Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 


 

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội,... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam cần triển khai và làm tốt một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục sau:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.   

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”. 

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò “hạt nhân” tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn “đất” để xuyên tạc, chống phá./.

TBQL 17

CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” DƯỚI MỘT BỘ MẶT MỚI

 


Hiện nay. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc:

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài. Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm,... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay./.

TBQL 17

NHẬN DIỆN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự,...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp./.

TBQL 17

LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM QUA HƠN 35 NĂM ĐỔI MỚI

 

Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cơ bản cho lý luận về đạo đức của đảng cộng sảm cầm quyền. Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đảng cộng sản cầm quyền trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò, sứ mệnh của Đảng duy nhất cầm quyền.
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đảng cầm quyền
Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của đạo đức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và đối với đảng cộng sản cầm quyền
Từ rất sớm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận thức rõ vai trò của đạo đức đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Với phương pháp luận duy vật biện chứng, C.Mác chỉ ra rằng, đạo đức là một phạm trù lịch sử, nó bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử, bởi tồn tại xã hội, đồng thời là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức và hoạt động thực tiễn của con người. Ph.Ăngghen viết: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người”.
Trong các hình thái đạo đức của các thời đại khác nhau, chủ nghĩa Mác đặc biệt đánh giá cao vai trò của đạo đức mới trong xã hội tương lai - đạo đức cộng sản. Đó là “một đạo đức thực sự có tính người”, “thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản - là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài”.
Giá trị đạo đức không chỉ được thể hiện, phát huy, trở thành động lực trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, mà nó còn là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, nhất là khi đảng đó trở thành đảng cầm quyền. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức chi phối xã hội là đạo đức của giai cấp thống trị, “vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị”. Tính giai cấp của đạo đức thể hiện ở chỗ, mỗi chế độ xã hội thường xây dựng các chuẩn mực đạo đức tương thích với các thiết chế chính trị và lợi ích xã hội do chế độ xã hội đó đặt ra.
Đạo đức cũng là một trong những yếu tố tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội, nó thẩm thấu vào các mối quan hệ xã hội và có tác dụng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ chính trị. Đảng cầm quyền tạo được sự giao thoa giữa lý tưởng cách mạng với niềm tin của nhân dân trên cơ sở năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức của đảng sẽ khơi dậy, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng đi theo và ủng hộ, qua đó đảng giữ vững được vị thế cầm quyền và vai trò lãnh đạo.
Sau khi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân giành được thắng lợi, đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân - trở thành đảng cầm quyền tiến hành cuộc cách mạng toàn diện, triệt để nhằm xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với một hệ thống các chuẩn mực đạo đức mới. Trong đạo đức mới, chuẩn mực bao trùm, xuyên suốt là: lợi ích của đảng phù hợp với lợi ích của giai cấp và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, bởi những người cộng sản “tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”; “tất cả những phong trào lịch sử, từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số”. Nhân tố cốt lõi nhất của đạo đức cộng sản chính là sự thống nhất về lợi ích giữa đảng với giai cấp công nhân và nhân dân. Điều đó tạo thành động lực to lớn thu hút toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động đi theo, ủng hộ và trở thành cơ sở chính trị - xã hội rộng lớn bảo đảm vững chắc vị thế cầm quyền của đảng.
V.I.Lênin là lãnh tụ của đảng cộng sản đầu tiên cầm quyền. Ngày 27-3-1922, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng bônsêvích Nga, V.I.Lênin khẳng định: “đảng ta là đảng cầm quyền duy nhất”. Là đảng cầm quyền, nên những điều kiện bảo đảm cho sự cầm quyền của đảng được Người rất coi trọng. Người đã nghiên cứu, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác về đảng cộng sản, đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về đảng cầm quyền từ thực tiễn của nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, trong đó có lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền.
V.I.Lênin khẳng định, để bảo đảm vững chắc vị thế cầm quyền, lãnh đạo giai cấp, lãnh đạo xã hội, trước hết đảng phải có lý luận khoa học và cách mạng soi đường. “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”. Đồng thời, Người cũng khẳng định: đảng cộng sản phải đại diện cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”. Sự kết hợp của ba yếu tố: năng lực trí tuệ lãnh đạo sáng suốt; danh dự trách nhiệm trước sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột; lương tâm, phẩm giá đạo đức trong sáng sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm giữ vững vị thế cầm quyền, lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và toàn xã hội. “Cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản”; vì vậy, “cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục, và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tùng cuộc đấu tranh này. Và đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này. Chúng ta nói rằng: đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản”.
Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và trong điều kiện của Đảng cầm quyền, V.I.Lênin đặc biệt coi trọng công tác xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức, kiên quyết đấu tranh, phòng ngừa mọi biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Tất cả những căn bệnh: quan liêu, nhu nhược, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân, kiêu ngạo cộng sản... nếu không phòng ngừa và đấu tranh loại bỏ thì sẽ là nguy cơ lớn đe dọa vị thế cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng. Người chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”.
Từ đó, V.I.Lênin yêu cầu, đảng phải hết sức coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trong sạch, vững mạnh, kết hợp với xây dựng một nhà nước kiểu mới theo nguyên tắc “Thà ít mà tốt”, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cán bộ, đảng viên trong đảng và trong bộ máy nhà nước phải được tuyển chọn kỹ càng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, bảo đảm về chất lượng. Họ phải là “những phần tử ưu tú... phải không sợ thừa nhận bất cứ một khó khăn nào và không lùi bước trước bất cứ một cuộc đấu tranh nào để đạt được mục đích”.
Khi đảng cầm quyền, nguy cơ tha hóa về quyền lực, lạm quyền là rất lớn. Sớm nhận ra vấn đề này, V.I.Lênin yêu cầu phải làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực bằng phương thức kết hợp giữa hệ thống pháp luật với công tác tổ chức, công tác kiểm tra của Đảng, với thực thi dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển lý luận về đạo đức của Đảng cầm quyền ở Việt Nam.
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống lý luận về đạo đức cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi cách mạng thành công, giành lại độc lập dân tộc và bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức, trí tuệ cho công việc hệ trọng là xây dựng Đảng xứng đáng “là đạo đức”, “là văn minh”.
Lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền được Hồ Chí Minh nhìn nhận ở hai góc độ: đạo đức của toàn Đảng và đạo đức của mỗi đảng viên. Đạo đức của Đảng thể hiện ở sứ mệnh lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền; xây dựng một nền chính trị liêm khiết; tính tiên phong gương mẫu; tính tổ chức kỷ luật, tự giác nghiêm minh; tinh thần tự phê bình và phê bình; lấy phụng sự Tổ quốc, nhân dân và dân tộc làm lợi ích tối thượng; v.v.. Đạo đức của mỗi đảng viên thể hiện ở “tư cách của người cách mạng”, “ít lòng ham muốn về vật chất”, “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng”. Để giữ vững vị thế cầm quyền và thực thi một nền chính trị liêm khiết, Đảng phải kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị”; cùng với giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, “thực hành chữ LIÊM”, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mặc dù sau đó thực dân Pháp quay lại xâm lược, Đảng ta mới giữ vai trò cầm quyền trong phạm vi nhất định và tuyên bố tự giải tán, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng và nhãn quan chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nguy cơ có thể làm suy yếu Đảng, đe dọa vị thế cầm quyền của Đảng - đó là những thói hư, tật xấu, sự suy đồi về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, của một số tổ chức đảng. Tất cả những khuyết tật này nếu không được ngăn chặn, loại bỏ sẽ gây tác hại khôn lường, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với vị thế cầm quyền của Đảng, gây khó khăn cho cuộc kháng chiến diễn ra ác liệt, gây tác hại lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy, tháng 10-1947, Người đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Trong tác phẩm này, Người đã phân tích rõ “tư cách của người cách mạng và đạo đức cách mạng”, bao gồm mười hai điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng và xây dựng Đảng về đạo đức. Đây chính là những chuẩn mực đạo đức của một đảng cầm quyền. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh, khuyết điểm mà cán bộ, đảng viên dễ mắc phải bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân. Người xem đây là “căn bệnh mẹ” đẻ ra trăm thứ bệnh khác, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, đầu óc hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa, bè phái... Mặt khác, Người cũng chỉ ra phương pháp, cách thức rèn luyện, tu dưỡng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày soi vào đó mà quyết tâm sửa chữa, rèn luyện, phấn đấu.
Trong Di chúc, một lần nữa Hồ Chí Minh khẳng định: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh vẫn là công việc hàng đầu, trước hết. Do vậy, Người yêu cầu: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”; cán bộ, đảng viên phải là những con người vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu nước, thương dân, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo đức của Đảng cầm quyền với tấm gương đạo đức trong sáng của đội ngũ cán bộ, đảng viên tạo nên sức hút và trở thành yếu tố thu phục nhân dân đi theo, ủng hộ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Không chỉ xây dựng hệ thống lý luận đạo đức cách mạng nền tảng, Hồ Chí Minh còn là tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực về sự kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị” trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người luôn tâm niệm: đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và với dân tộc.
Người căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung đạo đức của Đảng cầm quyền thể hiện, thấm sâu trên mọi lĩnh vực. Về chính trị, tư tưởng, Đảng phải có lý luận khoa học và cách mạng làm nền tảng soi đường dẫn lối, đề ra đường lối đúng đắn để lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Về tổ chức, đạo đức của Đảng cầm quyền được thể hiện vừa ở đạo đức của toàn Đảng, của các tổ chức đảng, vừa là đạo đức của mỗi đảng viên. Về hành động, các tổ chức đảng và mỗi đảng viên phải thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối thượng để phục vụ, cống hiến. Về phương thức thực hiện, kết hợp hài hòa giữa “pháp trị” và “đức trị”, qua cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân, đặc biệt qua sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng và đối với từng cán bộ, đảng viên.
2. Sự vận dụng, phát triển lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền qua hơn 35 năm đổi mới ở Việt Nam
Từ thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền được Đảng ta vận dụng, bổ sung, phát triển và đạt được những thành tựu cơ bản sau:
Một là, quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của đảng cầm quyền
Đảng đã quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 xác định rõ vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đảng ta tiếp tục xác định yêu cầu, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đảng phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Hai là, tư duy, nhận thức lý luận về đạo đức của đảng cầm quyền không ngừng được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với bối cảnh mới
Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không có nhiệm kỳ nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng không có nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng, về đổi mới, chỉnh đốn Đảng, gần đây thể hiện rõ, tập trung ở các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Đảng ta chỉ ra, giúp mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào đó mà tự soi xét và nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác trong việc thực hiện Nghị quyết.
Từ Đại hội XII, Đảng xác định xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung trong công tác xây dựng Đảng. Đến Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng Đảng được xác định đầy đủ: xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Đại hội XIII đã bổ sung thành tố “năng lực cầm quyền” bên cạnh các thành tố “năng lực lãnh đạo” và “sức chiến đấu”. Mục tiêu tổng quát của định hướng phát triển đất nước có đoạn ghi: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đây là một sự bổ sung, phát triển mới của Đảng trong nhận thức lý luận về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền, là sự kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Ðảng; giữa xây dựng Ðảng với bảo vệ Ðảng trong điều kiện mới.
Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khẳng định: tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với một số điểm mới nổi bật: cùng với xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải mở rộng phạm vi xây dựng, chỉnh đốn cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đi liền với ngăn chặn, đẩy lùi phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực; bổ sung, làm rõ hơn hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát với tình hình mới, trong đó nhấn mạnh đến nguy hại của suy thoái về đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy giảm niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của đất nước; nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu trong bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN và bảo vệ nhân dân.
Ba là, xác định rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện một Đảng cầm quyền
Nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng được bổ sung ngày càng rõ và toàn diện hơn. Tại Đại hội VII của Đảng, Cương lĩnh năm 1991 xác định: Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra; bằng biện pháp nêu gương của cán bộ, đảng viên; giới thiệu những đảng viên ưu tú lãnh đạo chính quyền và các tổ chức đoàn thể.
Đến Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh năm 2011 bổ sung, làm rõ hơn trách nhiệm cá nhân, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu; Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và năng lực lãnh đạo.
Tại Đại hội XII của Đảng, điểm mới trong nội dung xây dựng Đảng được bổ sung toàn diện hơn, trong đó không chỉ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, mà nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Đến Đại hội XIII, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh, làm rõ, toàn diện hơn phương thức dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây không chỉ là sự kế thừa bài học lớn “lấy dân làm gốc” từ trong lịch sử cách mạng nước ta, mà còn là sự tổng kết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng thời kỳ đổi mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong nhận thức, phát triển lý luận về đạo đức của Đảng cầm quyền còn một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ, từ khái niệm đến nội hàm, các tiêu chí đánh giá đạo đức của đảng cầm quyền; quan hệ giữa xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ; những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng Đảng về đạo đức; định hướng và các giải pháp đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức để Đảng ta luôn xứng đáng “là đạo đức” của Đảng duy nhất cầm quyền...
Tạp chí Điện tử Lý luận chính trị

LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG KHÔNG ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 

Không khó để nhận thấy động cơ của những thế lực thù địch là lợi dụng công cuộc phòng, chống tham nhũng để kích động, gây mơ hồ ảo tưởng, nhận thức sai lệch của nhân dân về Đảng.
Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, các cơ quan phòng, chống tham nhũng, bảo vệ tư pháp là yêu cầu cấp thiết từ thực tế công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua.
Việc Bộ Chính trị mới đây ban hành Quy định 131-QĐ/TW và Quy định số 132-QĐ/TW cho thấy quyết tâm của Đảng trong chống “giặc nội xâm," hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những "khoảng trống," "kẽ hở" bằng “lồng cơ chế” và đáp ứng được mong mỏi của đảng viên, nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém." Người cũng chỉ rõ vị trí, vai trò của cán bộ trong bộ máy nhà nước: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt."
Thấm nhuần lời dạy của Bác, Đảng ta luôn xác định: “Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng." Đảng ta nhận thức rất rõ, nếu quyền lực của người đứng đầu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến lạm quyền, tha hóa quyền lực của người đứng đầu.
Do đó, việc kiểm soát quyền lực được Đảng ta cụ thể hóa chủ trương bằng các quy chế, quy định khá cụ thể và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Đảng ta đã chú trọng cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phù hợp tình hình thực tế, xác định quyền và trách nhiệm của tập thể và cá nhân người đứng đầu. Tăng cường phân cấp, phân quyền theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời từng bước có cơ chế, chế tài cụ thể xác định, xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi có khuyết điểm, vi phạm.
Nhưng thực tế cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế trong kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ của các cơ quan chức năng có nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các hoạt động vốn mang tính nhạy cảm, đòi hỏi tính liêm chính cao như: thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Điều này biểu hiện rõ qua hàng loạt vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã và đang bị phanh phui với không ít cán bộ thoái hóa, biến chất khiến dư luận không khỏi bức xúc.
Điển hình như năm 2022, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị bắt quả tang khi đang nhận tiền của một nữ bị cáo để chuyển 6 tháng tù giam thành 6 tháng tù treo.
Tháng 7/2023, Tỉnh ủy viên, Chánh Thanh tra tỉnh Lai Châu Nguyễn Thanh Trì bị khai trừ ra khỏi Đảng do liên quan đến vụ án đưa, nhận hối lộ xảy ra tại Thanh tra tỉnh và các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh này.
Xung quanh vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và một số đơn vị khác có liên quan đang được dư luận đặc biệt quan tâm, mới đây, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên cho hay tất cả thành viên đoàn thanh tra liên ngành thời điểm thanh tra đã nhận tiền, quà và lợi ích vật chất từ Ngân hàng SCB.
Với số tiền nhận hối lộ trên 5 triệu USD, đây là vụ nhận hối lộ lớn nhất từ trước đến nay, tính đến thời điểm hiện tại. Riêng Trưởng Đoàn Thanh tra nhận trên 5 triệu USD.
Nhìn nhận những hạn chế dẫn đến “kẽ hở” trong cơ chế kiểm soát quyền lực, dư luận cho rằng có nhiều nguyên nhân. Nổi lên là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” đâu đó còn nặng tính hình thức, không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm thì không ai chịu trách nhiệm…
Cũng chính vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp, quy định nhằm xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, biện pháp, cách thức để kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực sự hiệu quả. Các quy định, nghị quyết được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống, sẽ "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế," dần khắc phục được những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng.
Điển hình là tháng 10/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Tiếp đó, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 132-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Việc ban hành hai quy định này cho thấy Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ trong các lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, đòi hỏi tính liêm chính rất cao, Đảng còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh trong quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền và củng cố niềm tin, sự ủng hộ, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội trên nhiều mặt trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Đồng thời, hướng tới mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm.
Thế nhưng các thế lực thù địch ở nước ngoài và phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng việc này để hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hòng tiến tới xóa bỏ chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta.
Phải khẳng định dứt khoát rằng, những lập luận này hoàn toàn sai trái!
Tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám," “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa.
Không khó để nhận thấy động cơ của những thế lực thù địch là lợi dụng công cuộc phòng, chống tham nhũng để kích động, gây mơ hồ ảo tưởng, nhận thức sai lệch của nhân dân về Đảng.
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đang được tiến hành quyết liệt trên cả hai mặt “xây” và “chống." Dư luận xã hội đang rất trông đợi và kỳ vọng, các quy định mới đây của Đảng ta sẽ giải quyết được những nhức nhối gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và góp phần xóa bỏ những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng.
Những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ sẽ tiếp tục được xử lý nghiêm minh. Như mới đây là việc nghiêm trị các cán bộ cấp cao liên quan đến những vi phạm trong vụ án “chuyến bay giải cứu."
Trong vụ án này, cựu Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội Nguyễn Anh Tuấn bị phạt 5 năm tù về tội "nhận hối lộ"; Vũ Anh Tuấn, cựu cán bộ Cục Quản lý Xuất Nhập cảnh, Bộ Công an và Hoàng Văn Hưng - cựu Trưởng Phòng 5, Cơ quan An ninh Điều tra, Bộ Công an đều nhận mức án tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản."
Đặc biệt, tháng 11/2023, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tập trung xử lý dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến các vụ án, vụ việc xảy ra tại Công ty Việt Á, Công ty AIC, Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát…
Có thể khẳng định công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận.
Quyết tâm “chống giặc nội xâm," khắc phục những bất cập bằng “lồng cơ chế” đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành liêm chính ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.
Nguồn: TTXVN/Vietnam+

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG ỦY LỮ ĐOÀN 88 HỌP PHIÊN THỨ NHẤT RA NGHỊ QUYẾT LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2024!

     Sáng ngày 08-12, tại Tp. Đà Nẵng, Đảng ủy Lữ đoàn 88 trực thuộc Đảng ủy Binh chủng Hóa học tổ chức họp phiên thứ nhất, ra Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2024. Tới dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Thiếu tướng Trịnh Thành Đồng - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Hóa học cùng các cơ quan chức năng của Binh chủng!
Tại Hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Hóa học công bố các Quyết định về nhân sự cán bộ; công bố và trao quyết định của Đảng ủy Binh chủng về việc thành lập Đảng bộ Lữ đoàn 88 nhiệm kỳ 2020 - 2025. Theo đó, Đảng ủy Lữ đoàn 88 được Đảng ủy Binh chủng chỉ định gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Tuấn, Chính ủy Lữ đoàn được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy; đồng chí Đại tá Nguyễn Huy, Lữ đoàn trưởng được chỉ định giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Thiếu tướng Trịnh Thành Đồng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Hóa học đã biểu dương cán bộ, chiến sĩ trong toàn Lữ đoàn vì đã có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ, đồng thời cũng nhấn mạnh: Trong thời gian tới, đề nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Lữ đoàn 88 cần lãnh đạo quán triệt thực hiện nghiêm nghị quyết Đại hội đảng các cấp, trọng tâm là thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Binh chủng về lãnh đạo thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thành lập Lữ đoàn 88 thuộc Binh chủng Hóa học, Nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 2024 của Đảng ủy Binh chủng; hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định phân công nhiệm vụ cụ thể trong lãnh đạo, chỉ huy các cấp; tổ chức tiếp nhận, bàn giao cụ thể về tài sản và vật chất; nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định, hệ thống văn kiện và các kế hoạch công tác; tập trung lãnh đạo giáo dục xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức rõ yêu cầu, nhiệm vụ Lữ đoàn và trách nhiệm bản thân trong công tác. Ổn định tổ chức biên chế theo quy định. Duy trì nghiêm nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật trong toàn Lữ đoàn. Tổ chức huấn luyện cho các đối tượng theo kế hoạch đạt mục đích, yêu cầu đề ra; huấn luyện cho bộ đội sử dụng thành thạo TBKT có trong biên chế, khí tài hiện đại. Lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Lữ đoàn 88 bảo đảm trang trọng, nghiêm túc, an toàn, tiết kiệm, khơi dậy được lòng tự hào của cán bộ, chiến sĩ trong toàn Lữ đoàn và lực lượng Hóa học toàn quân. Đồng thời, phát huy hoạt động công tác dân vận, kết nghĩa trên địa bàn đóng quân xây dựng hình ảnh của “Bộ đội Hóa học” trong lòng nhân dân. Làm tốt công tác chuẩn bị đón Tết nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tập trung chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong toàn Lữ đoàn. Từ đó, xây dựng Đảng bộ Lữ đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; Lữ đoàn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, phấn đấu đạt danh hiệu đơn vị VMTD “Mẫu mực, tiêu biểu”, an toàn tuyệt đối.
Cũng theo chương trình của Hội nghị phiên thứ nhất; Ban Chấp hành Đảng bộ Lữ đoàn 88 đã Bầu Ủy ban Kiểm tra và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Lữ đoàn, nhiệm kỳ 2020 - 2025; ra các Quyết định thành lập các đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc; chỉ định nhân sự Ban Chấp hành, bí thư, phó bí thư đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc Đảng bộ Lữ đoàn; thành lập Đoàn cơ sở Lữ đoàn 88; chỉ định nhân sự Ban chấp hành, Ban Thường vụ, bí thư, phó bí thư Đoàn cơ sở Lữ đoàn 88 và ra Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2024.
Sự ra đời của Lữ đoàn 88 - Binh chủng Hóa học đánh dấu bước phát triển về tổ chức xây dựng lực lượng của Bộ đội Hóa học trong thời kỳ mới. Tin tưởng rằng với truyền thống “Phòng chống tốt - Chiến đấu giỏi” của Bộ đội Hóa học anh hùng. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong toàn Lữ đoàn sẽ luôn phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, chủ động, mưu trí, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGHIÊN CỨU XÂY THÊM SÂN BAY QUỐC TẾ TẠI PHÍA NAM ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG!

     Nhấn mạnh tầm quan trọng của liên kết giao thông, Thủ tướng Phạm Minh Chính gợi mở có thể nghiên cứu quy hoạch, xây sân bay quốc tế mới ở phía nam Đồng bằng sông Hồng, vì phía bắc đã có 3 sân bay!

Định hướng này được Thủ tướng Phạm Minh Chính đề cập khi chủ trì hội nghị lần thứ hai về quy hoạch Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đồng bằng sông Hồng có vị trí, vai trò đặc biệt, đóng góp trên 50% GDP của cả nước, vì thế, theo yêu cầu của Thủ tướng, phải phát huy, khai thác tối đa tiềm năng rất khác biệt, cơ hội rất nổi trội, lợi thế cạnh tranh rất rõ của vùng.

Các địa phương không thể không liên kết
Theo người đứng đầu Chính phủ, vùng Đồng bằng sông Hồng có lợi thế là cửa ngõ kết nối Trung Quốc - ASEAN bằng cả đường bộ và đường biển, trong đó con đường qua cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) là đường kết nối ngắn nhất (khoảng 500km) giữa Vùng Đồng bằng sông Hồng với vùng kinh tế phát triển năng động nhất Trung Quốc.

So với các vùng khác trên cả nước, Đồng bằng sông Hồng cũng gần khu vực Đông Bắc Á nhất, vì thế, Thủ tướng lưu ý phải xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc về an ninh quốc phòng và phòng tuyến hợp tác và cạnh tranh về phát triển kinh tế.

Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh liên kết vùng là một trong những đột phá, động lực tăng trưởng mới, cùng với liên kết các vùng, liên kết với cả nước và liên kết quốc tế. Do đó, cần phát huy tinh thần chủ động, tự lực, tự cường.

"Không địa phương nào làm thay địa phương nào, nhưng không thể không liên kết, đặc biệt là liên kết giao thông", theo lời Thủ tướng.

Riêng về hàng không, lãnh đạo Chính phủ phân tích khu vực phía bắc đồng bằng đã có 3 sân bay (Nội Bài, Vân Đồn, Cát Bi), có thể nghiên cứu kỹ lưỡng để xem xét, quy hoạch, xây dựng một sân bay quốc tế mới tại khu vực phía nam đồng bằng sông Hồng.

Nhân dịp này, Thủ tướng biểu dương Hà Nội đã khai thác hiệu quả, thu hút nhiều du khách đến nhiều địa điểm, di sản văn hóa, như ga Gia Lâm, bốt Hàng Đậu, nhà tù Hỏa Lò.

Quảng Ninh và Hải Phòng được yêu cầu liên kết quản lý, khai thác tốt nhất khi vịnh Hạ Long đã được UNESCO nhất trí cho mở rộng ranh giới, bao gồm cả quần đảo Cát Bà (Hải Phòng), trở thành Di sản thế giới vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà, di sản thế giới liên tỉnh đầu tiên của Việt Nam.

Thủ tướng cũng yêu cầu Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương và các bộ, cơ quan liên quan tiếp tục tích cực triển khai các công việc để trình UNESCO công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là di sản thế giới và phối hợp khai thác tốt di sản này.

6 định hướng phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng
Theo Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, quy hoạch có ý nghĩa quan trọng, "mở đường" tạo ra cơ hội mới, động lực phát triển mới và giá trị mới cho vùng Đồng bằng sông Hồng.

Quy hoạch vùng cũng là căn cứ quan trọng để đề xuất kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, đặc biệt là các dự án lớn, có tính liên vùng.

Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư cho biết Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng đã đưa ra 6 định hướng phát triển.

Một là, đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, ch.uyển đ.ổi s.ố, chuyển đổi xanh. Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ hiện đại của khu vực Đông Nam Á.

Hai là tổ chức không gian phát triển vùng hợp lý, gồm: 3 hành lang quốc gia, kết nối quốc tế - 2 hành lang bổ trợ kết nối liên vùng - 1 hành lang ven biển - 2 vùng động lực phát triển - 2 tiểu vùng kinh tế-xã hội.

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; là thành phố kết nối toàn cầu, ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và thế giới.

Ba là phát triển Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thành tam giác tăng trưởng; phát triển các đô thị chủ đạo trên các tuyến hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng. Các chuỗi và chùm đô thị thuộc tiểu vùng Duyên hải Bắc bộ.

Bốn là hoàn thiện mạng lưới kết cấu hạ tầng tập trung hoàn thiện đồng bộ, hiện đại, trọng tâm là hạ tầng giao thông đảm bảo kết nối hiệu quả các trung tâm kinh tế nội vùng, trong nước, quốc tế.

Năm là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

Sáu là ưu tiên bố trí nguồn lực cho các công trình động lực, có tính lan tỏa, kết nối vùng như hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng đô thị…

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đề xuất thí điểm một số mô hình, cơ chế, chính sách mới vượt trội, cạnh tranh quốc tế cao nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng và tam giác động lực tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, TP trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Diện tích tự nhiên của vùng là 21.253km2, chiếm 6,42% diện tích của cả nước; dân số 22,92 triệu người, chiếm 23,49% dân số cả nước; mật độ dân số 1.087 người/km2, cao nhất so với các vùng khác và gấp 3,66 lần so với mật độ trung bình chung của cả nước./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUÂN ĐOÀN 12 NHƯ THẾ NÀO?

         Ngày 02-12, tại TP Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, diễn ra Lễ công bố quyết định thành lập Quân đoàn 12. Quân đoàn mới là sự sáp nhập giữa Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng anh hùng và Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng!

Thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng quân đội
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, xác định mục tiêu đến năm 2025, xây dựng Quân đội cơ bản “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là chủ trương thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Các quân đoàn sẽ được tổ chức lại, tiếp tục được xác định là lực lượng cơ động chiến lược, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 được tổ chức lại thành Quân đoàn 12.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ, về việc triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, có hiệu quả rõ rệt Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030, đây là vấn đề rất lớn, rất hệ trọng, liên quan đến công tác tư tưởng, công tác chính sách. Quá trình thực hiện phải chặt chẽ, kiên quyết, kiên trì, có lộ trình, bước đi thích hợp, không chủ quan, nóng vội; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác chính sách; triển khai xây dựng đồng bộ các quy định về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm mọi mặt hoạt động của các đơn vị được điều chỉnh nhịp nhàng, hiệu quả. Sau điều chỉnh, sáp nhập, toàn quân phải giữ vững được sự ổn định, sức mạnh chiến đấu phải mạnh lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đoàn 1 (24-10-1973 / 24-10-2023), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh, phải làm cho cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ nhận thức sâu sắc chủ trương về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam là yêu cầu khách quan, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm và hành động trong quá trình điều chỉnh tổ chức lực lượng; chống các biểu hiện tiêu cực, chủ quan, nóng vội, trông chờ, thiếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện.

Quân đoàn 12 cần tập trung làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức thành công cuộc diễn tập ngay sau khi được thành lập trong năm 2023 theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, mở đầu thắng lợi cho giai đoạn lịch sử phát triển mới của Quân đoàn; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới phương thức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và cơ chế quản lý tài chính phù hợp với quy mô lực lượng của quân đoàn mới. Chú trọng nâng cao chất lượng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ; thực hiện tốt phương châm “thực túc - binh cường”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, quan tâm chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội; chú trọng xây dựng, nâng cao sức cơ động, để Quân đoàn 12 thực sự là đơn vị “Chủ lực, cơ động chiến lược” của Bộ Quốc phòng, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, với mọi quy mô lực lượng và cự ly, yêu cầu của hình thức tác chiến được giao; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; chăm lo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Quân đoàn "Tinh, gọn, mạnh" đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam
Ngày 21-11-2023, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 6012/QĐ-BQP về việc thành lập Quân đoàn 12. Theo đó, Quân đoàn 12 là quân đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức lại theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại.

Thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thời gian qua, các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Phân viện 5 (Bệnh viện 7, Quân khu 3) đã làm tốt công tác rà soát, kiểm, đếm quân số, vũ khí trang bị, cơ sở vật chất, thao trường huấn luyện… tích cực chuẩn bị mọi mặt phục vụ bàn giao “đúng, đủ, chính xác, an toàn”. Ngày 29-11, tại Ninh Bình, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị tiếp nhận nguyên trạng các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 1, Quân đoàn 2 và Phân viện 5 (Bệnh viện 7, Quân khu 3) về Quân đoàn 12.

Tại hội nghị phiên thứ nhất của Đảng ủy Quân đoàn 12 tổ chức ngày 28-11 vừa qua, Đảng ủy Quân đoàn 12 được Quân ủy Trung ương chỉ định gồm 19 đồng chí. Thiếu tướng Nguyễn Đức Hưng, Chính ủy Quân đoàn được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy. Thiếu tướng Trương Mạnh Dũng, Tư lệnh Quân đoàn được chỉ định giữ chức Phó bí thư Đảng ủy Quân đoàn.

Để lãnh đạo Quân đoàn thực sự “tinh, gọn, mạnh” sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, Đảng ủy Quân đoàn 12 quyết nghị 5 nhiệm vụ, giải pháp cơ bản, nổi bật là: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tập trung quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, kế hoạch của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đoàn 12 “tinh, gọn, mạnh”, có tổ chức biên chế hợp lý, sức cơ động lớn, sức đột kích mạnh; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đoàn “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, đảm nhiệm tác chiến trên nhiều hướng chiến lược của đất nước. Nhanh chóng ổn định tổ chức, biên chế; kịp thời kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân theo đúng quy định. Nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Chủ động điều chỉnh quyết tâm, kế hoạch sẵn sàng chiến đấu; phòng, chống cháy nổ; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai... Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên tuần tra, canh gác, bảo đảm an toàn các mục tiêu; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, LLVT địa phương, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, tạo chuyển biến vững chắc về xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật. Coi trọng phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong chấp hành pháp luật, kỷ luật; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ, tăng cường công tác kiểm tra, quản lý quân số và các mối quan hệ của bộ đội; kịp thời chấn chỉnh, xử lý các sai phạm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi hoạt động của đơn vị đều có lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ.

Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính cho các nhiệm vụ, không để thất thoát, tiêu cực, lãng phí. Bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe bộ đội. Kiểm tra, đôn đốc thi công các dự án, công trình, bảo đảm chất lượng, tiến độ và an toàn.

Chủ động đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp quản lý, chỉ huy, điều hành bảo đảm khoa học, dân chủ, sâu sát cơ sở; giải quyết tốt các mối quan hệ công tác trên cơ sở nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; cấp trên làm gương cho cấp dưới, chỉ huy gương mẫu, mẫu mực trước đơn vị. Tăng cường kiểm tra việc quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của trên; kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân làm tốt, đồng thời kiên quyết xử lý vi phạm./.




Yêu nước ST.