Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023

BẠN CẦN BIẾT: QUY ĐỊNH SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG QUÂN ĐỘI!

     Trong quân đội, mọi hoạt động của các quân nhân đều được kiểm soát chặt chẽ. Vậy quy định sử dụng mạng xã hội trong quân đội như thế nào? Mời bạn đọc cùng chúng tôi tìm hiểu các quy định về nội dung này qua bài viết dưới đây!

Mạng xã hội như facebook, instagram, tiktok,... không còn quá xa lạ với chúng ta bởi việc sử dụng thường xuyên, hàng ngày. Tuy nhiên việc sử dụng mạng xã hội nói riêng, việc sử dụng internet nói chung trong môi trường quân đội lại được kiểm soát khá chặt chẽ.

Theo Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 về quy tắc ứng xử trên mạng xã hội và Thông tư 110/2014/TT-BQP về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong quân đội thì quân nhân sử dụng mạng xã hội phải đảm bảo:

Các quy tắc chung:
- Tôn trọng và tuân thủ pháp luật: Người sử dụng mạng xã hội phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các tổ chức.
- Lành mạnh: Theo đó, các hành vi, ứng xử của mọi người trên mạng xã hội phải phù hợp với giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của nước ta.
- An toàn và bảo mật thông tin: Người dùng mạng xã hội tuân theo quy định, hướng dẫn về việc bảo vệ an toàn và quy định bảo mật thông tin.
- Trách nhiệm: Người dùng phải tự chịu trách nhiệm về hành vi, cách ứng xử của mình trên mạng xã hội; tích cực phối hợp cùng với các cơ quan chức năng để tiến hành xử lý các hành vi, những nội dung thông tin vi phạm pháp luật.

Các quy tắc riêng: Ngoài tuân thủ các quy định chung đã nêu thì người dùng mạng xã hội trong quân đội còn phải đảm bảo:
- Tìm hiểu về các điều khoản của nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội và tuân thủ các điều khoản hướng dẫn sử dụng đó khi dùng mạng xã hội.
- Nên sử dụng các thông tin thật để đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ nhằm mục đích xác thực, là đầu mối liên lạc.
- Tự quản lý và bảo mật thông tin tài khoản mạng xã hội của mình. Trường hợp bị mất quyền kiểm soát, bị đối tượng khác mạo danh, bị lợi dụng,... sử dụng vào mục đích không lành mạnh như lừa đảo, ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức thì báo ngay cho các cơ quan chức năng để xử lý.
- Chia sẻ những thông tin, tin tức đáng tin cậy, có nguồn chính thống.
- Có các hành vi, ứng xử phù hợp với thuần phong mỹ tục, văn hóa, truyền thống của dân tộc. Không sử dụng các từ ngữ hay có hành vi kích động, phân biệt giới tính, vùng miền, tôn giáo.
- Không đăng tải các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân/tổ chức khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm hay vi phạm thuần phong mĩ tục; tung tin sai sự thật, tin giả; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ bị pháp luật cấm, trái phép... gây bức xúc trong dư luận xã hội và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
- Khuyến khích việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh đất nước - con người và những văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, đồng thời chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực, có ích cho đời sống, gương người tốt việc tốt.
- Giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên để các em sử dụng mạng xã hội một cách an toàn và lành mạnh.

Các hành vi bị cấm khi quân nhân sử dụng mạng xã hội: Ngoài những quy tắc cần tuân thủ thì việc sử dụng mạng xã hội trong quân đội cũng phải đảm bảo không vi phạm các điều cấm sau đây:
- Cung cấp, trao đổi, đăng những thông tin, tin tức có nội dung liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật quân sự, quốc phòng.
- Tạo lập và cung cấp thông tin cá nhân với tư cách quân nhân lên các mạng xã hội.
- Truy cập vào những trang thông tin điện tử mạo danh, phản động, có nội dung không lành mạnh.
- Kết nối mạng Internet với mạng truyền số liệu của quân sự; mạng nội bộ của cơ quan, đơn vị quân đội đang làm việc./.

Yêu nước ST.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN QUÂN ĐỘI KHÔNG NGỪNG NÂNG CAO CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, làm nên những kỳ tích của Việt Nam

Với 93 mùa xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là trí tuệ, là cội nguồn sức mạnh đưa đất nước vượt qua khó khăn sóng cả phát triển, hội nhập vững vàng vươn ra biển lớn. Suốt thời gian đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, làm nên những kỳ tích của Việt Nam. Đặc biệt, hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã chứng minh Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc; không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, từng bước phát triển vững chắc. Tự hào về Đảng quang vinh, chúng ta biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta; khắc ghi sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, đảng viên, đồng bào, đồng chí vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì sự trường tồn của dân tộc.

Con đường cách mạng mà Đảng ta khởi xướng, với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng vững bước trên mỗi chặng đường lịch sử và trên con đường đổi mới đi lên Chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động liên tục thực hiện hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội; Tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Đây là “cuộc chiến không khói súng” nhưng nếu chúng ta mơ hồ, mất cảnh giác sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, trước mắt đó là bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội ở Đông Âu. Vì thế, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

Vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ đã chọn, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội luôn tuyệt đối trung thành và vững tin theo Đảng; kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bằng các biện pháp cụ thể sau:

Một là, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Đẩy mạnh tuyên truyền về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; phổ biến những thành tựu mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, học viên trong việc chia sẻ những thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

Hai là, tăng cường xây dựng, chính đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ba là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ trước các sự kiện, vấn đề nảy sinh, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

Bốn là, thường xuyên nắm tình hình, tổ chức công tác đối thoại, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, quán triệt để mỗi cán bộ, chiến sĩ nắm và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo các tổ chức quần chúng tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới, tạo điều kiện, tiền đề vững chắc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm mạnh mẽ hơn để phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên theo định hướng XHCN./.


Yêu nước ST.

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

        Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.

“Xuyên tạc, bịa đặt lịch sử” – âm mưu chống phá của các thế lực thù địch

        Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, bôi nhọ nói xấu lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Việt Nam là thủ đoạn thâm độc và đê hèn của những kẻ phản bội đi ngược lại xu thế phát triển của đất nước nhất là trước tình cảm kính yêu vô hạn của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như những công lao to lớn của Người đối với mạng Việt Nam và sự hy sinh, của các anh hùng, liệt sĩ trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.          

        Trong các cuộc chiến tranh ác liệt, đã có không biết bao nhiêu người dân Việt Nam đã ngã xuống, xương máu của cha anh chúng ta thấm đẫm trên từng tấc đất quê hương suốt từ Nam chí Bắc. Và hôm nay đây khi hòa bình lặp lại, không một ai bị lãng quên và không một ai được phép quên lãng những người đã ngã xuống vì nền Độc lập Tự do, về lịch sử hào hùng của cả một dân tộc. Tuy nhiên các phần tử cơ hội phản động đã dùng những luận điệu bịa đặt bỉ ổi nhất để xuyên tạc, bôi nhọ nhân cách của Chủ tich Hồ Chí Minh, xuyên tạc ý nguyện uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy sự bịa đặt, bôi nhọ nói xấu xúc phạm đến lãnh tụ Hồ Chí Minh là xúc phạm đến danh dự, lòng tin yêu của nhân dân Việt Nam đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu. Luận điệu của chúng cũng chỉ là lời lẽ của những kẻ vô học, không căn cứ, không thể lung lạc được lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với các anh hùng liệt sĩ. Những luận điệu xuyên tạc ấy càng cho thấy rõ bộ mặt phản động, trơ tráo của chúng cần được tẩy chay, loại bỏ trong đời sống cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

 Ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực lâm nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đây cũng là yêu cầu tất yếu, bảo đảm sự minh bạch về xuất xứ, nguồn gốc lâm sản thông qua công nghệ số, đáp ứng ngày càng tốt đòi hỏi của thực tiễn hội nhập và phát triển trong giai đoạn kinh tế số hiện nay.

Để chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số ngành lâm nghiệp, ngày 9/10/2023, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 227/QĐ-LN-CĐS thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Ban sẽ chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch chuyển đổi số của ngành; tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số; xây dựng chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược lồng ghép nội dung về chuyển đổi số lĩnh vực lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, Ban cũng chỉ đạo xây dựng hệ thống dữ liệu chuyên ngành; ứng dụng công nghệ số trong hoạt động chỉ đạo điều hành và phát triển sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.
Để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao, Cục Lâm nghiệp đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số năm 2023, theo đó, mục tiêu của ngành là hoàn thành danh mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý và ban hành được kế hoạch, lộ trình cụ thể để xây dựng, triển khai các cơ sở dữ liệu trong danh mục; nâng cấp, cải tiến hệ thống thông tin quản lý ngành (FORMIS) nhằm đáp ứng các yêu cầu về cấu trúc, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm cho việc cài đặt, tích hợp, kết nối các phần mềm, các ứng dụng chuyên ngành; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thực hiện quản lý dữ liệu trên hệ thống FORMIS…
Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (Cục Lâm nghiệp), chuyển đổi số đang đặt ra nhiệm vụ khá nặng nề cho ngành lâm nghiệp. Với kế hoạch này, ngành xác định các lộ trình triển khai để đáp ứng mục tiêu chung của quốc gia về chuyển đổi số. Đặc thù rừng Việt Nam trải dài từ bắc chí nam, chủ yếu ở vùng núi cao, hiểm trở nên việc ứng dụng công nghệ số có nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, với diện tích rừng hơn 14 triệu ha, do nhiều đối tượng khác nhau đang quản lý, sử dụng (doanh nghiệp, tổ chức, các hộ gia đình, hợp tác xã, cộng đồng…), nên ứng dụng công nghệ rất nan giải, trong đó chưa kể đến khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng sử dụng, cơ sở hạ tầng...
Phó Viện trưởng Viện Công nghiệp rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) Nguyễn Đức Thành cho rằng, thời gian gần đây, theo chỉ đạo của Chính phủ và để đáp ứng nhu cầu chung của chuyển đổi số quốc gia, ngành lâm nghiệp đã và đang đẩy mạnh chuyển đổi số.
Đến nay, Cục Kiểm lâm đã triển khai ứng dụng dự báo cháy rừng, ứng dụng trong phân cấp nguy cơ cháy rừng. Việc cảnh báo tự động sẽ giảm thiểu thiệt hại xảy ra do cháy. Các đơn vị quản lý rừng của ngành lâm nghiệp cũng đã ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và viễn thám trong quản lý tài nguyên rừng bền vững.
Bên cạnh đó, nhiều hoạt động như xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, thực vật, lâm sản ngoài gỗ cũng đã tham gia kế hoạch chuyển đổi số…
Về đóng góp của chuyển đổi số trong phát triển, bảo vệ rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã cùng ngành lâm nghiệp triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo tồn, giống cây trồng, thương mại, dự báo cháy rừng… từ đó, lập kế hoạch, xây dựng kế hoạch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhanh hơn, tốt hơn.
Đáng chú ý, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã xây dựng phần mềm số hóa quản lý và truy xuất gỗ hợp pháp; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng, tài nguyên về gỗ và lâm sản phục vụ giám định. Trước đây, việc giám định mẫu gỗ mất khoảng 2-3 ngày. Hiện nay, với chuyển đổi số và công nghệ hỗ trợ, việc giám định đã giảm xuống chỉ 10-15phút/mẫu.
Chuyển đổi số cũng đang được tiến hành tại 34 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên và hai khu bảo vệ cảnh quan thuộc Cục Lâm nghiệp quản lý. Giám đốc Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (tỉnh Lâm Đồng) Lê Văn Hương cho biết, đơn vị đã sử dụng hiệu quả công nghệ viễn thám để phát hiện sớm mất rừng và suy thoái rừng.
Vườn quốc gia cùng các nhà khoa học của Trường đại học Lâm nghiệp đã tạo ra các thuật toán để thu ảnh, viết ra các phần mềm để sử dụng nội bộ. Cán bộ quản lý đơn vị thông qua điện thoại có thể cập nhật diễn biến tài nguyên rừng của hơn 70.000 ha rừng đang quản lý.
Phần mềm này sẽ ghi nhận toàn bộ quá trình tuần tra trong rừng, có tác dụng đánh dấu diễn biến trong rừng đến từng gốc cây. Bên cạnh đó, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà cũng sử dụng phần mềm để quản lý những động vật quý hiếm.
Tương tự, hiện nay các vườn quốc gia: Cúc Phương, Bạch Mã, Pù Mát, Cát Bà, Bù Gia Mập… cũng đã áp dụng công nghệ số trong việc quản lý rừng và động vật quý hiếm, góp phần hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.
Với những quy định mới của EU về truy xuất nguồn gốc lâm sản hợp pháp, sản xuất nông sản không xâm hại, gây mất rừng, ngành lâm nghiệp đang gặp khó khăn trong việc phân định diện tích rừng với diện tích trồng cà-phê, cao-su.
Để thích ứng với Quy định chống phá rừng (EUDR), ngành lâm nghiệp phải quan tâm tới cơ sở dữ liệu để xác định chỉ dẫn địa lý; có các dữ liệu nền tảng để so sánh, đối chiếu và biết chính xác được diện tích, các diễn biến của quá trình chuyển đổi, sản xuất, thương mại nhằm minh bạch được quá trình sản xuất.
Do đó, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị rừng ngoài việc cung cấp thông tin chi tiết và chính xác vị trí của từng khoảnh rừng, lô đất của khu vực sẽ góp phần bảo vệ rừng tốt hơn và minh bạch hóa trong quá trình sản xuất lâm nghiệp.
Đẩy mạnh chuyển đổi số đi đôi với phổ biến, tập huấn cũng sẽ giúp các chủ rừng là hợp tác xã, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp dễ tương tác và tiếp cận được nhiều thông tin, các tiện ích mà chuyển đổi số mang lại./.
Theo Báo Nhân dân

KHÔNG LÀM NGƠ TRƯỚC BIỂU HIỆN SUY THOÁI "THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI"

 Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa
Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.
Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.
“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.
Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay
Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.
Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.
Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội.
Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực
Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.
Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!
Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.
Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.
Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Báo QĐND

“ĐI VỀ PHÍA BÌNH YÊN” - HÀNH TRÌNH BƯỚC RA KHỎI BÓNG TỐI ĐỂ ĐẾN VÙNG SÁNG BÌNH YÊN

 Sáng 8/12, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển thuộc Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam đã chính thức ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội – Ngôi nhà bình yên cung cấp dịch vụ toàn diện, miễn phí hỗ trợ cho phụ nữ và trẻ em bị bạo lực.

Phát biểu tại lễ ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội Ngôi nhà bình yên, bà Dương Thị Ngọc Linh – Giám đốc Trung tâm Trung tâm Phụ nữ và Phát triển cho hay mô hình Ngôi nhà bình yên được Trung tâm Phụ nữ và Phát triển vận hành từ năm 2007, khi chưa có Luật về Phòng chống mua bán người và Luật Phòng chống bạo lực gia đình, với mục đích cung cấp một cơ sở tạm lánh an toàn, miễn phí cho phụ nữ và trẻ em bị bạo lực gia đình, xâm hại tình dục và mua bán người.
Đến với Ngôi nhà bình yên, các nạn nhân được hỗ trợ toàn diện trong thời gian từ 3 – 6 tháng để giúp họ ổn định về đời sống – tinh thần, giải quyết những khó khăn và xử lý các mối đe dọa đến sự an toàn của họ. Sau khi hồi gia, Ngôi nhà bình yên tiếp tục hỗ trợ về vấn đề pháp lý, hướng nghiệp và tìm việc làm, giúp họ có sinh kế bền vững.
Sau 17 năm hoạt động, Ngôi nhà bình yên đã hỗ trợ trực tiếp cho gần 1.700 phụ nữ và trẻ em bị bạo lực giới và ngày càng chứng minh tính thiết thực, hiệu quả.
Đáng chú ý, ngày 15/5/2023, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hà Nội đã cấp Giấy phép hoạt động cho Trung tâm Trợ giúp xã hội - Ngôi nhà Bình yên thuộc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển.
“Việc chuyển mình từ một cơ sở tạm lánh thành một trung tâm trợ giúp xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi, và cơ sở pháp lý giúp Ngôi nhà bình yên tăng cường kết nối, phối hợp trong việc chuyển tuyến, kết nối với các bộ ngành chức năng, đơn vị cung cấp dịch vụ như công an, y tế, tư pháp, luật sư, tâm lý, trợ giúp xã hội, đào tạo nghề và các tổ chức và chuyên gia liên quan khác”, bà Dương Thị Ngọc Linh nhấn mạnh.
Cũng tại sự kiện ra mắt Trung tâm trợ giúp xã hội – Ngôi nhà bình yên, Trung tâm phụ nữ phát triển và UN Women đã giới thiệu cuốn sách “Đi về phía bình yên - câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” (sách do Trung tâm Phụ nữ và Phát triển chủ biên, Nxb Phụ nữ Việt Nam phát hành năm 2023). Đây là cuốn sách thứ 2 tiếp sau cuốn sách “Ngôi nhà Bình yên: tự truyện của nạn nhân bị mua bán trở về” (xuất bản năm 2013).
“Đi về phía bình yên – câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” mang tới bạn đọc 12 câu chuyện của 12 người phụ nữ, cũng là 12 hành trình bước khỏi bóng tối khổ đau để đến vùng sáng bình yên và an lành hơn.
Họ là 12 trong số 1.665 mảnh đời đã đến với Ngôi nhà bình yên trong suốt 16 năm qua. Họ được chọn để viết, không phải vì trường hợp của họ đặc biệt (vì thực tế 1.665 câu chuyện đều đặc biệt theo cách khác nhau). Mà bởi chính họ chọn nói ra câu chuyện đời mình, với mong muốn lan tỏa niềm tin và hy vọng cho những người phụ nữ khác: Rằng cuộc đời vẫn còn nhiều điều tốt đẹp. Và chúng ta luôn có quyền được sống thật hạnh phúc. Chúng ta có thể vấp ngã, có thể sai lầm, có thể đã từng là nạn nhân của những điều kinh khủng nhất như bạo lực, xâm hại, mua bán người… nhưng chúng ta vẫn có thể “sống sót”, sống mạnh mẽ và tốt đẹp hơn, với sự nỗ lực của chính chúng ta, cùng sự hỗ trợ của cộng đồng và những chính sách hỗ trợ từ nhà nước hoặc từ nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, tổ chức thiện nguyện.
12 câu chuyện trong cuốn “Đi về phía bình yên – câu chuyện của chị em bị bạo lực, xâm hại và mua bán người” đều là chuyện có thật, đã được lược bỏ vài chi tiết quá tiêu cực nhưng vẫn đảm bảo tính chân thực. Tên người và địa danh đã được thay đổi để đảm bảo an toàn.
Chia sẻ về cuốn sách, chị Trương Ngọc Lan đến từ Nxb Phụ nữ Việt Nam đã không khỏi xúc động khi nhắc đến công việc tổ chức bản thảo trong thời gian làm sách: “Khi lắng nghe những câu chuyện của các nạn nhân tôi thật sự ám ảnh đến mức không thể làm được gì trong suốt cả một tuần. Theo sát từng cuộc phỏng vấn, tiếp cận với sự thật, mới cảm nhận và hình dung được họ đã khốn khổ như thế nào trong hoàn cảnh ấy. Với tôi, đây là một bản thảo rất đặc biệt, và biên tập viên đã hết sức cố gắng để chuyển tải sự thật mà không quá bi lụy, làm mọi người sợ hãi và đặc biệt là không muốn làm tổn hại đến nhân vật”.
“Qua cuốn sách, chúng tôi mong rằng, cộng đồng xã hội sẽ nâng cao nhận thức về các vấn đề bạo lực giới, xâm hại tình dục và mua bán người. Các cơ quan chức năng có thể xây dựng các chính sách đồng bộ để hỗ trợ tốt hơn cho các nạn nhân thuộc nhóm đối tượng nêu trên. Bạn đọc có thể tìm được những bài học giá trị từ mỗi câu chuyện. Và đặc biệt, trong tương lai, chúng ta có quyền hi vọng về một xã hội văn minh, dân trí cao, không còn những cảnh đời bất hạnh do thiếu tri thức hay bị lệ thuộc”, Giám đốc Trung tâm Trung tâm Phụ nữ và Phát triển bày tỏ./.
Báo Người Hà Nội

Các nguồn tin bị lợi dụng để tuyên truyền các quan điểm sai trái chống Đảng, chống chế độ Việt Nam trên mạng Internet.

Qua thống kê, khảo sát, chúng tôi thấy có 4 loại nguồn tin được sử đụng, hay bị lợi dụng để tuyên truyền những quan điểm thù địch, chống đối Việt Nam:

- Nguồn tin do những kẻ phản động, chống đối tự tổ chức khai thác.

- Nguồn tin từ báo chí quốc tế.

Đối với hai loại nguồn thông tin trên, chúng ta không thể chi phối, do hoàn toàn không nắm quyền chủ động và không thể tác động trực tiếp bằng luật pháp hay quyền lực khác Vì vậy, khả năng chống lại nguồn thông tin này là bị động. Tuy nhiên, vẫn có thể hạn chế để đi đến khắc phục bằng con đường quyết định là tăng cường thông tin từ phía chúng ta để thoả mãn thông tin cho nhân dân trong nước và Kiều bào ở nước ngoài.

- Nguồn tin được cung cấp có chủ đích từ trong nước. Đây là nguồn thông tin do những nhân vật bất mãn, chống đối chủ động tung ra ngoài để gây áp lực với các cơ quan quyền lực trong nước hoặc những người được các thế lực từ ngoài biên giới "đặt hàng". Rất tiếc là một số thông tin, tài liệu mật của nội bộ ta cũng bị đưa lên mạng để cho các thế lực chống đối khai thác.

- Nguồn tin khai thác ngay trên báo chí của ta. Trong số những thông tin trên báo chí ta mà bọn chống đối lợi dụng khai thác, có những thông tin chính đáng bị chúng bóp méo. Ví dụ tin các đồng chí lãnh dạo Đảng, Nhà nước đi thăm nước ngoài, tin về đường lối chính sách mới, tin về các sự kiện thời sự, chính trị, xã hội trong nước v. v… Đây là việc ta không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, "giá trị tiêu cực của việc khai thác nguồn thông tin này cũng không cao, do khó có thể tạo được sự tin tưởng dẫn đến chấp nhận dễ dàng của nhân dân. Nguy hiểm là những thông tin có tính tiêu cực mà báo chí ta do vô tình hay không hiểu hết hậu quả của nó mà đưa ra. Ví dụ, thông tin báo chí ta đưa về việc nhân dân một số vùng dân tộc thiểu số bỏ đạo Tin Lành v. v…

Đối với hai loại nguồn tin trên, chúng ta có khả năng chủ động giảm thiểu để dẫn tới khắc phục một cách căn bản bằng các giải pháp như: giáo dục và thực hiện nghiêm luật và các quy định về giữ bí mật, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, đặc biệt là những người có trách nhiệm chủ trì ở các toà soạn./.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN - CĂN BỆNH NGUY HIỂM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN!

         Giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân chính là giải quyết mâu thuẩn giữa cái chung và cái riêng, tuy nhiên đây không phải là mâu thuẫn đối kháng. Do đó, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần có sự điều chỉnh mối quan hệ của mình để giải quyết hài hòa giữa hai lợi ích trên để không sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Người nói: “Mọi người nhận rõ lợi ích chung của dân tộc phát triển và củng cố thì lợi ích riêng của cá nhân mới có thể phát triển và củng cố. Cho nên lợi ích cá nhân ắt phải phục tùng lợi ích của dân tộc, chứ quyết không thể đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích dân tộc. Đó là một tiến bộ”.
Thực tế cho thấy chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng là nguồn gốc của những “căn bệnh”: quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, địa phương, nhũng nhiễu,... làm suy yếu tổ chức đảng, tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với những cán bộ, đảng viên bị nhiễm “căn bệnh” này, luôn lấy “cái tôi” của mình để xử lý các mối quan hệ và giải quyết công việc; coi thường pháp luật, kỷ cương, đạo đức cách mạng bị suy thoái, xuống cấp.
Những người mang chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng luôn lợi dụng những sơ hở trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chính sách để tiến thân, phục vụ cho tham vọng chính trị, lợi ích của mình; công kích, chống phá, cấu kết, bè phái gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy yếu, hạ uy tín của Đảng. Khi không thực hiện được ý đồ cá nhân của mình, không thăng tiến được, không kiếm nhiều lợi lộc hoặc bị kỷ luật, thì sinh ra bất mãn. Thậm chí, các phần tử này dễ trở thành lực lượng đối lập chống lại Đảng và chế độ, khi có sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch.
Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, phức tạp, vì nó là “con vi rút”, là kẻ thù vô hình, nằm trong chính bản thân mỗi con người chúng ta. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra, cũng đã có những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng.
Vì thế, chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay, nhất thiết phải gắn chặt với đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng trong cán bộ, đảng viên để mua chuộc, lôi kéo, kích động, chia rẽ Đảng với dân và sự đồng thuận xã hội; lợi dụng việc chúng ta đấu tranh để xuyên tạc, chống phá Đảng và chế độ.
Trong cuộc đấu tranh này, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tổ chức quần chúng phải tự phê bình và phê bình trên tinh thần đồng chí trong sáng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau; nghiêm túc, khoan dung, thấu tình đạt lý; tự giác, tự nguyện, trung thực, khách quan, xuất phát từ cái tâm trong sáng; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, kèn cựa, bản vị hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa làm tổn hại đến tình cảm đồng chí, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng, v.v.
Bên cạnh đó, mọi cán bộ, đảng viên cần phải thực hiện nghiêm Quy định 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao. Vì, “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Cùng với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong chính mỗi con người, việc nêu gương trước quần chúng phải là việc làm hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Đó là việc làm cần thiết và thực chất, nhằm làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thiện phẩm chất, năng lực, phong cách của mình; làm cho Đảng ta mạnh lên cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm tốt trọng trách của mình trước dân tộc và nhân dân./.


Yêu nước ST.

KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VÀ UY TÍN NGÀY CÀNG CAO CỦA VIỆT NAM

 Điều này được thể hiện trong việc Việt Nam lần thứ hai được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đại diện cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Việc này diễn ra hôm 8/12 (giờ địa phương), tại TP Kasane, Cộng hòa Boswana, trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 18 Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003. Nhiệm kỳ đầu tiên của Việt Nam từ năm 2006-2010.
Việc Việt Nam thêm một lần nữa được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch tại một trong những cơ quan chuyên môn then chốt của UNESCO đã khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, cho thấy sự ủng hộ, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với khả năng đóng góp và năng lực điều hành của chúng ta tại UNESCO, cũng như ghi nhận đóng góp tích cực của Việt Nam trong lĩnh vực hợp tác văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, góp phần vào thúc đẩy vai trò của văn hóa, di sản cho sự phát triển bền vững, bao trùm và tự cường ở tầm quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Đây cũng chính là một minh chứng nữa về việc triển khai thành công đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam như tinh thần Nghị quyết lần thứ XIII của Đảng, Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.
Với tư cách là Phó Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện, triển khai các mục tiêu và ưu tiên của Công ước 2003, nâng tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể như động lực cho phát triển bền vững, đa dạng văn hóa, sáng tạo và đối thoại giữa các nền văn hóa, gắn kết xã hội, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phụ nữ và giới trẻ.
Trong năm 2023, Việt Nam đã ghi nhận nhiều thành công trong hợp tác với Tổ chức UNESCO, tiêu biểu như Việt Nam được tín nhiệm bầu vào vị trí Phó Chủ tịch Đại hội đồng UNESCO và vào Ủy ban Di sản Thế giới; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà được ghi danh là di sản thiên nhiên thế giới; TP Đà Lạt, Hội An tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo; Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được UNESCO ra “Nghị quyết vinh danh”, ngày 21/11/2023, cùng kỷ niệm 300 năm ngày sinh…
Hương Sen Việt

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG

 Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Thưởng và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 12 đến 13/12/2023.

Ðây là chuyến thăm cấp Nhà nước thứ ba của đồng chí Tập Cận Bình đến Việt Nam trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc và được thực hiện vào thời điểm một năm sau chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc năm 2022. Chuyến thăm là hoạt động đối ngoại có ý nghĩa hết sức quan trọng và lâu dài đối với quan hệ hai Ðảng, hai nước.
Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh trên thế giới xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển được thúc đẩy, tuy nhiên, tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ và thuận lợi. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, quyết liệt và toàn diện. Những điểm nóng xung đột tiếp diễn phức tạp. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, bấp bênh và tiềm ẩn rủi ro. Thách thức an ninh phi truyền thống phức tạp hơn. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương, trong đó có Ðông Nam Á, duy trì vị thế là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của thế giới và cũng là một trọng điểm cạnh tranh, tập hợp lực lượng của các nước lớn.
Từ sau Ðại hội XX của Ðảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/2022), Trung Quốc cơ bản giữ ổn định chính trị và vai trò của Ðảng Cộng sản Trung Quốc trong xã hội; củng cố vị trí “hạt nhân lãnh đạo” của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Kinh tế Trung Quốc phục hồi ở mức tích cực; khoa học-công nghệ đạt thành tựu mới; tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh được duy trì và phát triển.
Về đối ngoại, Trung Quốc triển khai nhiều hình thức đa dạng, phát huy cả đối ngoại Ðảng và ngoại giao Nhà nước, đưa ra nhiều sáng kiến, nâng cao ảnh hưởng trong nhiều vấn đề và tại nhiều diễn đàn quốc tế lớn. Các sáng kiến của Trung Quốc thu hút sự ủng hộ, tham gia của nhiều nước, qua đó Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với việc định hình trật tự khu vực và quốc tế.
Từ đầu nhiệm kỳ Ðại hội Ðảng lần thứ XIII đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Ðảng…
Quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các nước Ðông Nam Á được củng cố, phát triển cả trong khuôn khổ song phương và đa phương. Quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn quan trọng được tăng cường. Việt Nam tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm và có uy tín ngày càng cao tại ASEAN, Liên hợp quốc và nhiều diễn đàn, tổ chức quốc tế khác. Các hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cả ba trụ cột là đối ngoại Ðảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó có ngoại giao nghị viện, đối ngoại quốc phòng-an ninh.
Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc duy trì xu thế phát triển tích cực. Sau 15 năm triển khai khuôn khổ quan hệ Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc về tổng thể phát triển tích cực trong các lĩnh vực, với nhiều điểm sáng, nhất là sau chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai bên được nâng cao, góp phần củng cố quan hệ giữa hai Ðảng, hai nước, trước hết thông qua các chuyến thăm, trao đổi cấp cao, đặc biệt là giữa hai đồng chí Tổng Bí thư, cũng như giữa các cấp từ Trung ương tới địa phương và giao lưu nhân dân.
Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục được mở rộng. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư trên thế giới và lớn nhất trong ASEAN của Trung Quốc. Trung Quốc đứng thứ sáu trong 144 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Hợp tác quốc phòng-an ninh phát triển với nhiều hình thức mới. Hai nước nhất trí xây dựng hợp tác quốc phòng-an ninh thành một trong những trụ cột của quan hệ song phương. Hợp tác hai nước tại các diễn đàn quốc tế được mở rộng; hai bên ủng hộ một số sáng kiến của nhau.
Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc; thể hiện sự coi trọng và ưu tiên hàng đầu của cả hai nước đối với việc củng cố và nâng tầm hơn nữa quan hệ Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.
Dành sự đón tiếp trọng thị và thân tình với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân, Việt Nam khẳng định đường lối đối ngoại của Ðại hội XIII của Ðảng là độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, trong đó ưu tiên hàng đầu quan hệ với các nước láng giềng; nhất quán coi trọng phát triển quan hệ ổn định, lâu dài với Trung Quốc trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi; phát huy xu thế tích cực, điểm tương đồng, gắn kết giữa hai nước láng giềng, cũng như quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai Ðảng, hai nước.
Chúc chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân đến Việt Nam thành công tốt đẹp, đưa quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và Ðối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới, tiếp tục vững chắc, ổn định và bền vững, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới./.
Theo Báo Nhân dân