan lập khống 916 hồ sơ vay vốn rút

tiền, chiếm đoạt của Ngân hàng SCB hơn 304 nghìn tỷ đồng, cùng lãi phát sinh 129.372 tỷ đồng,

tổng cộng là hơn 415.000 tỷ đồng.

Tiếp tay, góp phần cho Trương Mỹ Lan tham ô có 41 lãnh đạo, cán bộ Ngân hàng SCB; 15 cựu

cán bộ Ngân hàng Nhà nước; 3 cựu cán bộ Thanh tra Chính phủ; một cựu cán bộ Kiểm toán Nhà

nước. Trong đó phải kể đến Đỗ Thị Nhàn, cựu Cục trưởng Cục Thanh tra, Giám sát ngân hàng II

- Ngân hàng Nhà nước, bị cáo buộc nhận hối lộ 5,2 triệu USD (khoảng 118 tỷ đồng) để bao che,

bưng bít cho những sai phạm của “tập đoàn tội phạm” Vạn Thịnh Phát và bà “trùm mafia”

Trương Mỹ Lan trong quá trình thanh tra, kiểm tra Ngân hàng SCB.

Vụ đại án “siêu lừa” này đã âm ỷ trong dư luận nhân dân rất nhiều, nay đã được đưa ra ánh sáng,

với tính chất và qui mô, sự tác động nhiều chiều đối với đời sống xã hội, nhất là doanh nghiệp,

hệ thống ngân hàng, cán bộ ngân hàng, cán bộ Thanh tra – kiểm toán từ Trung ương đến cơ sở,

đặc biệt là lòng tin của nhân dân vào chế độ.

Cuộc chiến “chống giặc nội xâm” không thể ngừng nghỉ, không thể khoan nhượng, phải đi đến

đích là “làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước”. Trung ương đã lãnh

đạo, chỉ đạo quyết liệt, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả rất quan

trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và

thực sự “đã trở thành xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng

tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Đây chính là câu trả lời đanh thép, bác

bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng cuộc chiến này để

thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chống phá cách mạng Việt Nam.

“THAM NHŨNG” LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI

 Trên cả phương diện lý luận đúc kết và thực tiễn đã chứng minh, tham nhũng là một hiện tượng

xã hội, gắn liền với quyền lực, là “khuyết tật bẩm sinh”, sự tha hóa của quyền lực mà bất kể chế

độ xã hội nào trên thế giới cũng đều phải đương đầu với nó. Thực tiễn đã chứng minh, dù là các

nước phát triển, đang phát triển, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, như: Nhật Bản, Hàn Quốc;

hay nhất nguyên chính trị như Trung Quốc, hoặc như các nước có nền kinh tế phát triển cao, thực

hiện tam quyền phân lập như ở châu Âu, Bắc Mỹ,... cũng đã và đang phải đương đầu với tệ tham

nhũng. Tham nhũng đã từng làm rối ren xã hội, khuynh đảo thể chế chính trị, thậm chí là sụp đổ

chính quyền ở một số nước trên thế giới. Chính vì thế, tham nhũng không phải là sản phẩm riêng

có của chế độ “độc đảng”, hay “bản chất” của thể chế nhất nguyên chính trị như các thế lực thù

địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc.