Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội - một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay

 “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những âm mưu thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn, nhất là thủ đoạn mới của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

“Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian qua. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách hiện nay. Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động sử dụng những thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm hiểm hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng, của quân đội là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; triệt để “khoét sâu” vào những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước để phủ nhận những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới ở nước ta; lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của quân đội vào Đảng; kêu gọi “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”(?!)...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua những "diễn đàn dân chủ"; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, truyền bá lối sống thực dụng, buông thả, thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, của quân đội, nhằm thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm “nhạt dần” bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, tạo “mảnh đất màu mỡ” cho tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Nguy hiểm hơn, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những bài viết, clip với cường độ, tần suất ngày càng tăng nhằm thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn, kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Họ lợi dụng quân đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, chia rẽ quân đội với nhân dân, với Đảng, nhằm chia rẽ tinh thần đoàn kết “quân với dân như cá với nước”, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, bôi xấu hình ảnh và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”…

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng, do vậy bản chất giai cấp của Nhà nước như thế nào thì bản chất giai cấp của quân đội cũng như thế; không có quân đội siêu giai cấp, đứng ngoài giai cấp, trung lập về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta không được một phút lơ là, chủ quan, bởi trên thực tế, các thế lực thù địch đã từng thực hiện thành công “phi chính trị hóa” đối với quân đội Liên Xô, quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ XX; và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.

Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong những năm qua luôn được coi trọng. Trong lực lượng quân đội, ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ được giáo dục tinh thần cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội. Song, thực tế vẫn còn những hạn chế, có mặt chưa theo kịp với diễn biến của tình hình thực tiễn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ hiểu chưa sâu sắc và chưa đầy đủ về âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Do vậy, còn có những biểu hiện thiếu cảnh giác, bị động, lúng túng khi phải đối mặt với những tình huống khó khăn, phức tạp, nhất là đấu tranh trực diện với những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội đã làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, ở những mức độ nhất định xuất hiện tư tưởng, tâm lý dao động về chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở trong giai đoạn cách mạng mới. Bởi vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch luôn là nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả.

Để làm vô hiệu hóa và đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mọi sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta. Trong khi đó, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp. Do vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là giải pháp có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Theo đó, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với cơ quan, đơn vị.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày sản phẩm của Đoàn Thanh niên các quân, binh chủng, nhà trường trong toàn quân tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 - 2027_Ảnh: TTXVN

Tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trọng tâm là thực hiện tốt các quy định của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương gắn với thực hiện sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa”. Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ cao, phẩm chất và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong những năm tới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng các tổ chức trong đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, thiếu gắn kết việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Hai là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội; tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ.

Đây là giải pháp quan trọng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội. Bởi, sự giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập của những luồng tư tưởng phi vô sản, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nhất thiết phải lấy chính trị của Đảng làm gốc, làm cốt; phải mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, thực hiện mục tiêu cao cả là chiến đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Theo đó, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời với việc coi trọng giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ về chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, nhất là âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó có hiệu quả trước sự chống phá của các thế lực thù địch với các thủ đoạn và tính chất khác nhau. Hình thức, phương pháp giáo dục cần được tiến hành phù hợp, linh hoạt, sáng tạo; trong đó, hết sức coi trọng các hình thức, như: Huấn luyện chính trị, giáo dục thông qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, thông qua phong trào hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các hoạt động khác của công tác tư tưởng, văn hoá...

Ba là, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng quản lý chặt chẽ mọi mặt của các tổ chức, từng con người và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị hằng ngày, hằng giờ của từng cán bộ, chiến sĩ; từ đó kịp thời phát hiện, có những biện pháp ngăn chặn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không tạo những sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá. Muốn vậy, phải thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong từng cơ quan, đơn vị. Cần quản lý về lịch sử chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ của mọi quân nhân. Thực hiện tốt chế độ phân công, phân cấp quản lý; phát huy vai trò của cấp ủy, hệ thống chỉ huy các cấp; tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ; thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức trong đơn vị; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý hành chính theo điều lệnh quân đội; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh trong quân đội là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch nói riêng. Trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, văn nghệ, đọc báo, nghe đài, hội thao, hội thi, nhất là trong các ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm tạo ra đời sống tinh thần phong phú, vui tươi, lành mạnh, đồng thời góp phần phòng ngừa, đẩy lùi sự xâm nhập của các loại ấn phẩm độc hại. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương pháp, tác phong công tác, triệt để khắc phục lối quản lý hành chính đơn thuần, áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu trách nhiệm trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị, không tạo ra “khoảng trống” để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các hoạt động chống phá. Cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ_Nguồn: dangcongsan.vn

Bốn là, tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Đây là giải pháp mang tính thời sự cấp bách hiện nay, bởi đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận cam go, quyết liệt hiện nay. Trong cuộc đấu tranh này, phải tổ chức thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội cách mạng; vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những luận điệu “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”,... của các thế lực thù địch. Đồng thời, tiếp tục khẳng định, quân đội ta ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc đã làm nên truyền thống tốt đẹp “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Thời gian tới, mặc dù tình hình chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt chống phá, nhưng quân đội ta vẫn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, kiên định và tuyệt đối trung thành với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để tổ chức đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, phải chú trọng hơn nữa nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện truyền thông xã hội cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong định hướng nhận diện và đấu tranh kịp thời, có trọng tâm với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy vai trò cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin và định hướng đấu tranh kịp thời, có trọng tâm. Phát huy sâu, rộng vai trò của lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị toàn quân tham gia đấu tranh vạch trần bản chất phản động trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa, nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa, nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới, còn có ý kiến khác nhau từ thực tiễn tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội./.

ST.

ĐỪNG ĐỂ BỊ BIẾN THÀNH "CON TIN" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và sự phủ sóng dày đặc của các trang mạng xã hội, người dân dễ dàng tiếp cận với thế giới bên ngoài rộng lớn - một “xã hội ảo” không ranh giới, không rào cản. Đây là một trong những kênh thông tin để Đảng và Nhà nước tổ chức tuyên truyền chủ trương, chính sách. Tuy nhiên, mạng xã hội phát triển đã trở thành một trong những thách thức an ninh quốc gia khi các thế lực thù địch lợi dụng các kênh truyền thông này để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng và Nhà nước hòng làm cho người dân mất niềm tin, hoang mang, dao động, hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước dẫn đến những hệ luỵ khôn lường.
Tỉnh táo khi sử dụng mạng xã hội
Theo thống kê từ Statista, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 12 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội,với khoảng 73,6 triệu người sử dụng mạng xã hội, 65,56 triệu người sử dụng Facebook, 66,63 triệu người sử dụng YouTube,... Mạng xã hội có độ phủ sóng rộng, tốc độ lan truyền nhanh đã thực sự trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Các blogger như Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (biệt danh mẹ Nấm), hay Bùi Thanh Hiếu (biệt danh Hiếu buôn gió), luật sư Nguyễn Văn Đài… thường xuyên sử dụng facebook, youtube đưa tin bịa đặt, xuyên tạc những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Khoác “chiếc áo” dân chủ, những đối tượng phản động dùng nhiều thủ đoạn để lèo lái dư luận xã hội theo ý đồ của chúng. Điển hình như vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk khi một nhóm đối tượng có tổ chức, manh động, được trang bị vũ khí, tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Ktur và UBND xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin vào ngày 11/6/2023 đã làm 9 người thiệt mạng (4 cán bộ công an, 2 cán bộ xã, 3 người dân) và làm bị thương một số người. Trong khi công tác điều tra, xác định nguyên nhân đang được các lực lượng chức năng thực hiện đúng trình tự thì lúc này đối tượng Nguyễn Văn Đài ra sức bóp méo, xuyên tạc, kích động người dân. Đối tượng vu khống Việt Nam đàn áp tôn giáo, gây chia rẽ các dân tộc Tây nguyên. Bên cạnh đó hàng loạt các cá nhân, tổ chức phản động (Uỷ ban cứu người vượt biển (BPSOS), RFA…) thừa cơ hội này đăng tin vu cáo, xuyên tạc chính quyền đàn áp người Thượng.
Trước những lời lẽ phân tích bên ngoài là đứng về phe dân chủ, đấu tranh để đòi quyền lợi cho người dân nhưng thực chất sâu xa bên trong là chia rẽ, kích động người dân gây rối, chống đối chính quyền. Vì vậy, mỗi người dân tham gia mạng xã hội cần tỉnh táo khi tiếp cận, chia sẻ, bình luận, không tham gia các hội nhóm không rõ ràng. Đó cũng là một cách để bảo vệ mình trên không gian mạng, tránh sử dụng mạng xã hội sai quy định của pháp luật, dẫn đến vi phạm pháp luật như nhiều trường hợp đã bị xử lý thời gian vừa qua, thậm chí một số trường hợp bị bắt giam vì tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo Điều 331 Bộ luật hình sự và “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tỉnh táo nhận định “đỏ” và “đen”
Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái là một trong những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Đó là căn bệnh “a dua”, chạy theo số đông mà không cần biết đúng sai, không tìm hiểu rõ bản chất vấn đề.
Lợi dụng thói a dua, tâm lý thích nổi bật, những phần tử phản động, thù địch triệt để lợi dụng căn bệnh này để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng tổng hợp, nhào nặn nhằm tạo ra những thông tin nghe qua tưởng chừng có cơ sở khách quan nhưng trên thực tế là đã khéo léo cài cắm những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo nhằm đánh lạc hướng dư luận. Chúng triệt để lợi dụng những người có ảnh hưởng tới cộng đồng (KOLS) lan truyền những thông tin trái sự thật được thu lượm từ những phát ngôn bừa bãi, từ những kẻ a dua gây nhiễu thông tin khiến dư luận hoang mang.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc mà một bộ phận đảng viên, nhân dân đã đọc, đã nghe nhưng thiếu tỉnh táo, không phân biệt được đúng sai, thật giả mà bấm like, bình luận, chia sẻ. Thậm chí, nhiều người có biểu hiện dao động, mất lòng tin, dẫn tới hùa theo và xa hơn là “tự diễn biến”, rơi vào bẫy “không chiến tranh mà chiến thắng” của các thế lực thù địch.
Tỉnh táo trước cám dỗ
Thông qua mạng xã hội, thế lực phản động ra sức tuyên truyền phá hoại tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chia rẽ nội bộ Đảng; xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh gây dư luận xấu trong xã hội. Các đối tượng này đều sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là facebook để tập hợp, mở rộng lực lượng kết nối giữa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Đồng thời, chúng lập ra các trang có tên và giao diện tương tự các trang mạng chính thống của Đảng và Nhà nước để gây nên sự nhầm lẫn của người dân. Qua các nội dung tương tác chúng kêu gọi tập hợp lực lượng, để bày tỏ quan điểm đối lập, chống phá; dụ dỗ các đối tượng cơ hội, sai phạm, thoái hóa biến chất tham gia viết bài xuyên tạc, phát tán tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chính trị xấu, độc. Thực tế đã có nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, tham gia tụ tập biểu tình gây mất an ninh trật tự…
Chẳng hạn, năm 2019, tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có trụ sở tại Mỹ do Đào Minh Quân - quốc tịch Mỹ cầm đầu, chỉ huy đã lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin bằng cách tổ chức chiến dịch trưng cầu dân ý. Hắn hứa hẹn sẽ hỗ trợ tài chính, cấp đất, xây nhà để dụ dỗ một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết. Đổi lại những ai đăng ký nhận hỗ trợ sẽ phải tham gia “trưng cầu dân ý” thể hiện quan điểm chống đối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Vì lòng tham và sự nhẹ dạ, cả tin nhiều người đã mắc bẫy và vướng vào vòng lao lý.
Tỉnh táo trước những sự kiện, điểm nóng
Những thông tin trên “không gian ảo” - mạng xã hội, rất khó kiểm chứng nên dễ dàng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để “tung hoả mù”. Cách thức các chúng sử dụng là tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh, video về các vụ việc có nội dung lập lờ, suy diễn về các sự kiện mang tính thời sự, biến những vụ việc không thành có, hay khếch đại những thông tin chưa kiểm chứng, hòng lẫn lộn thật giả để lôi kéo, kích động, định hướng dư luận theo ý đồ đen tối của chúng. Mục đích của chúng là kêu gọi cộng đồng mạng, những người nhẹ dạ cả tin, những phần tử cơ hội, bất mãn tham gia bình luận, chia sẻ, tạo “điểm nóng”. Các đối tượng này triệt để lợi dụng các kênh youtube, facebook, blog cá nhân để “thổi phồng” các vấn đề nhạy cảm của đất nước như dịch Covid-19, vụ Việt Á, các vụ tranh chấp đất đai, vụ tấn công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk… hòng gây ra sự bức xúc và ác cảm của người dân đối với chính quyền. Điều này tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội.
Đừng trở thành “con tin” trên mạng của các thế lực thù địch
Hiện nay, các cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước ngày càng ráo riết, quyết liệt hơn trong việc sử dụng mạng xã hội để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta với mức độ ngày càng thường xuyên, liên tục, tần suất cao, phạm vi ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng phức tạp. Đặc biệt đối tượng chúng hướng đến là giới trí thức trẻ, học sinh, sinh viên. Họ bị xúi giục, kích động đăng tải những nội dung xuyên tạc, sai trái, bịa đặt,… mà không biết đã mắc bẫy của các thế lực thù địch, phản động. Hành động này đã vô tình “nối giáo cho giặc” và nhiều trường hợp đã bị pháp luật xử lí nghiêm minh.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, lợi ích và cả những nguy cơ, thách thức của mạng xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển và quản lý internet, mạng xã hội. Đồng thời, chúng ta cũng triển khai những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn sự chống phá của các thế lực thù địch trên mạng xã hội. Song, quan trọng hơn cả, mỗi người dân cần tỉnh táo, sáng suốt khi tham gia mạng xã hội. Mỗi công dân mạng cần trở thành nhân tố nòng cốt, là “chiến sĩ” trên không gian mạng; phải thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, sự khôn khéo khi đấu tranh trên mạng xã hội, luôn phải tỉnh táo tránh để các thế lực thù địch lợi dụng, biến thành “con tin” trên không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước./.
ST




Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng

    Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố quan trọng đưa đến những thành công trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học kinh nghiệm về bản lĩnh chính trị của Đảng vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa hướng dẫn cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay. Nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng đặc biệt quan tâm và là nhiệm vụ cần được nghiêm túc thực hiện trong thời gian tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII _ Ảnh: TTXVN

Bản lĩnh chính trị và việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của Đảng

Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, tập thể là khả năng vượt qua những áp lực, khó khăn, thách thức; là lòng tin, sự kiên định, quyết tâm lớn lao và năng lực ứng biến với những thay đổi của thực tiễn, sự đoàn kết đồng lòng để tìm ra cách thức đúng đắn, nhằm thực hiện thành công mục tiêu chính trị của mình. Bản lĩnh chính trị dựa trên sự nắm vững tri thức khoa học và khả năng đúc rút tri thức mới từ thực tiễn hoạt động chính trị của chủ thể.

Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, một chính đảng không tự nhiên mà có. Khả năng tự chủ, đứng vững trước áp lực, sáng suốt tìm ra con đường đúng đắn… của chủ thể chính trị chỉ có thể có được qua quá trình khổ công rèn luyện lâu dài. Rèn luyện bản lĩnh chính trị là hoạt động có mục đích, nhằm từng bước xây dựng, củng cố thái độ, quyết tâm và khả năng giữ vững, bảo vệ và phát triển quyết định của cá nhân, tập thể trong hoạt động chính trị, bất chấp những áp lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, hoạt động chính trị của con người thường xuyên, liên tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất định, khó lường; vì thế, việc tự giác rèn luyện là điều kiện cần, để tạo nên nền tảng cơ bản cho bản lĩnh chính trị của chủ thể; nhưng khả năng vượt qua áp lực, thử thách mới chính là sự khẳng định và làm dạn dày thêm bản lĩnh chính trị của chủ thể. Chỉ khi vượt qua được những thử thách, áp lực không định trước được, bản lĩnh chính trị mới trở nên ổn định, vững chắc, trở thành bản chất cố hữu của chủ thể chính trị.       

Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của chủ thể chính trị diễn ra trong thực tiễn chính trị, được tiến hành thông qua các hoạt động có tính mục đích chính trị rõ ràng, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị bắt đầu với việc truyền bá, học tập, quán triệt và nắm vững, hiểu biết ngày càng sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng... Đây là kim chỉ nam soi sáng cho nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, nhất là khi gặp phải những tình thế khó khăn, trở ngại, là cơ sở nền tảng để các chủ thể chính trị phân tích, đánh giá đúng tình hình, tìm ra bản chất, quy luật, tính quy luật của sự vật, hiện tượng chính trị, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp, tập hợp được sức mạnh cần thiết để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được mục tiêu chính trị đề ra.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc củng cố niềm tin chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rút ra từ thực tiễn và những thành tựu cách mạng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng làm cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó tình cảm, niềm tin chính trị vào Đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, tình cảm, niềm tin chính trị đã trở thành bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “… khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”(1).

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc tổ chức thành công các phong trào hành động chính trị, nhằm đạt các mục tiêu mà Đảng đề ra. Bản lĩnh chính trị không chỉ biểu hiện thông qua cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận chính trị, mà còn thông qua các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng. Kết quả thực tế của các phong trào hành động cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là minh chứng thuyết phục nhất cho bản lĩnh chính trị của Đảng.

Những biểu hiện cụ thể, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt

Một là, những biểu hiện cụ thể bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt.

Kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về phương pháp, sách lược, nhất là ở các thời điểm khó khăn khi đưa ra các quyết định lựa chọn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhiều lần thể hiện việc kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện mục tiêu đó bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo, để vừa khẳng định và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa giành được những thành quả trên thực tế; đồng thời, thu hút được ngày càng nhiều quần chúng yêu nước tham gia vào phong trào cách mạng.

Một trong những điển hình cho việc Đảng kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo chính là thực tiễn cách mạng những năm 1936 - 1939, khi Đảng lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cải thiện về dân chủ và nhân quyền, từ ảnh hưởng của việc Chính phủ Pháp do những đảng cánh tả nắm quyền năm 1936. Kết quả là, tập hợp được đông đảo quần chúng xung quanh Đảng thông qua các tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; đời sống chính trị - xã hội có những cải thiện nhất định đã ảnh hưởng tốt tới thiện cảm của quần chúng nhân dân với Đảng; qua phong trào, đội ngũ đảng viên được rèn luyện bởi thực tiễn cách mạng, được trang bị thêm kiến thức hoạt động nghị trường, vì thế, cũng có sự trưởng thành nhất định. Chính trong giai đoạn này, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Đảng, như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đã trực tiếp tham gia viết báo, tổ chức tờ báo..., vì thế đã được rèn giũa những kỹ năng nhất định, rất cần thiết cho hoạt động cách mạng sau này.

Quyết đoán quyết định ở thời điểm vô cùng khó khăn. Một điển hình của việc dũng cảm đưa ra quyết định vào thời điểm khó khăn được thể hiện trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi đó, thực tế chiến trường đã có những thay đổi lớn so với khi chuẩn bị phương án ban đầu là đánh nhanh, thắng nhanh; nếu cứ tiếp tục thực hiện theo phương án đã đề ra, thì chúng ta sẽ phải chịu những tổn thất to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, từ những thông tin phản biện, cùng với sự cân nhắc kỹ lưỡng về tương quan giữa quân ta và quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định mà theo ông là khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình, đó là chuyển phương châm từ đánh nhanh, thắng nhanh, sang đánh chậm, tiến chắc. Như vậy, người đưa ra quyết định mang tính lịch sử đó phải có bản lĩnh lớn, xuất phát từ tài thao lược kiệt xuất, phương pháp làm việc khoa học, căn cứ vào thực tế chiến trường, khắc ghi những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đánh khi chắc thắng, không chắc thắng không đánh.

Dám đương đầu với thách thức, quyết tâm tận dụng cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, nhất là vào các thời điểm bước ngoặt của cách mạng. Điển hình của trường hợp này chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta. Đảng ta đã huy động sức mạnh toàn dân tộc, quyết tâm vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ cách mạng để phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và đi đến thành công. Khi đó, phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, còn lực lượng Pháp chưa kịp trở lại Đông Dương; lực lượng phản cách mạng ở trong thế yếu, còn phong trào cách mạng đang lên cao chưa từng thấy. Trong tình thế đó, nếu Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên khắp cả nước và ở các thành phố lớn không diễn ra kịp thời, thì kết quả của cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ khó đạt mục tiêu đề ra, thành quả của cách mạng sẽ không triệt để.

Dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự chỉnh đốn Đảng để hoàn thiện. Một trong những điển hình của việc Đảng thể hiện bản lĩnh chính trị, dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm là việc sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1955. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận “có phạm sai lầm nghiêm trọng”(2), từ đó, nghiêm túc đề ra biện pháp để sửa chữa những lỗi lầm nói trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, đăng Báo Nhân dân, ngày 18-8-1956; qua đó, khẳng định sự thành công và ý nghĩa to lớn của cải cách ruộng đất với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ những sai lầm đã mắc phải trong khi thực hiện và nghiêm túc chỉ ra: “Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy, và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”(3).

Thái độ công khai, thẳng thắn trong đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, trong thực hiện nhiệm vụ chung của sự nghiệp cách mạng, cách bày tỏ chân tình, thấu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước quần chúng nhân dân đã khiến cho những khúc mắc được giải tỏa, lòng tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng càng được củng cố, tạo thành sức mạnh mới cho phong trào. Cách ứng xử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những sai lầm xảy ra trong khi thực hiện cải cách ruộng đất chính là sự thể hiện rất rõ bản lĩnh chính trị của Đảng.

Dám đổi mới và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước dân tộc, trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình. Với việc tiến hành đổi mới toàn diện tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã thể hiện rõ trách nhiệm trước dân tộc, khẳng định bản lĩnh chính trị của mình trong sự nghiệp cách mạng. Khi đó, tư duy đổi mới phải đối diện với những áp lực không hề nhỏ từ nhiều phía, trong đó có áp lực từ lối tư duy sáo mòn, kinh viện, duy ý chí gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung vốn đã ăn sâu trong suy nghĩ và hành động của số đông.

Sự thống nhất giữa "ý Đảng và lòng dân" đã đưa đến thành công của Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới. Toàn bộ đánh giá, nhận định trong Văn kiện Đại hội VI toát lên tinh thần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề, thể hiện thái độ dũng cảm trong đánh giá thực tế, phê bình và tự phê bình những sai lầm mà Đảng đã phạm phải trong quá trình lãnh đạo cách mạng từ sau năm 1975. “Những sai lầm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của đảng trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng… làm cho sự lãnh đạo của Đảng trong những năm gần đây không đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới. Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết điểm của mình trước Đại hội(4). Đó chính là bản lĩnh chính trị của một đảng cách mạng chân chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi không che dấu khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình và chỉ ra phương hướng khắc phục khuyết điểm, đồng thời quyết tâm khắc phục.

Hai là, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện bản lĩnh chính trị của đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và dìu dắt, chịu sự ảnh hưởng của truyền thống chính trị dân tộc qua nhiều thời kỳ, có dấu ấn tác động của vị trí địa - chính trị của đất nước Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở việc kiên cường vượt qua những khó khăn, thử thách của phong trào cách mạng, được trui rèn để ngày càng trưởng thành, là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động; đoàn kết, hy sinh không sờn lòng; kiên định vượt qua những trở ngại to lớn; dũng cảm tự phê bình để ngày càng trưởng thành; giữ vững bản chất của một đảng vì nước, vì dân; tiếp tục vững vàng lãnh đạo dân tộc vượt qua những thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ với nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đó chính là quan hệ gắn bó giữa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, với việc chuẩn bị khả năng thích ứng cao với mọi hoàn cảnh khó khăn, đột xuất, đòi hỏi phải đưa ra được những quyết định kịp thời, chuẩn xác.

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ, qua lại với rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cầm quyền của Đảng và đều yêu cầu người đảng viên cần phải phấn đấu cao nhất vì lý tưởng cách mạng, vì thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự phấn đấu đó là thường xuyên, liên tục, không có điểm dừng, bởi cuộc cách mạng nhằm đem lại hạnh phúc cho toàn thể dân tộc phải vượt qua những thử thách không thể đoán định được, đòi hỏi phải có nỗ lực cao nhất.

Các cán bộ, chiến sĩ quân đội nêu cao bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn để dũng cảm cứu giúp ngư dân trong thiên tai _Ảnh: Tư liệu

Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách, tạo môi trường rèn luyện cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

Cần thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, để họ thấm nhuần sâu sắc hệ tư tưởng của Đảng và phương pháp làm việc khoa học, từ đó có sự sáng suốt, vững vàng trước những thử thách để có thể lựa chọn và đưa ra những quyết định đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Muốn vậy, cần “Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễnđưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng(5).

Thời gian tới, để làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương(6); “Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam(7).

Để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần tạo môi trường rèn luyện từ chính thực tiễn công tác phong phú, đa dạng hằng ngày. Chính trong môi trường đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những nhiệm vụ thường xuyên, trong đó có cả những nhiệm vụ mới, khó; nếu tổ chức đảng biết cách bố trí, sắp xếp hợp lý, động viên, giúp đỡ thì khó khăn, thử thách đó lại chính là cơ hội rèn luyện bản lĩnh, giúp cán bộ có điều kiện phát huy hết năng lực.

Hiện nay, nhiều đảng bộ thực hiện việc giao nhiệm vụ mới, khó gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể để rèn luyện, thử thách đối với đội ngũ cán bộ được đưa vào diện quy hoạch. Nhiệm vụ đó có thể là những công việc còn tồn đọng qua nhiều nhiệm kỳ, chưa giải quyết triệt để do vướng mắc về cơ chế… Đó có thể là nhiệm vụ mà nếu giải quyết được sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, tổ chức đảng sẽ đánh giá cán bộ một cách toàn diện, cả về năng lực, trình độ, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cách làm trên của một số địa phương, cơ quan, đơn vị thời gian qua là một biện pháp tốt để rèn luyện bản lĩnh chính trị, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, rất cần được đánh giá, tổng kết để rút ra bài học kinh nghiệm. 

Thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ một cách thường xuyên, liên tục chính là công việc quan trọng để rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Muốn vậy, cần phải thường xuyên “… xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín”(8); “tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, nhân sinh quan cách mạng”(9). Bên cạnh đó, cần “tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm”(10). Kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là biện pháp cơ bản, quan trọng để xây dựng và chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, cũng là biện pháp hữu hiệu để rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng. Bởi, kỷ luật là sức mạnh giúp tập thể đồng lòng vượt qua những khó khăn, thử thách. Đồng thời, để rèn luyện bản lĩnh chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tu dưỡng, thực hành thường xuyên, nghiêm túc đạo đức cách mạng. “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức… Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên”(11).

Phát động các phong trào hành động cách mạng rộng lớn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Các phong trào hành động cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, chính là cơ sở thực tiễn, môi trường cho việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là khắc phục những điểm nghẽn, thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,... Muốn vậy, Đảng phải có đủ năng lực, bản lĩnh, uy tín, trí tuệ và đạo đức tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; có sự đồng thuận, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qua các phong trào hành động cách mạng rộng khắp trên mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, góp sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường.

Từ thực tiễn các phong trào hành động cách mạng, các nhân tố mới xuất hiện, đem lại hiệu quả trên nhiều mặt; đồng thời, những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện sẽ là “đề bài” đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm phải tìm ra lời giải. Tất cả những điều đó đều góp phần quan trọng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta. Thời gian qua, do “… chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, huy động mọi nguồn lực cho phát triển”(12)“các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt(13)…, nên đã làm ảnh hưởng nhất định đến việc phát huy sức mạnh to lớn của các phong trào hành động cách mạng rộng khắp của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Để khắc phục những hạn chế nói trên, thời gian tới, cần “… tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân(14); qua đó, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc(15). Đồng thời, cần “chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(16)..../.

ST.


NHỮNG THÀNH TỰU LÝ LUẬN CHỦ YẾU CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN ĐUỜNG LỐI ĐỔI MỚI - NỘI DUNG CỐT LÕI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

  Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 37 năm qua không chỉ là kết quả của việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kết tinh của quá trình sáng tạo lý luận của Đảng, dân tộc, nhân dân ta. Những kết quả sáng tạo lý luận đó đã góp phần bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện trong các Cương lĩnh, nghị quyết, đường lối, chủ trương nói chung, trong đường lối đổi mới nói riêng và đó cũng là minh chứng cho thấy rõ ràng rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đạt được những thắng lợi vẻ vang.

Lý luận đổi mới Việt Nam là hệ mục tiêu, quan điểm, đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn mang tính quy luật… xác lập mô hình phát triển Việt Nam trong thời kỳ mới, có ý nghĩa chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận đổi mới Việt Nam là sự bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể Việt Nam thời kỳ mới; sự sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bằng hình thức và phương pháp đổi mới, phù hợp quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn dân tộc và xu thế thời đại; trên cơ sở chung đúc những bài học thành công và cả thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế kỷ XX và kế thừa có chọn lọc trên tinh thần phê phán các thành tựu, giá trị tư tưởng và khoa học của nhân loại.

Những thành tựu lý luận chủ yếu

Một làđường lối đổi mới xác định mục tiêu chủ nghĩa xã hội theo cả đặc trưng cấu trúc và chất lượng phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồm 6 đặc trưng, rồi tiếp tục bổ sung, phát triển thành 8 đặc trưng, thể hiện những bước phát triển không ngừng trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội, đồng thời mục tiêu thứ nhất “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” cũng chính là mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Từ những bài học và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới, đúng như nhận định của Đảng nêu ra tại Đại hội lần thứ X, nhận thức của chúng ta “về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản(1).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Công ty cổ phần giấy An Hòa tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: 1- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2- Do nhân dân làm chủ; 3- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; 7- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Đánh giá chung 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(2).

Hai là, phát triển lý luận mang tính đột phá về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 37 năm đổi mới; hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến. Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì con người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển... Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, trở thành nòng cốt. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Thực tế 37 năm đổi mới cho thấy, mối quan hệ ba bên giữa nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, nhìn nhận là mối quan hệ đối tác, hợp tác, được quản lý, xây dựng, hoàn thiện từng bước nhằm góp phần phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững đất nước. Trong mối quan hệ này, Nhà nước có vị thế, vai trò rất quan trọng của cả một hệ thống tổ chức nhà nước gồm các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương để thực hiện quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, thị trường vận hành tuân theo quy luật, chủ yếu có vị thế, vai trò định hướng, quy định và điều tiết hành vi, hoạt động trao đổi, mua bán, giao dịch của các bên tham gia thị trường; trong đó, “nhà nước” dưới hình thức tổ chức là các cơ quan nhà nước và “xã hội” có thể đóng vai người mua, người tiêu dùng và cả người cung cấp những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định.

Ba là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những đóng góp lý luận quan trọng.

Trong quá trình đổi mới, việc chấp nhận mô hình Nhà nước pháp quyền ở nước ta cũng là một cuộc đấu tranh gay gắt trong đổi mới tư duy chính trị. Đại hội VI của Đảng mới chỉ manh nha hình thành các cụm từ “quản lý đất nước bằng pháp luật”, “từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật”(3). Đến Đại hội VII, quan điểm đổi mới hoạt động của Nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch  ba quyền đó”(4). Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994). Tuy nhiên, đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mới được coi là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược và xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tinh thần này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội X, XI, XII, khi Đảng ta coi “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo” là một trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(5).

Bốn là, phát hiện và xác định các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Ngoài các phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh năm 2011 còn bổ sung nội dung về việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(6).

Đến Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta đã bổ sung thêm mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, đó là quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; đồng thời đã điều chỉnh mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa thành quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường được bổ sung thành quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung thêm mối quan hệ lớn thứ mười là: mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đến nay, Đảng ta đã xác định 10 mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là “quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(7).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả(8). Mười mối quan hệ lớn là sự khái quát cao nhận thức lý luận của Đảng trên con đường thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm sáng rõ thêm về các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, quy luật cầm quyền khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm là, hình thành lý luận về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, được vận hành thông qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Từ lý luận của V.I. Lê-nin về hệ thống chuyên chính vô sản, Đảng ta đã phát triển thành lý luận hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, từ nền chuyên chính vô sản thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống chuyên chính vô sản, chức năng trấn áp giai cấp thống trị, đấu tranh giai cấp được nhấn mạnh thì trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có bản chất, mục tiêu, động lực là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý cũng nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào sức dân để làm lợi cho dân và đấu tranh với các thế lực thù địch âm mưu phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cấu trúc của hệ thống chính trị gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân làm chủ thông qua chế độ dân chủ đại diện và chế độ dân chủ trực tiếp. Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố và điều kiện cơ bản cho phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong đoàn kết, tập hợp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong giám sát và phản biện xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, của người Việt Nam trong nước và định cư ở nước ngoài.

Sáu là, phát triển lý luận về phát triển con người toàn diện, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công; lấy con người làm trung tâm gắn với xác định phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; chú trọng bảo vệ môi trường.

Cương lĩnh năm 2011 xác định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công, được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính. Nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu của xã hội, phát huy năng lực và phẩm chất của con người. Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ công dân. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi của công cuộc đổi mới và từng chính sách phát triển thông qua hệ thống phúc lợi xã hội tiến bộ, bền vững, chất lượng cao và hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt, tiến tới bao phủ toàn dân. Xây dựng quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hài hòa, đoàn kết, cùng phát triển, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định pháp luật; tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Nghiêm trị mọi hành động kỳ thị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Bảy là, lý luận về đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ; là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Từ quan điểm về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về quan hệ đối ngoại là sự mở rộng quan hệ đối nội ra ngoài biên giới quốc gia, đường lối đối ngoại phục vụ cho đường lối đối nội… của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới. Đa dạng hóa được xác lập không chỉ bằng chính trị, mà trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa; ngay trong lĩnh vực chính trị, không chỉ quan hệ ngoại giao nhà nước mà cả đối ngoại đảng, đối ngoại nghị viện, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại an ninh; ngoại giao văn hóa góp phần tăng cường sức mạnh mềm quốc gia; ngoại giao nhân dân được thúc đẩy, tăng cường; tất cả cùng tạo nên đa tầng mặt trận đối ngoại, ngoại giao để góp phần vào giữ vững hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, phát huy vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đa phương hóa được khẳng định bằng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới vì hòa bình, dân chủ, hợp tác, phát triển; trong các tổ chức khu vực và quốc tế và tại các diễn đàn; là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Quan hệ quốc tế phát triển với nhiều tầng nấc ưu tiên, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước có quan hệ hữu nghị truyền thống, các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tiến bộ,… Đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tận dụng được các thời cơ phát triển trong trật tự thế giới biến động khó lường, giữ vững và phát huy cục diện tích cực đã xác lập, giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc tế hóa, về độc lập dân tộc, Đảng ta đã phát triển thành quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn liền với giữ vững độc lập, tự chủ. Hội nhập quốc tế trong quan điểm của Đảng ban đầu chỉ giới hạn trên lĩnh vực kinh tế dần mở rộng hội nhập toàn diện trên các lĩnh phi kinh tế trên tinh thần chủ động, tích cực. Đó là chủ động đàm phán lộ trình hội nhập hợp lý, đặt ưu tiên hội nhập từng lĩnh vực, tích cực cải thiện, nâng cao về mặt nội lực để giành được lợi ích, không bị thua thiệt khi hội nhập quốc tế, đặc biệt là sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo các nguồn lực đối ứng bên trong để sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Từ chủ động, tích cực hội nhập quốc tế tiến lên phấn đấu trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, kể cả tham gia gánh vác những nghĩa vụ quốc tế như cử quân đội tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc ở các điểm nóng có xung đột. Cùng với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ: Đó là giữ vững đường lối, chính sách, luật pháp độc lập, không bị can thiệp bởi bên ngoài, kể cả quá trình sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu hội nhập quốc tế cũng phải chủ động, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là bảo đảm độc lập, tự chủ bằng tạo ra khả năng đan cài sâu rộng lợi ích nước ta với các nước khác, nhất là các nước lớn, theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa. Đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ bằng lựa chọn hợp lý và có giải pháp nâng cao vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quan trọng về quốc phòng - an ninh, bảo đảm an sinh xã hội; tạo sức cạnh tranh cao của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của các sản phẩm chủ lực; đưa hàng hóa nước ta tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tập trung phát triển những doanh nghiệp “đầu đàn” đủ mạnh để dẫn dắt cả vốn, quản trị, công nghệ, chiếm lĩnh thị trường nội địa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới; nắm giữ được công nghệ lõi của một số ngành, lĩnh vực quan trọng; doanh nghiệp của Việt Nam phải chiếm thị phần hàng hóa bán buôn và bán lẻ trong nước, không để nước ngoài thao túng; có hệ thống “phòng vệ” hợp lý để bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế.

Tám là, xây dựng, hoàn thiện lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa với nội hàm rộng lớn bằng sức mạnh tổng hợp cả lực lượng vũ trang và phi vũ trang, gắn với xác định “đối tác” và “đối tượng” trong các bối cảnh, tình hình cụ thể.

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quốc gia - dân tộc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã bổ sung, phát triển nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp luật pháp quốc tế; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Tinh thần, ý chí là kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quan niệm về “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế là bước phát triển mới từ quan niệm “đồng minh” và “kẻ thù” trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đối tác và đối tượng đan xen nhau, chuyển hóa nhau, có khi trong đối tác có mặt đối tượng phải đấu tranh, có khi trong đối tượng có mặt đối tác cần phải hợp tác. Phương pháp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế; đồng thời, nêu cao cảnh giác, tăng cường tiềm lực mọi mặt, sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đủ khả năng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, lấy quân đội nhân dân và công an nhân dân làm nòng cốt. Sức mạnh tổng hợp được tạo ra bởi nền kinh tế mạnh, thế chiến lược trong cục diện khu vực và thế giới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, lực lượng vũ trang đủ khả năng răn đe để ngăn chặn chiến tranh, giữ vững hòa bình, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Kết hợp cả đấu tranh ngoại giao, tăng cường thực lực bên trong, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với đối ngoại, triệt tiêu các nhân tố bên trong có khả năng gây mầm mống cho bên ngoài lợi dụng chống phá và xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển bền vững đất nước. Ra sức tranh thủ mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới, theo phương châm “thêm bạn bớt thù”. Không để chúng ta bị “kẹt” trong quan hệ giữa các nước lớn, nhất là khi có cạnh tranh quyết liệt; không để bị hiểu lầm liên kết với nước này chống nước khác. Thực hiện nền quốc phòng hòa bình tự vệ theo nguyên tắc “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này chống nước khác, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước ta, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.

Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu

Thứ nhất, phải luôn ý thức sâu sắc rằng, vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới dựa trên nền tảng học thuyết  Mác - Lê-nin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là bài học sâu sắc được rút ra từ chính thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua 37 năm đổi mới; cũng là bài học xương máu từ thất bại của các đảng cộng sản cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, khi chệch hướng về đường lối chính trị. Chính sự phát triển phức tạp và khó khăn của thực tiễn cách mạng cho thấy, vai trò và ý nghĩa to lớn của một lý luận khoa học và cách mạng dẫn đường. Ở đâu và lúc nào, công tác lý luận không được coi trọng đúng mức thì ở đó và khi đó, sẽ xảy ra tình trạng lạc hậu về lý luận, không đủ sức dẫn dắt thực tiễn, trước sau sẽ dẫn đến thất bại, đổ vỡ. Thực tiễn xác nhận, chỉ có xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng cường thực hành dân chủ, kịp thời và thường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng mới là con đường duy nhất đúng để phát triển và bảo vệ đường lối đổi mới, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên.  

Diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh sau 37 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 

Thứ hai, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới của Đảng trong bối cảnh mới. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của các nhà kinh điển mác-xítcần khẳng định rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng phải xác định, làm rõ những luận điểm mới cần được phát triển, nhận thức lại hay bổ sung thêm vào đường lối đổi mới. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, những dự báo cho quá trình phát triển đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, phân tích, chỉ rõ những xu hướng, tìm kiếm những bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam; đồng thời, tiếp thu những thành tựu lý luận mới, tìm tòi những cơ sở lý luận để giải thích một cách khoa học những vấn đề thực tiễn nóng bỏng đang đặt ra trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Đặc biệt là, trong quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới phải có tư duy phê phán và sáng tạo, dám đổi mới vượt qua những rào cản của tư duy lối mòn, cũ kỹ, cản trở sự phát triển của lý luận và thực tiễn.

Rõ ràng, đổi mới tư duy và lý luận là nhu cầu cấp thiết, nhưng phải trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Như C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ, cần tránh hai thái cực: hoặc đổi mới nhưng không kiên định lập trường, đổi mới vô nguyên tắc hoặc biến học thuyết của các ông trở thành giáo điều, tín điều nhất thành bất biến, coi đó chỉ là những chân lý có sẵn.  

Thứ ba, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã đúc kết qua thực tiễn hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng. Đó là: 1- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau; 2- Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng; 3- Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; 4- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại; 5- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề ngày càng nặng nề, phức tạp mà thực tiễn cách mạng, sự phát triển của đất nước đang đặt ra trong bối cảnh mới.

Thứ tư, kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cần cảnh giác, không rơi vào giáo điều, nhưng cũng cần phải tỉnh táo, chống lại những mưu toan nhằm xét lại, bác bỏ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nội dung cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Ngày nay, trong khi tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả bề rộng lẫn chiều sâu, với tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường, những vấn đề mới đặt ra ngày càng nhiều, đòi hỏi cần phải làm sáng tỏ, thì việc tổng kết thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận càng trở nên cấp bách. Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” hòng làm chúng ta đi chệch hướng, mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, thì việc đấu tranh bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng càng trở thành nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên trong công tác chính trị, tư tưởng và lý luận của Đảng ta.

Thứ năm, bảo đảm tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới. Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng nước ta của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, cần giữ vững được tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc vận dụng, bổ sung, phát triển đường lối, trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán những thành quả văn minh của nhân loại, những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học vào thực tiễn đất nước thì cách mạng thu được thắng lợi. Đây cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để “tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9)./.

ST.