Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân

 Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng (01-2016) xác định phương hướng hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, việc triển khai thực hiện phương hướng này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, lần đầu tiên, được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29-11-1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước. Với Hiến pháp năm 2013, bản chất và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thể chế hóa rõ hơn. Về bản chất, đó là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Từ bản chất đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có 5 đặc điểm cơ bản sau:

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Văn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu phải: Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.

Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật: Hiến pháp quy định những điều luật nền tảng cho toàn bộ nền luật pháp của chế độ xã hội; và những điều luật này vừa được thực hiện một cách trực tiếp, vừa có thể được cụ thể hóa thành bộ luật hoặc luật để thực hiện tùy theo sự đòi hỏi của thực tế đời sống xã hội. Cần nhấn mạnh rằng, nếu Hiến pháp không được thực hiện trực tiếp trong xã hội, và nếu Hiến pháp không được liên thông với các bộ luật và luật của đất nước thì Hiến pháp rất khó được thực hiện trực tiếp, và nền tảng luật pháp của đất nước bị hạn chế căn bản.

Hiến pháp quy định cấu trúc (khuôn mẫu) cho nền quản trị của luật trong xã hội. Với vị trí, vai trò như vậy của Hiến pháp, nên quyền lập hiến phải trực tiếp thuộc về toàn thể nhân dân, để thể hiện một cách căn bản tư tưởng “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Chỉ với tính chất như vậy, Hiến pháp mới giữ vị trí tối cao trong hệ thống thể chế pháp quyền.

Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp nói riêng và luật pháp nói chung. Các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức, hoạt động của Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 8 Hiến pháp năm 2013). Và mọi chủ thể trong xã hội (Nhà nước, các tổ chức chính trị và xã hội, tập thể và cá nhân) đều phải tuân thủ nền pháp trị hay quản trị của luật (luật pháp) mà Hiến pháp là bộ luật gốc và quy định khuôn khổ cho nền luật pháp.

Sự bình đẳng của mọi cá nhân và thể nhân (Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội,…) trong thụ hưởng và phát triển quyền, không có sự phân biệt đối xử, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và các thể nhân, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Tức là Nhà nước pháp quyền phải xác lập được thể chế bảo đảm cho mọi thể chế nhà nước và xã hội, tập thể và cá nhân, không (và không thể) đòi hỏi cái ở ngoài hoặc ở trên những điều được quy định trong Hiến pháp và luật pháp nói chung. Các thể chế, nhất là thể chế hành pháp, tồn tại, hoạt động không rời rạc, mà là một thể thống nhất, chế ước lẫn nhau. Bởi vì, tính hiệu lực, hiệu quả của mỗi thể chế chỉ có được khi thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế liền sát bên trên và liền sát bên dưới, cũng như tất cả các thể chế khác. Trong điều kiện, môi trường thể chế như vậy, chỉ tòa án mới có quyền phán xử việc tuân thủ luật pháp. Việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống tòa án độc lập. Hệ thống tòa án độc lập bảo đảm cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện hay sự lạm quyền của Nhà nước; và từ đó hình thành, phát triển một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của luật pháp và các hoạt động, kể cả hành vi, của bộ máy lập pháp và hành pháp, ở ba khía cạnh: tổ chức; văn bản pháp luật (Hiến pháp, luật, văn bản quản lý hành chính các cấp); đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 chế định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; tức là trong khuôn khổ luật pháp.

Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi công dân và của mỗi người, mỗi công dân, được pháp luật và các chủ thể trong xã hội, đặc biệt Nhà nước, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy trong khuôn khổ luật pháp.

Với 5 đặc điểm nêu trên, thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân đồng thời chế ước quyền lực của nhà nước và xã hội trong khuôn khổ thể chế pháp quyền hay trong khuôn khổ luật pháp. Vì thế, nó có năng lực kết nối chặt chẽ và cũng thể hiện cho thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nội dung bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, gồm(1):

Công nhận (obligation to recognition): Các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước, công nhận, tức là phải thừa nhận đồng thời phải ghi nhận, ngày càng đầy đủ, cơ bản bằng các thể chế pháp luật và đạo đức (nhất là đối với các tổ chức xã hội), các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa của con người.

- Tôn trọng (obligation to respect): Các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước, phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp, vào việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý cụ thể để mọi người được thụ hưởng và phát triển các quyền của mình trong thực tế.

Bảo vệ (obligation to protect): Nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người, quyền công dân từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử, hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh vực; điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường khi có sai phạm từ phía cơ quan, người có thẩm quyền.

Thực hiện (obligation to fulfil): Nhà nước chủ động xây dựng thể chế (pháp luật, quy chế và thiết chế) cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho mọi người được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người, quyền công dân.

Việc thực hiện chỉ được bảo đảm (bảo đảm thực hiện) khi các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý được đề ra (hay xây dựng) phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải chúng được đề ra một cách hình thức, đặc biệt trong quá trình thực thi các quyền con người, quyền công dân của các nhóm yếu thế. Nói cách khác, việc bảo đảm thực hiện không chỉ coi trọng khâu đề ra (hay xây dựng) các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, phát triển và biện pháp quản lý cụ thể, mà đặc biệt coi trọng khâu tổ chức, triển khai thực hiện, nhằm đạt được kết quả thực tế trong việc thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân. Cần phải nhấn mạnh phương châm này, vì một đặc trưng của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân là coi trọng quá trình tổ chức, triển khai thực hiện thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển không kém việc đạt được mục tiêu đề ra.

Thúc đẩy (obligation to promote) là tạo lập điều kiện và môi trường kinh tế nói riêng và xã hội nói chung, mang tính hỗ trợ, thuận lợi cho việc tiếp cận quyền con người, quyền công dân của các nhóm xã hội, đặc biệt các nhóm yếu thế; đồng thời thiết lập và duy trì một cơ chế minh bạch, hiệu quả để giám sát quyền con người ở cả khu vực công và tư, theo thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thúc đẩy quyền con người, quyền công dân đòi hỏi Nhà nước và các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền không chỉ thụ động, kiềm chế không can thiệp vào công tác bảo đảm quyền của các cá nhân và tập thể, mà quan trọng hơn, là phải chủ động xây dựng và triển khai, thực hiện các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp quản lý cụ thể, để hỗ trợ các cá nhân và tập thể có điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc thụ hưởng và phát triển các quyền của mình.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong thực tế

Từ những nội dung bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nêu trong Hiến pháp năm 2013, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, công tác bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã và đang được thực hiện trong thực tế theo các phương hướng sau:

Một là, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở tiếp tục hoàn thiện, phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức, phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nhằm phát triển nhanh, bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Ba là, hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội và tội phạm; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý của Nhà nước, nhất là quản lý kinh tế.

Năm là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Coi trọng xây dựng văn hoá trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm. /.

ST.

Tiếp tục gìn giữ, vun đắp và phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới

Tiếp nối cuộc gặp giữa lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Campuchia và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 9-2023), chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary (từ ngày 30-11 đến 2-12-2023) và Thủ tướng Chính phủ Campuchia Hun Manet (từ ngày 11-12 đến 12-12-2023) lần đầu tiên trên cương vị mới, tiếp tục khẳng định sự coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ Việt Nam - Campuchia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước hai bên. Đây đồng thời là nền tảng vững chắc, tạo đà thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới, vì sự trường tồn của mỗi dân tộc.

Thiếu nhi Thủ đô chào đón Thủ tướng Campuchia Samdech Hun Manet sang thăm chính thức Việt Nam_ Ảnh: TTXVN

Những thành tựu nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc vùng hạ lưu sông Mekong, đều có nguồn gốc nền văn minh lúa nước với lịch sử lâu đời ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt đều có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, là tâm điểm kết nối khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Với nhiều điểm tương đồng, hai nước luôn gần gũi, gắn bó, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập vào năm 1930 đến nay, mối quan hệ Việt Nam - Campuchia đã trải qua các giai đoạn lịch sử quan trọng; nhân dân hai nước luôn đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đặc biệt, Việt Nam đã ủng hộ, giúp đỡ Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (ngày 7-1-1979), hồi sinh dân tộc, tìm giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia; xây dựng quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài từ năm 1993 đến nay.

Thực tiễn đã minh chứng, mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước dù trải qua không ít thăng trầm vẫn luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy vào từng bối cảnh, tình hình và từng thời điểm lịch sử cụ thể. Việc tăng cường sự đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước là tất yếu khách quan, quy luật sống còn và nhân tố quan trọng hàng đầu đối với cách mạng mỗi nước, góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, an ninh và phát triển trong khu vực.

Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, yêu cầu tăng cường quan hệ Việt Nam - Campuchia luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Các chuyến thăm ngoại giao của lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra thường xuyên. Thông qua các chuyến thăm, hai bên nhất trí khẳng định lại những nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa hai nước, thỏa thuận những phương hướng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt, hình thành cơ chế cụ thể, từng bước đàm phán giải quyết những vấn đề còn tồn tại, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Bước sang thế kỷ XXI, hai bên tiếp tục tăng cường các chuyến thăm ngoại giao và tiếp xúc thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong các cuộc gặp cấp cao, hai bên đều nhấn mạnh tầm quan trọng và quyết tâm củng cố mối quan hệ hợp tác truyền thống giữa hai Đảng, hai Nhà nước. Đáng chú ý, tháng 11-2000, hai bên đã ra tuyên bố xác định nguyên tắc trong quan hệ hai nước, trong đó nhấn mạnh ưu tiên hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại, giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế, mở rộng các hoạt động giao lưu hữu nghị, văn hóa, thể thao và giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, ủy ban của Quốc hội, đoàn thể, tổ chức nhân dân và các địa phương hai nước… Năm 2005 tiếp tục là một dấu mốc quan trọng khi hai bên nhất trí quyết tâm phát triển quan hệ hai nước theo phương châm 16 chữ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, thúc đẩy nâng tầm từ “hợp tác nhiều mặt” lên “hợp tác toàn diện”. Trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước vừa phát triển theo chiều rộng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực từ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, văn hóa - xã hội, vừa từng bước đi vào chiều sâu, hướng tới các thỏa thuận mang tính chiến lược, lâu dài ở cấp quốc gia.

Trong những năm gần đây, các cấp, các ngành, địa phương và doanh nghiệp hai bên đã chủ động phối hợp tích cực triển khai thực hiện các hiệp định, thỏa thuận hợp tác giữa hai Chính phủ và chương trình hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, địa phương. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở mỗi nước; tiếp tục củng cố và tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam - Campuchia; đồng thời, góp phần nâng cao vị thế của hai Đảng, hai Nhà nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới. Cụ thể:

Thứ nhất, quan hệ chính trị tiếp tục được tăng cường, phát huy vai trò nòng cốt, định hướng trong quan hệ hai nước.

Hai bên khẳng định quan hệ Việt Nam - Campuchia đang phát triển tốt đẹp, ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả trên các lĩnh vực, trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, cũng như quyết tâm giữ gìn, không ngừng phát huy, truyền tiếp cho thế hệ mai sau tình đoàn kết hữu nghị, truyền thống, hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia.

Hai bên thường xuyên duy trì truyền thống trao đổi các đoàn cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giữa các bộ, ngành, địa phương. Năm 2020 và 2021, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát và diễn biến hết sức phức tạp, hoạt động trao đổi đoàn cấp cao trực tiếp giữa hai nước không thể thực hiện được, song hai bên vẫn thường xuyên duy trì quan hệ chính trị thông qua các kênh tiếp xúc, như: điện đàm, hội đàm trực tuyến, gửi thư thăm hỏi, tích cực chia sẻ, hỗ trợ các trang thiết bị, vật tư y tế để phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác song phương được duy trì tốt đẹp và phát huy hiệu quả, nhất là Cuộc gặp giữa lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam với lãnh đạo cấp cao Đảng Nhân dân Campuchia (CPP); Kỳ họp Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; Hội nghị các tỉnh có chung đường biên giới… Thông qua các chuyến thăm, hai bên đã đạt được nhiều thỏa thuận chiến lược, vừa định hướng cho tổng thể quan hệ hai nước, vừa kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; các hình thức trao đổi thông tin kinh nghiệm được đẩy mạnh; nhiều văn kiện pháp lý được ký kết làm cơ sở cho việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.

Bên cạnh đó, hai bên tích cực phối hợp tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm trang trọng, có ý nghĩa trong quan hệ giữa hai nước, như: Ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (ngày 7-1-1979), 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia (24-6-1967 - 24-6-2022)...; tuyên truyền sâu rộng về tình đoàn kết hữu nghị truyền thống và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Cùng với việc tăng cường quan hệ cấp cao, hai nước đặc biệt quan tâm thúc đẩy hoạt động ngoại giao nhân dân, xem đây là nền tảng vững chắc để gắn kết, làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị truyền thống vốn có giữa hai nước. Các cơ chế hợp tác, như: Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; Hội nghị Hợp tác phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia; Hội nghị Xúc tiến đầu tư;... được hai nước thực hiện hiệu quả.

Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất khoảng 800.000 tấn/năm, sản phẩm chiếm hơn 60% thị phần tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đang phát triển mạnh mẽ tại thị trường Campuchia_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục được thúc đẩy hiệu quả, trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Campuchia; sự phối hợp trong công tác đối ngoại được tăng cường.

Hai bên phối hợp chặt chẽ, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội ở mỗi nước; tích cực triển khai Nghị định thư về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2020 - 2024 và Kế hoạch hợp tác về quốc phòng, an ninh hằng năm giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam với Bộ Nội vụ Campuchia; duy trì cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; tổ chức giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất do Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đồng chủ trì.

Hai bên khẳng định nguyên tắc không cho phép bất kỳ lực lượng nào dùng lãnh thổ của nước này để chống phá nước kia; hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, phối hợp chặt chẽ trong trao đổi thông tin, giải quyết các vụ, việc phát sinh trên biên giới, đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới, cửa khẩu, lối mở, ngăn chặn triệt để các hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; duy trì tuần tra chung trên biển; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm xuyên quốc gia…

Các cấp, các quân khu, tổng cục, quân chủng hải quân, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển hai bên đã trao đổi nhiều đoàn nhằm thúc đẩy triển khai kế hoạch hợp tác; tăng cường chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, như đấu tranh chống nguy cơ “cách mạng màu”, chống khủng bố, tăng cường đào tạo, tập huấn. Đáng chú ý, với sự quyết tâm và nỗ lực từ cả hai phía, Việt Nam và Campuchia đã hoàn thành phân giới, cắm mốc 84% biên giới trên đất liền. Tháng 10-2019, hai nước đã ký kết Hiệp ước bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia. Đến nay, Việt Nam và Campuchia đã xây dựng 315 cột mốc chính, 1.511 cột mốc phụ và 221 cọc dấu, phân giới 1.044km trên tổng số 1.258km. Hai bên đang tích cực phối hợp chặt chẽ để hoàn thành công việc phân giới, cắm mốc 16% đường biên giới đất liền còn lại. Hai bên cũng tích cực triển khai Thỏa thuận về tìm kiếm quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia(1) và thực hiện công tác tôn tạo, tu bổ các đài hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại các tỉnh, thành phố ở Campuchia.

Không chỉ hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai nước còn thường xuyên thực hiện tham vấn chính trị, chia sẻ thông tin kịp thời và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong các khuôn khổ hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV), hợp tác bốn nước Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam (CLMV), Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECs), Hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS),... góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định  hợp tác, phát triển ở khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, hợp tác kinh tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, khoa học - kỹ thuật có bước phát triển tích cực.

Trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, hai bên chủ động, tích cực đẩy mạnh các lĩnh vực hợp tác song phương một cách thiết thực, hiệu quả. Kể từ khi ký kết Hiệp định kinh tế - thương mại Việt Nam - Campuchia (năm 1998) đến nay, quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, đồng thời tạo điều kiện củng cố, tăng cường mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên. Về lĩnh vực thương mại, nếu như năm 1998 - thời điểm Hiệp định thương mại Việt Nam - Campuchia được ký kết - kim ngạch xuất, nhập khẩu của hai nước chỉ đạt 117 triệu USD, thì đến năm 2021, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, song kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 10 tỷ USD; năm 2022, đạt 10,57 tỷ USD(2). Trong 9 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất, nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 5 tỷ USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2022. Hiện nay, Việt Nam là đối tác thương mại quốc tế lớn thứ ba của Campuchia (sau Trung Quốc và Mỹ) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Campuchia (sau Mỹ)(3).

Trong lĩnh vực đầu tư, tính đến nay, Việt Nam có 205 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng số vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD, đứng đầu ASEAN và trong top năm nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất tại Campuchia. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ hai trong số 79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài(4). Hoạt động đầu tư của Việt Nam tại Campuchia đã có mặt ở 18/25 tỉnh, thành cũng như hầu hết lĩnh vực quan trọng, như: nông nghiệp, viễn thông, ngân hàng, dịch vụ tài chính, công nghiệp chế biến, chế tạo, khai khoáng, hàng không, du lịch…, qua đó giúp tăng thu ngân sách, thúc đẩy phát triển hạ tầng và tạo việc làm cho số lượng lớn người lao động Campuchia. Hai bên thường xuyên tổ chức nhiều sự kiện quan trọng để thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư song phương, như Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Campuchia, Hội nghị xúc tiến đầu tư Việt Nam - Campuchia, Hội chợ du lịch, mở khu kinh tế cửa khẩu,... nhằm thúc đẩy hợp tác đầu tư giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Hợp tác và kết nối giao thông được đẩy mạnh thông qua việc hai bên ký kết Biên bản ghi nhớ về Chiến lược hợp tác giao thông vận tải giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn 2030; Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ hai nước; Hiệp định vận tải thủy Việt Nam - Campuchia, mở đường bay từ Phnom Penh, Sihanouville, Siem Reap đến Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng; Thỏa thuận về địa điểm nối ray đường sắt giữa Thành phố Hồ Chí Minh đến Thủ đô Phnom Penh…

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam hỗ trợ Campuchia đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Hai bên phối hợp chặt chẽ trong công tác kiểm dịch động thực vật, bảo vệ rừng, chống khai thác, vận chuyển buôn bán gỗ, động vật hoang dã trái phép qua khu vực biên giới hai nước, góp phần quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học.

Về lĩnh vực du lịch, số lượng khách du lịch Campuchia đến Việt Nam đứng thứ 15 trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Số lượng khách du lịch Việt Nam đến Campuchia trung bình đạt 900.000 lượt/năm, đứng thứ hai sau Trung Quốc. Năm 2023, Việt Nam trở thành một trong ba quốc gia có số lượng lớn khách du lịch đến Campuchia với hơn 880.000 người trong 10 tháng đầu năm, trong khi số lượng khách du lịch Campuchia sang thăm Việt Nam đạt hơn 300.000 người(5).

Hợp tác giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là lĩnh vực được hai bên quan tâm, coi đây là vấn đề trọng yếu mang tầm chiến lược. Hằng năm, Việt Nam dành cho Campuchia hàng trăm suất học bổng đào tạo dài hạn và ngắn hạn. Campuchia cũng dành cho phía Việt Nam 35 suất học bổng, bao gồm 15 suất học bổng đại học và sau đại học, 20 suất học bổng đào tạo ngôn ngữ, văn hóa Khmer trong vòng hai năm. Ngoài ra, hai bên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực dạy nghề thông qua việc tổ chức các hoạt động phát triển nguồn nhân lực. Đây thực sự là nguồn bổ sung nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của mỗi nước.

Thứ tư, hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, các ủy ban của Quốc hội, đoàn thể và tổ chức nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào thực chất hơn.

Hai bên trao đổi các đoàn, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới, tiếp tục mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng, chăm sóc y tế, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn tại các khu vực biên giới hai nước.

Việt Nam - Cambodia hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển (tác giả: Nguyễn Hoàng Nam)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tiếp tục đồng hành, hội nhập và phát triển

Cùng với những thành tựu đạt được trong chặng đường hơn 55 năm qua, trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp và khó lường của tình hình thế giới, khu vực và nhu cầu phát triển của mỗi nước, để tình đoàn kết hữu nghị bền chặt, sắt son giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia phát triển lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả thực sự, góp phần giữ vững ổn định chính trị - quốc phòng - an ninh, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, hai nước cần tập trung ưu tiên một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức hơn nữa về tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa sống còn của mối quan hệ Việt Nam - Campuchia đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Campuchia là nước láng giềng có vị trí địa - chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Mối quan hệ với Campuchia là ưu tiên đặc biệt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và là một trong những nhân tố quan trọng nhất, nguồn sức mạnh to lớn nhất cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước của mỗi Đảng, mỗi nước. Hiện nay, cả hai nước đều triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước; tuy nhiên, an ninh, phát triển của nước này luôn có tác động trực tiếp đến an ninh, phát triển của nước kia. Việc các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức nhân dân hai nước phối hợp chặt chẽ, hiệu quả sẽ vun đắp cho mối quan hệ tốt đẹp với hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, qua đó góp phần bảo đảm môi trường khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Hai là, tiếp tục nỗ lực phát triển và làm sâu sắc, toàn diện hơn nữa để đưa quan hệ chính trị hai nước ngày càng đi vào chiều sâu. Phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề chiến lược, chủ trương, chính sách liên quan đến an ninh, phát triển ở mỗi nước. Thực hiện hiệu quả các thỏa thuận, duy trì và tổ chức tốt các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước để tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và tạo động lực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực. Tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cấp, các ngành. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lịch sử truyền thống quan hệ Việt Nam - Campuchia, cũng như giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ biết trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp Việt Nam - Campuchia. Đồng thời, nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh chống các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, kích động chia rẽ quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Ba là, tăng cường hợp tác về quốc phòng - an ninh, trên cơ sở coi trọng, phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ nhau để bảo đảm chính trị, an ninh, trật tự và an toàn xã hội của mỗi nước, coi an ninh nước này cũng chính là an ninh của nước kia. Phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau đối phó với các thách thức an ninh ngày càng đa dạng, phức tạp. Thực hiện hiệu quả Nghị định thư về hợp tác quốc phòng và Kế hoạch hợp tác hằng năm giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Campuchia, giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Campuchia. Tăng cường trao đổi thông tin, tình hình, phối hợp chặt chẽ trong ứng phó với các diễn biến, không để bị động trước mọi tình huống; kiên quyết không để nước thứ ba hoặc lực lượng chính trị quân sự nào sử dụng lãnh thổ của nước này đe dọa an ninh của nước kia; tăng cường phối hợp tuần tra, giữ gìn an ninh, trật tự, cứu hộ, cứu nạn ở khu vực biên giới trên bộ và trên biển. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong công tác tìm kiếm và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, cũng như trong xây dựng, tôn tạo, trùng tu các đài hữu nghị Campuchia - Việt Nam. Đẩy mạnh hợp tác xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững, nâng cao cảnh giác trước các âm mưu phá hoại, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Campuchia, ngăn chặn đấu tranh hiệu quả các loại tội phạm xuyên quốc gia.

Bốn là, tăng cường hợp tác về đối ngoại, trong đó duy trì thường xuyên cơ chế trao đổi thông tin, tham vấn, phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lợi ích chính đáng của nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là trong khuôn khổ Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mekong, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Triển khai hiệu quả các thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước và kế hoạch hành động kết nối giữa hai nền kinh tế. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước, các tổ chức liên quan để quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn nước sông Mekong và các nguồn tài nguyên liên quan, bảo đảm lợi ích hài hòa của các nước trong lưu vực sông Mekong.

Năm là, tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả, chất lượng hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Campuchia phát triển bền vững, lâu dài trên nguyên tắc bổ sung, tương trợ lẫn nhau và cùng có lợi. Chủ động thúc đẩy các hoạt động đầu tư, thương mại song phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước để tạo lợi ích đan xen; xác định quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội giữa hai nước là nhiệm vụ chính trị lâu dài, mang tính chiến lược và vì lợi ích của mỗi nước. Duy trì và nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của các cơ chế hợp tác hiện có, nhất là cơ chế họp Ủy ban hỗn hợp hai nước về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và Hội nghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới; phối hợp thực hiện nghiêm những cam kết, điều ước quốc tế, thỏa thuận hợp tác về kinh tế, đầu tư, thương mại; tích cực rà soát bổ sung, sửa đổi hoặc đàm phán, ký kết các văn kiện hợp tác để tạo hành lang pháp lý trong hợp tác kinh tế, đầu tư; coi trọng kết nối hai nền kinh tế, đặc biệt là kết nối giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch. Đồng thời, có các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư; phối hợp nghiên cứu, xây dựng chiến lược tổng thể về hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia. Tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, hợp tác chia sẻ kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ giữa các bộ, ngành, địa phương, nhất là giữa thanh thiếu niên, quân đội, công an hai nước.

Sáu là, các cấp, ngành và địa phương, nhất là các địa phương có chung biên giới của hai nước coi trọng các hình thức hợp tác trực tiếp, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, ổn định và trật tự khu vực biên giới, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trên tinh thần đoàn kết, láng giềng hữu nghị.  

Với những phương hướng và khuôn khổ quan hệ trong thời kỳ mới, cùng sự quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước, trên tinh thần tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu sẽ góp phần củng cố, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Campuchia lên tầm cao mới, vì sự phồn vinh của mỗi quốc gia, vì cuộc sống ấm no của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới./.

ST.

Việt Nam tích cực tham gia và đề cao Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

 Đối với Việt Nam, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được thông qua, có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việt Nam đề cao Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, chia sẻ quan điểm quyền con người mang tính phổ quát, là khát vọng và giá trị chung của toàn nhân loại; ủng hộ đối thoại, hợp tác giữa các nước và tại các cơ chế đa phương của Liên hợp quốc về quyền con người; đồng thời, nhấn mạnh việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người một cách toàn diện, tổng thể, phù hợp chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung, cũng như quy định pháp luật liên quan của mỗi nước. Là một thành viên tích cực và có trách nhiệm của Liên hợp quốc, ASEAN và cộng đồng quốc tế nói chung, Việt Nam luôn coi trọng và không ngừng đóng góp tích cực vào việc làm giàu những giá trị chung của nhân loại về quyền con người và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Ở cấp độ quốc gia, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội; việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi. 

Việt Nam luôn coi bảo đảm quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa (Trong ảnh:  Chăm sóc trẻ sơ sinh bằng thiết bị y tế hiện đại)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Một trong những thành tựu lớn nhất của Việt Nam là việc giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc, thoát khỏi chế độ thuộc địa, thống nhất đất nước, từng bước phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền con người của người dân Việt Nam. Hệ thống pháp luật về quyền con người, bao gồm Hiến pháp, các luật, văn bản quy phạm pháp luật dưới luật ngày càng hoàn thiện, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân theo tinh thần của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các điều  ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã dành riêng một chương với 36 điều quy định rõ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có một số đạo luật quan trọng, như Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Luật An ninh mạng năm 2018, Bộ luật Lao động năm 2019…

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về xóa đói, giảm nghèo, phát triển con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG). Theo thống kê của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã tăng gần 46% trong 30 năm qua, nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng cao nhất thế giới. Tỷ lệ biết chữ trong độ tuổi từ 15 - 60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ trong độ tuổi từ 15 - 35 là 99,3%. Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã đạt 73,6 năm (năm 2021). Trong 10 năm qua (2010 - 2020), tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng trưởng bình quân gần 6%; thu nhập bình quân đầu người tăng gấp hơn hai lần; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% xuống dưới 3%. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 60,9% dân số lên 90,7%.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực theo các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Hiện nay, Việt Nam là thành viên của 7/9 điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về quyền của người lao động, trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, bao gồm bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, báo cáo quốc gia. Đồng thời, Việt Nam tích cực đối thoại và hợp tác với các cơ chế quốc tế của Liên hợp quốc về quyền con người, bao gồm cả việc tiến hành ba lần rà soát theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) vào các năm 2009, năm 2014, năm 2019 và chuẩn bị cho UPR lần thứ tư vào năm 2024. Đặc biệt, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các hoạt động hợp tác khu vực và quốc tế về thúc đẩy quyền con người, cũng như hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Trong đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của Hội đồng  quyền con người, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là việc tham gia Nhóm Nòng cốt tại Hội đồng quyền con người về biến đổi khí hậu và quyền con người. Ngày 11-10-2022, trong cuộc bầu cử do Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức tại thành phố New York (Mỹ), Việt Nam tiếp tục được các nước tín nhiệm bầu làm thành viên Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho nhiệm kỳ này, Việt Nam đã thúc đẩy thông điệp ứng cử “Tôn trọng và Hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người” được các nước hưởng ứng, ủng hộ. Đáng chú ý, ngay trong Khóa họp đầu tiên đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, diễn ra ở Thủ đô Geneve (Thụy Sĩ) vào ngày 3-4-2023, Việt Nam đã thể hiện vai trò xây dựng và đóng góp tích cực khi chủ trì giới thiệu, tham vấn, đề xuất Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người (1993 - 2023) bằng hình thức đồng thuận, với hơn 102 quốc gia tham gia đồng bảo trợ.

Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã có những đóng góp thiết thực nhằm tăng cường đoàn kết và hợp tác trong ASEAN về quyền con người, đặc biệt trong quá trình xây dựng Hiến chương ASEAN và Cộng đồng ASEAN, Tuyên ngôn quyền con người ASEAN, thành lập và hoạt động của các cơ chế ASEAN liên quan đến quyền con người, qua đó khẳng định các cam kết của ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực phù hợp với các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung, tạo khuôn khổ cho việc tăng cường hợp tác của ASEAN trong lĩnh vực này.

Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, Việt Nam cũng đối mặt với không ít thách thức chung trong vấn đề quyền con người. Hệ thống pháp luật và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về quyền con người chưa thực sự đáp ứng tốt trước nhu cầu của người dân. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về nhận thức và kỹ năng thực thi quyền con người trong triển khai công tác. Một số nước và tổ chức quốc tế vẫn có những quan điểm khác biệt hoặc thiếu khách quan về vấn đề quyền con người Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động ngày càng gia tăng những hoạt động lợi dụng quyền con người để xuyên tạc sự thật, gây mất ổn định, trật tự xã hội.

Do đó, Việt Nam cần thích ứng và cập nhật với những xu hướng và yêu cầu mới về quyền con người trong thời đại toàn cầu hóa. Các vấn đề, như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, di dân, công nghệ số,… có nhiều tác động đến việc thụ hưởng quyền con người của người dân. Việt Nam cần có những chính sách và biện pháp để bảo vệ quyền con người của người dân trước những thách thức mới này, đồng thời tận dụng cơ hội mới để nâng cao quyền con người. Cùng với việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người của người dân, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực để duy trì tham gia, đóng góp tích cực vào các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trên cương vị thành viên của cơ quan liên chính phủ quan trọng nhất về quyền con người của Liên hợp quốc, cũng như hợp tác với các cơ chế quốc tế khác về quyền con người, qua đó góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và tôn trọng quyền con người.

Nhìn chung, kể từ khi giành lại độc lập cách đây hơn 78 năm, Việt Nam luôn đề cao Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người, cam kết và nỗ lực mạnh mẽ trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền con người ở cả cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận là thành viên năng động, tích cực trong cộng đồng quốc tế. Năm 2023, Việt Nam cùng với Malaysia - hai quốc gia ASEAN đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền, luôn nỗ lực hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác trong nội bộ khối ASEAN và giữa khu vực ASEAN với Hội đồng Nhân quyền, cũng như thu hút sự ủng hộ và hợp tác của thế giới với ASEAN vì tiến bộ quyền con người của mọi người dân trên thế giới./.

ST.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo và giá trị tham khảo trong công tác cán bộ hiện nay

  Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhiệm vụ rèn luyện tư cách, tác phong, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, thể hiện trong hệ thống quan điểm, chỉ dẫn của Người về công tác cán bộ; trong đó, nội dung “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cả về lý luận và thực tiễn. Thời gian tới, cần tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gặp gỡ nhân dân tại khu tái định cư sân bay Long Thành tại xã Lộc An, Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai_Nguồn: quochoi.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo

Về nội hàm, thuật ngữ “công” nghĩa là thuộc về nhà nước, việc chung cho mọi người, “bộc” có nghĩa là “đầy tớ”(1); như vậy, cụm từ “công bộc của dân” dùng để mô tả “người đầy tớ chung của dân”(2).Thực tế, công bộc của dân thường được hiểu như một triết lý, tư duy quản lý gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của quan chức, người nắm quyền lãnh đạo (hoặc mở rộng là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Trên thế giới, khái niệm công bộc của dân (servant of the people) xuất hiện khá sớm, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “servus” với nghĩa là nô lệ. Ở nước ta thời phong kiến, người thực hiện điều hành cơ quan công quyền là “quan” và “lại”, khi đó, khái niệm “công bộc của dân” chưa xuất hiện. Đến năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức lần lượt ra đời, được Chủ tịch Hồ Chí Minh gói gọn trong thuật ngữ “công bộc của dân”.

Thực tế, lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền luôn gắn bó, thống nhất với lợi ích giai cấp, như C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản(3)”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác(4)vàchính bản thân Người là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong của người cán bộ trong vai trò “người công bộc”; là hình ảnh đẹp, vĩ đại để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo. Trong hệ thống quan điểm của Người về công tác cán bộ, “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo đất nước là nội dung nổi bật; các phát biểu, bài viết của Người đã nhiều lần nhấn mạnh chức vụ, quyền lực của mỗi cán bộ lãnh đạo là do nhân dân tín nhiệm, ủy thác, cho nên, cùng với việc Đảng cầm quyền, được giao đảm nhiệm các vị trí trọng yếu trong cơ quan Nhà nước, khi thực thi các quyền lực đó, cán bộ lãnh đạo là những người đại diện cho nhân dân, là “công bộc của dân”, chứ không phải “làm quan cách mạng, ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đày tớ của nhân dân”(5), điều này cũng có nghĩa,“tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân(6) và làm cán bộ chính là “suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân”(7),...

Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(8). Người tin tưởng và đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái đất nước; coi họ là người có trách nhiệm chính định hình chính sách, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự thống nhất, đoàn kết của nhân dân. Nhìn chung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo biểu hiện ở lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước của dân, do dân, vì dân được thành lập vào năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra(9). Theo đó, vị thế công bộc, đầy tớ của cán bộ bắt nguồn từ bản chất của chế độ dân chủ, cụ thể: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(10). Như vậy, nhân dân là chủ thể đích thực của chế độ, người dân chỉ trao cho Đảng, Nhà nước quyền thực thi quyền lực lãnh đạo, quản lý xã hội theo ý tưởng và lợi ích của dân. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là công bộc, là đầy tớ cho người đã giao quyền cho mình và có quyền phế truất mình; nhân dân là ông chủ nắm chính quyền, bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấyvà nếu “Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(11). Để giữ được “vị thế” trong lòng dân, Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những đại biểu thay mặt nhân dân thi hành quyền lực nhà nước phải yêu thương và trung thành tuyệt đối với Đảng và lợi ích dân tộc, không ngừng tạo dựng niềm tin, sự ủng hộ từ nhân dân.

Thứ hai, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở sự tận tụy và trách nhiệm với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của chính quyền và các đoàn thể là phụng sự nhân dân, là làm đầy tớ cho dân(12). Tuy nhiên,từ “đầy tớ” ở đây không có nghĩa là “tôi tớ”, “tay sai” mà là tinh thần tận tâm, tận lực phụng sự, mang lại lợi ích cho nhân dân. Người yêu cầu: “Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò”(13), tức là “việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”(14); rằng “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”(15). Theo đó, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải ghi nhớ rằng họ đang phục vụ lợi ích của nhân dân, đất nước với tinh thần “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(16). Thực tế, sứ mệnh phụng sự nhân dân chính là phụng sự chân lý lớn nhất, nên dù người cán bộ thực hiện vai trò gì, công việc gì, nhưng có lòng tận tụy vì dân thì đều là điều cao quý; đồng thời, cần xác định có làm tốt chức năng của “người lãnh đạo” mới có cơ sở làm tốt chức năng của “người đầy tớ” và chỉ khi làm tốt chức năng “người đầy tớ” thì mới có thể làm tốt chức năng “người lãnh đạo”. Thêm vào đó, người đầy tớ tận tâm, tận lực với dân thì sẽ được dân tin yêu, ủng hộ và quyền lãnh đạo của người làm lãnh đạo, cũng như “vị thế công bộc” được Đảng và nhân dân giao phó sẽ được bảo đảm. Như vậy, “vị thế công bộc” của cán bộ lãnh đạo được thể hiện ở việc luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, đó cũng là phương pháp, tiêu chí đánh giá năng lực của chính người cán bộ lãnh đạo.

Thứ ba, cán bộ lãnh đạo cần giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức của cán bộ lãnh đạo, như “công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm”(17) là phẩm chất căn cốt của người “đầy tớ” nhân dân. Để khẳng định “vị thế công bộc” của mình, người cán bộ phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, như “Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ. Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô, lãng phí. Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân”(18); mặt khác, luôn sẵn sàng đi đầu trong công việc, nỗi lo của dân, nhưng thành quả, niềm vui đạt được thì nhân dân phải được thụ hưởng trước; tránh biến quyền lực dân trao thành quyền lực cá nhân.

Thứ tư,“vị thế công bộc” còn được biểu hiện ở những đức tính, như cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị,... Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có một đặc điểm rất nổi bật là sự khiêm tốn, giản dị. Trong một chế độ mà ngay cả vị Chủ tịch nước luôn coi mình là đầy tớ của dân và khiêm tốn, dám nhận sai, không ngừng học tập, trau dồi để đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước thì chế độ ấy đích thực là của dân, do dân làm chủ. Theo Người, đức tính khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người, do đó người cán bộ lãnh đạo phải luôn lắng nghe, cập nhật kiến thức, phục vụ nhân dân một cách tận tâm, tránh lối sống tự phụ, xa cách với cuộc sống khó khăn, cực nhọc của người dân.

Ngoài ra, người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần học hỏi và bàn bạc, giải thích với dân chúng về mọi việc, nhưng “tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng(19), dân chúng nói gì cũng làm theo, mà phải có bản lĩnh vững vàng để vừa nâng cao trình độ giác ngộ, dân trí của quần chúng, vừa tránh “sợ sai”, “sợ khuyết điểm”; phải có tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi mọi yếu tố ngoại lai; tuyệt đối tránh tư duy cá nhân, thái độ kiêng kỵ, vừa tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của một bộ phận quần chúng “chậm tiến”, vừa thực hiện tốt vai trò “cầm lái” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chính tư tưởng bảo thủ, duy ý chí, không chịu đổi mới là sợi dây cột chân cột tay người ta, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển nên phải tháo bỏ nó đi. Theo Người, muốn cán bộ công tác giỏi, muốn sự nghiệp đổi mới tiến lên, gặt hái được nhiều thành tựu năm sau to hơn năm trước thì nhất định phải dám nghĩ, dám làm, có gan phụ trách; bởi “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(20). “Vị thế công bộc” của người lãnh đạo chính là ở ý chí kiên định và dám làm, dám chịu trách nhiệm như vậy. 

Thứ năm, duy trì tinh thầnluôn học hỏi, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm và tự cải thiện bản thân để có năng lực đáp ứng công việc. Thực tế, năng lực để “phục vụ nhân dân” được thể hiện qua các yếu tố, như tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi,... Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc học hỏi, tự cải thiện là điều cần thiết cho người cán bộ lãnh đạo, phải “học tập, học tập nữa, học tập mãi” để nâng cao trình độ và khả năng lãnh đạo của mình. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chất lượng, tận tụy, có đủ tri thức, khả năng thích nghi với tình hình và giải quyết các vấn đề phức tạp - yếu tố quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Người xem xét vị thế công bộc của người cán bộ lãnh đạo như một sứ mệnh lớn, phải đảm nhận trách nhiệm cao cả để thực hiện mục tiêu của cuộc cách mạng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đất nước.

Dựa trên quan điểm của Chủ tịchHồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của đội ngũ cán bộ và quá trình đúc kết kinh nghiệm trong thực tiễn, đến nay, đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực, phẩm chất, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, như Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW,ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương”; Quy định số 08-QĐi/TW,ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, trong đó, đề cao tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tránh tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân; đặc biệt, Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Bộ Chính trị, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” xác định rõ đội ngũ cán bộ, quản lý phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực và đạo đức cách mạng(21). Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, phải xây dựng “đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(22).

Một số vấn đề đặt ra:

Hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ,... đã hướng sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất, khiến một số người quá đề cao các yếu tố vật chất, hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội; trong đó có một bộ phận không nhỏ nằm trong hàng ngũ “công bộc của dân”. Mặt khác, nhiệm vụ đổi mới tư duy chính trị và đổi mới tư duy kinh tế chưa có sự đồng bộ, thống nhất nên còn diễn ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”. Thêm vào đó, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc chưa thường xuyên; tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng; vấn nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội,...

Bên cạnh đó, căn bệnh “sợ trách nhiệm” đang có dấu hiệu ngày càng xuất hiện phổ biến và dễ lây lan, khó chữa trị; là biểu hiện tâm lý sợ bị liên lụy, thiếu tinh thần, trách nhiệm trong hoạt động công vụ, lo rằng lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, thiệt thòi... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Những người mắc bệnh “sợ trách nhiệm” sẽ không dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đổi mới, sáng tạo; thường rụt rè, do dự, chỉ muốn làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, mong tránh phạm phải khuyết điểm; ngại “va chạm” trong quan hệ công việc, cơ quan, nhất là với cấp trên, thậm chí, lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể(23),... Từ thực tiễn đó, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” nhằm chấn chỉnh những đối tượng đang “mắc phải” bệnh sợ trách nhiệm, đồng thời, bảo vệ đội ngũ cán bộ chính trực, dám nghĩ, dám làm.


Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo ngày nay

Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ cũng như phát huy dân chủ trong quần chúng nhân dân(24). Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, phong cách, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng các khía cạnh trong công tác xây dựng Đảng trên tinh thần “phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(25).

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì mục tiêu mang lại lợi ích của nhân dân, coi lợi ích của nhân dân là trên hết. Từ tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo ngày nay cần đặt lợi ích của nhân dân lên cao nhất, theo đó trong công việc, nhiệm vụ, phải có sự tận tâm, lo lắng, quyết tâm xử lý, giải quyết những vấn đề nảy sinh liên quan đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đức tính trung thực, kiên định, khiêm tốn, minh bạch. Cụ thể, người lãnh đạo cần giữ lời hứa, thực hiện các cam kết, từ đó, tạo niềm tin vững chắc cũng như sự tôn trọng từ nhân dân. Mặt khác, cần đổi mới để có các biện pháp xử lý phù hợp, đủ mạnh, đủ sức răn đe hơn, tránh kẽ hở, yếu kém để các đối tượng vị lợi, thoái hóa, biến chất lợi dụng hòng tham nhũng, trục lợi, chà đạp lên lợi ích, vô trách nhiệm với đời sống người dân.

Thứ ba, chú trọng đúng mức nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó, đội ngũ lãnh đạo cần nhanh chóng nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đổi mới phương thức quản lý và phát triển xã hội. Mặt khác, nâng cao ý thức học hỏi và tự phát triển, cập nhật kiến thức và phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình để có khả năng đối phó với thách thức của tình hình mới; tạo điều kiện kết hợp giáo dục rèn luyện trong tập thể với phát huy tính chủ động, tự giác trong rèn luyện và tu dưỡng cá nhân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ tư, biết lắng nghe, thương yêu, có trách nhiệm với đời sống người dân. Người cán bộ lãnh đạo ngày nay cần lắng nghe ý kiến của cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề chung. Ngoài ra, “vị thế công bộc” cần được đi kèm với trách nhiệm và lòng tự trọng; tuân thủ nguyên tắc đạo đức và dám chịu trách nhiệm trong tất cả quyết định và hành động của mình. Hiện nay, để tránh tình trạng không dám nghĩ, dám làm, “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo vừa phải không ngừng trau dồi bản lĩnh, ý chí kiên định thực hiện mục tiêu cách mạng, vừa luôn học hỏi và lắng nghe nhân dân; dám nghĩ, dám làm và dám ra quyết định ở những thời điểm khó khăn, có tính bước ngoặt; gần gũi, chân thành, tin tưởng đồng chí, đồng bào,... để quy tụ được mọi người, kiến tạo nguồn sức mạnh của khối đoàn kết trong chính quyền và nhân dân.

Thứ năm, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong việc phát hiện những biểu hiện thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao nhằm trục lợi, tham ô, tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, kiên trì giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về đức tính liêm khiết, chính trực; xây dựng văn hóa tiết kiệm; cấp ủy, đảng viên phải luôn luôn dựa vào dân, lắng nghe dân, gắn bó máu thịt với nhân dân,... Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo cần giữ gìn đức tính trong sạch, trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, ỷ lại, vô trách nhiệm với nhân dân, đất nước./.

ST.

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM

  Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng – không liên minh quân sự của Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, chúng còn nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách quốc phòng của Việt Nam.

     1. Nhận diện các quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách bốn không của các thế lực thù địch.

     Về nội dung: Những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách không liên minh quân sự của Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, chính sách “không liên minh quân sự là tự trói mình” không chỉ dẫn đến mất lãnh thổ, đe dọa đến an ninh tổng thể của Việt Nam. Họ cho rằng, Việt Nam cần liên minh với một nước lớn như: Mỹ, Nga, Nhật,.... thì sẽ được sự hỗ trợ tối đa về quân sự, vũ khí, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo về chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia.

     Các thế lực thù địch cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng không liên minh quân sự thì chúng ta dễ bị cô lập trước những tình huống nguy hiểm.

     Về bản chất của các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

     Có thể nói, không thuần túy là kêu gọi liên minh quân sự cho Việt Nam, mà mục đích sâu xa là kích động dư luận xã hội gây áp lực với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm tạo nên những bất ổn, tiêu cực về quốc phòng, an nin, gây mất ổn định chính trị, phá vỡ nền hòa bình, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó mới chính là mục đích thực sự chúng.

     2. Luận cứ phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng – “không liên minh quân sự” của Việt Nam.

     Thứ nhất, Xét về tính hai mặt của vấn đề liên minh quân sự với nước khác. Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự có thể tổ chức thành khối quân sự hoặc chỉ là đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược. Nhân loại đã từng biết đến nhiều kiểu loại và cấp độ liên minh quân sự khác nhau: Có liên minh nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm lược; có liên minh để xâm lược, nô dịch quốc gia khác; có liên minh giữa các lực lượng, các dân tộc hoặc giữa các quốc gia, các khu vực; có liên minh ở dạng gián tiếp, hỗ trợ, răn đe; có liên minh dạng trực tiếp tham chiến. Ngoài ra, còn có cả liên minh quân sự dựa trên sự hòa hoãn tạm thời, thậm chí trong một số tình huống cụ thể, liên minh còn là “vỏ bọc” để nước này bất ngờ tấn công một nước khác.

     Chúng ta thấy rằng, không liên minh quân sự là chủ trương đúng đắn, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đó là cơ sở quan trọng để chúng ta đấu tranh bác bỏ ý kiến sai trái kêu gọi Việt Nam phải liên minh quân sự để bảo vệ Tổ quốc.

Xét về tính hai mặt của vấn đề liên minh quân sự, mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược chiến tranh hay chiến dịch quân sự cả trong tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh.

     Tuy nhiên, xét về mặt tiêu cực, liên minh quân sự trực tiếp khiến căng thẳng gia tăng, làm xuất hiện tình trạng đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước, các khối quân sự vốn có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia một liên minh có thể bị một nước thứ ba coi đó là hành động thù địch và hệ quả rất khó lường. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc các nước, các khối quân sự công khai hoặc ngầm gia tăng tiềm lực, thực lực, chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích, tạo cớ; kéo quốc gia, khu vực và cả nhân loại đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, nếu tham gia liên minh quân sự có thể dẫn đến nguy cơ bị tấn công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Trong khi thực tế không có nước nào chấp nhận hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của nước khác, kể cả nước đó là đồng minh chiến lược của mình. Thêm nữa, nguyên nhân dẫn đến xung đột, leo thang quân sự ở nhiều nơi trên thế giới xuất phát từ việc chính phủ và người dân ở những nơi này không đề cao nguyên tắc độc lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, mà lại trông chờ sự cứu giúp của các lực lượng bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là hàng loạt toan tính, mưu đồ, tham vọng về lợi ích, quyền lực của các cường quốc.

     Thứ hai, sức mạnh của bảo vệ Tổ quốc của một dân tộc không phải dựa vào liên minh quân sự mà phải dựa vào sức mạnh dân tộc đoàn kết, có nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh độc lập, tự lực, tự cường. Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược bởi chúng ta có một thứ “vũ khí” vô cùng quan trọng, đó là nhân tố chính trị - tinh thần to lớn, lòng yêu nước nồng nàn với niềm tin bất duyệt “toàn dân là lính” của dân tộc.

     Có thể nói, Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí. Đó chính là việc quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, xây dựng “thế trận lòng dân”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Phát huy sức mạnh chính nghĩa thống nhất với bản chất tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và lòng nhân ái, khoan dung của người Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

     Hiện tại, chúng ta thấy được mối nguy hại khi dựa vào liên minh quân sự từ cuộc chiến của Ukraina với Nga. Chiến sự xảy ra, tổng thống Volodymyr Zelensky không thể phát huy tiềm lực quốc phòng nội tại của quốc gia, mà ông trông chờ sự giúp đỡ của khối liên minh quân sự (Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương - NATO). Từ đó dẫn đến nước Ukraina thảm hại.

     Qua vấn đề Ukraina hiện tại, chúng ta có quyền khẳng định sách quốc phòng của Việt Nam hoàn toàn đúng đắn, chúng ta không trông chờ vào sự liên minh sự với các quốc gia, nước lớn trên thế giới mà Việt Nam phải khẳng định được sức mạnh nội lực của một nền quốc phòng toàn dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

     Thứ ba, không tham gia liên minh quân sự, bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ.

     Việt Nam kiên trì đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.

Đồng thời, Việt Nam cũng quyết lên án, phán đối các hành động gây hấn, xung đột, chạy đua vũ trang của các nước. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, giữ vững quan điểm, không để các đối tượng bên ngoài kích động, thỏa hiệp với nhau để xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc.

     Từ những luận cứ phản bác nêu trên, chúng ta thấy, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp, bảo đảm vùa giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường, vừa bảo được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, không để đất nước rơi vào tình trạng cạnh tranh, giành ảnh hưởng của các nước lớn, nhất là không để bị rơi vào thế phải liên minh với một quốc gia để chống lại quốc gia khác dẫn đến những tác động tiêu cự đến quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam phải tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

ST.