Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hiện nay.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với sự bùng nổ của mạng Internet đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, sáng suốt phân tích và nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó tăng cường sức đề kháng, tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả chống lại kẻ thù. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của kẻ thù; đấu tranh kiên quyết bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh bảo vệ và phát triển cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới đất nước, bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; phản bác các quan điểm tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và ý đồ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Tiếp tục tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức rõ mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, giữa đối tác và đối tượng, phân biệt rõ bạn, thù trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động và kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, củng cố xây dựng niềm tin, ý chí chiến đấu, quyết tâm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.

Hai là, giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng Cộng sản Việt Nam.  

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn lấy việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng Cộng sản làm nguồn lực, cơ sở để tồn tại và phát triển. Nhờ đó, Đảng đã vững vàng lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong tình hình hiện nay, khi nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng;  kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối đổi mới đất nước; chủ động tổng kết thực tiễn, khái quát, bổ sung, phát triển lý luận trong tình hình mới.

Với vai trò là người lãnh đạo, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp, đồng thời là lãnh tụ chính trị tinh thần của cả dân tộc, hơn ai hết, Đảng phải có bản lĩnh và trí tuệ ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Bản lĩnh, trí tuệ được thể hiện ở sự kiên định vững vàng, chủ động sáng tạo trong xây dựng và tổ chức thực hiện cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới đất nước. Hơn 30 năm đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta đã đề ra và tổ chức thực hiện có kết quả đường lối đổi mới, vận dụng sáng tạo những nguyên lý lý luận, tổng kết thực tiễn, mở rộng dân chủ, phát huy được trí tuệ của cán bộ, đảng viên, nắm bắt được những vấn đề nẩy sinh từ cuộc sống, của tình hình phát triển kinh tế. Giữ vững và tăng cường tính tiên phong đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên làm giàu về năng lực, trí tuệ đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong đổi mới phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tích cực đổi mới, xây dựng chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu đòi hỏi khách quan, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước; là sứ mệnh thiêng liêng do nhân dân và dân tộc giao phó; là nhân tố bảo đảm ổn định chính trị, tạo nên sức mạnh đoàn kết, thống nhất để đưa đất nước đi lên. Không có vai trò lãnh đạo của Đảng thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và càng không có chủ nghĩa xã hội. Vì thế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc, mục tiêu, đồng thời là điều kiện kiên quyết để làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện các quy định của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương; xây dựng hình tượng cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm khiết; kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; nâng cao lập trường cách mạng; bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng dưới mọi hình thức; nêu cao tính đảng, tính gương mẫu trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; thường xuyên giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đi đôi với việc tích cực tự đổi mới, tự chỉnh đốn; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong thời kỳ mới.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc, tập trung dân chủ; không ngừng chăm lo xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gắn bố mật thiết với nhân dân.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là nhân tố quyết định sức mạnh và sự thống nhất của Đảng. Do đó, cần nhận thức đúng nội dung, bản chất của tập trung dân chủ; mối quan hệ biện chứng giữa tập trung với dân chủ; trên cơ sở đó mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng, có quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định, nhất là việc dân chủ thảo luận xây dựng chủ trương, nghị quyết và lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa, địa vị, tranh giành quyền lực, cũng như cục bộ địa phương; bố trí đúng cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng tình yêu thương, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích chung. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất là một truyền thống tốt đẹp của Đảng, đồng thời là nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta.

Thực tiễn trong những bước ngoặt của cách mạng, trong những lúc khó khăn, nguy hiểm, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguồn sức mạnh, là nhân tố quan trọng, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tình cảm cách mạng trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; đồng thời thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng. Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của cách mạng có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có thảo luận, tranh luận. Đây là quy luật bình thường và lành mạnh trong Đảng, phản ánh bước trưởng thành của Đảng. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù lợi dụng việc Đảng ta mở rộng dân chủ thảo luận để khuếch trương các ý kiến trái ngược nhau, sau đó quy chụp cho Đảng ta là bắt bớ, xử lý những người có quan điểm bất đồng.

Về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác”. “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” - đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy, nhờ quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng, chăm lo giữ gìn sự đoàn kết gắn bó giữa Đảng với nhân dân, Đảng ta đã khơi dậy các tiềm năng từ nhân dân, tạo ra nguồn lực mới cho Đảng. Ngược lại, ở đâu và lúc nào tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên xa dân, quan liêu thậm chí trù dập, ức hiếp dân thì Đảng mất chỗ dựa từ nhân dân, bị dân xa lánh.

Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục nhận thức sâu sắc, có biện pháp tích cực, thiết thực để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; giữ gìn và phát huy bản chất tốt đẹp của Đảng; ngăn chặn, khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ, xây dựng củng cố và thực hiện các thiết chế dân chủ, tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp. Đồng thời, Đảng cần đẩy mạnh việc chăm lo xây dựng và củng cố các cơ quan nhà nước trong sạch, vững mạnh./.

TBQL 17

GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, sáng lập và rèn luyện. Trải qua 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ, đạo đức, văn minh của một đảng cách mạng chân chính, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành và giữ chính quyền, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tập trung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng trước nhân dân, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Chúng đưa ra các luận điệu cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo là “mất dân chủ”, là “chuyên chế”, “đặc quyền, đặc lợi”, là “bóp nghẹt dân chủ”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ” trong Đảng và trong đời sống xã hội. Chúng đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu này, chúng tập trung tấn công trên nhiều lĩnh vực với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.

Các thế lực thù địch thực hiện chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh vào thế giới quan, cơ sở khoa học đường lối chính trị của Đảng; phủ nhận những thành tựu to lớn mà chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại cho dân tộc Việt Nam. Chúng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, chủ nghĩa xã hội khoa học không còn sức sống, đã diệt vong. Thời gian gần đây, lợi dụng và triệt để khai thác những hiện tượng tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng dẫn đến “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên với những biểu hiện như: tự xa rời, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chạy theo “lợi ích nhóm”, “chủ nghĩa tư bản thân hữu”…, các thế lực thù địch tiếp tục tấn công, xuyên tạc, cắt xén, bác bỏ những luận điểm căn bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng còn xuyên tạc trắng trợn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cố tình nói sai sự thật về đời tư, hạ thấp uy tín của Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng: “Hồ Chí Minh” không phải là nhà tư tưởng, mà chỉ là nhà hoạt động thực tiễn nên không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng lờ đi những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh giàu chất lý luận về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người đã soi đường cho dân tộc ta và ảnh hưởng đến nhiều dân tộc khác trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đó, đòi Đảng ta phải từ bỏ học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài thực hiện ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch còn chống phá về tổ chức của Đảng ta. Chúng tập trung đánh phá vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chúng ra sức xuyên tạc cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, lạc hậu, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không còn phù hợp sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng độc đoán, chuyên quyền…; cổ vũ cho sự bất đồng ý kiến về quan điểm trong Đảng rồi lợi dụng sự bất đồng đó để chia rẽ Đảng thành những phe, nhóm đối lập, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên khác, đảng viên già với đảng viên trẻ, từng bước gây ra mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức đảng…

Các thế lực thù địch còn tìm mọi cách chia rẽ Đảng với nhân dân, lôi kéo kích động, tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền. Chúng cho rằng: Thực hiện sự chuyên chính của một Đảng là nguồn gốc dẫn đến quan liêu, tham nhũng. Lợi dụng việc Đảng ta công khai tự phê bình và phê bình, các thế lực thù địch công kích, nói xấu Đảng, thổi phồng khuyết điểm, sai lầm của một số cá nhân đảng viên để gán cho Đảng Cộng sản đủ các căn bệnh. Thông qua đó, các thế lực thù địch chúng tìm mọi cách chia rẽ, phân hóa các tầng lớp nhân dân, lôi kéo làm mất ổn định chính trị, khi thời cơ đến tiến hành lật đổ ta từ bên trong./.

TBQL 17

Phát Huy Thế Mạnh Của Internet Và Dư Luận Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực

 


Không gian mạng cũng giống như xã hội thực, thúc đẩy tự do, dân chủ, nhưng cũng phải tuân thủ pháp luật. Cần tôn trọng quyền trao đổi ý kiến, bày tỏ ý chí của cư dân mạng và dư luận trực tuyến, đồng thời với xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh theo pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân mạng được bảo đảm(2). Để phát huy đúng đắn, hiệu quả vai trò của internet và dư luận xã hội trực tuyến đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cần phải xuất phát từ đặc điểm của truyền thông internet, phát huy ưu điểm, loại bỏ nhược điểm, sử dụng hợp lý vai trò giám sát của dư luận trực tuyến trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, giữ gìn văn hóa liêm chính trong xã hội nói chung và trong hệ thống chính trị nói riêng.

Thứ nhất, nhận thức đúng về hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên không gian mạng.   

Internet đã mở ra một kênh mới để dư luận xã hội chia sẻ thông tin và bày tỏ ý kiến về những hành vi tham nhũng, tiêu cực; trở thành một kênh thuận tiện, an toàn để quần chúng nhân dân tham gia và thảo luận các công việc của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; là một kênh giám sát độc lập với giám sát nội bộ như kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, giám sát của cơ quan tư pháp và giám sát của báo chí, kênh thông tin đại chúng chính thống của Đảng, Nhà nước. Việc thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet có sự gắn kết và độc lập mạnh mẽ, đồng thời mang lại nhiều khả năng hơn cho việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy xây dựng văn hóa liêm chính trong xã hội và toàn hệ thống chính trị. Trên thực tế, việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet một cách có trật tự, kỷ cương cũng sẽ góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch của nền chính trị dân chủ, đồng thời giúp nâng cao ý thức công dân của toàn xã hội, để người dân tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Bên cạnh đó, phải tỉnh táo, cảnh giác nhận thức được phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một hoạt động vô cùng phức tạp mang tính hệ thống. Sức mạnh của giám sát của dư luận trực tuyến rất lớn, nhưng những thông tin có được từ hình thức giám sát này thường chỉ mang tính tham khảo.

Thứ hai, sử dụng hợp lý internet để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Dựa vào internet, có thể thúc đẩy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở ít nhất ba khía cạnh: 1) Cung cấp thêm đầu mối chống tham nhũng, tiêu cực: việc cung cấp, tiết lộ thông tin trên internet, điều tra trực tuyến và các hình thức khác sẽ cung cấp cho các cơ quan hữu quan có thêm các manh mối phong phú, cụ thể, trực tiếp cho việc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; 2) Có thể tạo thành áp lực dư luận mạnh mẽ: hiện tượng tham nhũng, tiêu cực sau khi bị cư dân mạng phát hiện, lan truyền trên internet sẽ lập tức thu hút sự chú ý rộng rãi, không chỉ tạo thành áp lực dư luận rất lớn đối với các đối tượng chịu sự giám sát mà còn có tác dụng cảnh báo, giáo dục rõ rệt đối với mọi cán bộ, đảng viên; 3) Có thể nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng nhân dân: phần lớn cư dân mạng tích cực cung cấp manh mối, tiến hành điều tra, theo dõi diễn biến của các vụ việc liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, đồng thời tăng cường giám sát việc xử lý tình huống thông qua internet, tạo thành lực lượng quần chúng hùng hậu trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, có lợi cho việc ngăn chặn và đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực. Phải thấu hiểu, lắng nghe dư luận, tiếp thu ý kiến của quần chúng nhân dân và sử dụng quyền lực chính trị thông qua giám sát dư luận trực tuyến để thực hiện công việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thúc đẩy văn hóa liêm chính một cách vững chắc và hiệu quả.

Thứ ba, quản lý có hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet.

Sự gia tăng hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên internet có thể khắc phục những hạn chế, sự mất an toàn, nguy cơ bị đe dọa đối với người tố giác, tố cáo, lên án, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên các kênh tố giác, tố cáo truyền thống. Tuy nhiên, nếu hoạt động này không được tiếp nhận, xử lý, giải quyết đúng đắn, kịp thời thì dễ dẫn đến tình trạng mất lòng tin của quần chúng vào chính quyền và làm suy giảm việc tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của quần chúng nhân dân. Muốn vậy, cần phải tận dụng tình hình, chủ động tấn công, tích cực xây dựng các kênh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tuyến thông suốt, hiệu quả và mạnh mẽ. Thiết lập cơ chế lãnh đạo đối với các tổ chức dư luận trực tuyến liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Thành lập Tổ chỉ đạo xử lý dư luận tham nhũng, tiêu cực trên internet do Ủy ban kiểm tra hoặc Ban Nội chính các cấp chủ trì, chịu trách nhiệm cụ thể về việc thu thập ý kiến công dân liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trực tuyến, tổ chức và điều phối công việc của các bộ phận liên quan để xác minh, giám sát, báo cáo và công bố thông tin, đồng thời sử dụng internet một cách khoa học và chính xác để thúc đẩy phòng, chống tham nhũng. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm thiết lập hệ thống họp liên tịch để công tác thông tin dư luận xã hội về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tổ chức họp định kỳ, phản ánh dư luận lớn về tham nhũng và thông tin trên internet... tạo thành thế trận đoàn kết, thống nhất để phòng, chống tham nhũng trên cộng đồng mạng.

Thứ tư, phản hồi và xử lý thông tin liên quan về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trước những vụ việc dư luận quan tâm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cũng như cơ quan nội chính, tư pháp phải thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật; cần nghiên cứu và phán đoán thấu đáo các vấn đề được phản ánh trong dư luận mạng, xem xét đầy đủ phản ứng của cư dân mạng, tìm ra chân tướng sự việc một cách chính xác, xử lý đúng đắn, tạo uy tín cho mình. Mặt khác, cần phát huy đầy đủ vai trò của các phương tiện truyền thông chính thống với tư cách là một kênh định hướng dư luận, phản bác những tin đồn thất thiệt, không chính xác và phóng đại trên internet, làm rõ sự thật và đạt được sự thống nhất hữu cơ của hiệu quả chính trị, pháp lý và xã hội. Các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, cơ quan nội chính, tư pháp kịp thời phản hồi các bức xúc của xã hội bằng kết luận chính xác, khách quan để tăng uy tín, hạn chế tin đồn trên mạng, tạo niềm tin cho cư dân mạng vào hoạt động phòng, chống, đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực mà Đảng ta đang tiến hành và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế giám sát đối với việc nghiên cứu, phán đoán của dư luận xã hội liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trên không gian mạng.

Các cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, nội chính, tư pháp cần thành lập các bộ phận để theo dõi, sàng lọc, phân tích, nghiên cứu và phán đoán dư luận trực tuyến liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Các cơ quan chuyên trách cần tăng cường quản lý thông tin liên quan đến tham nhũng, tiêu cực trên mạng, sử dụng nhiều phương tiện, kênh thông tin và đảm bảo pháp lý để thông tin về các vụ, việc, điểm nóng được dư luận quan tâm. Bên cạnh đó, công khai các biện pháp chính sách, các thông tin liên quan của cơ quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật, nội chính, tư pháp mà xã hội quan tâm, kịp thời công khai tình hình giám sát, xử lý dư luận xã hội; hướng dẫn, kiểm soát định hướng dư luận đối với những vấn đề dư luận xã hội nhạy cảm liên quan đến trật tự, xã hội; góp phần gìn giữ hình ảnh, uy tín của Đảng và Nhà nước; làm trong sạch không gian mạng, ngăn chặn thông tin sai lệch, ác ý hoặc cố tình gây hiểu lầm cho dư luận./.

TBQL 17

 

PHÁT HUY VAI TRÒ, THẾ MẠNH CỦA INTERNET VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 


Internet đã làm thay đổi cách sống của con người, tác động sâu sắc đến đời sống chính trị, xã hội và theo đó việc giám sát của dư luận xã hội trên mạng internet là một sự tiến bộ của thời đại, là hiện thân của sự tiến bộ trong dân chủ xã hội. Những ưu điểm nổi bật của internet mà không phương thức giám sát nào có được, thể hiện qua bốn vấn đề sau đây:

Một là, phạm vi giám sát vô cùng rộng lớn. Chỉ cần có cơ sở hạ tầng cơ bản về công cụ kỹ thuật và mạng internet, người dân thuộc mọi tầng lớp, ngành nghề, nhóm lợi ích có kỹ năng sử dụng mạng có thể đứng trên các vị trí, góc độ khác nhau để thảo luận, bày tỏ quan điểm về công việc quốc gia, phản ánh các vấn đề xã hội, bày tỏ nhu cầu lợi ích, giám sát các hoạt động của đất nước, đặc biệt là giám sát hoạt động của đảng cầm quyền, của Nhà nước cũng như toàn bộ hệ thống chính trị thông qua mạng internet. Đồng thời, hoạt động giám sát của dư luận trên mạng internet có thể vươn đến nhiều vùng, nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề khác nhau từ vi mô đến vĩ mô.

Hai là, hiệu quả giám sát vượt trội hơn. Tính thời sự và tính kết nối, tương tác mạnh mẽ của internet giúp cho việc phổ biến, lan tỏa và phản hồi thông tin kịp thời và trực tiếp hơn, nhờ đó hiệu quả giám sát dư luận trực tuyến từng bước được cải thiện. Đây là lý do quan trọng thể hiện qua hình thức lấy ý kiến giám sát trực tuyến của Nhân dân ngày càng được nhiều người đồng tình, ủng hộ và áp dụng.

Ba là, hình thức giám sát linh hoạt hơn. Lượng thông tin khổng lồ được lưu trữ trên internet cung cấp nhiều nguồn thông tin và cơ sở vật chất để thực hiện việc giám sát của dư luận. Từ mạng xã hội, báo chí trực tuyến cho đến các website… sự cùng tồn tại và tương tác của nhiều hình thức mạng làm cho các phương thức giám sát của dư luận xã hội trực tuyến trở nên đa dạng và linh hoạt hơn. Đồng thời, tính ẩn danh của internet cũng phát huy tác dụng giúp bảo vệ những công dân mạng tích cực tham gia giám sát hoạt động của bộ máy công quyền.

Bốn là, chi phí giám sát tiết kiệm hơn. Sự thuận tiện, hiệu quả và dễ vận hành của giám sát dư luận trực tuyến đã giúp giảm đáng kể chi phí vật chất của giám sát dư luận truyền thống. Hơn nữa, việc giám sát của dư luận trực tiếp còn có sự tham gia của hàng triệu cư dân mạng đến từ các khu vực, ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Họ thực hiện quyền giám sát và cung cấp thông tin về các hành vi tiêu cực, sai phạm của các cá nhân, tổ chức lên internet, điều này giúp cho công tác điều tra, kiểm tra thực tế được dễ dàng hơn, chi phí tiết kiệm hơn./.

TBQL 17

NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI, PHẢN ĐỘNG VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Một là, tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua các hình thức, biện pháp, kết hợp giữa giáo dục với tự giáo dục để nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về: tính cấp thiết, vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Cần xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ đạo, của các lực lượng chuyên trách và của các lực lượng khác trong tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Vị trí, vai trò, trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn chặt với vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trên các cương vị được giao.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Ba là, xác định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, tổ chức lực lượng và xác định rõ cơ chế phối hợp, kết hợp giữa các lực lượng đấu tranh phù hợp và có hiệu quả thiết thực.

Xác định rõ nội dung đấu tranh, trong đó tập trung vào những nội dung mà các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđang ráo riết tập trung hướng tới hiện nay và những năm tới trong chống phá cách mạng Việt Nam. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới những hình thức, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động nhằm đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu tổ chức lực lượng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hợp lý, quan tâm xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt. Thường xuyên quan tâm phối hợp, kết hợp tốt giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Bốn là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn. Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về những vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Năm là, quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngày càng hợp lý, có hiệu quả hơn.

Quan tâm đầu tư bồi dưỡng lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” về bản lĩnh chính trị, phẩm chất chính trị, đạo đức, về tinh thần đoàn kết, về ý thức tổ chức kỷ luật, về năng lực, kinh nghiệm và phương pháp đấu tranh...Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo về mặt thông tin, tư liệu cho các lực lượng tham gia đấu tranh kịp thời, cập nhật, chính xác. Có cơ chế, chính sách, chế độ cụ thể đảm bảo sự quan tâm đối với các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận khó khăn, phức tạp và quyết liệt này.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên là chính để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xây dựng các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, hoạt động có hiệu quả, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương với những phong trào cách mạng rộng khắp tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, chống sự xâm nhập và nảy sinh các quan điểm, tư tưởng phản động, phản văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội./.

TBQL 17

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 


Trong quá trình chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động đặc biệt quan tâm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xuyên tạc, phủ nhận và đi tới xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Chúng ra sức xuyên tạc chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tatrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tuyêntruyền, cổ súy cho hệ tư tưởng tư sản phản động; xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, tiến tới làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam...

Đặc biệt, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi mới, sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra. Lợi dụng những khó khăn, phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong quá trình chúng ta triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc mới, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, hiện nay và trong những năm tới, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ tập trung chống phá cách mạng Việt Nam trên các các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội.

- Tập trung xuyên tạc, phá hoại Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

- Tăng cường xâm nhập về văn hóa, đạo đức, lối sống, tập trung tấn công vào nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc bằng cách làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của chúng ta, kết hợp với việc gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động, tuyên truyền lối sống thực dụng trong xã hội ta, nhất là trong thế hệ trẻ, trong sinh viên, học sinh...

          - Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…, những vấn đề do lịch sử để lại, những “điểm nóng” về an ninh, về trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần.

- Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trong quá trình tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, trong thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.

- Đối với Quân đội ta, các thế lực thù địcn, cơ hội, phản động sẽ tăng cường thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, tìm cách tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; từng bước làm suy yếu bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân. Tìm cách phá vỡ hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; làm xói mòn về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống và đã thu được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong xác định kế hoạch và tổ chức lực lượng, triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống; việc phối hợp, kết hợp và điều kiện đảm bảo thông tin, tư liệu, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” vẫn còn những hạn chế, bất cập./.

TBQL 17

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của Hội CCB Việt Nam: “Động viên CCB phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống. Tăng cường vai trò của hội viên trong việc giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các cấp hội CCB cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, như sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và hướng dẫn, chỉ đạo của Ban chỉ đạo 35 các cấp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đến cán bộ, hội viên CCB. Các cấp hội quan tâm làm tốt công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, đặc biệt ở các địa bàn trọng điểm, kịp thời phát hiện những vấn đề nổi cộm, từ đó tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo 35 các cấp giải quyết, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trọng tâm là nâng cao nhận thức cho hội viên về những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền làm cho hội viên CCB và nhân dân hiểu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, trách nhiệm của hội viên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể, tập trung làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội cho cán bộ, hội viên CCB và nhân dân; cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, chuẩn xác, qua đó phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên nắm chắc tình hình hội viên và nhân dân trên địa bàn dân cư; kịp thời phát hiện những động thái, dư luận có biểu hiện lệch lạc, đồng thời bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động. Khi có tình huống xảy ra trên địa bàn dân cư, cần làm tốt công tác tham mưu để cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương kịp thời xử lý.

Ba là, đi đôi với công tác tuyên truyền, cần làm tốt công tác nắm tình hình dư luận xã hội, chủ động nắm bắt các nguồn thông tin lan truyền tại cơ sở để phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của hội viên CCB và nhân dân, xây dựng nội dung tuyên truyền chống các luận điệu sai trái, qua đó phát huy dân chủ, giúp người dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Thông qua dư luận để điều chỉnh một số chủ trương, chính sách cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế của nhân dân và địa phương; kiên quyết loại trừ những thông tin bịa đặt, không chính xác; thông báo, xử lý kịp thời cho cơ quan chức năng xử lý các thông tin sai trái gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Bốn là, tổ chức hội CCB ở cơ sở cần tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ, hội viên chấp hành đúng Điều lệ hội. Thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước, không lan truyền những thông tin sai lệch, xấu độc; tán phát đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xuyên tạc, vu không, kích động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm. Các tổ chức hội cần kết nối lực lượng xung kích ở cơ sở để tạo thành thế trận vững chắc, có tính tổ chức, kỷ luật trong việc phòng chống, phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc. Chủ động xây dựng lực lượng nòng cốt, có năng lực, trình độ đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng; đồng thời duy trì nghiêm nền nếp hoạt động của các tổ, các cộng tác viên trong phát hiện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, hội viên CCB từ cơ sở, chi hội, tổ hội. Mỗi cán bộ hội cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW; tích cực học tập lý luận chính trị để trang bị kiến thức, nâng cao “khả năng miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Mỗi CCB cần nêu cao cảnh giác, không để các phần tử xấu lợi dụng gây mất đoàn kết nội bộ, vu cáo, bôi nhọ, đả kích Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội; tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bằng tâm huyết và sự từng trải của mình, các CCB cần tích cực tham gia giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thụ kinh nghiệm sống, cống hiến cho thế hệ trẻ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là vấn đề cơ bản, hệ trọng, sống còn trong xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên, lâu dài của các cấp hội và mỗi cán bộ, hội viên hội CCB, trước hết là người đứng đầu tổ chức hội các cấp./.

TBQL 17

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC ÂM MƯU, LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 


Xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ chính trị của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, những năm qua, các cấp hội đã thường xuyên chăm lo giáo dục, tuyên truyền, giúp hội viên hiểu biết sâu sắc và nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, mỗi cán bộ, hội viên CCB  hiểu rõ hơn nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Một trong những giải pháp giúp nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, hội viên CCB đó là các cấp hội thường xuyên quan tâm xây dựng lượng nòng cốt, cốt cán trong Hội CCB. Từ những hoạt động cụ thể, thiết thực, các phong trào thi đua, Hội CCB các cấp đã xây dựng được lực lượng tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, có vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Cùng với đó, các cấp hội đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 và Chỉ thị 01 của Bộ Chính trị (khóa XII, XIII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Các cấp hội, hội viên luôn gương mẫu chấp hành, thường xuyên phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy đảng và trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động hội viên, nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phản động, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ, mất đoàn kết. Hằng năm, có hơn 98% cán bộ, hội viên CCB đăng ký thực hiện những nội dung, việc làm thiết thực; nhiều tấm gương tiêu biểu được cấp ủy, chính quyền các địa phương biểu dương, khen thưởng. Kết quả đó tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Hội CCB trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở, góp phần quan trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Các cấp hội phối hợp tham gia giám sát, phản biện xã hội và tham gia giải quyết một số vấn đề phức tạp xảy ra trên địa bàn; phát hiện kịp thời và chủ động ngăn chặn những quan điểm sai trái, thù địch tác động đến hội viên CCB và nhân dân trên địa bàn./.

TBQL 17

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO QUỐC GIA BẰNG BIỆN PHÁP HÒA BÌNH

 


Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.

Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).

Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.

Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay./.

TBQL 17

CHÍNH SÁCH NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 


Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế.

Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia./.

TBQL 17

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

 


Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá./.

TBQL 17