Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

 

Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế

PGS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(LLCT) - Trước tiến trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng của nhân loại, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện. Điều đó đặt ra yêu cầu cần có năng lực làm việc trong môi trường lao động quốc tế của đội ngũ cán bộ hiện nay. Bài viết phân tích các yếu tố thúc đẩy yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, xác định các phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng môi trường làm việc quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực làm việc đáp ứng yêu cầu của môi trường làm việc quốc tế của đội ngũ cán bộ hiện nay.
 


Cán bộ là “gốc” của mọi công việc và cán bộ là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng - đó là bài học rút ra từ lịch sử. Tuy nhiên, mỗi chặng đường cách mạng lại đòi hỏi ở đội ngũ cán bộ những năng lực cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Khi toàn cầu hóa là quá trình khách quan và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, tất yếu đội ngũ cán bộ phải tích cực đóng góp cho quá trình đó. Vì thế, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế trở thành trọng tâm của công tác cán bộ ở mọi cơ quan, tổ chức cũng như trong toàn hệ thống chính trị.

1. Các yếu tố thúc đẩy sự cần thiết xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế
Nói tới “môi trường quốc tế” là nói tới không gian có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức của các nước mà ở đó, từng chủ thể hoạt động (quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân...) cần thể hiện năng lực cạnh tranh, bản sắc của mình nhằm tạo ra sự hợp tác có lợi. Môi trường làm việc quốc tế luôn có sự đan xen giữa hợp tác - cạnh tranh - đấu tranh, giữa lợi ích chung - riêng của các chủ thể. Nếu “năng lực” là tổ hợp những phẩm chất, trình độ, kỹ năng tạo cho con người khả năng hoàn thành công việc với chất lượng tối ưu thì “năng lực làm việc trong môi trường quốc tế” là những phẩm chất, trình độ, kỹ năng bảo đảm cho chủ thể hoạt động một cách hiệu quả khi thực hiện những nhiệm vụ được giao trong quá trình hợp tác với đối tác nước ngoài. Yêu cầu cần thiết xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố.

Thứ nhất, do quá trình toàn cầu hóa sâu rộng mà Việt Nam đã và đang tích cực, chủ động tham gia. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã vượt qua biên giới quốc gia, khu vực. Đối với Việt Nam, khi lợi thế của “ba dòng thác cách mạng” không còn thì toàn cầu hóa mở ra cơ hội hợp tác rộng rãi. Nhận thức rõ sự cần thiết phải chủ động hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia, trong đó có 30 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO và nhiều tổ chức quốc tế khác. Việt Nam đã tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam - Liên minh châu Âu (PCA), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Chủ trương gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng đã tạo ra môi trường mang tính quốc tế ngày càng sâu sắc, có tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới: Không chỉ đi công tác nước ngoài mà ngay khi hoạt động trong nước, đội ngũ cán bộ cũng cần có năng lực làm việc với các đối tác nước ngoài.

Thứ hai, xuất phát từ chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng. Công tác cán bộ là vấn đề “then chốt của then chốt”, Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII của Đảng ban hành Nghị quyết số 03 - NQ/TW ngày 18-6-1997 “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm tạo ra bước chuyển căn bản và toàn diện trong công tác cán bộ. Sau hơn 20 năm thực hiện, Đảng đã thẳng thắn thừa nhận: “Nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh”(1). Một trong những điểm “chưa mạnh” là phần lớn cán bộ chưa có đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế.

Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII của Đảng ban hành Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Trong đó, yêu cầu về năng lực làm việc quốc tế của đội ngũ cán bộ các cấp đến năm 2030 được xác định cụ thể: Đối với cán bộ cấp chiến lược, từ 40% đến 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương, từ 50% đến 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương, từ 25-35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế(2).

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(3). Vì thế, “Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”(4) là bước đi tất yếu để phục vụ cho mục tiêu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Thứ ba, xuất phát từ mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(5). Khi hợp tác quốc tế đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước, để hiện thực hóa khát vọng đứng vào hàng ngũ các nước phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần có đội ngũ cán bộ tiệm cận với chuẩn mực quốc tế và không ngừng vươn lên cùng nhịp độ phát triển của thế giới.

Thứ tư, do hạn chế về năng lực làm việc quốc tế của đội ngũ cán bộ hiện nay. Khi tài nguyên vật chất ngày càng cạn kiệt, quốc gia nào muốn phát triển cũng phải phát huy cao độ “tài nguyên con người”. Đội ngũ cán bộ các cấp là lực lượng trọng yếu, lãnh trách nhiệm tiên phong trong tiến trình hội nhập, do đó càng cần phải thể hiện vai trò to lớn của mình.

Tuy nhiên, thực trạng khá phổ biến hiện nay là, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp dù có nhiều bằng cấp, chứng chỉ nhưng mới chỉ để “chuẩn hóa” chức danh về mặt hình thức; việc ứng dụng, vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong thực tế về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng để có thể tự tin làm việc độc lập trong môi trường quốc tế còn rất khiêm tốn. Không ít cán bộ chưa am hiểu luật pháp, tình hình quốc tế nên khi tiến hành đàm phán, nhất là các dự án kinh tế, Việt Nam thường bị thua thiệt. Khi đóng vai trò tham mưu thì cán bộ chưa đưa ra được dự báo hay phương hướng, giải pháp xác đúng. Nghị quyết 26-NQ/TW của Đảng thẳng thẳn nhìn nhận: “Nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc của cán bộ trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế”(6). Khiếm khuyết đó đã làm Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng của hợp tác quốc tế; thế mạnh của đất nước và con người Việt Nam chưa được quảng bá sâu rộng trên môi trường quốc tế.

Sự chuyển giao giữa các thế hệ trong đội ngũ cán bộ hiện nay cũng yêu cầu phải nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế để tạo nền nếp, chuẩn mực về tiêu chí cán bộ và công tác đào tạo cán bộ trong tương lai.
Bối cảnh quốc tế với những diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có đủ năng lực dự báo tình hình và thích ứng với mọi tình huống, kể cả các tình huống bất thường.

2. Phẩm chất, năng lực của cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế

Việc nhận diện, xác định tiêu chí cần có của cán bộ khi làm việc trong môi trường quốc tế chính là cơ sở để thiết kế các chương trình đào tạo cán bộ, là căn cứ để mỗi cơ quan, đơn vị đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý. “Làm việc trong môi trường quốc tế” là các hoạt động tương tác giữa những cá nhân, tổ chức thuộc nhiều quốc gia với sự đa dạng về tộc người, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ những phẩm chất, năng lực, kỹ năng, thể hiện chủ yếu qua các tiêu chí cơ bản sau:

Thứ nhất, người cán bộ phải có tư tưởng, lập trường chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, người cách mạng phải “Giữ chủ nghĩa cho vững”(7) nhưng làm việc trong môi trường quốc tế - nơi có sự va chạm về lợi ích, ý thức hệ, vốn văn hóa và sự hiện diện của không ít thế lực thù địch, thông tin nhiều chiều thì tư tưởng, lập trường chính trị của người cán bộ càng trở nên quan trọng. Người cán bộ nhất thiết phải nắm chắc và vững tin vào chủ trương, đường lối, chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là quan điểm của Đảng về đối tác và đối tượng, về hợp tác và đấu tranh, về kiên định lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, về hòa nhập mà không hòa tan, về giữ vững quyền độc lập, tự chủ và bản sắc văn hóa dân tộc, về trách nhiệm với cộng đồng quốc tế... Cán bộ tuyệt đối không được dao động trước các thông tin xấu độc hay sự cám dỗ về lợi ích, sự mua chuộc, đe dọa của các thế lực thù địch. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ đều phải trung thành với định hướng xã hội chủ nghĩa và tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng.
Cán bộ phải có lối sống cần, kiệm để không bị cám dỗ, mua chuộc, “lóa mắt” trước các điều kiện vật chất xa hoa. Đạo đức - thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người, không chỉ ngăn chặn người cán bộ khỏi sự tha hóa trước những hư vinh, cạm bẫy và tiếp sức để họ vượt lên chủ nghĩa cá nhân, giữ vững một lòng trung hiếu với dân, với nước mà còn tạo ra sức cảm hóa, thuyết phục, chinh phục đối với đối tác và đối tượng quốc tế mà họ tiếp xúc.

Thứ hai, người cán bộ phải có vốn văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, nắm vững luật pháp quốc tế, làm chủ ngoại ngữ và kỹ năng tin học thiết yếu.

Làm việc trong môi trường quốc tế tất yếu diễn ra sự “cọ xát” văn hóa và sự chia sẻ các giá trị văn hóa. Vì thế, trước hết người cán bộ phải đứng vững trên nền tảng văn hóa dân tộc, thẩm thấu bản sắc văn hóa dân tộc để có sức mạnh nội sinh, không bị “choáng ngợp” trước những cái mới lạ, dẫn đến tư tưởng vọng ngoại hay tâm lý tự ti dân tộc. Ngược lại, vốn văn hóa dân tộc sâu sắc, sự thấm nhuần các giá trị minh triết của ông cha phải trở thành “vốn đối ứng” để trên cơ sở đó, người cán bộ chủ động khai thác, tiếp thu giá trị của các nền văn hóa khác và quảng bá văn hóa, tâm hồn người Việt Nam ra thế giới.

Đặc biệt, cốt cách được tạo dựng trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc sẽ trở thành “thẻ căn cước” độc đáo, giúp họ trở nên hấp dẫn đối với những người xuất thân từ các nền văn hóa khác. Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 19-5-2018 khi xác định chủ trương nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế của cán bộ đã nhấn mạnh giải pháp phải “chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc”(8).

Người cán bộ cần có hiểu biết về văn hóa của đối tác để kiến tạo điểm tương đồng, giảm thiểu điểm khác biệt, tạo ra sự tin tưởng, hòa hợp trên tinh thần khoan dung văn hóa, không kỳ thị với những gì khác mình, đồng thời tạo sự hài hòa khi đề cập đến các vấn đề nhạy cảm, như thể chế chính trị, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, tín ngưỡng... của các đối tác quốc tế cùng làm việc.

Môi trường làm việc quốc tế có sự cạnh tranh lớn về trình độ chuyên môn giữa đại diện của giới tinh hoa các nước. Muốn có tiếng nói trong môi trường này, người cán bộ phải là chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn, qua đó nâng cao uy tín cá nhân, năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi có trình độ, kiến thức chuyên môn vững, người cán bộ dễ dàng nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của các bên tham gia, từ đó lựa chọn đối tác, lộ trình, phương pháp hợp tác phù hợp, cũng như cách thức ứng phó với các thách thức, rủi ro nảy sinh trong quá trình hợp tác. Ở những lĩnh vực mới, người cán bộ cần nỗ lực kịp thời nắm bắt.

Người cán bộ cần am hiểu những kiến thức cơ bản về luật pháp quốc tế, đặc biệt là luật thương mại, đầu tư, thuế khóa và quy trình giải quyết tranh chấp, từ đó có thể nắm rõ thể chế, thiết chế của các quốc gia, các tổ chức quốc tế.

Làm chủ một hay nhiều ngoại ngữ thông dụng là điều kiện không thể thiếu giúp cán bộ hiểu rõ thông điệp của đối tác và nêu được quan điểm cá nhân trong quá trình làm việc. Việc thông thạo ngôn ngữ, văn hóa còn mang lại cho đối tác thiện cảm, sự nể trọng về “tầm cỡ” của người đối thoại. Điều đó giúp cán bộ xử lý công việc nhanh chóng, hiệu quả hơn.

Trong kỷ nguyên số, tin học, nền tảng kỹ thuật số là cầu nối cho việc tương tác và tiếp cận kiến thức mà không bị giới hạn về không gian, thời gian. Quá trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ cũng đòi hỏi người cán bộ phải thành thạo kỹ năng tin học cơ bản để có thể bảo đảm tiến độ công việc của phương thức làm việc hiện đại.

Thứ ba, người cán bộ cần có phong cách làm việc chuyên nghiệp

Môi trường làm việc quốc tế có tính kỷ luật cao, với những nguyên tắc, thông lệ phổ quát. Vì thế, người cán bộ phải chú trọng rèn luyện phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, như: luôn đúng giờ, giữ vững kế hoạch cam kết, thích ứng với cường độ lao động cao, áp lực và có năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh độc lập, nhanh chóng, tối ưu.

Việc nắm vững các “kỹ năng mềm” cũng là yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế. Thực tế cho thấy, trong rất nhiều tình huống, các “kỹ năng mềm” đóng vai trò quyết định thành công hay thất bại của họ. Do vậy, cán bộ cần chú trọng trang bị cho mình các kỹ năng: kỹ năng ứng xử; kỹ năng làm việc độc lập; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng thuyết trình, đàm phán; kỹ năng xử lý khủng hoảng; kỹ năng phát ngôn trên môi trường mạng xã hội; kỹ năng trả lời phỏng vấn; kỹ năng chủ trì hội nghị, hội thảo quốc tế... Trong các kỹ năng đó, kỹ năng ứng xử đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì nó tác động đến không khí làm việc và thái độ của đối tác.

Làm việc trong môi trường quốc tế tất yếu phải nắm vững kỹ năng, nghệ thuật đàm phán, thương lượng trên cơ sở chia sẻ các giá trị chung, tôn trọng lợi ích các bên. Là đại diện, “sứ giả” của dân tộc, họ cần có kỹ năng quảng bá những giá trị của văn hóa dân tộc, vị thế, tiềm năng của đất nước.

3. Giải pháp nâng cao năng lực làm việc đáp ứng môi trường quốc tế của cán bộ

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đào tạo cán bộ đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế. Đảng ta luôn khẳng định, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”(9). Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương và địa phương cần quán triệt và tổ chức triển khai định hướng đó của Đảng bằng những chương trình, kế hoạch cụ thể. Trong đó, “khâu” quan trọng nhất chính là đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Sự nhận thức về tầm quan trọng của công tác đào tạo cán bộ đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn làm việc quốc tế phải đủ sâu, đủ rộng để biến thành các hành động thiết thực. Đó là đưa Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế thành một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo cán bộ nói chung. Đó là tranh thủ mọi cơ hội, tạo điều kiện tối đa để cán bộ các cấp được trải nghiệm trong môi trường làm việc quốc tế. Đó là khuyến khích và dành cho cán bộ thời gian học tập chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng với sự quy định rõ ràng về mốc thời hạn phải hoàn thành...

Hai là, đổi mới công tác cán bộ. Việc đổi mới cần tập trung hướng đến khuyến khích đi đôi với ràng buộc trách nhiệm của cán bộ trong việc tự học, tự tiếp cận với cái mới để đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Sau khi được tạo điều kiện và đến mốc thời gian cam kết mà cán bộ vẫn không thể làm việc trong môi trường quốc tế thì buộc phải thay thế bằng việc lựa chọn nhân sự tốt hơn.

Cần có cơ chế thu hút, tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, những trí thức, nhà khoa học, doanh nhân giỏi... ở nước ngoài về phục vụ đất nước. Những người đã thích ứng với môi trường làm việc quốc tế nếu được sử dụng, trọng dụng hợp lý sẽ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam mà còn tạo ra sự lan tỏa tích cực, giúp các cán bộ khác làm quen, thích nghi với lối làm việc theo quy chuẩn quốc tế.

Ba là, phát huy vai trò của người đứng đầu đối với việc nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế. Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 19-5-2018 được thông qua tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã nhấn mạnh: “Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi trường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ”(10).

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị có vai trò quan trọng, quyết định công tác cán bộ nói chung và công tác đào tạo cán bộ trong môi trường làm việc quốc tế nói riêng. Họ cần xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng cán bộ trong đơn vị của mình với mục tiêu, lộ trình, yêu cầu sát hợp dành cho từng nhóm đối tượng cán bộ. Người đứng đầu phải coi việc rèn luyện năng lực làm việc trong môi trường quốc tế là một tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ và gắn kết quả đạt được với công tác thi đua - khen thưởng hằng năm. Đồng thời, họ cũng phải là tấm gương trong nỗ lực học tập, rèn luyện để cán bộ của mình noi theo.

Hiện nay Bộ Chính trị đang chủ trương bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước qua “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019 - 2030” và Kết luận số 39-KL/TW ngày 18-7-2022. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị khi triển khai Chương trình này cần cùng với tập thể có sự khách quan, minh bạch lựa chọn, đề cử những cán bộ xứng đáng đi học tập.

Bốn là, đổi mới chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong nước và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về việc đào tạo nguồn nhân lực đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế

Nhân cách con người được định hình từ sớm nên nếu không chú trọng giáo dục phổ thông thì không dễ gì có được đội ngũ cán bộ chất lượng cao. Vì thế, cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục để hình thành nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới với phẩm chất yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Đổi mới nội dung và phương pháp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Về nội dung, cần đổi mới chương trình bồi dưỡng theo hướng xây dựng khung chương trình, nội dung giảng dạy về tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng góp phần củng cố tư tưởng, lập trường cho người học; bổ sung các nội dung về kiến thức chuyên ngành, trình độ ngoại ngữ, tin học có tính cập nhật, hiện đại; chú trọng xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng “mềm”, đặc biệt là kiến thức về luật pháp quốc tế.

Về phương pháp, cần chú trọng các phương pháp giảng dạy hiện đại như: phát hiện vấn đề, cách thức xử lý tình huống, đóng vai, thi biện luận, phản biện, hỏi và đáp... để gắn kết lý thuyết với thực hành. Chất lượng bồi dưỡng, giáo dục luôn gắn chặt với chất lượng của đội ngũ huấn luyện nên cần thu hút các giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế và sử dụng đội ngũ giảng viên thỉnh giảng, báo cáo viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều kinh nghiệm, các chuyên gia đầu ngành về quan hệ quốc tế...

Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Giải pháp này cần thực hiện theo cả hai hướng là lựa chọn đối tác có uy tín để gửi cán bộ Việt Nam sang đào tạo và nghiên cứu, vận dụng một cách phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Việt Nam. Cần tạo cơ hội cho cán bộ tham gia các hội thảo, tọa đàm, trao đổi học thuật, chuyên môn để cán bộ có điều kiện tích lũy kiến thức, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Năm là, đổi mới chính sách tiền lương để cán bộ yên tâm trau dồi năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và ngăn chặn tình trạng “chảy máu chất xám”. Ở nước ta, do đội ngũ cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước đông nhưng hiệu suất lao động còn thấp, vấn nạn tham nhũng, lãng phí còn trầm kha nên tất yếu là chế độ tiền lương của cán bộ còn thấp. Việc thu hút, “giữ chân” cán bộ, công chức, viên chức có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, do đó, gặp nhiều khó khăn. Vì thế, cải cách tiền lương theo vị trí việc làm, tăng chế độ đãi ngộ chính là tạo một điều kiện cơ bản là “không cần tham nhũng”, làm cho cán bộ yên tâm trau dồi phẩm chất, năng lực làm việc và ngăn chặn “làn sóng” cán bộ có năng lực trong hệ thống chính trị nghỉ việc, “đầu quân” cho khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức quốc tế.

Mỗi thời đại đều đào tạo, rèn luyện nên “hình mẫu con người phù hợp”. Tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế. Đầu tư cho con người, cho cán bộ là đầu tư cho sự phát triển bền vững, nên đường lối chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng càng thúc đẩy yêu cầu phải nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Lúc này, toàn hệ thống chính trị phải chung tay đào tạo ra đội ngũ “nhân lực toàn cầu”, đội ngũ “chuyên gia toàn cầu” nhưng có tâm hồn Việt, tinh thần Việt vì đó chính là “bệ phóng” để đưa dân tộc Việt Nam tiến bước cùng thời đại.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 15-5-2023; Ngày bình duyệt: 17-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1), (6), (8), (10) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr.47, 47, 61, 67.

 (2) Xem ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr.58-59.

(3), (4), (5), (9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.117-118, 135-136, 112, 164.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.280.

Một loạt quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc đi cùng

Chuyến thăm lần thứ ba này diễn ra theo lời mời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và phu nhân.

Tham gia đoàn, ngoài Giáo sư Bành Lệ Viên, phu nhân Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, còn có nhiều quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong đó có Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Thái Kỳ kiêm chánh Văn phòng Trung ương và Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Công tác ngoại sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vương Nghị.

Đoàn còn có Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Kiến Siêu, Chủ nhiệm Văn phòng Nghiên cứu chính sách trung ương Giang Kim Quyền, Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và phát triển quốc gia Trình San Khiết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thương mại Vương Văn Đào.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Lưu Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam Vương Ninh, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba và phu nhân cũng có trong đoàn.

Ngoài ra còn có Cục trưởng Cục Hợp tác phát triển quốc tế La Chiếu Huy, Thiếu tướng Lý Bân, chủ nhiệm Văn phòng Hợp tác quân sự quốc tế trung ương và Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nông Dung.

 

 

 

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ chủ trì lễ đón ông Tập Cận Bình

 

Theo Bộ Ngoại giao, trong ngày 12-12, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ chủ trì lễ đón cấp nhà nước Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại Phủ Chủ tịch.

Hai người đứng đầu hai Đảng sau đó sẽ hội đàm tại trụ sở Trung ương Đảng, xem và nghe giới thiệu các văn kiện được ký kết, sau đó cùng dự tiệc trà. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ chủ trì chiêu đãi cấp nhà nước Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tối cùng ngày.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ bắt đầu ngày thứ hai ở Việt Nam bằng hoạt động đặt vòng hoa và vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sau đó sẽ hội kiến với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trong ngày 13-12.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và phu nhân sẽ chủ trì tiệc chiêu đãi Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân cùng ngày.

Trước khi rời Việt Nam, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân sẽ tái ngộ Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân trong cuộc giao lưu nhân sĩ hữu nghị và thế hệ trẻ Việt Nam - Trung Quốc.

Dự kiến phu nhân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cũng sẽ có các hoạt động với phu nhân Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong hai ngày 12 và 13-12.

 

Hôm nay, ông Tập Cận Bình thăm cấp nhà nước Việt Nam

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao hùng hậu đến Việt Nam hôm nay 12-12 theo lời mời của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đây là chuyến thăm Việt Nam thứ ba của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước Trung Quốc. 

Cả ba lần ông Tập Cận Bình đến đều là trong một chuyến thăm cấp nhà nước, thể hiện sự coi trọng của Việt Nam đối với cá nhân ông Tập Cận Bình và quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc.

 

 

Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội học tập và rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị

(LLCT) - Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội là những “chiến sĩ - nghệ sĩ”, có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng - văn hóa. Những năm qua, đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội đã được quan tâm, chăm lo phát triển về mọi mặt, nhất là về bản lĩnh chính trị, nên đã có những đóng góp đáng ghi nhận, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và giữ vững trận địa tư tưởng - văn hóa trong xã hội. Bài viết tập trung làm rõ sự cần thiết và đề xuất nội dung, biện pháp chủ yếu để tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trịcủa đội ngũ này trong thời kỳ mới.


Đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội là những tác giả, nhạc sĩ, nghệ sĩ, biên đạo múa, vũ công, diễn viên đang học tập, rèn luyện và công tác ở các cơ quan, đơn vị văn hóa, nghệ thuật trong toàn quân. Đây là lực lượng sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm và hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội.

Hiện nay, toàn quân có hơn 3.000 văn nghệ sĩ, trong đó 98,5% văn nghệ sĩ là đảng viên, nhiều người là nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, được tặng nhiều giải thưởng cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước. Tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ có bản lĩnh chính trị (BLCT) vững vàng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần tốt đẹp, phong phú và lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời lên án, phê phán, đẩy lùi cái xấu, những hiện tượng tiêu cực trong Quân đội và xã hội. Các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật gia tăng mạnh mẽ về số lượng, đa đạng, phong phú về loại hình, đề tài. Các chương trình nghệ thuật của nghệ sĩ quân đội phục vụ các sự kiện lớn của đất nước, Quân đội có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao.

Nhìn chung, đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội hiện nay kế tục xứng đáng các thế hệ đi trước và có bước phát triển, trưởng thành, tích cực sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị phục vụ bộ đội và nhân dân. Tuy nhiên, có một số ít văn nghệ sĩ còn thiếu tích cực tự tu dưỡng, tự rèn luyện; cá biệt có văn nghệ sĩ có biểu hiện lệch chuẩn, tư tưởng “nhạt màu áo lính”, không tha thiết với đề tài về lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, chưa bám sát đời sống bộ đội để phản ánh.

Trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Quân đội thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về văn hóa, văn học, nghệ thuật; xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, trọng tâm là Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16-6-2008 của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21-12-2012 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09-6-2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 20-4-2017 của Quân ủy Trung ương về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội giai đoạn hiện nay; v.v..

Cơ quan chính trị các cấp đã phát huy tốt vai trò tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, chú trọng nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ; đã triển khai thực hiện tốt nội dung, yêu cầu nhiệm vụ nâng cao BLCT gắn với công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ văn nghệ sĩ.

Tuy nhiên, việc giáo dục, rèn luyện BLCT cho các văn nghệ sĩ ở một số cơ quan, đơn vị còn có những hạn chế. Lãnh đạo một số đoàn nghệ thuật quân đội mới quan tâm nâng cao trình độ nghề nghiệp mà chưa chú trọng tới nâng cao BLCT cho các nghệ sĩ. Việc giáo dục BLCT cho văn nghệ sĩ ở các đơn vị trong toàn quân thường mới chỉ là các hoạt động giáo dục chính trị, nhất là học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên, chưa có các nội dung và hình thức đi vào chiều sâu tư tưởng chính trị của văn nghệ sĩ.

Tình hình, nhiệm vụ mới của công cuộc đổi mới đất nước đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng Quân đội, công tác tư tưởng trong Quân đội và công tác tư tưởng - văn hóa trong toàn xã hội. Trong khi đó, các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam; tệ nạn xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến nhận thức, lập trường chính trị tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội.

Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Kết luận số 1172-KL/QUTW ngày 16-6-2022 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội thời kỳ mới” yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, văn nghệ sĩ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng, của Quân đội”.

Để tiếp tục nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ

Đây là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, là cơ sở để đội ngũ văn nghệ sĩ nâng cao nhận thức, trách nhiệm, BLCT trong thực hiện nhiệm vụ. Tri thức lý luận chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước là cơ sở để nâng cao BLCT của từng người; ngược lại, thiếu hiểu biết về lý luận chính trị sẽ không có căn cứ lý luận cho việc xây dựng BLCT. Cần giáo dục để các văn nghệ sĩ thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1); “để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp”(2).

Để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng cho đội ngũ văn nghệ sĩ, qua đó giúp văn nghệ sĩ nắm được những nguyên lý, quan điểm cơ bản, hiểu sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấu suốt đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; xây dựng nhận thức đúng, trách nhiệm cao trong sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho đội ngũ văn nghệ sĩ cần được tiến hành với nhiều hình thức, biện pháp trên cơ sở bám sát thực tiễn, thông qua thực tiễn để định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động cho văn nghệ sĩ. Gắn lý luận với thực tiễn sẽ giúp văn nghệ sĩ củng cố kiến thức, hiểu biết sâu sắc bản chất của lý luận, kiểm nghiệm tính đúng đắn của nội dung giáo dục chính trị, đồng thời xây dựng, củng cố niềm tin, tình cảm cách mạng trong mỗi văn nghệ sĩ.

Hai là, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao BLCTcủa đội ngũ văn nghệ sĩ

Đa số văn nghệ sĩ quân đội hiện nay sinh ra và lớn lên trong thời bình, có điều kiện học tập thuận lợi, được đào tạo cơ bản, nhưng chưa được tôi luyện trong những tình huống ác liệt, gian khổ, hy sinh, nên tinh thần quyết tâm có thời điểm chưa cao, tâm lý và BLCT chưa thực sự vững vàng, thường lúng túng khi giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn hoạt động quân sự. 

Vì vậy, việc xây dựng động cơ đúng đắn trong nâng cao BLCTcủa đội ngũ văn nghệ sĩ là rất cần thiết. Chỉ có động cơ đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong phấn đấu, rèn luyện mới có cơ sở để nâng cao BLCT, bảo đảm cho đội ngũ văn nghệ sĩ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cần quán triệt tới từng văn nghệ sĩ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị về xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ để học nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của BLCT, trách nhiệm đối với việc rèn luyện, nâng cao BLCT.  Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Kết luận số 1172-KL/QUTW ngày 16-6-2022 của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật trong Quân đội thời kỳ mới” yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, văn nghệ sĩ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng, của Quân đội”.

Xây dựng cho mỗi văn nghệ sĩ ý thức nghiêm túc “tự soi, tự sửa”, nhìn nhận rõ thực chất ưu điểm, hạn chế về BLCT của bản thân; tích cực tự học tập để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, đáp ứng nhu cầu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; rèn luyện ý chí, tinh thần khắc phục khó khăn, vượt qua áp lực công việc và cuộc sống; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; gương mẫu nói đi đôi với làm; chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và kỷ luật quân đội.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tạo mọi điều kiện thuận lợi để văn nghệ sĩ thể hiện BLCT của mình qua các sáng tác, sáng tạo, thể hiện, trình diễn các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật; đồng thời chủ động theo dõi, đánh giá, chấn chỉnh quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của văn nghệ sĩ; đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao BLCTcho đội ngũ văn nghệ sĩ sát với yêu cầu, nhiệm vụ và thực tiễn của đơn vị; có cơ chế, chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những nhân tố điển hình tiên tiến; gắn kết quả tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của văn nghệ sĩ với đánh giá, xếp loại, khen thưởng tập thể, cá nhân hằng năm.

Trên thực tế, một số văn nghệ sĩ quân đội giảm sút ý chí, quyết tâm trong rèn luyện, nâng cao BLCTlà do văn nghệ sĩ có biểu hiện chủ quan, thỏa mãn, dừng lại. Vì vậy, việc đánh giá những ưu điểm, hạn chế; xây dựng động cơ đúng đắn, ý chí quyết tâm cao trong bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao BLCTcần gắn liền với đấu tranh phòng, chống các biểu hiện coi nhẹ vấn đề BLCT, lười biếng, ngại học tập, ngại rèn luyện của văn nghệ sĩ.

Ba là, xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị trong sáng, lành mạnh

Môi trường văn hóa quân đội có vai trò quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện nhân cách quân nhân. Hoạt động của đội ngũ văn nghệ sĩ vừa là loại hình lao động nghệ thuật sáng tạo, vừa là hình thức lao động nghệ thuật dày công khổ luyện, rất vất vả, với sự hao tổn rất lớn về thể lực và trí lực. Do vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần xây dựng môi trường văn hóa cơ quan, đơn vị dân chủ, lành mạnh trên cơ sở tôn trọng, lắng nghe, thấu hiểu và tin tưởng văn nghệ sĩ; thường xuyên bồi dưỡng, giúp đỡ văn nghệ sĩ; tạo môi trường cho họ cống hiến, trưởng thành.

Lãnh đạo, chỉ huy giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với chuyên môn, khả năng, sở trường của từng văn nghệ sĩ để họ có cơ hội thể hiện, khẳng định bản thân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tạo điều kiện để văn nghệ sĩ đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đi thực tế ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, đơn vị chủ lực để văn nghệ sĩ tiếp nhận hơi thở của cuộc sống, trải nghiệm khó khăn, từ đó nâng cao BLCT, chất lượng sáng tạo, tuyên truyền, biểu diễn, quảng bá văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Đồng thời, thường xuyên quan tâm động viên đội ngũ văn nghệ sĩ tích cực tham gia các ban nhạc, nhóm hát, cuộc thi, liên hoan, hội thi, hội diễn, tổng kết, giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật trong Quân đội, trong nước và nước ngoài để đội ngũ văn nghệ sĩ không ngừng học hỏi, nâng cao BLCT.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng cơ quan, đơn vị, phát huy, làm đẹp thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” theo tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương gắn với tiêu chuẩn con người mới XHCN; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua về văn hóa, văn học, nghệ thuật; đẩy mạnh phong trào: “Cán bộ, chiến sĩ Quân đội thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Phát huy vai trò làm chủ của văn nghệ sĩ trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, người chủ trì trong xây dựng môi trường văn hóa. Chú trọng xây dựng văn hóa trong lãnh đạo, chỉ huy, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội, văn hóa giao tiếp, ứng xử trong và ngoài cơ quan, đơn vị. Thực hiện hiệu quả “Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030”; quy chế tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa trong Quân đội. Khai thác, phát huy tốt công năng của các thiết chế văn hóa; nghiên cứu đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa quân đội có quy mô, giá trị văn hóa nghệ thuật cao. Chủ động, kịp thời đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái lạc hậu; chống các hành vi sai trái, tiêu cực gây ảnh hưởng xấu đến văn hóa, lối sống trong cơ quan, đơn vị.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả, kịp thời chấn chỉnh những lệch lạc trong BLCTcủa văn nghệ sĩ

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá rèn luyện, nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ có vai trò hết sức quan trọng, là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng trong cơ quan, đơn vị. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”(3).

Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm kế hoạch kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; tổ chức kiểm tra, giám sát phải gắn với thực hiện nhiệm vụ của đảng viên, bảo đảm khách quan, toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm và sát thực tiễn. Nội dung kiểm tra, giám sát đội ngũ đảng viên  văn nghệ sĩ hiện nay cần tập trung vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, giữ gìn phẩm chất của người đảng viên; việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương  khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới…

Trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để bảo đảm tính khách quan, chính xác, đúng người, đúng việc; cần chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm để văn nghệ sĩ kịp thời khắc phục, sửa chữa và điều chỉnh kế hoạch tự bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao BLCT.

Cơ quan chính trị các cấp chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị quản lý văn nghệ sĩ tổ chức kiểm tra kế hoạch, đánh giá kết quả tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của các văn nghệ sĩ; trong đó, cần kiểm điểm, đánh giá sự chuyển biến của văn nghệ sĩ về lập trường chính trị tư tưởng, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới; nhạy bén về chính trị; ý chí quyết tâm và khả năng giải quyết các tình huống trong thực tiễn; trách nhiệm với hoạt động sáng tạo, quảng bá, biểu diễn văn hóa, văn học, nghệ thuật; học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của bản thân; đấu tranh với mọi hiện tượng tiêu cực trong Quân đội và đời sống xã hội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua kiểm tra, giám sát phải chỉ rõ mức độ trưởng thành của từng văn nghệ sĩ; hướng khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong thời gian tiếp theo.

Chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên gần gũi, sâu sát kiểm tra, giao nhiệm vụ, động viên văn nghệ sĩ trong thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện; kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng và những vấn đề này sinh để định hướng cho văn nghệ sĩ học tập, rèn luyện và công tác; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho văn nghệ sĩ; tạo mọi điều kiện thuận lợi để từng người phấn đấu, trưởng thành.

Năm là, phát huy vai trò tự rèn luyện, phấn đấu nâng cao BLCT của đội ngũ văn nghệ sĩ

Xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu nâng cao BLCTlà trách nhiệm của mỗi văn nghệ sĩ. Kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của từng văn nghệ sĩ cần phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời thực hiện tốt phương châm “thiếu gì học đó, yếu gì rèn đó”. Theo đó, hằng năm, từng văn nghệ sĩ phải xây dựng kế hoạch và báo cáo kế hoạch tự bồi dưỡng, rèn luyện với các cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy cấp mình. Trong kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp tự bồi dưỡng, tự rèn luyện và thời gian thực hiện.

Mục tiêu xác định phải có cơ sở khoa học; chỉ tiêu đặt ra không quá cao, nhưng cũng không quá thấp. Nội dung tự bồi dưỡng, tự rèn luyện phải toàn diện cả về nhận thức chính trị, lập trường tư tưởng; động cơ, ý thức trách nhiệm; việc chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng, phương pháp, tác phong công tác; giải quyết đúng đắn các mối quan hệ; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa. Việc xác định thời gian trong kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện cũng cần tránh các biểu hiện nôn nóng, chung chung, hình thức.

Để thực hiện quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCTcó hiệu quả, đội ngũ văn nghệ sĩ cần học tập ở mọi lúc, mọi nơi, trong công việc cũng như trong cuộc sống; phải biết lựa chọn các hình thức phù hợp, như gắn với thực hiện các phong trào thi đua; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thông qua thực hiện các nền nếp, chế độ công tác hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng; các hội thi, cuộc thi, liên hoan; viết cam kết của đảng viên; tự nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của các cấp ủy đảng; tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, hoạt động chính trị, xã hội; qua các mối quan hệ với đồng nghiệp, với xã hội; bằng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; thực tiễn hoạt động quân sự, việc sáng tạo, biểu diễn,quảng bá văn hóa, văn học, nghệ thuật; v.v..

Trong sinh hoạt đảng, cơ quan, đơn vị, từng văn nghệ sĩ cần nghiêm túc tự phê bình và phê bình để phát huy những ưu điểm, kịp thời rút kinh nghiệm những việc chưa làm được trong triển khai thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCT. Trong bản tự kiểm điểm của cá nhân hằng năm nhất thiết phải có đánh giá kết quả, chỉ ra nguyên nhân, đề ra phương hướng khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao BLCTgắn với đánh giá, xếp loại và khen thưởng tập thể, cá nhân.

_________________

Ngày nhận bài: 24-7-2-23; Ngày bình duyệt: 27-7-2023; Ngày duyệt đăng: 10-8-2023.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.246.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Sđd, tr 505.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.189-190.

nguồn: Thạc sĩ NGUYỄN THÀNH VINH

Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội