Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

"BÂY GIỜ GIỮ NỀN ĐỘC LẬP CÀNG CẦN ĐOÀN KẾT HƠN"


Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 3-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.
Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Lời căn dặn của Người được đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 4-12-1945.
Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách, như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
Gần 80 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế-xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng, chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… cán bộ, chiến sĩ quân đội đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
QĐND

VÌ SAO NHIỀU ĐỐI TƯỢNG CỐT CÁN TỪ BỎ “CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI ”?


Khi tìm hiểu về nguyên nhân những đối tượng từng là các thành viên cốt cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” từ bỏ tổ chức, chúng ta sẽ thấy được sự mục rỗng của tổ chức phản động lưu vong này và bản chất lừa đảo của Đào Minh Quân.
Có lẽ không ai hiểu Đào Minh Quân bằng chính những người “đồng hội, đồng thuyền”. Song đến thời điểm này, những kẻ từng là “anh em cây khế”, số cốt cán thân cận được ông ta tự phong chức vụ, cấp bậc lại rời xa Quân. Vì sao lại có sự việc này? Tiếng nói của những người trong cuộc sẽ là lời lẽ đanh thép nhất vạch trần bản chất của Quân.
Có thể khẳng định rằng, căn nguyên của “sự ra đi” này là do lòng tham và bản chất lừa đảo của Quân đã bị các đối tượng trong nhóm phát hiện. Những người quan tâm đến Quân ở Mỹ có lẽ đều biết rằng đến thời điểm này, ông ta đã tuyên bố phá sản. Song thực chất, đây chỉ là “chiêu trò” của Quân nhằm chiếm đoạt tài sản từ các thành viên cốt cán của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Tài sản của Quân không hề mất đi mà nó được chuyển sang đứng tên vợ ông ta. Việc xây dựng cái được gọi là “Tụ nghĩa đường”, nơi Quân vẫn ra rả tuyên truyền rằng đó là căn cứ hoạt động của tổ chức sau này là một minh chứng. Với lý do xây dựng “Tụ nghĩa đường”, Quân đã “bỏ túi” một khoản tiền không nhỏ.
Cụ thể, để chiếm đoạt tiền của các thành viên trong tổ chức, kẻ “tâm thần chính trị” tuyên truyền, vận động các thành viên cốt cán đóng tiền xây dựng với mục đích tái hiện lại dinh Độc Lập ở đó… Sau đó, để lấy được tiền trong túi của các thành viên cốt cán, Quân đã nghĩ ra một chiêu trò rất tinh quái, đó là ký kết hợp đồng, mua cổ phiếu và cổ tức nhằm xây dựng “Tụ nghĩa đường”. Với mánh khoé này, ông ta đã tàn nhẫn lấy đi cả những đồng lương hưu ít ỏi của các thành viên cốt cán, khiến nhiều người rơi vào cảnh nợ nần… Và rồi, sau khi chiếm đoạt được tiền của họ, Quân sử dụng để tiêu xài cá nhân.
Trần Trưng Nguyệt Ánh, một trong những đối tượng cộm cán của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” cũng rời bỏ tổ chức từ năm 2020, sau khi nhận ra bản chất lừa đảo của Đào Minh Quân và tổ chức này. Trước đó, chồng Nguyệt Ánh là Nguyễn Huy Hoàng cũng từng tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và được phong là chuẩn tướng. Để ủng hộ việc xây dựng “Tụ nghĩa đường”, Nguyệt Ánh tôn “tôn sùng” Đào Minh Quân đến mức dỡ cả cửa nhà mình để đưa cho ông ta. Về sau này, do những mâu thuẫn về tiền bạc, lại cay đắng vì biết bị Quân lợi dụng, Nguyệt Ánh đã đến dỡ chiếc cửa mang về nhà.
Trong sự việc này, Quân đã lợi dụng danh nghĩa của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” để kêu gọi đóng góp và vay mượn tiền của các thành viên, trong đó có Nguyệt Ánh nhưng số tiền này, sau đó chỉ được dùng vào việc tiêu xài cá nhân. Không dừng lại ở đó, hiện nay bà Nguyệt Ánh cũng đang phải trả một khoản cước phí với số tiền không nhỏ cho Quân. Trước đó, theo đề nghị của Quân, bà ta từng đứng tên một thuê bao điện thoại để người dân trong nước liên hệ, đăng ký tham gia cái gọi là “Trưng cầu dân ý”. Ban đầu, Quân hứa sẽ trả số tiền trên nhưng sau đó thì phó mặc cho Nguyệt Ánh. Vì thế, hiện nay gia đình Nguyệt Ánh đang phải trả số tiền trên…
Hứa hẹn phong chức, phong hàm, cung cấp việc làm theo ý muốn và được trả tiền lương cao để hoạt động
Bản chất lừa đảo của Quân cũng có thể được nhìn rõ bởi chỉ nói mà không làm. Việc cụ thể nhất là hứa hẹn về nước. Khoảng vài năm trở lại đây, năm nào Quân cũng hứa sẽ hồi hương về Việt Nam để chia đất, chia tài sản cho những người tham gia “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; tham gia “Trưng cầu dân ý”, thế nhưng cho đến thời điểm này thì tất cả chỉ là lời hứa hẹn…
Tiếp đó, để đánh vào lòng tin của một số người dân trong nước, đặc biệt là những gia đình từng có quá khứ từng tham gia Việt Nam cộng hoà; những người gặp khó khăn trong cuộc sống…, tin rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức chính danh, được công nhận, Quân đã thuê một số người Mỹ, người da màu tham dự các cuộc họp. Đối tượng giới thiệu họ là nghị sĩ, những người “có tiếng nói” ở các tiểu bang trong chính quyền Mỹ ủng hộ tổ chức. Đối tượng còn tự vẽ, viết rồi ký vào các văn bản, giả mạo rằng giới chức Mỹ có “quan tâm” và giúp đỡ tổ chức này. Trên thực chất, tất cả chỉ là “chiêu trò” của Quân để lừa bịp, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin ở cả trong và ngoài nước tham gia vào tổ chức.
Nhưng “đi đêm cũng có ngày gặp ma”, sự thật này đã được “tiết lộ” bởi chính những người “quay xe” khi họ từ bỏ “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Một số người sau khi bí mật xác minh thì biết rằng những người được Quân giới thiệu là chính khách và nghị sĩ này thực chất chỉ là những kẻ không có nghề nghiệp ổn định, được anh ta thuê đến dự. Đó là lý do vì sao, Quân tránh không để các thành viên trong tổ chức tiếp xúc với các nghị sĩ giả này.
Với thủ đoạn này, Quân dễ dàng “qua mặt” một số người dân trong nước thiếu thông tin; khiến họ lầm tưởng rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là một tổ chức chính danh; tin tưởng vào các chương trình cấp nhà miễn phí; “Trưng cầu dân ý”… Sự thực đã và đang diễn ra đã cho thấy sự lừa đảo và bản chất của Quân. Chương trình xây, cấp nhà miễn phí được Quân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” triển khai từ năm 2019, đến thời điểm này đã tròn 4 năm, thế nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một người dân nào ở trong nước được cấp nhà. Quân cứ nói rằng sắp có và chuẩn bị có nhưng thực tế là sẽ chẳng bao giờ có.
Tiếp đó là việc đánh tráo khái niệm về cái gọi là “Trưng cầu dân ý” nhằm thực hiện mục đích cá nhân của ông ta. Thực tế cho thấy, trưng cầu dân ý của Việt Nam khác hoàn toàn với cái gọi là “Trưng cầu dân ý” do Quân nghĩ ra. Chỉ là một tổ chức bất hợp pháp, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có tư cách gì để tiến hành trưng cầu dân ý? Đối tượng đã vin vào Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam; sau đó lập lờ nói rằng, hiến pháp quy định mỗi người đều được trưng cầu dân ý và Luật trưng cầu dân ý đã có, việc bầu Quân là đúng luật nên không có sai phạm. Sau đó, Quân kêu gọi và hứa hẹn mọi người rằng khi tham gia “Trưng cầu dân ý” sẽ có tiền và nhà.
Khi tìm hiểu về tổ chức này, tôi khá ngạc nhiên bởi có những câu chuyện vô cùng hoang đường do Quân tự vẽ ra nhưng vẫn có thể “đánh” vào lòng tham của không ít người. Cụ thể, Quân từng tuyên bố rằng “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đã thắng tại Toà án môi trường quốc tế, xử phạt được 18 nghìn tỷ USD do thắng kiện sau sự cố môi trường tại một tỉnh ở miền Trung. Số tiền sau khi thu hồi được sẽ phát cho người dân trong nước để xây nhà… Nếu đủ tỉnh táo thì chắc chắn nhiều người sẽ biết, đây là một điều không tưởng vì thực tế chẳng có một toà án quốc tế nào xử vụ án đó. Trong khi đó “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chỉ là một tổ chức phản động thì có tư cách gì để khởi kiện?.
Bằng việc làm này, Quân muốn lấy sự thù hận để đi sâu, lôi kéo người dân tham gia vào tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và thực hiện việc “Trưng cầu dân ý”… Về phía người dân, khi tham gia “Trưng cầu dân ý”, họ đã vô tình cung cấp các thông tin cá nhân như CCCD, địa chỉ nhà cho đối tượng mà không biết đồng thời cũng vô tình tiếp tay cho tội phạm “mạng”. Họ không hề biết rằng, chỉ cần bán thông tin cá nhân của một người, Quân cũng có thể “đút túi” 1 USD; mà như ông ta rêu rao trên mạng xã hội thì đang có trong tay khoảng 20 triệu phiếu thông tin. Nếu các dữ liệu này được bán ra bên ngoài, dĩ nhiên Quân sẽ ung dung “bỏ túi” khoảng 20 triệu USD.
Tự nhận mình là vua nhưng khi những thành viên trong nước của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời bị bắt và xử lý do vi phạm pháp luật của Việt Nam, Quân liền “phủi tay”. Trong các cuộc hỏi FCC, khi mọi người đặt vấn đề hỏi đến vấn đề trên thì Quân nói rằng những người ở trong nước đều tự ý hoạt động; không thừa nhận lệnh của “tổng thống” nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra. Lúc này, một câu hỏi đặt ra là các trường hợp ở trong và nước ngoài đã và đang tham gia tổ chức đã bao giờ được Quân giúp đỡ?
Đến thời điểm này, tất cả những người đứng sau Quân là là Quách Thế Hùng, Nguyễn Đức Thắng, Kelly Triệu Thanh Hoa…, đều rời khỏi tố chức, thay vào đó là một nhân vật mà nhiều người biết đến, đó là Lâm Ái Huệ. Vậy Lâm Ái Huệ là ai? Lâm Ái Huệ người Việt gốc Hoa. Bản thân Quân đang tuyên truyền chống Trung Quốc nhưng lại trọng dụng Lâm Ái Huệ. Được biết, Huệ là người Trung Quốc, trước đây gia đình chị ta sang sinh sống tại Kiên Giang. Năm 1989, Huệ di cư, vượt biên sang Canada, làm kế toán cho một công ty dầu khí. Khi nền kinh tế thế giới suy sụp, Huệ mất việc làm, chuyển sang bán hàng đa cấp bị thua lỗ một khoản tiền rất lớn. Trong lúc này, đối tượng biết đến Quân và đã tham gia vào tổ chức này với hy vọng có thể kiếm tiền…
Huệ là người đầu tiên đề xuất, đưa Quân lên làm “Vua” vào năm 2019 nhưng bị Hùng và một số đối tượng gạt đi. Cũng vì thế, Huệ tìm mọi cách gạt những người bất đồng ý kiến với chị ta ra bên ngoài và bây giờ người đứng quyền lực cao nhất của tổ chức, sau Quân chính là Huệ…
Với những phân tích ở trên đã cho thấy, từ những mâu thuẫn; việc tranh quyền, đoạt vị và hành vi lừa đảo của Quân đã dẫn đến việc các đối tượng cộm cạn từng tham gia tích cực đã từ bỏ “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Từ thực tiễn cho thấy, trong xã hội trước những vấn đề bất cập, tiêu cực dẫn đến một bộ phận nhân dân mất lòng tin nên đã nhẹ dạ, tin theo kẻ xấu.
Một số lại cho rằng chỉ là tham gia trên mạng, nếu nhận được nhà và tiền thì tốt, chẳng có thì cũng không mất gì nên đã tham gia mà không biết rằng đây là hành vi vi phạm pháp luật. Với phương châm “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, trong thời gian qua, cơ quan An ninh đã tuyên truyền, vận động nhiều trường hợp ở trong nước, để họ hiểu hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Từ đó, nhiều người đã “quay đầu là bờ”.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ NGUYÊN TẮC SINH HOẠT, LÀ QUY LUẬT TỒN TẠI, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Bài học đắt giá từ sự từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Liên xô dẫn đến sự sụp đổ Liên bang Xô viết cho thấy sự cần thiết phải trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định nguyên tắc tổ chức và xây dựng của Đảng.
V.I.Lênin khẳng định, muốn tồn tại và phát triển, Đảng phải thường xuyên tự phê bình và phê bình; “Nếu một chính đảng nào mà không dám nói thật bệnh tật của mình ra, không dám chẩn đoán bệnh một cách thẳng tay, và tìm phương cứu chữa bệnh đó, thì đảng đó sẽ không xứng đáng được người ta tôn trọng” (1). Theo lời chỉ dạy của V.I.Lênin, hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt, là quy luật tồn tại và phát triển của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động. Bản chất của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội, đồng thời cũng là một thực thể tồn tại trong xã hội, cho nên Đảng phải được xây dựng và phát triển trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và quy luật khách quan.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bất cứ đảng nào cũng có lúc phạm phải sai lầm. Vấn đề là, đứng trước những sai lầm, mỗi đảng có thái độ ứng xử và cách thức xử lý khác nhau. Theo Ph.Ăngghen: “Giai cấp vô sản, cũng như tất cả các đảng khác, sẽ học tập nhanh nhất qua những sai lầm bản thân, những sai lầm này không ai có thể tránh hoàn toàn cho họ được” (2). Vì vậy, nghiêm túc nhìn nhận ra sai lầm và thành thật sửa chữa khuyết điểm, là cách tốt nhất để Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý giá từ chính những sai lầm của mình, giúp cho Đảng hoàn thiện chính mình và trở lên mạnh mẽ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tự phê bình và phê bình. Người cho rằng mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ. Theo Người, Đảng phải vận động để tự phê bình và phê bình trở thành một thói quen, một nếp sinh hoạt; không nên duy trì theo kiểu “đóng cửa bảo nhau” trong nội bộ, mà phải vận động quần chúng cùng tham gia phê bình cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.
Tuân thủ những nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình, coi đây là nguyên tắc sinh hoạt quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành và đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, tự phê bình và phê bình luôn là nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu.
Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục” (3). Trong thực tiễn, khi phát hiện những hạn chế, tồn tại, Đảng ta đều công khai thừa nhận và đề ra biện pháp sửa chữa nghiêm túc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4). Do đó, Người yêu cầu các tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính đảng, tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt công tác thực hiện nghị quyết, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, chân thành để sửa chữa và cùng nhau tiến bộ.
Thực hiện lời di huấn đó, hơn 90 năm qua, bất cứ khi nào, phát hiện ra những hạn chế trong lãnh đạo cách mạng, Đảng đều nghiêm túc kiểm điểm và nhanh chóng có biện pháp khắc phục. Nhờ đó, đã góp phần củng cố, tăng cường khối đoàn kết trong Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, đủ khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhận thấy chủ trương “thanh Đảng” của Xứ ủy Trung Kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tập hợp lực lượng, Trung ương Đảng đã nghiêm khắc phê bình; đồng thời, yêu cầu Xứ uỷ Trung Kỳ phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai, Xứ ủy cần trực tiếp lãnh đạo việc tự chỉ trích, nhận lỗi trước quần chúng, trước đảng viên và nhanh chóng khắc phục khuyết điểm. Vì lẽ đó, Đảng đã nhanh chóng giành được niềm tin và huy động sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp trung gian tham gia vào các cao trào cách mạng.
Trong giai đoạn 1953 - 1956, phát hiện những điểm không phù hợp trong lãnh đạo thực hiện cải cách ruộng đất, Trung ương Đảng đã nghiêm túc, thẳng thắn thừa nhận, chỉ rõ nguyên nhân, yêu cầu, biện pháp sửa sai và xử lý nghiêm đối với các trường hợp thực hiện không đúng đường lối lãnh đạo của Đảng. Sự thành thật nhận khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa của Đảng và Chính phủ đã góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân, ổn định nông thôn, hăng hái đẩy mạnh sản xuất phục vụ công cuộc kháng chiến.
Thời kỳ bước vào công cuộc đổi mới, trang nhất báo Nhân dân liên tục trong nhiều năm luôn có chuyên mục “Nói và làm” để công khai những hạn chế của bộ máy chính trị, vạch rõ hướng sửa chữa khắc phục, tạo niềm tin cho nhân dân. Với quyết tâm làm cho tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành “vũ khí sắc bén”, có thể thấy Đảng ta luôn nghiêm túc nhận thức rõ những tồn tại, hạn chế trong lãnh đạo kinh tế xã hội, những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, yêu cầu tự phê bình và phê bình ở các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng luôn được duy trì nghiêm túc, hiệu quả và đảm bảo chất lượng.
Làm rõ cơ sở lý luận nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho toàn Đảng thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững vai trò là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là vũ khí đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, hòng phủ nhận bản chất của Đảng và xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng./.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “VỊ THẾ CÔNG BỘC” CỦA NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo
Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”; như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”.Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.
Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác và chính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”, điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân” và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”,...
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra”. Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”. Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.
Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân. Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”, tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”; rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.
Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm” là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”; mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.
Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.
Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”, dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy.
Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.
Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
Một số vấn đề đặt ra:
Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...
Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể,... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.
Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay
Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”.
Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.
Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.
Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.
Nguồn: Tạp chí Cộng sản

CHIẾN THẮNG "HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG" - CHIẾN THẮNG CỦA Ý CHÍ VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM.

 

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX; biểu tượng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí kiên cường, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Với chiến thắng lịch sử này, quân và dân ta đã đập tan huyền thoại “pháo đài bay B52” của Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải quay lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 trở thành khúc tráng ca bất tử của thời đại Hồ Chí Minh, nó kết tinh và tỏa sáng truyền thống văn hóa giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện đặc sắc nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy phương tiện, vũ khí kém hiện đại thắng phương tiện, vũ khí hiện đại”, kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố lực, thế, thời, mưu. Thắng lợi đó biểu hiện sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn dân tộc được nhân lên gấp bội, với ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng kẻ thù xâm lược trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” biểu hiện sinh động thế trận hiệp đồng chiến đấu, phục vụ chiến đấu chặt chẽ, hiệu quả của quân dân miền Bắc, lấy lực lượng Phòng không - Không quân làm nòng cốt để tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mỹ diễn ra rất sôi động, lan tỏa trong tất cả các thành phần, các lực lượng, các đơn vị. Thực tiễn chiến đấu 12 ngày đêm, tất cả các thành phần lực lượng phòng không của dân quân tự vệ, các đơn vị phòng không, không quân chủ lực đều bắn rơi máy bay địch, có nhiều B 52 rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Đó còn là thế trận hiệp đồng phối hợp tuyệt đẹp với các chiến trường miền Nam, đặc biệt của hai thành phố kết nghĩa Huế - Sài Gòn, sẵn sàng chia lửa để bảo vệ Thủ đô Hà Nội thân yêu, với tinh thần quyết tử “Giặc Mỹ đụng đến Thủ đô Hà Nội, đến miền Bắc một, thì quân dân miền Nam đánh trả chúng gấp 5, gấp 10 lần”.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” còn là thắng lợi của lương tri quốc tế, với sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế và nhân loại tiến bộ, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Hành động tàn bạo của Chính quyền Ních-xơn cho máy bay ném bom rải thảm Hà Nội và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam trong dịp Lễ Giáng sinh đã khiến lương tri của cả nhân loại nổi giận. Làn sóng phản đối chiến tranh nhanh chóng bùng lên, lan rộng khắp nơi trên thế giới, kể cả ngay tại nước Mỹ, đã sục sôi biểu tình lên án mạnh mẽ hành động tội ác man rợ của Nhà Trắng; người dân biểu tình xông vào bao vây đại sứ quán Mỹ, đốt hình nộm và cờ Mỹ. Tờ Thời báo Niu Yoóc, ngày 26/12/1972, đã cảnh cáo: “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá?”. Tòa án lương tri quốc tế được lập ra để xét xử các tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam; kêu gọi nhân dân các nước, các tổ chức quốc tế đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chứng kiến quân dân Thủ đô Hà Nội sống và chiến đấu anh dũng trong những ngày cuối năm 1972, bạn bè đã bày tỏ lòng mến phục và nhận xét: “Chúng tôi gọi Hà Nội là Thủ đô của các giá trị loài người... Các bạn đứng đầu ở chiến hào tiền tuyến vì nhân phẩm và vì các quyền dân tộc của mỗi dân tộc. Không ai được phép quên điều đó”.
Thắng lợi to lớn của chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” không những góp phần tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược trên mặt trận ngoại giao, buộc Chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27/01/1973 và rút hết quân Mỹ về nước, mà còn góp phần tạo cơ sở vững chắc để quân và dân ta tiếp tục thực hiện lời di huấn của Bác Hồ là “đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử để thống nhất đất nước.
Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng âm hưởng của chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 vẫn vang vọng mãi như một khúc tráng ca bất tử của thế kỷ XX. Những bài học kinh nghiệm quý báu Đảng ta về chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, về phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, về phối hợp và hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa các lực lượng, về đấu tranh quân sự để hậu thuẫn kịp thời, đắc lực cho mặt trận đấu tranh ngoại giao, về tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế... để làm nên chiến thắng lịch sử vẻ vang này, vẫn giữ nguyên giá trị trong nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA NGUY CƠ CHIẾN TRANH TỪ SỚM, TỪ XA


Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc, xã hội phồn vinh và sẵn sàng, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều đại Lý, Trần, Lê… Quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc.
“Động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”… là những kế sách độc đáo của cha ông ta để “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.
Thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm qua cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, xây dựng đất nước theo quan điểm “quốc phú, binh cường”, “biên cường quốc thịnh” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào, triều đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn, sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công xâm lược.
Trần Quang Khải (1241-1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn” (có nghĩa là: Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vật lực. Đất nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ (1385-1433) căn dặn muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (có nghĩa là: Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài).
Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc. Đặc biệt, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, bài học dựng nước đi đôi với giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc được Ðảng ta đưa lên một tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”.
Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW và được ban hành vào năm 2013). Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài; trước những tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với quân đội và giải pháp xây dựng quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, bảo đảm không phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; chủ động ứng phó hiệu quả với tác động tiêu cực, gây sức ép thông qua kinh tế từ bên ngoài.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta khẳng định: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa… Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vào tháng 10-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

VẮC XIN CHỐNG virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

Để ngăn chặn kịp thời và đẩy lùi các biểu hiện “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các cấp các ngành cần làm tốt một số giải pháp sau đây:

Một là; Tích cực hơn nữa giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu chống chủ nghĩa cá nhân, bởi “Muốn tẩy sạch bệnh ấy, thì cần phải nâng cao trình độ giác ngộ”, khi lập trường vững vàng, tư tưởng thông suốt thì chủ nghĩa cá nhân sẽ không thể ngóc đầu lên được. Đối với bộ đội, Bác dạy: “Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”, Người yêu cầu: “Học tập chính cương, chính sách của Đảng cho hiểu mà làm cho đúng tức là thực hành chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Chú trọng đổi mới chương trình, nội dung gắn với đổi mới toàn diện hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận để cán bộ, chiến sĩ dễ hiểu, dễ tiếp thu, không những không ngại học mà còn mong muốn được cập nhật kiến thức. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường luôn vững vàng, tư tưởng hoàn toàn thông suốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là; Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII,XIII) gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đây là giải pháp toàn diện, góp phần xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, từ đó ngăn chặn tận gốc biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng vũ trang. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân phải “Thực hành tự phê bình và phê bình đồng sự mình. Phê bình một cách thiết thực mà thân ái. Phê bình từ cấp trên xuống và từ cấp dưới lên. Phê bình nhau và giúp nhau sửa chữa” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này. Hơn nữa, nếu coi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) như là bài thuốc đặc trị căn bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thực hiện tốt Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sẽ như một liều thuốc bổ, làm cho “cơ thể” của chúng ta thêm cường tráng, ngời sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, từ đó vô hiệu hóa mọi loại “virus” độc hại nguy hiểm, chẳng khác gì “virus” Corona hiện nay.

Ba là; Đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, lực lượng chuyên trách trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hiện nay, trong thời kỳ chuyển đổi số hóa internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ cập, việc cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang tiếp nhận những thông tin đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, hơn lúc nào hết, các cơ quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trong lực lượng vũ trang cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời đăng tải những bài viết có cơ sở khoa học phản bác; phê phán những quan niệm lệch lạc, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội… không để các loại “virus” này lây lan ngoài cộng đồng, khoanh vùng dập dịch được ngay.

Chủ động nắm bắt thông tin, định hướng dư luận trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng như cán bộ, chiến sĩ đang quan tâm, chú ý. Trong một số trường hợp, cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành chức năng để xác định, ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm ẩn danh trên mạng xã hội; thậm chí, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Google, YouTube, Facebook,...) ngăn chặn không cho xuất hiện hoặc gỡ bỏ những thông tin vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đồng thời, tích cực tuyên truyền những điển hình tiên tiến trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, gương “người tốt, việc tốt” trong thực hiện Chỉ thị số 05 và Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm ngăn chặn không cho các hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài có điều kiện tiếp xúc và xâm nhập vào nội bộ đơn vị.

Trên đây là các giải pháp vừa có tác dụng tăng cường “sức đề kháng”, vừa ngăn chặn tiếp xúc với “dịch bệnh”, nếu tổ chức thực hiện tốt sẽ không còn chỗ cho virus “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tồn tại và các quan điểm sai trái cũng không có môi trường để xuất hiện; bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nhân dân ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có ý chí quyết tâm cao, vượt qua gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.

THẾ NÀO LÀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 

  Nhận thức rõ vấn đề, “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi tư duy, nhận thức về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên. Họ hoài nghi, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dần đánh mất các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà bản thân đã nỗ lực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nhiều năm mới có được; dễ dàng chấp nhận tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tin vào các luận điểm sai trái, phản động. Tiếp đến, họ không những không chấp hành mà còn thực hiện sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trở thành phần tử chống đối, sẵn sàng ngả theo các thế lực thù địch khi được chúng ve vãn, tung hô. Chính vì vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, trong đó chủ quan mang tính quyết định. Những biểu hiện này có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi cá nhân, tổ chức và trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng không phải là ngoại lệ.

 Trên thực tiễn đã cho thấy, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xảy ra một vài hiện tượng đơn lẻ, như: có quân nhân sử dụng mạng xã hội bôi nhọ, làm giảm uy tín của các lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang; một vài cán bộ trong lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu có bài viết, phát ngôn xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, nói xấu cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội, Công an. Đó còn là một số sĩ quan cao cấp bị xử lý kỷ luật cả về Đảng và chính quyền, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự do “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội”, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc”, hoặc “buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị”, v.v.

Nhận diện thủ đoạn “Đánh lận con đen”, “Đánh tráo giá trị”

 

Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng. Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù. Lợi dụng vấn đề này, một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

 Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.

 

TỪ VỤ CÔ GIÁO BỊ HỌC SINH LÀM NHỤC ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY


        Mấy ngày qua mạng xã hội xôn xao về chuyện một cô giáo bị học sinh chốt cửa lại rồi có những hành động thiếu chuẩn mực. Những hình ảnh trong clip cho thấy có một đứa nằm lăn đất ăn vạ (tôi gọi là đứa chứ không thể gọi "em học sinh" như đúng cái nhân xưng của nó). Chắc nó mới bị cô giáo tác động vật lý (?).

        Còn một đứa cầm quạt xỉa xói vào mặt cô giáo. Một đứa khác cầm vật gì giống cái gậy dí vào mặt cô. Những đứa khác chỉ tay thẳng mặt cô giáo, nhao nhao kích động, đấu tố. Còn một đứa dùng điện thoại quay lại cảnh trên một cách chuyên nghiệp như một thước phim được dàn dựng.

        Nhưng thật tiếc đó không phải là một thước phim được dàn dựng. Đó là đời thực. Đó là cách ứng xử của những đứa trẻ, những đứa được gọi là học sinh lớp 7 với cô giáo của mình.
        Biết rằng lý do có một phần tử lỗi của cô giáo, nhưng nếu cô giáo sai thì đã có tập thể nhà trường hoặc cao hơn là cơ quan chức năng tiến hành xử lý. Những học sinh nhỏ tuổi này không được phép lợi dụng lỗi phạm của cô giáo để có hành động như vậy với những người đã và đang dạy dỗ mình.

        Vấn đề ở đây là trách nhiệm này thuộc về ai? Ai đã dạy chúng làm thế?

        Câu trả lời chắc chắn rằng sẽ không có ai dạy chúng hành xử như vậy cả. Có lẽ hiện nay sự tác động đến suy nghĩ và hành động của con người (trong đó có trẻ em) chính là mạng xã hội, bởi những hành động của chúng ta ngoài đời thực và cả trên không gian mạng là "chất liệu" cho chúng học.

        Ngày nay, mỗi người có một hoặc nhiều hơn một cái điện thoại có chức năng ghi hình, có một hoặc nhiều hơn một tài khoản mạng xã hội. Mỗi tài khoản như một kênh thông tin riêng của mỗi người. Những thứ chúng ta tạo ra và chia sẻ là chất liệu cho con cháu chúng ta sử dụng.

        Thực tế hiện nay có nhiều người đưa lên mạng xã hội tất cả những gì mình có, kể cả chuyện riêng tư của mình, của gia đình mình, bao gồm hỉ, nộ, ái, ố.... Và tệ hại hơn nữa là rất ít người dám phản đối hay ẩn nó đi mà còn tò mò, thậm chí còn chia sẻ lan tỏa cho người khác dẫn đến mạng xã hội trở thành một bãi rác đa màu cho trẻ em lượm lặt. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến các vụ việc, vụ án đã từng xảy ra như giết người, đốt xe, hiếp dâm, ......
        Cho nên chúng ta là người lớn đừng vứt lên không gian mạng những thứ rác rưởi, để rồi, chúng ta và con cháu chúng ta cùng phải bơi trong đống rác xã hội do chính chúng ta tạo ra và rồi đến một ngày nào đó ta nhận ra thì đã quá muộn./.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ

 

1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người.

 2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

 3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

 4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

 5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

 6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

 7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

 8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

 9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

 10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác.

Văn hóa truyền thống về ưa thích con trai


Số liệu của cuộc tổng điều tra năm 2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả nước theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của cả nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều nằm ở phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì đa số các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao nhất nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Với kết quả trên có thể khẳng định rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về ưa thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi của văn hóa truyền thống Việt Nam

> Việc tiếp tục duy trì những truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay

Giải pháp: Một số văn bản chính sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến việc phát huy các truiyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ đó là truyền thống gì. Mặc dù bất bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn được coi là nền tảng của truyền thống văn hóa Việt nam. Dó đó nếu chỉ nói tới truyền thống văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành động trọng nam, khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là những truyền thống văn hóa Việt nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh giá là những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật BĐG đã nêu rõ về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đang ngăn cản việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.