Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Quan điểm về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Giá trị thực tiễn đối với nước ta hiện nay

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là định hướng chiến lược lớn của Đảng, được đề cập toàn diện, có hệ thống trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cùng nhiều bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm này có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế của nước ta trong bối cảnh, tình hình mới, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định.

Nhận thức về quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm của Tổng Bí thư

Trên cơ sở tổng kết lý luận thời kỳ đổi mới, bằng ngôn ngữ khoa học, giàu hình ảnh, cách diễn đạt dung dị, gần gũi, dễ hiểu, tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Xung quanh quan điểm về hội nhập quốc tế, tác phẩm đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; khái quát và xác định rõ tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, phương hướng và nhiệm vụ cơ bản nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng ta về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trong tình hình mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 78 Đại hội đồng Liên hợp quốc_Nguồn: vietnam.vnanet.vn

Về cơ sở lý luận, thực tiễn của quan điểm, theo Tổng Bí thư, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống ngoại giao của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm, thực tiễn hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới. “Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam(1).

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế đối với quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng nói chung, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng nói riêng.

Với tư tưởng “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”(2), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng, hội nhập với thế giới, với phong trào cách mạng trên thế giới là một trong những nhân tố làm nên thành công của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo quốc tế, gắn cách mạng Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Hợp tác quốc tế, theo Người, chính là đoàn kết quốc tế, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(3); tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ công cuộc đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Hội nhập quốc tế phải trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.

Khẳng định “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam”, tác phẩm đã khái quát, hệ thống hóa một cách sâu sắc nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và hội nhập quốc tế, qua đó nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo là “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí chiến lược của Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn; chủ trương tôn trọng và giữ thể diện cho nước lớn; luôn luôn phải “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp” vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”(4). Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế đã tạo nền tảng lý luận cho đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Tổng Bí thư đã khái quát, phân tích quá trình phát triển tư duy lý luận, thành tựu và kinh nghiệm hoạt động hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực của Việt Nam trong hơn 35 năm đổi mới, coi đó là cơ sở quan trọng, trực tiếp xác định chủ trương của Đảng về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong giai đoạn hiện nay.

Hội nhập quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng, được điều chỉnh, bổ sung, mở rộng cả về phạm vi, cấp độ và tâm thế qua mỗi kỳ Đại hội, phù hợp với sự phát triển của đất nước và bối cảnh thế giới. Từ khởi đầu bằng cách tiếp cận mới về chủ trương tham gia phân công lao động quốc tế (Đại hội VI của Đảng), mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại (Đại hội VII), tới chủ trương từng bước hội nhập kinh tế khu vực, lấy hội nhập khu vực làm tiền đề để hội nhập thế giới (Đại hội XIII); không chỉ xác định “chủ động” mà còn “tích cực” hội nhập quốc tế (Đại hội X); từ việc lấy lĩnh vực kinh tế làm trọng tâm đến chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực (XI), từ hội nhập quốc tế ở mức độ thấp đến hội nhập toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả (Đại hội XIII).

Định hướng chiến lược về hội nhập quốc tế được xác định rõ trong Đại hội XII của Đảng (năm 2016): “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; tiếp tục khẳng định và mở rộng phạm vi, lĩnh vực và tính chất hội nhập quốc tế của nước ta, đó là hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa đạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước. “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(5). Đến Đại hội XIII của Đảng (năm 2021), yếu tố toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả trong hội nhập quốc tế đã được xác định rõ hơn: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(6).

Tính toàn diện thể hiện ở lĩnh vực, địa bàn, phương thức, chủ thể; trong đó gắn kết nhuần nhuyễn giữa hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập chính trị, hội nhập quốc phòng - an ninh, hội nhập văn hóa - xã hội. Tính sâu rộng thể hiện ở mức độ tham gia hội nhập, đa dạng hóa lợi ích. Tính sâu rộng còn có nghĩa  khi tiến vào trong quỹ đạo hội nhập, phải chấp nhận, cam kết tuân thủ “luật chơi”, đan xen lợi ích chặt chẽ nhằm thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa giữa các thành viên. Hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng là hội nhập đầy đủ, bao trùm trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác; các tầng nấc khác nhau với các cấp độ, các hình thức; tất cả các chủ thể tham gia, hướng tới đóng góp thực chất hơn, cam kết và đan xen lợi ích cao hơn, gắn kết ngày càng chặt chẽ quốc gia với cộng đồng quốc tế. Trong đó, kinh tế là lĩnh vực đi đầu, là trọng tâm và là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác, đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực cũng tạo ra một môi trường thuận lợi thúc đẩy hội nhập kinh tế sâu rộng hơn.

Tuy nhiên, sự toàn diện và sâu rộng không có nghĩa là dàn trải, thiếu nguyên tắc, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc, định hướng cụ thể, mà là có định hướng, lựa chọn, có nguyên tắc, ưu tiên, có trọng tâm, trọng điểm, là sự kết hợp giữa bề rộng và chiều sâu, giữa lượng và chất, giữa cái chung và cái riêng; cũng không phải là sự cứng nhắc, rập khuôn, máy móc mà là sự sáng tạo, linh hoạt.

Hiện nay, Việt Nam đã tiến rất sâu vào quỹ đạo hội nhập quốc tế. Quan hệ với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, cân bằng, hài hòa, thông qua xác lập những khuôn khổ đối tác toàn diện và đối tác chiến lược; tham gia ký kết các hiệp định song phương, đa phương không chỉ trong khu vực mà còn trên bình diện toàn cầu, trong đó có các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; chủ động tham gia vào định hình các luật chơi, đóng góp tích cực vào tiến trình hội nhập và phát triển trên thế giới; vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày một gia tăng, góp phần tạo lập, giữ vững, củng cố vững chắc cục diện đối ngoại hòa bình, ổn định để phát triển của đất nước. Điều đó cho thấy, hội nhập quốc tế là một quá trình không ngừng tìm tòi, thử nghiệm, phát triển, hoàn thiện cả về tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng qua từng thời kỳ.  

Từ thực tiễn phát triển tư duy lý luận cũng như thực hiện hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới, Tổng Bí thư khái quát: “Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đặt nền móng cho nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hoà bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(7), đạt được những kết quả quan trọng.

Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên đây chính là cơ sở quan trọng để “toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại…, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(8) theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Về nội hàm quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tác phẩm đã đề cập ở nhiều chiều cạnh: Hội nhập quốc tế vừa là một xu thế khách quan trong thời đại toàn cầu hóa, đang “tiếp tục tiến triển, nhưng cũng bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt”(9), vừa là yếu tố tác động mạnh mẽ, xuyên suốt đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam - một “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(10).

Tuy nhiên, cách tiếp cận xuyên suốt, bao trùm trong tác phẩm là coi chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng là một chủ trương, định hướng chiến lược lớn của Đảng, nhằm góp phần trả lời cho vấn đề mà Tổng Bí thư đã đặt ra ngay trong phần đầu của tác phẩm: Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Theo Tổng Bí thư, để thực hiện được mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ngoài việc thực hiện thắng lợi các định hướng lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh…, chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(11). Đây là một quá trình tất yếu khách quan, bởi trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, “sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó”. Hơn nữa, tính bất định, khó dự báo của cục diện thế giới và khu vực cùng với những xu thế mới đang manh nha hình thành; sự bấp bênh của môi trường kinh tế toàn cầu, sự phức tạp trong quan hệ nước lớn, sự đảo chiều, khó đoán định của những tập hợp lực lượng, với các mô hình liên minh ba bên, bốn bên… là những nhân tố mà chúng ta phải tính đến, phải thể hiện tính chủ động, tích cực khi tham gia hội nhập quốc tế.

Thực chất, tính chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phản ánh khả năng, mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị tâm thế, chuẩn bị các nguồn lực vật chất, tinh thần phục vụ quá trình hội nhập một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn hội nhập quốc tế trong những năm qua cho thấy, Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội quốc tế, trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng ngày càng gia tăng trong khu vực và trên thế giới. Đó không chỉ là minh chứng cho sự hội nhập toàn diện, sâu rộng của Việt Nam vào đời sống quốc tế, mà còn cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới của sự hội nhập với việc bước đầu định vị vị trí của mình trong dòng chảy của tiến trình hội nhập, trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới; xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng trong khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Mặt khác, giai đoạn mới trong tiến trình hội nhập cũng đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi Việt Nam phải chủ động, tích cực hơn.

Đối với yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tác phẩm đề cập toàn diện cả “bề rộng” và “chiều sâu” của hội nhập quốc tế, bao gồm phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của Việt Nam trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế. Theo đó, yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng đòi hỏi Việt Nam phải vừa tham gia tất cả các lĩnh vực, ở các quy mô và phạm vi, vừa phải khẳng định vị trí, vai trò “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển các quy tắc, luật chơi chung. Chính vì vậy, Tổng Bí thư yêu cầu cần xây dựng vị thế và tâm thế mới của Việt Nam trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương cũng như đa phương. Thế và lực của nước ta trên các tiêu chí quan trọng như kinh tế, dân số, quốc phòng và đối ngoại đã khác nhiều sau 35 năm đổi mới. Đặc biệt, các vấn đề thuộc lợi ích cốt lõi, mang tầm chiến lược của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải thể hiện tiếng nói mạnh mẽ hơn và lập trường đối ngoại tích cực hơn, trước hết ở trong khu vực.

Tính toàn diện, sâu rộng của hội nhập quốc tế trong tác phẩm còn đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn dân. Bởi theo Tổng Bí thư, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành ngoại giao là những lực lượng đi đầu, đồng thời, cũng là một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Do đó, cần “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”(12)đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

Như vậy, trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng là nội dung quan trọng của công tác đối ngoại, vừa là thành quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trong hơn 35 năm đổi mới, vừa là yêu cầu cấp thiết, là định hướng chiến lược của Việt Nam trong điều kiện mới. Hội nhập quốc tế là hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, có sự tham gia của nhiều chủ thể, lực lượng; đa dạng, phong phú về nội dung, hình thức; bao hàm trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau. Song, dù ở cấp độ nào, lĩnh vực và phạm vi nào, thì vẫn luôn bảo đảm nguyên tắc đối ngoại là: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(13) và “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(14).

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng Hoàng Thái tử Nhật Bản Akishino và Công nương Kiko thăm Nhà sàn Bác Hồ trong Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch_Ảnh: nhandan.vn

Những giá trị và định hướng từ tác phẩm của Tổng Bí thư đối với nước ta hiện nay

Cùng với nhiều bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giai đoạn trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện cả tầm tư tưởng, lý luận và thực tiễn”(15). Tác phẩm đã đề cập những vấn đề lý luận và thực tiễn ở tầm quốc gia, dân tộc và quốc tế với tư duy lý luận sâu sắc, biện chứng, khách quan, mang tính lịch sử - cụ thể, được diễn đạt khúc chiết, rành mạch, dung dị, dễ hiểu, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ, danh dự, đạo đức, nhân cách trong sáng và trái tim sục sôi bầu nhiệt huyết cách mạng, luôn đau đáu vì Đảng, vì nước, vì dân của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta. Đối với quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, từ những tổng kết, phân tích, đánh giá khách quan, khoa học, những định hướng đúng đắn được đề cập trong tác phẩm, có thể rút ra một số giá trị lý luận và thực tiễn cơ bản sau:

Thứ nhất, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm góp phần bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về hội nhập quốc tế. Bổ sung, phát triển lý luận là vấn đề có tính quy luật, là yêu cầu thường xuyên của Đảng ta, nhằm không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nói chung, về hội nhập quốc tế nói riêng. Tác phẩm cũng khẳng định: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”(16)Thực tiễn quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về hội nhập quốc tế trong gần 40 năm đổi mới cũng cho thấy, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng không chỉ là sự bổ sung, làm sâu sắc hơn, khoa học hơn lý luận về hội nhập quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là quan điểm của Đảng ta từ khi thực hiện đường lối đổi mới, mà còn có bước phát triển toàn diện, sâu rộng, phù hợp với tính chất, yêu cầu của thực tiễn hội nhập quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai, trực tiếp định hướng, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế ở nước ta trong giai đoạn mới. Với tính cách là định hướng chiến lược, chủ trương lớn của Đảng, sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và hội nhập, quốc tế được đúc kết từ thực tiễn hội nhập quốc tế sinh động của nước ta, quan điểm về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tác phẩm có giá trị thực tiễn to lớn, trực tiếp định hướng, chỉ đạo quá trình tổ chức thực hiện hội nhập quốc tế của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hội nhập của nước ta trong những năm tới. Đồng thời, cung cấp những luận cứ khoa học, làm cơ sở để Đảng ta tiếp tục hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.

Thứ ba, là cơ sở để các cấp, các ngành quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân về hội nhập quốc tế, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện những mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, cụ thể hóa thành chương trình hành động và quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Tác phẩm là tài liệu quý báu phục vụ việc nghiên cứu, học tập, giáo dục chính trị, tư tưởng và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ta và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới về quan điểm, chủ trương trong hội nhập quốc tế của Việt Nam; củng cố, tăng cường niềm tin, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Thứ tư, là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nói chung, sự nghiệp hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới nói riêng là thành quả chung của sự nghiệp cách mạng, hơn nữa “Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc”(17). Do đó, việc bảo vệ, phát triển quan điểm, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng; tăng cường đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Những luận cứ khoa học về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tác phẩm nói chung, về quan điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nói riêng là cơ sở lý luận - thực tiễn vững chắc để bác bỏ các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch hòng xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Những giá trị tư tưởng trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nói chung, quan điểm về hội nhập quốc tế nói riêng là những đóng góp có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không chỉ góp phần khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, xuyên suốt của Đảng đối với sự nghiệp hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là định hướng chiến lược nhằm huy động mọi nguồn lực của cả nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả trong thời kỳ mới./.

ST.

Nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới

Trước bối cảnh tình hình mới, việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đứng trước không ít khó khăn, thử thách và cần được nhận diện một cách đầy đủ hơn để có các giải pháp căn cơ, hữu hiệu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược có đủ đức, đủ tài, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ cách mạng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng khảo sát thực địa công tác giải phóng mặt bằng đường vành đai 4 - vùng Thủ đô Hà Nội đoạn qua địa phận tỉnh Bắc Ninh_Nguồn: tuoitre.vn

“Quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý là sự tự giáo dục, tự rèn luyện, thường xuyên giữ gìn và nâng cao đạo đức cách mạng; tự tạo ra năng lực đề kháng và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài. Đó là những hoạt động mang tính tự giác, chủ động, thường xuyên của bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các mối quan hệ: Đối với mình, đối với công việc và đối với người, gắn với các hoạt động của công tác xây dựng Đảng về đạo đức, bằng việc tự học tập, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó. Phương thức lãnh đạo và “quản trị bản thân” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” có quan hệ trực tiếp và toàn diện đến các mặt của công tác xây dựng Đảng nói chung, trong đó có xây dựng Đảng về đạo đức trong thời kỳ mới.

“Quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ tạo thành một chỉnh thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự có hiệu quả khi gắn chặt với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố đó bảo đảm cho quá trình xây dựng, củng cố, phát triển đạo đức cách mạng của Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có hiệu quả; góp phần quan trọng để Đảng xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; xứng đáng “là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Bối cảnh tình hình mới tác động đến “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

Sau gần 40 năm đổi mới, cùng với những thuận lợi cơ bản, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế “tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột Nga - Ukraine ngày càng gay gắt; nhiều quốc gia tăng trưởng chậm lại; thương mại và đầu tư toàn cầu sụt giảm; lạm phát ở mức cao dẫn đến việc nhiều nền kinh tế lớn vẫn duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao. Nợ công toàn cầu tăng mạnh, nhiều quốc gia phải đối mặt với khủng hoảng nợ, thậm chí đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất cập. Thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; an ninh năng lượng, lương thực, an ninh mạng ngày càng gặp nhiều khó khăn, thách thức...”(1). Tình hình đó làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, cũng như công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Về tình hình trong nước, nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, uy tín và sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng cao. Thành tựu đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ cán bộ là người lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp. Tuy vậy, một trong bốn nguy cơ đe dọa vai trò cầm quyền của Đảng vẫn còn hiện hữu, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Trong bối cảnh mới, Đảng chủ trương “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(2) là nhân tố quyết định, là điều kiện sống còn để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau hơn 25 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thông qua việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối chiến lược và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện...

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đông nhưng chưa mạnh… Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế... Một bộ phận cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm(3).

Sự trưởng thành, lớn mạnh và phát triển của đội ngũ cán bộ qua gần 40 năm đổi mới là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ sẽ tiếp tục tác động mạnh, gây ra nhiều khó khăn đối với việc thực hiện “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức trong tình hình mới hiện nay.

Giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

Một là, tiếp tục đề cao việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu.

Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị biểu hiện tập trung và sinh động ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, cùng với việc chú trọng xây dựng cơ chế phù hợp và tổ chức bộ máy trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phải đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất đạo đức cách mạng, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu, các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị phải không ngừng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thật sự là “công bộc” của nhân dân, suốt đời “Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(5). Bởi vậy, một mặt, Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị không chỉ quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, mà còn phải tiếp tục định hướng xây dựng được hệ tiêu chí đạo đức cách mạng đối với đội ngũ này đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới hiện nay, bảo đảm đội ngũ đó vừa có đức, vừa có tài, trong đó “đức là gốc”.

Mặt khác, yêu cầu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải không ngừng nâng cao năng lực công tác, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, phải có tinh thần “phụng công thủ pháp” (làm việc công phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật), không ngừng đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ít lòng tham muốn về vật chất, không hiếu danh, không kiêu ngạo, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tha hóa quyền lực... Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(6). Từ đó, trong công tác cán bộ, chú ý xây dựng chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm vào các ngạch, bậc theo các tiêu chuẩn hiện đại, có phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa ngày càng cao.

Đồng thời, bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện để gương mẫu về tinh thần trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Để nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân, không vì lợi ích cá nhân mà không dám hành động. Trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo, quản lý, nhất là của người đứng đầu là nhân tố quyết định cho sự thành công hay thất bại của các hoạt động, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức. Điều đó giúp cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý nỗ lực trong việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối thành kết quả thực tiễn thuyết phục. Chính trong khó khăn, thử thách và qua hoạt động thực tiễn, nhân dân mới đánh giá chính xác phẩm chất và tài năng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, chứ không chỉ dựa vào cương vị của họ.

Cán bộ, chiến sĩ quân đội giúp nhân dân cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long _Nguồn: tienphong.vn

Hai là, đề cao dân chủ và kiên trì thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng trong thực thi quyền lực chính trị của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng là những quy định về cách thức xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo đảm sự thống nhất của tổ chức, sự nghiêm minh của kỷ cương, sự vững mạnh của tổ chức đảng và hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên; do đó, phải được đề cao, hiểu rõ, kiên trì và thực hiện nghiêm. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam quy định 5 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng là: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây không phải là những nguyên tắc riêng rẽ, mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, trong sinh hoạt đảng.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp xem nhẹ hay cố tình vi phạm các nguyên tắc xây dựng Đảng trong thời gian qua là do nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc nội dung, yêu cầu của các nguyên tắc đó; do đó, để kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng hiện nay phải làm cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội dung, yêu cầu để từ đó thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng trong điều kiện mới.

Cần tiếp tục đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa các nguyên tắc xây dựng Đảng thành quy chế, quy định trong Đảng và pháp luật của Nhà nước và có những biện pháp tuyên truyền, học tập phù hợp nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý về các nguyên tắc này.

Cấp ủy, tổ chức đảng cần có chương trình kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý về thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Thông qua kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện những thiếu sót để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp, đồng thời giáo dục, uốn nắn, ngăn chặn kịp thời các khuyết điểm, vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ba là, tăng cường giám sát, phản biện xã hội đối với việc “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường hoạt động giám sát, vận động nhân dân tham gia giám sát, phối hợp với cơ quan quyền lực nhà nước cùng giám sát hoặc độc lập giám sát theo chức năng, nhiệm vụ của mình với cơ chế theo dõi, phát hiện, nhận xét và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan tới đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình tham gia xây dựng Đảng về đạo đức. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được tiến hành thường xuyên, đúng nguyên tắc sẽ góp phần bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

Mặc dù không mang tính quyền lực nhà nước, nhưng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính linh hoạt, rộng mở, năng động, khách quan, bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Giám sát xã hội vừa góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý, vừa làm cho sự lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ gắn với thực tiễn hơn; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất giữa nghị quyết và sự chấp hành, giữa lời nói và việc làm của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ đó, giúp khắc phục có hiệu quả bệnh quan liêu, chủ quan, duy ý chí, thiếu trách nhiệm, hành chính hóa... trong một số tổ chức và một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay, bảo đảm cho nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.

Giám sát, phản biện xã hội còn nâng cao hiệu quả sự thẩm định, đánh giá, nhận xét đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý, khi được đưa ra lấy ý kiến trước tổ chức và quần chúng nhân dân. Mục đích của phản biện xã hội là nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn xã hội, từ đó làm cho các quyết sách chính trị của người cán bộ lãnh đạo, quản lý thêm đúng đắn, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách đó.

Phát huy vai trò của nhân dân là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện giám sát việc quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(7). Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, “quản trị bản thân” người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, một mặt đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao trách nhiệm trước nhân dân và tăng cường mối quan hệ “máu thịt” với nhân dân, luôn tâm niệm mình vừa là người lãnh đạo, vừa là công bộc, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mặt khác, phải làm cho nhân dân hiểu về vai trò của mình đối với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ đó tham gia giám sát cán bộ, đảng viên các cấp thực chất và hiệu quả; phát huy vai trò của báo chí trong tổng kết, cổ vũ, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, phê bình, phản biện phong cách quan liêu, hách dịch, chưa thật sự tận tâm vì lợi ích của nhân dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh tự phê bình và phê bình một cách thực chất nhằm nâng cao hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là tấm gương trong thực hiện tự phê bình và phê bình để cấp dưới làm theo. Tự phê bình và phê bình phải thực sự cầu thị, tự giác, chân thành, khách quan, có lý, có tình, đúng và khéo, trên tình đồng chí thương yêu; khi có khuyết điểm phải tự giác nhận khuyết điểm và có kế hoạch sửa chữa.

Để thực sự nêu gương tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi tổ chức đảng, mỗi người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu cần tự giác, trung thực, thật nghiêm túc, khách quan tự phê bình và phê bình; thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, khi “có bệnh” thì phải kiên quyết “trị bệnh cứu người”, không được có tư tưởng dễ dãi, bao che. Cùng với đó, cần xử lý nghiêm minh những biểu hiện thành kiến, trù dập người dám phê bình và có những hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người lợi dụng phê bình để gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Năm là, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đề cao trách nhiệm nêu gương trong “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, yêu cầu: “… cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên(8). Quan điểm trên thể hiện rõ quyết tâm của Đảng yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải ra sức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Để “quản trị bản thân” tốt, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, thường xuyên và tự giác “tự soi”, “tự sửa”. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức… Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(9). Đồng thời, cần “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(10). Việc “quản trị bản thân” “chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(11).

Để thực hiện có hiệu quả “quản trị bản thân”, nhất là việc nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định chuẩn mực về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, ngành, đơn vị… làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục cụ thể hóa “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị, để đo lường được lề lối, phong cách của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị một cách phù hợp, làm cơ sở cho đánh giá, phân loại và giám sát cán bộ hằng năm. Như vậy, việc đánh giá sự nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp sẽ được đo lường cụ thể theo vị trí việc làm, nhiệm vụ và năng lực lãnh đạo, quản lý.

Sáu là, các cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm điểm, đánh giá hiệu quả “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo niềm tin trong Đảng và nhân dân đối với người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới.

Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với “phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương. Xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm. Khen thưởng, biểu dương, động viên kịp thời những mô hình hay, các điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu”(12).

Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về vấn đề “quản trị bản thân” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là người đứng đầu. Đồng thời, đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần khoa học, thực tiễn, sáng tạo, thiết thực và hiện đại.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về “quản trị bản thân” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; chú trọng tuyên truyền gương người tốt, việc tốt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, thiếu trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống, uy tín thấp, không còn được nhân dân tín nhiệm... Tập trung chấn chỉnh, quản lý thông tin trên internet, các phương tiện truyền thông xã hội; kịp thời phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ cán bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ST.

Tiếp tục phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam trong ngoại giao đa phương thời gian tới

 Phát huy sức mạnh mềm dân tộc là một nội hàm quan trọng làm nên thành công của đối ngoại Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua. Trong thời gian tới, tiếp tục phát huy vai trò của sức mạnh mềm để nâng cao vị thế quốc gia, phục vụ công cuộc phát triển đất nước, nhất là trong ngoại giao đa phương, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam.

Sức mạnh mềm và vai trò của sức mạnh mềm trong ngoại giao đa phương sau Chiến tranh lạnh

Khái niệm sức mạnh mềm lần đầu tiên được giáo sư Joseph Nye, nguyên Hiệu trưởng Trường Quản trị công J. F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard (Mỹ), nguyên trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đề cập vào năm 1990 (1). Theo đó, sức mạnh mềm được hiểu là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác “tự nguyện” thay đổi hành vi, chính sách phù hợp với điều mà quốc gia đó muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế và quân sựSức mạnh mềm và sức mạnh cứng củng cố, bổ sung và tăng cường cho nhau, kết hợp thành sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về tiêu chí sức mạnh mềm. Một số tổ chức quốc tế đã xây dựng các bảng chỉ số xếp hạng về sức mạnh mềm, như Global Soft Power Index (2), Soft Power 30 (3). Mặc dù có một số khác biệt, song về cơ bản, các chỉ số này đều sắp xếp các nước, như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia ở vị trí cao.

Diễn giải của các nước về sức mạnh mềm tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế rất đa dạng, phong phú, với nhiều chính sách, công cụ, phương thức khác nhau, như: thúc đẩy sáng kiến hoặc chuỗi sáng kiến để phát huy dấu ấn, đưa người vào các vị trí lãnh đạo của các tổ chức quốc tế lớn, quan trọng hoặc thành lập và dẫn dắt các nhóm nước đồng quan điểm về một chủ đề, lĩnh vực hợp tác... Thực tiễn cho thấy, sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các nước đều điều chỉnh quan niệm về sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó nhấn mạnh tăng cường sức mạnh mềm, phát huy sức mạnh thông minh (4), đồng thời tự chủ chiến lược trong bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là tại các diễn đàn đa phương trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực.

Mỗi quốc gia đều tìm cách thúc đẩy những thế mạnh riêng để phát huy sức mạnh mềm trong quan hệ đối ngoại. Đơn cử như, Trung Quốc chú trọng ngoại giao thân thiện, hợp tác cùng có lợi, phát triển hài hòa, lồng ghép văn hóa và các giá trị Trung Quốc để thúc đẩy sức mạnh mềm; đồng thời, triển khai các sáng kiến mang đậm giá trị Trung Quốc, bao gồm: “Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”, “Vành đai, Con đường” (BRI), thiết lập mạng lưới các Viện Khổng Tử và các sáng kiến toàn cầu mới, như Sáng kiến Phát triển toàn cầu (GDI), Sáng kiến An ninh toàn cầu (GSI) và Sáng kiến Văn minh toàn cầu (GCI). Mỹ, Anh, Pháp, Canada, các nước châu Âu đề cao các giá trị dân chủ, luật lệ và quy tắc phương Tây, quảng bá thành tựu khoa học - công nghệ và nghệ thuật. Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore phát huy thế mạnh về tài chính, giáo dục, đổi mới sáng tạo, coi xây dựng thương hiệu toàn cầu là yếu tố quan trọng để phát huy sức mạnh mềm quốc gia cả trên bình diện song phương và đa phương. Indonesia coi trọng sự kết hợp giữa nền dân chủ, Hồi giáo và tính khoan dung trong thúc đẩy sức mạnh mềm, nhất là trong thúc đẩy vai trò trung gian hòa giải, giải quyết các xung đột…

Đối với các quốc gia tầm trung và đang phát triển có nguồn lực hạn chế, việc phát huy sức mạnh mềm được tận dụng và thúc đẩy mạnh mẽ tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế. Trong khoảng 5 - 10 năm gần đây, xu hướng này ngày càng được các quốc gia tầm trung và đang phát triển thúc đẩy trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng, cũng như sự khác biệt về quan điểm, lợi ích giữa các nước và nhóm nước diễn ra đa chiều, gay gắt hơn. Đơn cử như, Malta thúc đẩy sự hình thành và quá trình triển khai Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; Singapore thúc đẩy Sáng kiến về quản trị toàn cầu bên lề các khóa họp cấp cao thường niên của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Sáng kiến 3G); Colombia thúc đẩy tiến trình thảo luận về các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, Vanuatu và các đảo quốc Nam Thái Bình Dương thúc đẩy đưa vấn đề biến đổi khí hậu xem xét tại Tòa án Công lý quốc tế (ICJ)…

Dấu ấn sức mạnh mềm trong ngoại giao đa phương Việt Nam những năm qua

Theo giáo sư J. Nye: “Những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây”(5). Bản sắc, tinh thần, nét văn hóa và con người Việt Nam, tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh, cùng với truyền thống ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao “tâm công” đã được vận dụng mạnh mẽ để phát huy sức mạnh mềm trong công cuộc kháng chiến, thống nhất đất nước và sự nghiệp đổi mới. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam” đã nhấn mạnh những điểm nổi bật của bản sắc Việt Nam, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xóm - Tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử và tính giản dị trong cuộc sống(6). Đây cũng là những nét đẹp về truyền thống, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam được đông đảo các nước, bạn bè quốc tế tin cậy, đánh giá cao.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tặng Thủ tướng Đức Olaf Scholz bức thư pháp với nội dung: "Hòa bình - Hữu nghị cùng phát triển" tại đền Ngọc Sơn, Hà Nội_Ảnh: TTXVN_Nguồn: vnexpress.net

Ngày nay, việc thúc đẩy sức mạnh mềm đã trở thành một định hướng quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam; được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại”(7), “phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”(8), “không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(9). Nghị quyết số 22-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế” nhấn mạnh “phát huy vai trò của Việt Nam trong việc định hình các quy tắc, luật lệ trong ASEAN và các cơ chế, diễn đàn quốc tế”, “tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế”(10).

Trên cơ sở đó, trong những năm gần đây, sức mạnh mềm của Việt Nam tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, giúp nâng cao thế và lực của đất nước trên trường quốc tế, qua đó góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Một là, giá trị địa - chiến lược của Việt Nam đã gia tăng đáng kể thông qua hệ thống quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, đa tầng nấc. Cụ thể là, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 192/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; đóng vai trò quan trọng trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc; có 98 cơ quan đại diện tại nước ngoài… Nhiều nước lớn, đối tác quan trọng mong muốn củng cố, đưa quan hệ song phương với Việt Nam đi vào chiều sâu; vận động Việt Nam ủng hộ và tham gia các sáng kiến, chiến lược của các nước. Hầu hết các nước trên thế giới nhìn nhận giá trị chiến lược của Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu, nhân văn, thủy chung, có chính kiến, bản lĩnh, trọng công lý, lẽ phải và luật pháp quốc tế, không “chọn bên”, không theo bên này chống bên kia; đồng thời, là nhân tố có thể hàn gắn sự khác biệt, thúc đẩy những điểm tương đồng.

Hai là, về phát triển, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, con người cần cù, sáng tạo, thân thiện, hiếu khách, tạo lợi thế hấp dẫn lâu dài về kinh tế, đầu tư, du lịch. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia sớm đạt nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và đang tích cực triển khai các SDG, được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là điển hình thành công của nước đang phát triển.

Ba là, trên bình diện đa phương, Việt Nam đã khẳng định mạnh mẽ bản sắc độc lập, tự chủ, hoàn thành xuất sắc nhiều vị trí quan trọng tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021), Chủ tịch ASEAN (năm 2010, 2020), đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, năm 2017), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025), thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2023 - 2027, cùng nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế quan trọng khác; đồng thời, thúc đẩy các cơ chế quan trọng của ASEAN, như Diễn đàn cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Bên cạnh đó, Việt Nam đã bước đầu phát huy vai trò trung gian qua việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên vào năm 2019.

Mặc dù vậy, giới chuyên gia cho rằng, về tổng thể, sức mạnh mềm của Việt Nam hiện nay mới được đánh giá ở mức độ tầm trung. Theo Chỉ số Global Soft Power năm 2021, Việt Nam đứng thứ 47/105(11). Tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nhiều sáng kiến mà Việt Nam thúc đẩy trong thời gian qua còn mang tính đơn lẻ, chưa kết hợp lồng ghép mạnh mẽ bản sắc và hình ảnh Việt Nam để tạo nên “bản sắc thương hiệu” của quốc gia, từ đó tạo được sức hút về lâu dài. Đồng thời, công tác nghiên cứu và tham mưu về sức mạnh mềm, nhất là trong khuôn khổ ngoại giao đa phương còn hạn chế…

Phát huy sức mạnh mềm Việt Nam trong công tác ngoại giao đa phương thời gian tới 

Trong khoảng 5 - 10 năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai nhiều hoạt động ngoại giao đa phương quan trọng, như: đảm nhiệm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Hội đồng Chấp hành UNESCO, tiếp tục tham gia các cơ chế APEC, Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Phong trào Không liên kết, Cộng đồng Pháp ngữ, các cơ chế Tiểu vùng sông Mekong cùng nhiều diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế khác; tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, triển khai các SDG và các cam kết quốc tế, trong đó có cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 (số 3) lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan_ Ảnh: Tư liệu

Bối cảnh tình hình khu vực và thế giới những năm tới, với xu thế chuyển đổi mạnh mẽ sau đại dịch COVID-19 và những diễn biến phức tạp trong cạnh tranh chiến lược nước lớn có thể là cơ hội để các quốc gia tầm trung, các quốc gia đang phát triển tiếp tục phát huy sức mạnh mềm, nhất là tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nếu biết nắm bắt thời cơ phù hợp. Trong bối cảnh đó, việc phát huy vị thế, ảnh hưởng, sức mạnh mềm của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế đòi hỏi cần có cách tiếp cận mới, tổng thể, toàn diện, liên ngành hơn.

Trên cơ sở đó, trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại thời gian tới, các cơ quan liên quan của Việt Nam có thể xem xét các biện pháp sau:

Thứ nhất, thúc đẩy triển khai đồng bộ sáng kiến hoặc phát triển các sáng kiến, dự án lõi ở các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế khác nhau để bổ trợ, tạo thành thương hiệu xuyên suốt nhằm phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, trong đó kết hợp lồng ghép bản sắc, đặc trưng văn hóa Việt Nam. Đồng thời, xem xét lựa chọn một số vấn đề, lĩnh vực mà Việt Nam đã có sáng kiến thúc đẩy trong thời gian qua(12) để phát triển, triển khai đồng bộ tại các diễn đàn đa phương khu vực, quốc tế. Bên cạnh đó, tăng cường nắm bắt thời cơ trong thúc đẩy vai trò trung gian, hòa giải của Việt Nam trên một số vấn đề quốc tế, khu vực thông qua các cơ chế do ASEAN, Liên hợp quốc dẫn dắt, cũng như các cơ chế hợp tác giữa ASEAN và Liên hợp quốc, phù hợp với lợi ích, điều kiện và khả năng của Việt Nam.

Thứ hai, tăng cường đăng cai các hội nghị, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trên các lĩnh vực chuyên ngành mà Việt Nam có nhiều lợi ích hoặc thế mạnh, như chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, an ninh lương thực, nông nghiệp, kết hợp các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam với tư cách nước chủ nhà.

Thứ ba, tăng cường đưa cán bộ ứng cử, đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo của tổ chức quốc tế đa phương khu vực và quốc tế ở những cấp độ khác nhau, như các vị trí cấp cao trong Ban Thư ký Liên hợp quốc, Ban Thư ký ASEAN và các tổ chức quốc tế khác mà Việt Nam đang tham gia, hoặc các vị trí cố vấn cấp cao trong các tổ chức phi chính phủ quốc tế như The Elders(13) để nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở dữ liệu về các vị trí việc làm cấp cao tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, đồng thời xây dựng và cập nhật danh sách các ứng cử viên tiềm năng và cơ chế đặc thù để quy hoạch, đào tạo, vận động, khuyến khích các cá nhân đương nhiệm hoặc các đồng chí nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành, các chuyên gia cao cấp tham gia ứng cử vào những vị trí này.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, xây dựng cơ sở dữ liệu về sức mạnh mềm, các tiến trình thảo luận quan trọng tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế để xác định lĩnh vực mới mà Việt Nam có thể thúc đẩy hoặc tham gia tích cực, trong đó gắn với tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, chuyển đổi năng lượng, xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn…

Thứ năm, tiếp tục củng cố, nâng cao tính hiệu quả của công tác phối hợp liên ngành để tăng cường trao đổi, triển khai thúc đẩy sức mạnh mềm Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, nhất là đưa ra các sáng kiến, ý tưởng nhằm phát huy vị thế, dấu ấn, tranh thủ nguồn lực hợp tác quốc tế và đóng góp giải pháp giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Thứ sáu, thúc đẩy nhận thức đầy đủ, toàn diện ở cấp cơ sở, giúp các cơ quan, địa phương hiểu rõ về sức mạnh mềm Việt Nam và tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh mềm quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về các hoạt động, sáng kiến của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trên nền tảng các phương tiện truyền thông xã hội được cộng đồng quốc tế quan tâm và sử dụng nhiều (Twitter/X, Facebook, Instagram), kết hợp lồng ghép giới thiệu sinh động về đất nước, con người Việt Nam.

Tựu trung, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng và cơ hội để nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế thông qua các biện pháp phát huy sức mạnh mềm, nhất là tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế trong thời gian tới. Đây được xem là hướng đi thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng và góp phần thực hiện mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo./.

ST.

Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc kiểm soát lợi ích nhóm hiện nay

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cần xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Để thực hiện được việc kiểm soát “lợi ích nhóm” một cách hiệu quả, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Về vấn đề lợi ích nhóm

Lợi ích nhóm đã được đề cập đến từ lâu ở Mỹ cũng như các nước phương Tây và đang là một vấn đề có tính thời sự ở Việt Nam hiện nay. Lợi ích nhóm theo nghĩa tiêu cực đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Những người thuộc nhóm lợi ích này tìm mọi cách tác động đến các cơ quan, người có thẩm quyền theo hướng có lợi cho nhóm của mình. Lợi ích nhóm tiêu cực biểu hiện dưới các hình thức như: “chạy” dự án, “chạy” vốn, “chạy” chức quyền và thậm chí “chạy” cả chính sách; tính cục bộ, địa phương; chủ nghĩa cá nhân... Nguy hại hơn, lợi ích nhóm đã có những biểu hiện vi phạm lợi ích của xã hội; làm tha hóa cán bộ, gây mất lòng tin của nhân dân; và làm tăng nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Những năm gần đây, lợi ích nhóm càng ngày càng gia tăng và phát triển, tác động tiêu cực vào quá trình thực hiện các lợi ích hợp pháp và chính đáng khác, vào hiệu quả của thực thi chính sách và gần đây, có cả những dấu hiệu cho thấy, nó tác động vào cả quá trình hoạch định chính sách... Lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ và tính cục bộ là ba rào cản lớn nhất đối với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nước ta.

Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, các nhóm lợi ích khác nhau là hệ quả của đa dạng hóa về lợi ích - một hiện tượng khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần kịp thời ngăn chặn những sự lũng đoạn của các nhóm lợi ích tiêu cực đang hình thành, góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vậy, làm thế nào để kiểm soát được lợi ích nhóm ở Việt Nam, công cụ nào để giúp phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của lợi ích nhóm? Kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới đã chỉ ra có một số công cụ kiểm soát lợi ích nhóm, trong đó, Nhà nước pháp quyền giữ một vai trò quan trọng. Nhà nước pháp quyền với nguyên tắc thượng tôn pháp luật là cơ sở cho sự tồn tại và hoạt động của các nhóm lợi ích. Hệ thống pháp luật là căn cứ xác định các lợi ích hợp pháp và các hành vi thực hiện lợi ích hợp pháp của các nhóm. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia phát triển đều xây dựng các bộ luật chuyên biệt hướng dẫn các hoạt động thực hiện của các nhóm lợi ích. Việc thực thi pháp luật nghiêm minh buộc các nhóm lợi ích phải xem xét, cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích khi tiến hành các hoạt động của mình. Ở góc độ này, công cụ pháp lý tạo ra sức ép bên trong buộc các chủ thể lợi ích hoạt động mà không vi phạm tới lợi ích chung, đặc biệt là lợi ích quốc gia.

Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII và tiếp tục được hoàn thiện ở các đại hội sau. Đây chính là cơ sở cho việc kiểm soát lợi ích nhóm ở Việt Nam, để lợi ích nhóm có thể phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực của nó, đặc biệt để bảo đảm cho lợi ích thuộc về số đông, đồng thời bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm soát lợi ích nhóm

Một là, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến ngày 25-01-1994), lần đầu tiên trong văn bản chính thức, Đảng ta xác định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ cơ sở để giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, hướng đến số đông, chứ không vì thiểu số. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là công cụ để kiểm soát lợi ích nhóm tiêu cực - những lợi ích nhóm đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích xã hội, nhất là lợi ích nhân dân.

Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời, thường xuyên quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, minh bạch, tạo cơ sở cho lợi ích nhóm tích cực hoạt động hiệu quả; không để lợi ích nhóm tiêu cực “hoành hành”.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ngày càng khẳng định vai trò của phản biện xã hội thông qua việc ban hành một số văn bản, như Quyết định số 217- QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg, ngày 14-02-2014, của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Cùng với quá trình này, lợi ích công và hoạt động của các nhóm lợi ích công bước đầu có hiệu quả trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Những hạn chế trong việc kiểm soát lợi ích nhóm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Một là, chưa tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động của lợi ích nhóm tích cực và hạn chế lợi ích nhóm tiêu cực.

Ở Việt Nam hiện nay, lợi ích nhóm đang hoạt động trong một không gian chủ yếu phi chính thức bởi khung pháp luật, môi trường thể chế chính thức cho hoạt động của các nhóm lợi ích chưa được xác lập, mặc dù cũng đã có các hiệp hội, nhóm lợi ích có tổ chức và đăng ký hoạt động chính thức, như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, Hiệp hội Thép Việt Nam, Hiệp hội Cao su Việt Nam, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam…

Hai là, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chậm đi vào cuộc sống và chưa thực sự được tôn trọng. Bên cạnh đó, môi trường luật pháp thiếu minh bạch, hệ thống quản lý còn yếu kém, nhân dân còn thiếu thông tin; quy trình ra quyết định chính sách chưa khoa học và minh bạch, tạo nhiều kẽ hở để lợi ích nhóm tiêu cực “lách luật”, thực hiện hành vi tư lợi, tham nhũng.

Ba là, lợi ích nhóm tiêu cực nằm trong các cơ quan quyền lực là một thực tế đáng chú ý và có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Trong thực tế, có những lợi ích nhóm bất hợp pháp lại núp bóng cơ quan công quyền, núp bóng pháp luật, hoặc mượn danh các tổ chức nhà nước, các tổ chức và nhóm hợp pháp khác để ẩn nấp, giấu mình, ngấm ngầm thực hiện lợi ích riêng, gây tổn thất lớn cho xã hội, trở thành lực lượng phá hoại ghê gớm, gây hậu quả khó khắc phục. Việc lợi ích nhóm nằm bên trong các cơ quan quyền lực khiến nó trở nên nguy hiểm và khó kiểm soát.

Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong việc kiểm soát lợi ích nhóm

Thứ nhất, vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong định hướng xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động của lợi ích nhóm.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các nhóm phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, khi bắt đầu đổi mới cơ chế bao cấp và phân phối bình quân còn ảnh hưởng nặng nề, cần khuyến khích những người có khả năng làm giàu trước. Nhưng khi kinh tế thị trường phát triển, việc phân phối chịu tác động của các quy luật kinh tế tất yếu dẫn đến tăng mức chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tăng hệ số bất bình đẳng, gây nguy cơ mất ổn định xã hội. Bởi vậy, Nhà nước cần điều tiết lợi ích thông qua phân phối lại bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản, kể cả thuế thừa kế. Dĩ nhiên, mức thuế cao nhất cũng chỉ ở một giới hạn nhất định sao cho không triệt tiêu động cơ và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp cũng như sự nỗ lực của những người có tài năng, sáng tạo.

Cần chú ý đến lợi ích của những nhóm yếu thế. Khi Nhà nước chủ trương hỗ trợ những nhóm dân cư yếu thế, cần phải nghiên cứu những giải pháp khả thi để lợi ích đến đúng đối tượng cần hỗ trợ. Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sự phân hóa giàu nghèo giữa các nhóm xã hội là tất yếu, kéo theo đó là sự mâu thuẫn về lợi ích. Chính sách của Đảng, Nhà nước phải ưu tiên cho việc giải quyết lợi ích của các tầng lớp đông đảo những người lao động, đặc biệt là tầng lớp dân nghèo ở thành thị và nông thôn; mặt khác, động viên, khuyến khích đúng mức, kịp thời các tầng lớp xã hội, có vai trò quan trọng đối với phát triển sức sản xuất, tiến bộ kinh tế - xã hội. Cần giải quyết mối quan hệ lợi ích này theo nguyên tắc hiệu suất kinh tế và tăng trưởng, kết hợp với bảo đảm công bằng và ổn định xã hội để đại đa số nhân dân được hưởng lợi từ thành tựu của kinh tế thị trường và phát triển, khuyến khích mọi người cống hiến và hưởng thụ tương xứng với thành quả sản xuất kinh doanh, nâng đỡ những người nghèo, thu nhập thấp.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, cần sớm xây dựng hành lang pháp lý về các nhóm lợi ích và hoạt động của các nhóm lợi ích theo những giá trị chuẩn chung trên cơ sở điều chỉnh của luật pháp.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, quá trình vận động chưa được công khai và luật hóa, nên nhóm lợi ích ở Việt Nam rất đa dạng, phức tạp và chưa được xác định rõ ràng, khiến tính tích cực của lợi ích nhóm chưa được phát huy, đồng thời cũng tạo điều kiện cho những lợi ích nhóm tiêu cực phát triển, ảnh hưởng không tốt trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, càng không thể tạo ra một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Bởi vậy, cần có những đầu tư nghiên cứu một cách bài bản để xác định bản chất, hình thức, phạm vi hoạt động của các loại nhóm lợi ích khác nhau để giúp xã hội nhìn nhận một cách toàn diện hơn những “lỗ hổng” của luật pháp mà các nhóm lợi ích tiêu cực đã và đang lợi dụng, từ đó tìm cách khắc phục; xây dựng và phát huy hoạt động của các tổ chức xã hội bảo vệ quyền và lợi ích của nhóm cộng đồng mà nó đại diện.

Để phát huy tính tích cực của lợi ích nhóm, cần xây dựng một môi trường chính sách, pháp luật minh bạch, đầy đủ thông tin và được thực thi một cách có tổ chức.

Thực tế đã chứng tỏ rằng, trong điều kiện của một chính quyền tốt, vững mạnh, những người ra quyết định chính sách tận tâm phục vụ quốc gia thì việc ảnh hưởng của các nhóm lợi ích cũng giúp những nhà hoạch định chính sách có những thông tin đầy đủ và toàn diện hơn để ra các quyết định chính sách tốt hơn. Tuy nhiên, khi các hoạt động xã hội phát triển (đặc biệt trong kinh tế), những lợi ích to lớn bắt đầu xuất hiện từ các chính sách phát triển thì hoạt động của các nhóm lợi ích trở nên mạnh mẽ và tinh vi hơn. Đặc biệt là trong môi trường luật pháp thiếu minh bạch, các quy trình ra quyết định chính sách không rõ ràng, thiếu thông tin… thì các nhóm lợi ích sẽ ảnh hưởng, cấu kết, mua chuộc những người ra quyết định để hướng chính sách về phía có lợi cho lợi ích của nhóm mình, bất chấp lợi ích của các nhóm khác, của số đông và lợi ích quốc gia.

Vì thế, để các nhóm lợi ích không thể “lũng đoạn”, “thao túng”, cần có một hệ thống luật pháp và cơ chế ra quyết định công bằng và minh bạch. Điều này dựa trên cơ chế đối thoại, tương tác cần thiết giữa các nhóm lợi ích có liên quan trong quá trình phát triển thông qua đối thoại, phản biện khoa học.

Hướng tới một sự phát triển đất nước thực sự bền vững trong điều kiện ghi nhận sự hiện diện và vận động của lợi ích nhóm, cần có các cơ chế giám sát để bảo đảm sự tách bạch giữa hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Để thực hiện được mục tiêu này, những đại biểu của nhân dân ở các cơ quan dân cử và các cơ chế giám sát cần phát huy đầy đủ vai trò, nghĩa vụ của mình và phải có đủ năng lực để thực sự bảo vệ những lợi ích chính đáng và hợp pháp của những người có liên quan. Cơ chế lên tiếng của người dân cũng cần được hoàn thiện và bảo đảm để người dân nói lên tiếng nói của mình khi lợi ích của họ bị xâm phạm. Ở đây, cần nâng cao năng lực cho các nhóm lợi ích có tổ chức (các hội và hiệp hội thương mại, nghề nghiệp, xã hội…) trong việc thực sự đại diện và bảo vệ cho lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên của mình.

Bên cạnh đó, từ hai phân tích trên, cần xem xét ban hành luật về vận động hành lang, luật về trưng cầu dân ý, luật về hội:

Luật về vận động hành lang tạo nên hành lang pháp lý để mọi chủ thể cùng tiếp cận và vận động được lợi ích chính đáng của nhóm mình và làm rõ ranh giới giữa vận động hành lang và tham nhũng.

Luật về trưng cầu dân ý là một trong các công cụ để nhân dân có ý kiến, phản ánh đầy đủ tiếng nói của toàn dân đối với những vấn đề trọng đại của quốc gia.

Luật về hội để bảo đảm quyền lập hội của công dân và xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của hội để các tổ chức này hoạt động phù hợp với pháp luật, đồng thời để Nhà nước có cơ sở quản lý hoạt động; qua đó giúp hình thành lợi ích nhóm hợp pháp, có tổ chức và hạn chế lợi ích nhóm tiêu cực.

Để kiểm soát lợi ích nhóm một cách có hiệu quả, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm cho khả năng hóa giải xung đột nhóm lợi ích, đạt tới cách thức phân bổ lợi ích thỏa đáng, làm cho lợi ích phát huy giá trị động lực, kích thích tối đa khả năng đóng góp, hạn chế tối đa khả năng gây hại của các nhóm lợi ích cho xã hội./.

ST.